Tải bản đầy đủ

THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘI NGŨ BÁO CÁO VIÊN CƠ SỞ TẠI QUẬN TÂY HỒ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I

TRƯƠNG TÚ UYÊN

THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘI
NGŨ BÁO CÁO VIÊN CƠ SỞ TẠI QUẬN TÂY HỒ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học

1


HÀ NỘI, THÁNG 8 NĂM 2015

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I


TRƯƠNG TÚ UYÊN

THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘI
NGŨ BÁO CÁO VIÊN CƠ SỞ TẠI QUẬN TÂY HỒ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60220301
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS,TS LÊ THỊ THỦY

2


HÀ NỘI, THÁNG 8 NĂM 2015

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng
Học viên thực hiện Luận văn

Trương Tú Uyên

3


MỤC LỤC

4


BCV

CNXH
CNH, HĐH
ĐH
LLCT

Báo cáo viên

Cao đẳng
Chủ nghĩa xã hội
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đại học
Lý luận chính trị

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Trong công tác xây dựng Đảng, công tác tư tưởng luôn có tầm quan trọng
hàng đầu, là lĩnh vực trọng yếu để xây dựng bồi đắp nền tảng chính trị của chế độ,
tuyên truyền, giáo dục, động viên và tổ chức nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách
mạng, khẳng định và nâng cao vai trò tiên phong của Đảng về chính trị, trí tuệ, văn
hóa và đạo đức thể hiện vai trò đi trước, mở đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Công tác tư tưởng là sự hoạt động có định hướng của Đảng nhằm xác
lập, phát triển hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, xây dựng niềm tin và định hướng giá trị
đúng đắn, góp phần xây dựng thế giới quan khoa học, tư tưởng, tình cảm, nhân
cách, lối sống, tri thức để đảm bảo cho con người có hành động tích cực, chủ động,
sáng tạo, thực hiện thắng lợi lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Chính vì vậy, từ khi ra đời cho đến nay Đảng ta luôn coi trọng công tác tư tưởng,
xác định đây là mặt trận hàng đầu, góp phần quyết định cho mọi thắng lợi của cách
mạng. Công tác tư tưởng góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp để dân tộc Việt Nam
chiến thắng mọi kẻ thù, tạo nên những thành tựu to lớn mang ý nghĩa lịch sử trong
quá trình đổi mới hiện nay. Để tiến hành công tác tư tưởng có hiệu quả, Đảng ta đã
thông qua công tác lý luận, công tác tuyên truyền và nhiều hình thức phong phú
5


sinh động, trong đó tuyên truyền miệng là một hình thức được Đảng ta hết sức quan
tâm từ khi còn hoạt động bí mật cho đến lúc giành được chính quyền và lãnh đạo
phát triển đất nước.
Đội ngũ báo cáo viên là lực lượng quan trọng, nòng cốt, chủ lực của công tác
tuyên truyền miệng, được cấp ủy lựa chọn theo tiêu chuẩn nhất định được Ban
Tuyên giáo của cấp ủy quản lý và chỉ đạo. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các ph ương
tiện thông tin hiện đại đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu thông tin cho cán bộ, đảng
viên và các tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, vai trò của BCV không thể thay thế bởi lẽ
BCV là người trực tiếp chuyển tải thông tin đến với cán bộ, đảng viên và nhân dân,
đồng thời nắm bắt nhiệm vụ từ cơ sở chuyển tải đến các cấp ủy Đảng.
Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa
Mác - Lênin đồng thời là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong hoạt động nhận
thức và hoạt động thực tiễn của con người. Thực tế ở nước ta cho thấy, trong công tác
tuyên truyền của đội ngũ báo cáo viên đa số cán bộ, đảng viên đã thực hiện tốt sự thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, một số báo cáo viên trong hoạt động tuyên
truyền có biểu hiện tách rời lý luận và thực tiễn, tuyệt đối hóa mặt này, xem nhẹ mặt
kia. Do đó dẫn đến căn bệnh: giáo điều, kinh nghiệm chủ quan duy ý chí nên chưa quy
tụ, đoàn kết, thuyết phục, tập hợp quần chúng nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn trong hoạt động của đội ngũ BCV là vấn đề có ý nghĩa quan
trọng trong công tác quán triệt, triển khai các chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước đến với đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp
nhân dân hiện nay. Đó là lý do tôi chọn đề tài “Thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn trong hoạt động của đội ngũ báo cáo viên cơ sở tại quận Tây Hồ - Thành
phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

6


Nhìn tổng quát, vấn đề thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nói chung, thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động của đội ngũ báo cáo viên cơ sở luôn
có sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có
nhiều công trình khoa học, các bài viết đăng trên các sách, báo, tạp chí bằng những
cách tiếp nhận khác nhau với nội dung phong phú. Liên quan đến nội dung đề tài
luận án, tổng quan các công trình nghiên cứu với nội dung sau:
2.1. Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn - Nguyên tắc căn bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin
Nghiên cứu về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đã có một số công
trình tiêu biểu:
- “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong tư tưởng triết học Hồ Chí Minh”,
PGS.TS Trần Văn Phòng trong sách “Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh”, Nxb Lao
động, Hà Nội, 2002.
- “Tổng kết thực tiễn - một nhiệm vụ trọng yếu của công tác lý luận hiện nay”,
Nguyễn Phú Trọng, Tạp chí cộng sản, số 15/5/2002.
- “Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, PGS,
TS Hoàng Chí Bảo, tạp chí khoa học xã hội, số 15, 2003.
- “Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với việc nâng cao tư duy lý
luận cho giảng viên Mác - Lênin ở các trường chính trị hiện nay” của Nguyễn Đình
Trãi, tạp chí Triết học, số 1/1999.
- “Về mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn” của Vi Thái Lang, Tạp
chí Triết học, số 1/1999.
Có thể nói có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về sự thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn. Qua các công trình nghiên cứu, tôi thấy các công trình nêu bật
những nội dung sau:
Thứ nhất, Khẳng định vấn đề mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn có tầm
quan trọng đặc biệt trong Triết học Mác - Lênin. Bởi lẽ quan điểm về đời sống, về
thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức.
7


Thứ hai, Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ khăng khít. Vì vậy, tôn
trọng mối quan hệ này sẽ giúp cho chủ thể hành động tránh bệnh chủ quan, duy ý
chí và phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.
Thứ ba, Trong mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn được biểu hiện thông
qua: vai trò quan trọng của thực tiễn đối với lý luận (thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc
của lý luận; thực tiễn là động lực, mục đích của lý luận; thực tiễn là tiêu chuẩn để
kiểm tra tính đúng đắn của lý luận ) và vai trò của lý luận đối với thực tiễn (lý luận
định hướng và tổ chức thực tiễn; lý luận giúp khắc phục bệnh kinh nghiệm trong
hoạt động thực tiễn).
Thứ tư, Tư tưởng triết học trong hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh. Một trong
những nội dung quan trọng và có ý nghĩa sâu sắc liên quan trực tiếp đến công tác giáo
dục và đào tạo cán bộ, đó chính là nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Tác
giả đã tìm hiểu và hệ thống lại những quan điểm của Hồ Chí Minh nhìn nhận dưới góc
độ triết học về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn như một giải pháp cơ bản nhằm
khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều. Đây được coi là một trong những di
sản lý luận mà Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta.
Thứ năm, tác giả Nguyễn Phú Trọng đã phân tích vấn đề lý luận và thực tiễn,
mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn cho rằng:
Nhìn vào sự phát triển của đất nước trong những thập kỷ gần đây, chúng ta
có thể khẳng định: Nếu không xuất phát từ thực tiễn, không tổng kết thực tiễn thì
chắc chắn không thể có lý luận đổi mới, không thể có đường lối đổi mới đúng đắn;
cũng giống như không có sự chỉ đạo của lý luận, không có lý luận đổi mới đúng đắn
thì không thể có thực tiễn đổi mới thành công.
2.2. Vai trò, thực trạng và giải pháp của việc thực hiện sự thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn có các công trình sau
- Đề tài “Đổi mới tư duy lý luận ứng dụng vào việc đổi mới nội dung,
chương trình bài giảng và giáo trình giảng dạy lý luận Mác - Lênin, theo yêu

8


cầu đổi mới về giáo dục lý luận Mác - Lênin trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ V”, GS Nguyễn Đức Bình - Chủ nhiệm đề tài cấp bộ, năm 1991.
Nội dung của đề tài khẳng định tính cấp thiết của việc quán triệt nguyên tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc đổi mới nội dung, chương trình
bài giảng và giáo trình các môn học lý luận Mác - Lênin. Muốn đổi mới về giáo
dục lý luận Mác - Lênin trước tiên phải đổi mới tư duy lý luận và ứng dụng nó
vào trong đổi mới nội dung, chương trình, giáo trình các môn học Mác - Lênin
theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V.
- "Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ báo cáo viên của Đảng bộ
cấp huyện ở đồng bằng sông Cửu Long", Huỳnh Minh Khởi, Luận văn thạc sĩ Triết
học, Hà Nội, 2006. Tác giả đã tập trung nghiên cứu lý luận chính trị và vai trò của
nó đối với hoạt động của người BCV.
- "Thông tin với hoạt động lãnh đạo, quản lý của cán bộ chủ chốt cấp cơ
sở", Nguyễn Thị Huệ, Luận văn thạc sĩ Triết học, Hà Nội 2007. Tác giả đã phân tích
sâu vai trò của thông tin đối với hoạt động lãnh đạo, quản lý của cán bộ chủ chốt
cấp cơ sở và đề ra giải pháp phát huy vai trò của của thông tin đối với hoạt động
lãnh đạo, quản lý.
- “Phát huy vai trò thông tin chính trị - xã hội trong hoạt động tuyên truyền
miệng của đội ngũ báo cáo viên cấp cơ sở tỉnh Cà Mau hiện nay”, Nguyễn Hồng
Vệ, Luận văn thạc sĩ Triết học, Hà Nội, 2008. Tác giả đã làm rõ thực trạng phát huy
vai trò của thông tin chính trị - xã hội đối với hoạt động tuyên truyền miệng của đội
ngũ BCV cấp cơ sở Cà Mau, đề xuất một số giải pháp phát huy vai trò của thông tin
chính trị - xã hội đối với công tác tuyên truyền miệng của đội ngũ BCV cấp cơ sở ở
Cà Mau trước yêu cầu mới.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu tên ít nhiều nội
dung liên quan đến đề tài luận văn, đó là những tài liệu có giá trị tham khảo quan
trọng. Đặc biệt, việc thực hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt

9


động của đội ngũ báo cáo viên cơ sở trước tình hình phức tạp như hiện nay đã và
đang là vấn đề có ý nghĩa cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Nghiên cứu, luận giải làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về nguyên tắc thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động của đội ngũ BCV cơ sở tại quận Tây
Hồ - Thành phố Hà Nội, đề xuất những giải pháp cơ bản, nhằm nâng cao chất lượng
vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động báo cáo
viên cơ sở ở Quận Tây Hồ - Thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn.
- Phân tích tầm quan trọng của việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn trong hoạt động của đội ngũ BCV.
- Phân tích làm rõ thực trạng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong
hoạt động của đội ngũ BCV cơ sở tại quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của đội
ngũ BCV cơ sở tại quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn nguyên tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động của đội ngũ BCV cơ sở tại quận
Tây Hồ, thành phố Hà Nội hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề, điều
kiện thự hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động của đội ngũ
BCV tại quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội hiện nay.
Các số liệu, tư liệu, điều tra khảo sát tính từ năm 2010 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1. Cơ sở lý luận:
10


- Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn.
- Những văn bản của Trung ương, Thành ủy Hà Nội, Ban Tuyên giáo Thành
ủy Hà Nội về hoạt động của đội ngũ BCV
- Cơ sở lý luận còn là các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về nguyên
tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh.
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận của luận văn là các nguyên tắc phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Phương pháp nghiên cứu triết học: phương pháp phân tích và tổng hợp,
lôgích - lịch sử, chuyên ngành và liên ngành

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ sự cần thiết, hiệu quả
giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động của đội ngũ BCV cơ sở tại quận Tây Hồ,
thành phố Hà Nội hiện nay.
- Với những kết quả nghiên cứu cung cấp những cơ sở khoa học cho lãnh
đạo, cán bộ chủ trì các cấp và cơ quan chức năng trong lãnh đạo, chỉ đạo nâng sự
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động của đội ngũ BCV cơ sở tại quận
Tây Hồ, thành phố Hà Nội hiện nay.
7. Kết cấu của đề tài: Đề tài gồm phần mở đầu, 2 chương (5tiết), kết luận,
danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục.

11


12


Chương 1
THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA ĐỘI NGŨ BÁO CÁO VIÊN CƠ SỞ
1.1. Sự cần thiết phải thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt
động của đội ngũ báo cáo viên cơ sở
1.1.1. Quan điểm Mác - Xít về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của lý luận
nhận thức Macxít nói riêng, chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung. Xung quanh vấn đề
thực tiễn đã có nhiều trường phái triêt học bàn đến từ những góc độ khác nhau.
Trong lịch sử Triết học, các nhà triết học duy tâm hiểu thực tiễn như là hoạt
động tinh thần chứ không hiểu nó như là hoạt động vật chất của con người. Nhìn
chung các nhà triết học duy tâm mắc sai lầm căn bản là ở chỗ, xem xét nhận thức
tách rời hoạt động vật chất của con người, chỉ giới hạn thực tiễn ở hoạt động tư
tưởng, thực chất họ đã gạt bỏ thực tiễn khỏi nhận thức. Chẳng hạn, Hêghen cho
rằng “Thực tiễn là một suy lý lôgic”.
Các nhà triết học duy vật trước Mác đã có công lao lớn trong cuộc đấu tranh
chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và thuyết không thể biết để khẳng định, bảo vệ
và phát triển thế giới quan duy vật. Tuy nhiên, khuyết điểm lớn nhất của họ là họ
không thấy được vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức, lý luận nên quan
điểm của họ mang tính chất trực quan. Các nhà triết học duy tâm lại tuyệt đối hóa
yếu tố tinh thần, tư tưởng của thực tiễn, họ hiểu họat động thực tiễn như là hoạt
động tinh thần, hoạt động của “ý niệm”, tư tưởng, tồn tại đâu đó ngoài con người,
nói cách khác, họ gạt bỏ vai trò thực tiễn trong đời sống xã hội.
Mác-Ăngghen, những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khắc phục những hạn chế
trong quan điểm về thực tiễn của các nhà triết học trước và đưa ra quan điểm đúng
đắn, khoa học về thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức cũng như đối
với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Với việc đưa phạm trù thực tiễn
13


vào lý luận, Mác- Ăngghen đã thực hiện bước chuyển biến cách mạng trong lý luận
nói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin, con người tự làm ra lịch sử của
mình, nhưng không phải bắt đầu bằng hoạt động lý luận, mà bằng hoạt động thực
tiễn cải tạo thế giới hiện thực. Chính các nhà sang lập chủ nghĩa Mác -Lênin là
những người đầu tiên trong lịch sử triết học đã đưa thực tiễn vào lý luận nhận thức
và đưa ra quan điểm đúng đắn về bản chất của thực tiễn. Do đó đã đem lại một quan
niệm khoa học về vai trò và ý nghĩa thực tiễn đối với nhận thức cũng như sự tồn tại
và phát triến xã hội loài người. V.I.Lênin viết rằng “Quan điểm về đời sống, về thực
tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức” [46,tr.167].
Thực tiễn là hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử- xã hội của
con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.
Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người. Nếu con vật chỉ
hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài,
thì con người nhờ hoạt động thực tiễn là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của
mình mà cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, và để làm chủ thế giới.
Trong qúa trình hoạt động thực tiễn con người đã tạo ra được một “thiên nhiên thứ
hai” của mình, một thế giới của văn hóa tinh thần và vật chất, những điều kiện mới
cho sự tồn tại và phát triển của con người vốn không có sẵn trong tự nhiên. Vì vậy,
không có hoạt động thực tiễn, con người và xã hội loài người không thể tồn tại và
phát triển được. Thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là
phương thức đầu tiên, chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới.
Thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với hoạt động nhận thức. Trong mối quan
hệ với nhận thức, vai trò của thực tiễn được biểu hiện trước hết ở chỗ, thực tiễn là
cơ sở, động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức, Ăngghen khẳng định “chính
việc người ta biến đổi tự nhiên, chứ không phải chỉ một mình giới tự nhiên, với tính
cách giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp của tư duy con người, và trí
tuệ con người đã phát triển song song với việc người ta cải biến tự nhiên”.
14


Con người quan hệ với thế giới không phải bắt đầu bằng lý luận mà bằng thực
tiễn. Chính từ trong qúa trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới mà nhận thức của
con người được hình thành, phát triển. Thông qua hoạt động thực tiễn con người tác
động vào thế giới buộc thế giới phải bộ lộ ra những thuộc tính, những tính quy luật
để con người nhận thức chúng. Thoát ly thực tiễn, nhận thức đã thoát ly khỏi mảnh
đất hiện thực nuôi dưỡng nó phát triển vì thế không thể đem lại những tri thức sâu
sắc, xác thực, đúng đắn về sự vật, sẽ không có khoa học, không có lý luận.
Trong qúa trình hoạt động cải biến thế giới, con người cũng biến đổi luôn cả bản
thân mình, thực tiễn rèn luyện các giác quan của con người làm cho chúng tinh tế
hơn, trên cơ sở đó phát triển tốt hơn. Nhờ đó con người ngày càng đi sâu vào nhận
thức thế giới, khám phá những bí mật của nó, làm phong phú và sâu sắc tri thức của
mình về thế giới. Thực tiễn còn đề ra những nhu cầu, nhiệm vụ, phương hướng phát
triển của nhận thức, vì thế nó luôn thúc đẩy sự ra đời của các ngành khoa học.
Thực tiễn còn là cơ sở để chế tạo công cụ, phương tiện máy móc mới, hỗ trợ
con người trong qúa trình nhận thức, khám phá, chinh phục thế giới. Ăngghen cho
rằng, nhu cầu cấp thiết của thực tiễn, của sản xuất sẽ thúc đẩy nhận thức khoa học
phát triển nhanh hơn hàng chục trường đại học.
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức còn thể hiện ở chỗ, thực tiễn là tiêu chuẩn
của chân lý. Theo Mác và Ăngghen thì “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người
có thể đạt tới chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý
luận mà là một vấn đề của thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải
chứng minh chân lý”. Tất nhiên, nhận thức xã hội còn có tiêu chuẩn riêng, đó là tiêu
chuẩn lô gic nhưng tiêu chuẩn lô gic không thể thay thế cho tiêu chuẩn thực tiễn, và
xét đến cùng nó cũng phụ thuộc vào tiêu chuẩn thực tiễn.
Đó là tư tưởng cơ bản của Mac-Ăngghen khi đưa phạm trù thực tiễn vào nội
dung của lý luận nhận thức, tư tưởng đó đã được Lênin bảo vệ và phát triển sâu sắc
hơn trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, trong
đó Lênin nhắc lại luận cương thứ hai của Mac về Phoi-ơbăc và Người kết
15


luận “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản
của lý luận về nhận thức”. Tư tưởng của Lênin về vai trò của thực tiễn đối với nhận
thức vẫn đang là nguyên tắc phương pháp luận quan trọng hướng dẫn chúng ta
trong hoạt động thực tiễn, trong nghiên cứu khoa học. Nếu không bám sát thực tiễn
cuộc sống chúng ta sẽ không thể có lý luận, không thể có khoa học, không xác định
nổi bất kỳ đề tài khoa học nào với đúng nghĩa của nó.
Lý luận là sản phẩm cao của nhận thức của sự phản ánh hiện thực khách quan.
Trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, các nguyên lý và các quy luật tạo nên lý
luận, quy luật là hạt nhân của lý luận, là sản phẩm của qúa trình nhận thức nên bản
chất của lý luận là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh một
cách gần đúng đối tượng nhận thức.
Lý luận là trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm. Tri thức lý luận là tri
thức khái quát tri thức kinh nghiệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lý luận là
sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự
nhiên và xã hội tích trữ lại trong qúa trình lịch sử”. Lý luận được hình thành trên
cơ sở tổng kết kinh nghiệm, nhưng không phải mọi lý luận đều trực tiếp xuất phát từ
kinh nghiệm. Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận có thể đi trước những dữ
kiện kinh nghiệm mà vẫn không làm mất đi mối liên hệ giữa lý luận với kinh
nghiệm.
Khác với kinh nghiệm, lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao nên nó
đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, về tính quy luật của các sự vật, hiện tượng
khách quan. Vì vậy, nhiệm vụ của nhận thức lý luận là đem quy sự vận động bề
ngoài chỉ biểu hiện trong hiện tượng về sự vận động bên trong thực sự.
Chủ nghĩa Mác-Lênin xem xét lý luận và thực tiễn trong sự thống nhất biện
chứng. Thực tiễn là hoạt động vật chất còn lý luận là hoạt động tinh thần, nên thực
tiễn đóng vai trò quyết định trong quan hệ đối với lý luận. Lênin viết: “Thực tiễn
cao hơn nhận thức (lý luận) nó có ưu điểm không những của tính phổ biến mà của
tính hiện thực trực tiếp”.
16


Tính phổ biến của thực tiễn đối với nhận thức (lý luận) thể hiện ở chỗ, thực tiễn
là khâu quyết định đối với hoạt động nhận thức. Một lý luận được áp dụng trong
thời gian càng dài, không gian càng rộng thì hiệu qủa đạt được càng cao, càng
khẳng định tính chân lý của thực tiễn. Ngay cả một giả thiết khoa học muốn trở
thành lý luận phải thông qua hoạt động thực nghiệm kiểm tra, xác nhận. Như vậy,
chỉ có qua hoạt động thực tiễn thì lý luận mới có giá trị tham gia vào qúa trình biến
đổi hiện thực.
Hoạt động lý luận là hoạt động đặc biệt nó thống nhất hữu cơ với hoạt động thực
tiễn. Vì vậy, khi nhấn mạnh vai trò của thực tiễn đối với lý luận, chủ nghĩa MacLênin cũng khẳng đinh tính tích cực của sự tác động trở lại của lý luận đối với thực
tiễn. Lênin khẳng định: “không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách
mạng”. Lý luận là “kim chỉ nam” cho hành động thực tiễn. Cố nhiên để có thể giải
đáp được những vấn đề của cuộc sống, lý luận phải không ngừng liên hệ bằng
những hình thức khác nhau với thực tiễn. Cho nên, thực chất vai trò của lý luận đối
với thực tiễn là ở chỗ lý luận đem lại cho thực tiễn những tri thức đúng đắn về
những quy luật vận động và phát triển của thế giới khách quan.
Lý luận có thể dự kiến được sự vận động của sự vật trong tương lai, chỉ ra
những phương hướng mới cho sự phát triển của thực tiễn. Lý luận khoa học làm cho
con người trở nên chủ động, tự giác, hạn chế tình trạng “mò mẫm”, tự phát. Vì vậy,
Chủ tịch Hồ Chí Minh ví “không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”.
Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, do tính gián tiếp, tính trừu tượng cao trong sự
phản ánh hiện thực nên lý luận có khả năng xa rời thực tiễn và trở thành ảo tưởng.
Vì thế, không được cường điệu vai trò của lý luận, mặt khác không được xem nhẹ
thực tiễn và tách rời lý luận với thực tiễn. Điều đó cũng có nghĩa là phải quán
triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nhận thức khoa học và
hoạt động cách mạng.

17


Trong Triết học Mácxit và trong chủ nghĩa Mác-Lênin, sự thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn như một thuộc tính vốn có, một đòi hỏi nội tại. Nguyên tắc này có
ý nghĩa to lớn rong việc nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn.
Hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn thống nhất với nhau dưới nhiều hình
thức và trình độ biểu hiện khác nhau. Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh (khái
quát) những vấn đề của đời sống sinh động. Nhưng thước đo tính cao thấp của lý
luận với thực tiễn biểu hiện trước hết ở chỗ lý luận đó phải hướng hẳn về đời sống
hiện thực, để giải quyết những vấn đề do chính sự phát triển của thực tiễn đặt ra, và
như vậy, lý luận góp phần thúc đẩy thực tiễn phát triển, bởi vì ở bên ngoài sự thống
nhất lý luận và thực tiễn, tự thân lý luận không thể biến đổi được hiện thực, nói
cách khác, hoạt động lý luận không có mục đích tự thân mà vì phục vụ thục tiễn, để
cải tạo thực tiễn.
Thực chất của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là phải quán triệt được
thực tiễn là cơ sở, là động lực, mục đích của lý luận, của nhận thức, là tiêu chuẩn
của chân lý (lý luận). Như trên đã nói, lý luận đích thực bao giờ cũng bắt nguồn từ
thực tiễn, do thực tiễn quy định. Thực tiễn quy định lý luận thể hiện ở nhu cầu, nội
dung, phương hướng phát triển của nhận thức, lý luận. Thực tiễn biến đổi thì lý luận
cũng biến đổi theo, nhưng lý luận cũng tác động trở lại thực tiễn bằng cách soi
đường, chỉ đạo, dẫn đắt thực tiễn.
Trên cơ sở nhận thức và vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn phải chống bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều. Chúng ta coi trọng kinh
nghiệm thực tiễn và không ngừng tích luỹ vốn kinh nghiệm quý báu đó.Song chỉ
dừng lại ở trình độ kinh nghiệm, thỏa mãn với vốn kinh nghiệm của bản thân, coi
kinh nghiệm là tất cả, tuyệt đối hóa kinh nghiệm đồng thời coi nhẹ lý luận, ngại học
tập, nghiên cứu lý luận, ít am hiểu lý luận, không quan tâm tổng kết kinh nghiệm để
đề xuất lý luận thì sẽ rơi vào lối suy nghĩ giản đơn, tư duy áng chừng, đại khái,
phiến diện thiếu tính lô gic, tính hệ thống, do đó, trong hoạt động thực tiễn thì mò

18


mẫm, tuỳ tiện, thiếu tính đồng bộ về lý luận trong tất cả các lĩnh vực do vậy dễ rơi
vào bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa.
Mặt khác, thái độ thực sự coi trọng lý luận đòi hỏi phải ngăn ngừa bệnh giáo
điều. Nết tuyệt đối hóa lý luận, coi lý luận là bất di bất dịch, việc nắm lý luận chỉ
dừng lại ở những nguyên lý chung chung trừu tượng không chú ý đến những hoàn
cảnh lịch sử cụ thể của sự vận dụng lý luận thì dễ mắc bệnh giáo điều.
Thực chất những sai lầm của bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều đều là vi
phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Để ngăn ngữa, khắc phục có
hiệu qủa hai căn bệnh trên phải coi trọng cả lý luận và thực tiễn.
1.1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn
Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam đã để lại cho dân tộc
Việt Nam những di sản lý luận vô cùng quý giá mà một trong những di sản ấy là tư
tưởng về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Xuất phát từ học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh
khẳng định: "Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của
chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn
mù quáng. Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông". Hồ Chí
Minh dùng nhiều cách diễn đạt khác nhau để mọi người dễ hiểu: "Lý luận đi đôi với
thực tiễn", "Lý luận kết hợp với thực hành", "Lý luận và thực hành phải luôn luôn
đi đôi với nhau”, "Lý luận phải liên hệ với thực tế” [33, tr.292]. Dù nói “đi đôi”,
“gắn liền”, “kết hợp” nhưng điều cốt lõi nhất mà Người muốn nhấn mạnh là:
“Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác
– Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý
luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” [33, tr.292]. Như vậy,
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được Hồ Chí Minh hiểu trên tinh thần biện
chứng: Thực tiễn cần tới lý luận soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng
để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, còn lý luận phải dựa trên cơ sở thực tiễn,
19


phản ánh thực tiễn và phải luôn liên hệ với thực tiễn, nếu không sẽ mắc phải bệnh
giáo điều. Nghĩa là thực tiễn, lý luận cần đến nhau, nương tựa vào nhau, hậu thuẫn,
bổ sung cho nhau.
Hồ Chí Minh cho rằng, để quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn nhằm khắc phục bệnh kinh nghiệm thì trước hết cần khắc phục bệnh
kém lý luận, bệnh khinh lý luận. Bởi lẽ, kém lý luận, khinh lý luận nhất định sẽ dẫn
tới bệnh kinh nghiệm. Hơn nữa, không có lý luận thì trongtrong hoạt động thực tiễn
người ta dễ chỉ dựa vào kinh nghiệm, dễ dẫn tới tuyệt đối hóa kinh nghiệm, cho
kinh nghiệm là yếu tố quyết định thành công trong hoạt động thực tiễn. Nếu không
có lý luận hay trình độ lý luận thấp sẽ làm cho bệnh kinh nghiệm thêm trầm trọng,
thêm kéo dài. Thực tế cho thấy, ở nước ta có không ít cán bộ, đảng viên “chỉ bo bo
giữ lấy kinh nghiệm lẻ tẻ. Họ không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự thực
hành cách mạng. Vì vậy, họ cứ cắm đầu nhắm mắt mà làm, không hiểu rõ toàn cuộc
của cách mạng” [33, tr.247]. Những cán bộ ấy quên rằng, “kinh nghiệm của họ tuy
tốt, nhưng cũng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉ thiên về một mặt mà thôi.
Có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng một mắt mờ” [33,
tr.234]. Thực chất là họ không hiểu vai trò của lý luận đối với thực tiễn. Theo Hồ
Chí Minh, lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với thực tiễn, lý luận “như cái kim
chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý
luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi” [33, tr.47]. “Làm mà không có lý luận thì
không khác gì đi mò trong đêm tối vừa chậm chạp vừa hay vấp váp” [33, tr.47].
Làm mò mẫm chính là biểu hiện của bệnh kinh nghiệm. Kém lý luận, khinh lý luận
không chỉ dẫn tới bệnh kinh nghiệm mà còn dẫn tới bệnh giáo điều. Bởi lẽ, do kém
lý luận, khinh lý luận nên không hiểu thực chất lý luận, chỉ thuộc câu chữ lý luận và
do đó cũng không thể hiểu được bản chất những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh. Do
đó, không vận dụng được lý luận vào giải quyết những vấn đề thực tiễn mới nảy
sinh. Nếu có vận dụng thì cũng không sát thực tế không phù hợp với thực tiễn.
20


Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng luôn nhắc nhở rằng, có lý luận rồi thì phải kết
hợp chặt chẽ với kinh nghiệm thực tế, liên hệ với thực tiễn nếu không lại mắc phải
bệnh lý luận suông, tức bệnh giáo điều. Người khẳng định, “Lý luận cũng như cái tên
(hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để hắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn
lung tung, cũng như không có tên” [33, tr.235]. Như vậy cũng có nghĩa là lý luận
suông, lý luận sách vở thuần túy. “Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý
luận mà không áp dụng vào công việc thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng
ngàn, hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái
hòm đựng sách” [33, tr.234]. Do đó, khi vận dụng lý luận vào thực tiễn phải xuất phát
từ thực tiễn, nếu không cũng mắc phải bệnh giáo điều. Như vậy, lý luận chỉ có ý nghĩa
đính thực khi được vận dụng vào thực tiễn phục vụ thực tiễn, đóng vai trò soi đường,
dẫn đắt, chỉ đạo thực tiễn. Đồng thời, khi vận dụng lý luận vào thực tiễn thì phải phù
hợp điều kiện thực tiễn. Rõ ràng, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở Hồ Chí Minh
phải được hiểu là, thực tiễn - lý luận, lý luận - thực tiễn luôn hòa quyện, thống nhất với
nhau, đòi hỏi nhau, cần đến nhau, tạo tiền đề cho nhau phát triển.
Hồ Chí Minh không để lại những tác phẩm chuyên khảo về sự thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn, nhưng ở nhiều bài viết, bài nói Người luôn luôn đề cập tới
nguyên tắc cơ bản này bằng nhiều cách nói, cách viết, cách diễn đạt khác nhau
nhằm giúp cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân dễ nhớ, dễ hiểu, dễ vận dụng.
Cả cuộc đời của Người là tấm gương sáng về việc quán triệt nguyên tắc thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn. Một trong những biểu hiện sinh động ấy là, trong hoạt
động cách mạng Người luôn luôn sâu sát thực tế, gắn bó với cơ sở, gần gũi với nhân
dân. Trong khoảng 10 năm từ 1955 - 1965, Hồ Chí Minh đãthực hiện trên 700 lượt
đi thăm, tiếp xúc với cán bộ, bộ đội, công nhân, giáo viên, bác sĩ, nông dân, các cụ
phụ lão, các cháu thanh, thiếu niên nhi đồng, các đơn vị bộ đội, thanh niên xung
phong, các hợp tác xã, bệnh viện, trường học… Như vậy, mỗi năm có tới hơn 70 lần
xuống cơ sở gặp gỡ tiếp xúc với quần chúng nhân dân. Điều này đủ thấy Hồ Chí
Minh gắn bó với quần chúng, sâu sát với cơ sở, thực tế như thế nào.
21


Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên rằng, quán triệt tốt nguyên tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là góp phần trực tiếp ngăn ngừa, khắc phục
bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều. Để làm tốt điều này thì một mặt, phải ra sức
học tập, nâng cao trình độ lý luận cũng như chuyên môn nghiệp vụ. Mặt khác, phải
có phương pháp học tập đúng đắn, học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với
thực tế. Nếu không, chưa khắc phục được bệnh kinh nghiệm thì đã mắc phải bệnh
giáo điều, bệnh sách vở. Người chỉ rõ, “lý luận rất cần thiết, nhưng nếu cách học tập
không đúng thì sẽ không có kết quả. Do đó, trong lúc học tập lý luận, chúng ta cần
nhấn mạnh: Lý luận phải liên hệ với thực tế. [33, tr.496]. Điều quan trọng nữa theo
Người là phải chống giáo điều ngay trong học tập chủ nghĩa Lê-nin. Khi cc̣n sống
Người luôn phê phán kiểu học học thuộc lòng chủ nghĩa Mác- Lênin, “Học sách vở
Mác - Lênin nhưng không học tinh thần Mác - Lênin”. Đó là học theo kiểu “mượn
những lời của Mác, Lênin dễ làm cho người ta lầm lẫn”. Theo Hồ Chí Minh, học tập
chủ nghĩa Mác - Lênin là “phải học tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin, học tập
lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lập
trường quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế
trong công tác cách mạng của chúng ta” [33, tr.292]. “Học tập chủ nghĩa Mác –
Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân
mình, là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng một
cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm” [33, tr.247]. Hồ
Chí Minh cũng căn dặn cán bộ, đảng viên “học tập lý luận thì nhằm mục đích để
vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận, hoặc để tạo cho mình một cái vốn
lý luận để sau này đưa ra mặc cả với Đảng” [33, tr.498]. Như vậy, học tập chủ nghĩa
Mác - Lênin không phải vì chủ nghĩa Mác - Lênin, cũng không phải vì học tập
thuần túy, càng không phải học tập vì mục đích cá nhân nhằm có cái để mặc cả với
tổ chức. Học tập trước hết là để làm người, rồi mới làm cán bộ và phụng sự Tổ
quốc, nhân dân, giai cấp. Cho nên người cán bộ, đảng viên phải có thái độ học tập
đúng đắn mới có thể khắc phục được bệnh giáo điều trong nghiên cứu, học tập chủ
22


nghĩa Mác – Lênin. Tư tưởng này của Hồ Chí Minh cho tới nay vẫn giữ nguyên ý
nghĩa lý luận và thực tiễn đối với chúng ta. Người cũng lưu ý rằng, không nên coi
chủ nghĩa Mác – Lênin là kinh thánh, là những công thức có sẵn, cứng nhắc [33,
tr.247]. Có như vậy thì việc nghiên cứu, học tập vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin
mới có hiệu quả. Cùng với việc chống giáo điều trong học tập chủ nghĩa Mác Lênin thì còn phải chống giáo điều trong vận dụng lý luận cũng như kinh nghiệm
của nước khác, ngành khác. Người căn dặn cán bộ, đảng viên “Không chú trọng đến
đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là
sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều” [33, tr.449]. Để chống cả hai
loại giáo điều này, theo Hồ Chí Minh thì biện pháp cơ bản là phải gắn lý luận với
thực tiễn cách mạng nước nhà. Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với
thực tiễn cách mạng, khi vận dụng kinh nghiệm và lý luận phải xuất phát từ thực
tiễn nýớc nhà. Ngýời cũng nhấn mạnh rằng, cùng với việc chống bệnh giáo điều thì
phải đề phòng, ngăn ngừa chủ nghĩa xét lại. Bởi lẽ, nếu không có quan điểm đúng
đắn trong việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn thì người ta
dễ nhấn mạnh thái quá những đặc điểm dân tộc để phủ nhận những giá trị phổ biến
của chủ nghĩa Mác - Lênin. “Nhưng nếu quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ
nhận giá trị phổ biến của những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em, thì
sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại” [33, tr.449]. Đồng thời, Người
còn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải biết dùng lý luận đã học được để tổng kết kinh
nghiệm thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công tác. “… công việc gì bất kỳ thành
công hoặc thất bại, chúng ta cần nghiên cứu cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết
luận. Kết luận đó sẽ là cái chìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến
tới” [33, tr.243]. Người còn nhấn mạnh “ …cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để
giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm
cho nó đầy đủ dồi dào thêm” [33, tr.417]. Đó chính là quá trình tổng kết kinh
nghiệm thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận.
Làm được như vậy cũng có nghĩa là làm cho lý luận cần được “bổ sung bằng những
23


kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động” [33, tr.296]. Đồng thời, thực tiễn
mới sẽ được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận mới. Cứ như vậy, lý luận luôn
được bổ sung, hoàn thiện, phát triển bởi những kết luận mới được rút ra từ tổng kết
thực tiễn. Còn thực tiễn luôn được chỉ đạo, soi đường dẫn dắt bởi lý luận đã được
bổ sung bằng những kinh nghiệm thực tiễn mới. Đây là biểu hiện sinh động của
việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở Hồ Chí Minh.
“Làm như thế theo Người là tổng kết để làm cho nhận thức của chúng ta đối với các
vấn đề đó được nâng cao hơn và công tác có kết quả hơn” [33, tr.498]. Qua những
nhận định ở trên, chúng ta thấy rằng, để quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn nhằm ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều
có hiệu quả thì phải không ngừng học tập lý luận, nâng cao trình độ lý luận. Khi có
lý luận thì phảivận dụng vào thực tiễn, phải biết tổng kết thực tiễn để làm giàu lý
luận bằng những kinh nghiệm thực tiễn mới. Chỉ thông qua quy trình như vậy thì lý
luận mới gắn với thực tiễn, mới không trở thành giáo điều. Đồng thời thực tiễn mới
sẽ được chỉ đạo bồi lý luận sẽ không bị mò mẫm, vấp váp, hay chệch hướng. Như
thì bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều cũng không còn chỗ đứng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về thống nhất giữa lý luận và thực tiễn như một biện pháp
cơ bản để ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều có ý nghĩa hết
sức to lớn hiện nay, khi mà chúng ta đang tìm lời giải đáp cho nhiều vấn đề thực
tiễn đổi mới đặt ra. Bởi lẽ, để tìm lời giải cho những vấn đề đó chúng ta phải tìm ở
cả trong chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như ở chính thực tiễn
đổi mới hiện nay ở nước ta. Nghĩa là phải bằng phương pháp, quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh tổng kết những vấn đề thực tiễn ,
trong đó có hoạt động của đội ngũ báo cáo viên cơ sở một cách có lý luận.
1.1.3. Yêu cầu sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động của
đội ngũ báo cáo viên cơ sở
Trong hoạt động của đội ngũ BCV, công tác tuyên truyền là một phương thức
tiến hành công tác tư tưởng của Đảng, là kênh thông tin hiệu quả để truyền đạt các
24


các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến trực
tiếp với cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Vì vậy, quán triệt nguyên tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động của đội ngũ BCV cấp cơ sở
hiện nay là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển tải các chủ trương,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với cán bộ, đảng viên
và nhân dân ở cơ sở. Do đó, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động
của đội ngũ BCV cơ sở gồm những yêu cầu sau:
* Nội dung báo cáo phù hợp với đối tượng và thực tiễn
Việc quán triệt và thực hiện nghiêm túc định hướng chủ đạo của Đảng, việc
triển khai thực hiện Nghị quyết phải phù hợp và đáp ứng yêu cầu thực tiễn ở từng
giai đoạn cụ thể cũng như lâu dài của quận và phường. Tuy nhiên, có lúc thông tin
đến với cán bộ, đảng viên và nhân dân trong thời gian qua không đầy đủ, kịp thời,
thiếu tính hệ thống và thường xuyên, nhất là chủ trương, đường lối của Đảng trong
việc thực hiện những Luật mới có hiệu lực. Thực tế khẳng định rằng, đội ngũ BCV
cấp cơ sở vẫn là lực lượng nòng cốt, chủ yếu của cấp uỷ cơ sở trong việc tuyên
truyền, đưa đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước đến với cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Vì thế, cần phải căn
cứ vào từng đối tượng cụ thể để có sự điều chỉnh nội dung báo cáo sao cho phù hợp.
Nếu đối tượng là cán bộ ở cơ sở thì vấn đề phân định đối tượng còn có những nét
tương đồng, ít nhất là về phạm vi địa giới hành chính, dân tộc, phong tục, tập quán,
thói quen, quan điểm, trình độ nhận thức, v.v.. Đối với những đối tượng là đảng viên
và nhân dân với sự đa dạng về trình độ, thành phần, ngành nghề... thì vấn đề điều
chỉnh nội dung gắn lý luận với thực tiễn trong báo cáo là không dễ.
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn biểu hiện qua sự phù hợp của nội
dung với từng đối tượng cụ thể không chỉ dừng lại ở việc dành cho một nội dung cố
định với tất cả các đối tượng người nghe mà còn cần phải được điều chỉnh sao cho
phù hợp với từng đối tượng người nghe cụ thể. Cho nên, về mặt nội dung đòi hỏi
BCV cần phải chú ý chuẩn bị bài nói cho phù hợp với từng đối tượng người nghe cụ
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×