Tải bản đầy đủ

TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TỈNH PHÚ THỌ

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I

NGUYỄN THÀNH TRUNG

TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

HÀ NỘI, THÁNG 10 NĂM 2016


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I

NGUYỄN THÀNH TRUNG

TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TỈNH PHÚ THỌ


LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã ngành: 60340410
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄNCẢNH HOAN

HÀ NỘI, THÁNG 10 NĂM 2016

2


3

3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình.

Tác giả luận văn

Nguyễn Thành Trung

3


4

4
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế,
Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, Học viện Chính trị khu vực I đã tạo mọi
điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Cảnh Hoan
người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên,
khích lệ và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Tác giả luận văn

Nguyễn Thành Trung


4


5

5

MỤC LỤC

5


6

6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CMKT
CNH,HĐH
ĐTLĐ&VL
GD&ĐT
GDP
HĐND
ILO
LĐTB&XH
MT
SWOT
THCS
VN

6

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Giáo dục và đào tạo
Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Hội đồng nhân dân
Tổ chức Lao động quốc tế
Lao động thương binh và xã hội
Mặt trận
Trung học cơ sở
Việt Nam


7

DANH MỤC BẢNG

7


8

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm và giải quyết việc làm là một trong những vấn đề xã hội có
tính chất toàn cầu, nó quyết định đến mức sống của người dân, nó cũng là
nhân tố quan trọng đảm bảo cho sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của
mỗi quốc gia.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề việc làm, Đảng ta đã đề ra
nhiều chủ trương, đường lối thiết thực hiệu quả nhằm phát huy tối đa nội lực,
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi cơ cấu lao động, đáp ứng yêu
cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo nhiều việc làm cho người
lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị, tăng tỷ lệ sử dụng thời gian của lao
động nông thôn, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân.
Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc với dân số gần 1.400
nghìn người, trong đó có tới 81,8% dân số sống tập trung ở khu vực nông
thôn. Số người trong độ tuổi lao động trên 800 nghìn người, Tỷ lệ thất nghiệp
cao chiếm 3,15 %, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động khu vực nông thôn thấp
chỉ đạt 70%, bên cạnh đó mỗi năm có tới 23 nghìn người bước vào độ tuổi
lao động, trong khi mỗi năm tỉnh Phú Thọ chỉ giải quyết việc làm được dưới
21 nghìn người, trong đó chỉ tạo được 7,2 nghìn chỗ làm mới, thu nhập bình
quân đầu người thấp chỉ đạt 1.320USD/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo cao tới
17.4%. Để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước phấn đấu đến năm
2020 Việt Nam cơ bản là nước công nghiệp, với mục tiêu đến năm 2020 tỉnh
Phú Thọ trở thành tỉnh công nghiệp, thì vấn đề làm đang là một thách thức vô
cùng lớn đối với tỉnh Phú Thọ.
Do tầm quan trọng của vấn giải quyết việc làm cho lao động nên em
chọn đề tài nghiên cứu là “ Thực trạng và giải pháp Ttạo việc làm cho lao động
nông thôn tỉnh Phú Thọ giai đoạn từ năm 2012-2020” để làm cơ sở cho tỉnh

8


9
Phú Thọtài liệu tham khảo giải quyết bài toán việc làm, chuyển đổi cơ cấu lao
động, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu việc làm cho người lao
động góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
2.Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Phân tích những điểm mạnh và hạn chế trong Trên cơ sở nghiên cứu thực
tiễn rạng về việc làm trong nông thôn của lao động nông thôn tỉnh Phú Thọ, chỉ
ra Trả lời câu hỏi: nNhững nhân tố nào ảnh hưởng và những vẫn đề đặt ra trong
tạo việc làm cho lao động nông thôn. Trên cơ sở đó tìm ra những ưu điểm, hạn
chế về lao động việc làm, những nhân tố ảnh hưởng đến việc làm, từ đó đề xuất
một số giải pháp nhằm giải quyết nhu cầu việc làm để nâng cao đời sống cho
người lao động nông thôn tỉnh Phú Thọ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã
hội của tỉnh
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá về cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề lao
động - việc làm
- Phân tích đánh giá thực trạng việc làm và thu nhập, những nhân tố
ảnh hưởng đến việc làm của người lao động nông thôn tỉnh Phú Thọ
- Dự báo và một số giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn tỉnh
Phú Thọ giai đoạn 20122015-2020.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Là việc làm, lao động và các vấn đề liên
quan đến việc làm, nhu cầu việc làm trong nông thôn tỉnh Phú Thọ
3.2.

Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Nghiên cứu việc làm, lao động trong nông thôn
tỉnh Phú Thọ
Phạm vi thời gian: Từ năm 2009 2012 đến 20112014.

9


10
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, là tài liệu
giúp tỉnh Phú Thọ xây dựng quy hoạch phát triển việc làm trong nông thôn,
góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

5. Bố cục của luận văn gồm 4 chương
Chương 1: Cơ sở khoa học về lao động, việc làm
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng lao động và việc làm nông thôn tỉnh Phú Thọ
Chương 4: Giải pháp chủ yếu tạo việc làm cho lao động nông thôn tỉnh
Phú Thọ từ năm 20122015-2020

10


11

Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VIỆC LÀM, LAO ĐỘNG
1.1. Cơ sở khoa học về lao động và việc làm
1.1.1. Cơ sở lý luận về lao động, việc làm
1.1.1.1. Lao động và nguồn lao động
+ Khái niệm về lao động
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về lao động. Theo C.Mác “ Lao động
trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình
trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết
và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên”

11


12
Ph. Ăng ghen viết: “Khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của cải.
Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp những vật
liệu cho lao động đem biếm thành của cải. Nhưng lao động còn là còn là một
cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nưa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của
toàn bộ đời sống loài người, và như thế một mức mà trên một ý nghĩa nào đó,
chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản chất loài người”
Lao động là hoạt động đặc thù của con người, là hoạt động có mục
đích, có ý thức tác động vào thế giới tự nhiên nhằm cải biến những vật tự
nhiên thành sản phẩm phục vụ cho đời sống con người [ 6 ].
Như vậy, có thể nói lao động là hoạt động có mục đích có ý thức của
con người, trong quá trình lao động con người vận dụng sức lực tiềm tàng
trong thân thể của mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào đối tượng
lao động nhằm biến đổi nó phù hợp với nhu cầu của mình. Nói cách khác
trong bất kỳ nền sản xuất xã hội nào, lao động bao giờ cũng là điều kiện để
tồn tại và phát triển của xã hội.
Trong quá trình sản xuất, con người sử dụng công cụ lao động tác động
lên đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con
người. Lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài người, là cơ
sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hoá và xã hội. Nó là nhân tố quyết định của
bất cứ quá trình sản xuất và tái sản xuất nào. Như vậy, động lực của quá trình
triến kinh tế, xã hội quy tụ lại là ở con người. Con người với lao động sáng
tạo của họ đang là trọng tâm, là trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, mỗi địa phương[ 5 ]. Cho nên, cần phải thực sự giải
phóng sức sản xuất, khai thác có hiệu quả các tiềm năng thiên nhiên, trước hết
giải phóng người lao động, phát triển kiến thức và những khả năng sáng tạo
của con người. Vai trò của lao động đối với trong quá trình sản xuất và tái sản

12


13
xuất, phát triển kinh tế đất nước nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng rất
cần thiết
Lực lượng lao động hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế, bao gồm tất
cả những người từ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp [ 10].
Nguồn lao động là khái niệm có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở cho việc
tính toàn cân đối lao động, việc làm trong xã hội.
Lực lượng lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động,
có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động
(trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân [5].
Nguồn lao động là lực lượng về con người và được nghiên cứu dưới
nhiều khía cạnh, biểu hiện đó là số lượng và chất lượng.
Lao động trong độ tuổi lao động là những người có độ tuổi lao động
theo quy định của Luật Lao động hiện hành có nghĩa vụ và quyền lợi đem sức
lao động của mình ra làm việc. Lao động ngoài độ tuổi là những người chưa
đến hoặc đã quá tuổi lao động theo quy định của Luật Lao động hiện hành
nhưng thực tế vẫn tham gia lao động
Chất lượng lao động: cơ bản đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay nghề
được gọi là trí lực và sức khỏe được gọi thể lực của người lao động.
Lao động làm việc trong các ngành kinh tế là những người đang có việc
làm trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được nhận tiền lương, tiền
công hoặc lợi nhuận bằng tiền hay hiện vật hoặc làm các công việc sản xuất,
kinh doanh cá thể, hộ gia đình, hoặc đã có công việc làm nhưng đang trong
thời gian tạm nghỉ việc và sẽ tiếp tục trở lại làm việc sau thời gian tạm nghỉ
việc (tạm nghỉ việc do ốm đau, sinh đẻ, nghỉ hè, nghỉ lễ, đi du lịch..)
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số người
làm việc và thất nghiệp trong độ tuổi lao động so với tổng số dân trong độ
tuổi lao động.

13


14
Quá trình phát triển kinh tế - xã hội được dựa trên nhiều nguồn lực:
nhân lực (nguồn lực con người), vật lực (nguồn lực vật chất), tài lực (nguồn
lực về tài chính). Như vậy, nguồn lao động là nguồn lực con người và là một
trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội.... chỉ
có nguồn lực con người mới tạo ra động lực cho sự phát triển, những nguồn
lực khác muốn phát huy được tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con
người. Khi tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại như hiện nay thì cũng không thể
tách rời nguồn lực con người. Họ tạo ra máy móc thiết bị hiện đại, điều đó thể
hiện mức độ hiểu biết và chế ngự tự nhiên của con người. Nếu xem xét nguồn
lực là tổng thể những năng lực của con người tham gia vào quá trình sản xuất
thì năng lực đó là nội lực của con người. Trong phạm vi xã hội, đó là những
nguồn nội lực quan trọng cho sự phát triển, đối với nước ta trở thành nguồn
nội lực quan trọng nhất. Nếu biết khai thác tốt sẽ tạo nên một động lực to lớn
cho sự phát triển. Đảng ta trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực phục vụ
cho thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa nêu rõ: “Người lao động có trí tuệ
cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo bồi dưỡng và
phát triển bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học, công
nghệ hiện đại” [6].
Phân loại lao động: Các thuật ngữ sau đây được sử dụng như lực lượng
lao động, dân số làm việc, dân số hoạt động kinh tế. Theo khuyến nghị của
Liên hợp quốc hai bộ phận này được tách ra: Dân số hoạt động kinh tế bao
gồm tất cả những người không phân biệt giới, có thể cung cấp sức lao động
cho các hoạt động sản xuất ra các hàng hoá kinh tế hoặc các hoạt động trong
lĩnh vực hoạt động dân sự, lực lượng vũ trang. Nhóm người làm việc trong
lĩnh vực vũ trang có thể tách riêng vì được phân biệt đay là lực lượng lao
động đặc biệt. Lao động bao gồm: 1) Những người có việc làm: Là những
người đang làm việc trong khoảng thời gian xác định quan sát và những người

14


15
trước đó có việc làm nhưng hiện đang nghỉ tạm thời vì nhiều lý do như ốm
đau, tai nạn, tranh chấp lao động hoặc nghỉ lễ hoặc ngừng việc tạm thời do
thời tiết, máy móc hư hỏng...2) Thất nghiệp.
1.1.1.2. Việc làm và giải quyết việc làm
a. Khái niệm về việc làm
Con người là động lực, động cơ, trung tâm của sự phát triển xã hội, với
nguồn lực của mình là trí lực và sức lực, con người chỉ có thể tham gia đóng
góp cho sự phát triển xã hội thông qua quá trình làm việc của mình. Quá trình
làm việc này được thể hiện qua hai yếu tố chủ quan và khách quan đó là sức
lao động của người lao động và tất cả các điều kiện tối thiểu cần thiết để
người lao động sử dụng sức lao động của họ tác động lên tư liệu sản xuất và
tạo ra sản phẩm xã hội. Quá trình kết hợp sức lao động và các điều kiện cần
thiết để sử dụng sức lao động là quá trình người lao động làm việc. Quá trình
lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động trong công việc. “Mọi
hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được
thừa nhận là việc làm” [6]. Tổ chức Lao động quốc tế đưa ra khái niệm Việc
làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật.
Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội,
phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Một người lao động có
việc làm khi người ấy chiếm được một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất
của xã hội. Thông qua việc làm, người ấy thực hiện quá trình lao động tạo ra
sản phẩm và thu nhập của người họ.
Mỗi một hình thái xã hội, mỗi giai đoạn phát triển kinh tế xã hội thì
khái niệm việc làm được hiểu theo những khía cạnh khác nhau. Trước đây
người ta cho rằng chỉ có việc làm trong các xí nghiệp quốc doanh và trong
biên chế nhà nước thì mới có việc làm ổn định, còn việc làm trong các thành
phần kinh tế khác thì bị coi là không có việc làm ổn định. Với những quan

15


16
niệm đó nên người lao động cố gắng xin vào làm việc trong các cơ quan, xí
nghiệp này. Nhưng hiện nay quan điểm ấy không tồn tại nhiều trong số những
người đi tìm việc làm. Lực lượng lao động này sẵn sàng tìm bất cứ công việc
gì, ở đâu, thuộc thành phần kinh tế nào cũng được miễn là hành động lao
động của họ được nhà nước khuyến khích không ngăn cấm và đem lại thu
nhập cao cho họ.
Như chúng ta đã biết hai phạm trù việc làm và lao động có liên quan
với nhau và cùng phản ánh một loại lao động có ích của một người, nhưng hai
phạm trù đó hoàn toàn không giống nhau vì: Có việc làm thì chắc chắn có lao
động nhưng ngược lại có lao động thì chưa chắc đã có việc làm vì nó phụ
thuộc vào mức độ ổn định của công việc mà người lao động đang làm.
Như vậy, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản
xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Người lao
động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ
thống sản xuất của xã hội. Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện
được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân.
b. Phân loại việc làm
* Phân loại việc làm theo mức độ sử dụng thời gian lao động
Việc làm đầy đủ: Với cách hiểu chung nhất là người có việc làm là
người đang có hoạt động nghề nghiệp, có thu nhập từ hoạt động đó để nuôi
sống bản thân và gia đình mà không bị pháp luật ngăn cấm. Tuy nhiên việc
xác định số người có việc làm theo khái niệm trên chưa phản ánh trung thực
trình độ sử dụng lao động xã hội vì không đề cập đến chất lượng của công
việc làm. Trên thực tế, nhiều người lao động đang có việc làm nhưng làm việc
nửa ngày, việc làm có năng suất thấp và thu nhập thấp. Đây chính là sự không
hợp lý trong khái niệm người có việc làm và cần được bổ xung với ý nghĩa
đầy đủ của nó đó là việc làm đầy đủ.

16


17
Việc làm đầy đủ căn cứ trên hai khía cạnh chủ yếu đó là: Mức độ sử
dụng thời gian lao động, năng suất lao động và thu nhập. Mọi việc làm đầy đủ
đòi hỏi người lao động phải sử dụng đầy đủ thời gian lao động theo luật định
(Việt nam hiện nay qui định 8 giờ một ngày) mặt khác việc làm đó phải mang
lại thu nhập không thấp hơn mức tiền lương tối thiểu cho người lao động. Vậy
với những người làm việc đủ thời gian qui định và có thu nhập lớn hơn tiền
lương tối thiểu hiện hành là những người có việc làm đầy đủ.
Thiếu việc làm: là những việc làm không tạo điều kiện cho người lao
động tiến hành sử dụng hết qũy thời gian lao động, mang lại thu nhập cho họ
thấp dưới mức lương tối thiểu và người tiến hành việc làm không đầy đủ là
người thiếu việc làm.
Theo Tổ chức Lao động Thế giới (Viết tắt là ILO) thì khái niệm thiếu
việc làm được biểu hiện dưới hai dạng sau: (i) Thiếu việc làm vô hình: Là
những người có đủ việc làm làm đủ thời gian, thậm chí còn quá thời gian qui
định nhưng thu nhập thấp do tay nghề, kỹ năng lao động thấp, điều kiện lao
động xấu, tổ chức lao động kém, cho năng suất lao động thấp thường có mong
muốn tìm công việc khác có mức thu nhập cao hơn; (ii) Thiếu việc làm hữu
hình: Là hiện tượng người lao động làm việc với thời gian ít hơn quỹ thời
gian qui định, không đủ việc làm và đang có mong muốn kiếm thêm việc làm
và luôn sẵn sàng để làm việc.
Là người trong khoảng thời gian quan sát tuy không có việc làm nhưng
đang tìm kiếm việc làm hoặc sẵn sàng làm việc để tạo ra thu nhập bằng tiền
hay hiện vật, gồm cả những người chưa bao giờ làm việc. Thât nghiệp còn
bao gồm cả những người trong thời gian quan sát không có hoạt động tìm
kiếm việc làm vì họ đã được bố trí một việc làm mới sau thời gian quan sát,
những người đã bị buộc thôi việc không lương có hoặc không có thời hạn

17


18
hoặc những người không tích cực tìm kiếm việc làm vì họ quan niệm rằng
không thể tìm được việc làm [10].
* Phân loại việc làm theo vị trí lao động của người lao động, bao gồm:
(i) Việc làm chính: Là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời
gian nhất và đòi hỏi yêu cầu của công việc cần trình độ chuyên môn kỹ thuật;
(ii) Việc làm phụ: Là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời
gian nhất sau công việc chính.
* Vai trò của việc làm
Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể
thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên
suốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã
hội, nó chi phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội.
Đối với từng cá nhân, có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi sống
bản thân mình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của
cá nhân. Việc làm ngày nay gắn chặt với trình độ học vấn, trình độ tay nghề
của từng cá nhân. Thực tế cho thấy, những người không có việc làm thường
tập trung vào những vùng nhất định (vùng đông dân cư khó khăn về điều kiện
tự nhiên, cơ sở hạ tầng..), vào những nhóm người nhất định (lao động không
có trình độ tay nghề, trình độ văn hoá thấp,..). Thất nghiệp sẽ làm mất cơ hội
trau dồi, nắm bắt và nâng cao trình độ kĩ năng nghề nghiệp, làm hao mòn và
mất đi kiến thức, kỹ năng vốn có.
Đối với nền kinh tế, lao động là một trong những nguồn lực quan trọng
nhất, là đầu vào không thể thay thế, vì vậy nó là nhân tố tạo nên tăng trưởng
kinh tế và thu nhập quốc dân. Nền kinh tế luôn phải đảm bảo tạo cầu về việc
làm cho từng cá nhân nhằm duy trì mối quan hệ hài hoà giữa việc làm và tăng
trưởng kinh tế, tức là luôn bảo đảm cho nền kinh tế có xu hướng phát triển

18


19
bền vững, ngược lại nó cũng duy trì lợi ích và phát huy tiềm năng của người
lao động.
Đối với xã hội, mỗi một cá nhân, gia đình là một yếu tố cấu thành nên
xã hội. Vì vậy, vấn đề việc làm cũng tác động trực tiếp đến xã hội cả về mặt
tích cực và tiêu cực. Khi mọi cá nhân trong xã hội có việc làm thì xã hội đó
được duy trì và phát triển do không có mâu thuẫn nội sinh trong xã hội, giảm
thiểu các tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, con người được dần hoàn thiện về nhân
cách và trí tuệ…Ngược lại, khi nền kinh tế không đảm bảo đáp ứng nhu cầu
về việc làm cho người lao động có thể dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống
xã hội và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách con người. Con người có
nhu cầu lao động, ngoài việc đảm bảo nhu cầu đời sống còn đảm bảo các nhu
cầu về phát triển và tự hoàn thiện. Vì vậy, trong nhiều trường hợp khi không
có việc làm sẽ ảnh hưởng đến lòng tự tin của con người, sự xa lánh cộng đồng
và là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội. Ngoài ra, không có việc làm trong xã
hội sẽ tạo ra các hố ngăn cách giàu nghèo là nguyên nhân nảy sinh ra các mâu
thuẫn và ảnh hưởng đến tình hình chính trị.
Vai trò việc làm đối với từng cá nhân đối với phát triển kinh tế, ổn định
chính trị xã hội là rất quan trọng. Vì vậy, để đáp ứng được nhu cầu việc làm
của toàn xã hội đòi hỏi nhà nước và từng địa phương phải có những chiến
lược, kế hoạch cụ thể đáp ứng được nhu cầu này.
c. Giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm là quá trình tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu
sản xuất, số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội
khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, đòi hỏi cơ chế tạo việc làm từ 3
bên, bao gồm: sự tham gia tích cực của người lao động, nhà nước và người sử

19


20
dụng lao động, sao cho cơ hội việc làm và mong muốn được làm việc của
người lao động gặp nhau trên thị trường đúng lúc, đúng chỗ.
Về phía người lao động: Muốn tìm được việc làm phù hợp, có thu nhập
cao, đương nhiên phải có kế hoạch thực hiện và đầu tư cho phát triển sức lao
động của mình, có nghĩa là phải tự mình hoặc dựa vào các nguồn tài trợ (từ
gia đình, từ các tổ chức xã hội) để tham gia, phát triển, nắm vững một nghề
nghiệp nhất định.
Về phía Nhà nước: Tạo ra hành lang pháp lý, ban hành các luật lệ,
chính sách liên quan trực tiếp đến người lao động và người sử dụng lao động,
tạo môi trường pháp lý kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất là một bộ
phận cấu thành trong cơ chế tạo việc làm cho người lao động.
Về phía người sử dụng lao động: Cần có thông tin về thị trường đầu
vào và đầu ra để không chỉ tạo ra chỗ việc làm mà còn duy trì và phát triển
chỗ làm việc cho người lao động. Do đó, người sử dụng lao động cần có vốn
để mua hoặc thuê nhà xưởng; công nghệ, máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật
liệu, mua sức lao động để sản xuất ra sản phẩm. Hơn nữa, để mở rộng quy mô
sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất thì các chủ sử dụng lao động còn cần có
kinh nghiệm quản lý, biết vận dụng linh hoạt chính sách của nhà nước trong
lĩnh vực lao động, việc làm. Đồng thời, cần phải đề ra các quy định phù hợp,
quản lý lao động một cách khoa học và nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu
của tổ chức và nâng cao sự thoả mãn của người lao động, khơi dậy động lực
lao động ở mỗi người.
1.1.1.3. Thất nghiệp
Thất nghiệp: Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động có khả
năng lao động nhưng không có việc làm, hay nói cách khác là sẵn sàng làm việc
và đang đi tìm việc làm. Theo khái niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO),

20


21
thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn có
việc làm nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công nhất định.
Nội dung cơ bản của thất nghiệp là đề cập đến vấn đề:
+ Người lao động thuộc lực lượng lao động
+ Đang mong muốn tìm việc làm
+ Có khả năng làm việc
+ Hiện đang chưa có việc làm
Do đó không phải bất kỳ ai có sức lao động nhưng chưa có việc làm
cũng được coi là thất nghiệp. Vì vậy tiêu thức quan trọng để xem xét một
người được coi là thất nghiệp thì phải biết được người đó có muốn đi làm hay
khồng, bởi lẽ trên thực tế nhiều người có sức khoẻ, có nghề nghiệp song
không có nhu cầu làm việc, họ sống chủ yếu vào nguồn dự trữ, như khoản
tiền tiết kiệm, được cho biếu, tặng …
- Phân loại thất nghiệp có:
Xét về nguồn gốc thất nghiệp được chia thành:
+ Thất nghiệp tự nhiên: Là loại thất nghiệp khi có một tỷ lệ nhất định
số lao động ở trogn tình trang không có việc làm.
+ Thất nghiệp tạm thời: Là loại thất nghiệp do phát sinh quá trình duy
chuyển không ngừng của ngành lao động giữa các vùng, giữa các loại công
việc hoặc giữa các giai đoạn khác nhau của cuộc sống
+ Thất nghiệp cơ cấu: Là lạo thất nghiệp xảy ra khi có sự mất cân đối
giữa cung và cầu lao động trong một ngành hoặc một vùng nào đó.
+ Thất nghiệp chu kỳ: Là loại thất nghiệp xảy ra do giảm suát giá trị
tổng sản lượng của nền kinh tế. Trong giai đoạn suy thoái cuả chu kỳ kinh
doanh, tổgn giá trị sản suất giảm dần, hầu hết các nhà sản suất giảm sản lượng
cầu đối với các sản lượng đầu vào, trong đó có lao động. Đối với loại thất

21


22
nghiệp này, những chính sách nhằm khuyến khích tăng câầ thường mang lại
hiểu quả tích cực.
Xét về tính chủ động của người lao động, thất nghiệp chia thành:
+ Thất nghiệp tự nguyện: Là loại thất nghiệp mà ở mức tiền công nào
đó người lao động không muốn làm việc vì lý do cá nhân nào đó ( do di
chuyển, sinh con) Thất nhiệp loại này thường nắn với thất nghiệp tạm thời.
+ Thất nghiệp không tự nguyện: Là loại thất nghiệp mà ở mức tiền
công nào đó người lao động chấp nhận nhưng vẫn không được làm việc do
kinh tế suy thoái, cung lao động lơn hơn cầu về lao động
+ Thất nghiệp trá hình: Là hiện tượng xuất hiện khi người lao động
được sử dụng ở mức đưới khả năng mà bình thường người lao động sẵn sàng
làm việc. Hiện tượng này xảy ra khi năng suất lao động của một ngnàh nào đó
thấp. Thất nghiệp loại này thường Xuất hiện khi không sử dụng hết thời gian
lao động.
Xét theo hình thức thất nghiệp có thể chia thành:
+ Thất nghiệp theo giới tính: Là loại thất nghiệp của lao động nam hoặc nữ
+ Thất nghiệp theo tuổi: Là loại thất nghiệp của một lứa tuổi nào đó
trong tổng số người thuộc lực lượng lao động.
+ Thất nghiệp chia theo vùng lãnh thổ: Là hiện tượng thất nghiệp thuộc
vùng lãnh thổ ( thành thị, nông thôn, đồng bằng miền núi…)
+ Thất nghiệp phân theo nghành nghề: Là loại thất nghiệp xảy ra ở một
ngành nghề nào đó.
Ngoài các cách phân loại trên người ta có thể phân thất nghiệp theo tôn
giáo, dân tộc…
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Lao động nông thôn và giải quyết việc làm cho lao động nông
thôn trong giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa [11]

22


23
1.2.1.1. Thực trạng lao động và việc làm trong nông thôn
Một là về lực lượng lao động:
Năm 2011 theo Tổng cục Thống kê, nước ta có 50,8 triệu người từ 15
tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động, chiếm 58,5% tổng dân số, bao gồm 49,5
triệu người có việc làm và 1,3 triệu người thất nghiệp. Trong tổng số lực
lượng lao động của cả nước, nam giới chiếm 51,4,%, nữ giới chiếm 46,6%
Qua kết quả Tổng điều tra dân số, tỷ lệ nữ giới chiếm trong lực lượng lao
động có sự biến động rất nhỏ theo thời gian: Năm 1989 là 48,8%; Năm 1999
là 48,2% và năm 2009 là 48%; Giữa thành thị và nông thôn cũng biến động
mức thấp nhất: Đồng bằng sông Cửu Long là 45,7%, ở Đồng bằng Sông
Hồng 50,6%; Lao động giữa hai giới tính có sự chênh lệch rõ rệt.
Tỷ trọng lực lượng lao động ở khu vực thành thị tăng lên trong 30 năm
vừa qua, cho đến nay lực lượng lao động nước ta tập trung ở khu vực nông
thôn chiếm tới gần 3/4. Theo số liệu thống kê, tổng số 50,8 triệu lao động có
14,2 triệu lao động ở khu vực thành thị (chiếm 28%) và 36,6 triệu lao động ở
khu vực nông thôn (chiếm 72%).

Bảng 1.1. Cơ cấu lao động của Việt Nam năm 2011

TT
I
1.1
1.2
II

23

Danh mục
Cả nước
Trong đó:
Thành thị
Nông thôn
Các vùng

Lực lượng
lao động
(nghìn
người)
50.837,3

Tỷ trọng
Tổng Nam Nữ
số
(%) (%)
(%)
100 100 100

14.231

28,0

28,6

36.606

72,0

71,4

27,
4
72,
6

Nữ
(%)

48,6
47,6
49,0


24

2.1
2.2
2.3
2.4
2.5
2.6

Trung du và MN phía Bắc
Đồng bằng Sông Hồng
Bắc Trung bộ và Duyên
hải miền Trung
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ
Đồng bằng Sông Cửu
Long

6.942

13,7

13,3

11.554,5

22,7

21,8

11.040,7

21,7

21,3

2.957,5

5,8

5,9

8.124,6

16,0

16,4

10.218

20,1

21,2

14,
1
23,
7
22,
1
5,8
15,
5
18,
9

50,0
50,6
49,5
48,2
47,2
45,7

(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Báo cáo ĐTLĐ&VL Việt Nam năm 2011)
Cũng theo số liệu từ Báo cáo điều tra lao động và việc làm Việt Nam
năm 2011 cho thấy, tỉ lệ tham gia lực lượng lao động của cả nước, thành thị,
nông thôn và các vùng kinh tế - xã hội có sự chênh lệch. Năm 2010, trong
tổng số 65,7 triệu người từ 15 tuổi trở lên có hơn ba phần tư (77,4%) tham gia
lực lượng lao động. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chênh lệch đáng kể
giữa năm và nữ ( 82% so với 73%) và không đồng đều giữa các vùng. Tỷ lệ
tham gia lực lượng lao động năm 2010 của khu vực nông thôn cao hơn thành
thị tới 11,5 điểm phần trăm (81% so với 69,5%). Cả năm giới và nữ giới đều
có sự chênh lệch song mức chênh lệch của nữ giới lớn hơn nam giới.
Đến 01 tháng 12 năm 2011 cả nước có 51,5 triệu người từ 15 tuổi trở
lên thuộc lực lượng lao động, có 50,35 triệu người có việc làm, thất nghiệp
laf1,05 triệu người. Nữ chiếm 48,5% so với nam 51,5% tổng lực lượng lao
đông của cả nước. Đến nay vẫn còn 70,3% lực lượng lao động tập trung ở
nông thôn.
Về chất lượng lực lượng lao động:
Theo kết quả điều tra lao động và việc làm năm 2011, cho thấy tỷ trọng
lao động đã qua đào tạo ở nước ta vẫn còn thấp. Trong tổng số 50,8 triệu
người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động của cả nước, chỉ có 7,4 triệu

24


25
người đã được đào tạo (chiếm 14,7%) trong tổng lực lượng lao động. Như
vậy, nguồn nhân lực của nước ta trẻ và dồi dào nhưng trình độ tay nghề và
chuyên môn kỹ thuật thấp. Hiện cả nước có hơn 43,2 triệu lao động (chiếm
85,3% lực lượng lao động) chưa qua đào tạo để đạt một trình độ chuyên môn
kỹ thuật nào đó. Con số này đặt ra nhiệm vụ nặng nề cho những cố gắng
nhằm nâng cao chất lượng nuồn lao động phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp
hóa - hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta.
Bảng 1.2. Lực lượng lao động theo
trình độ chuyên môn kỹ thuật năm 2011
Danh mục
Toàn quốc
Thành thị
Nông thôn

Tổng
số
(%)
100
100
100

Không Dạy Trung Cao
Đại

nghề
cấp đẳng
học
CMKT
trở lên
85,3
3,8
3,5
1,7
5,7
69,6
6,4
5,7
2,9
15,4
91,4
2,9
2,6
1,2
1,9

(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Báo cáo ĐTLĐ&VL Việt Nam năm 2011)
Cũng từ kết quả điều tra lao động và việc làm cho thấy lao động đã qua
đào tạo có trình độ từ đại học trở lên tăng và hiện ở mức khoảng 5,7% vào
năm 2010, lao động đã qua đào tạo trình độ dạy nghề và trung cấp không tăng
lên mà có xu hướng giảm. Đó cũng là hậu quả của việc đào tạo không phù
hợp, dẫn tới tình trạng “thừa Thày, thiếu Thợ” như hiện nay, lao động lành
nghề trong hầu hết các lĩnh vực sản xuất kinh doanh đều thiếu trầm trọng.
Với cơ cấu dân số đã phân tích ở phần trên thì Việt Nam đang trong
thời kỳ cơ cấu dân số vàng, việc tận dụng “cơ cấu dân số vàng” để tạo cơ hội
cho phát triển kinh tế - xã hội đã và đang nhận được nhiều sự quan tâm của
các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách. Chính vì vậy, để tạo ra
lực lượng lao động vàng trong thời kỳ này, chúng ta cần xây dựng chiến lược

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×