Tải bản đầy đủ

Tranh chấp thương mại giữa hòa kỳ và trung quốc từ khi trung quốc gia nhập WTO đến nay (tt)

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Phan Thùy Linh

TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
GIỮA HOA KỲ VÀ TRUNG QUỐC
TỪ KHI TRUNG QUỐC GIA NHẬP WTO ĐẾN NAY

Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 62 31 01 06

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2017


Công trình được hoàn thành tại: .......................................... …………………………….
............................................................................................... …………………………….


Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Chu Đức Dũng
2. TS. Hoàng Thế Anh

Phản biện 1: GS. TS. Đỗ Tiến Sâm - Viện Nghiên cứu Trung Quốc
Phản biện 2: GS. TS. Đỗ Đức Bình - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Phản biện 3: PGS. TS. Lê Xuân Bá - Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại
............................................................................................... …………………………….
vào hồi……….giờ………phút, ngày………tháng……….năm……

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: thư viện
(ghi tên các thư viện nộp luận án)


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tranh chấp thương mại là một vấn đề tương đối phổ biến trong thương mại quốc tế.
Trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, tranh chấp thương mại
giữa các quốc gia ngày càng có xu hướng gia tăng khi mỗi quốc gia đều theo đuổi những
lợi ích kinh tế của mình. Trong rất nhiều tranh chấp thương mại, tranh chấp thương mại
giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc được xem là điển hình và có thể tham khảo dưới nhiều khía
cạnh.
Kể từ khi Trung Quốc gia nhập WTO (năm 2001), quan hệ thương mại giữa Hoa Kỳ
và Trung Quốc ngày càng mở rộng và phát triển. Hoa Kỳ trở thành nhà xuất khẩu quan
trọng vào thị trường Trung Quốc và Trung Quốc cũng từng bước trở thành nhà xuất khẩu
hàng đầu sang thị trường Hoa Kỳ. Bên cạnh việc tích cực tăng cường trao đổi thương mại
và hợp tác kinh tế song phương thì những tranh chấp thương mại ngày càng nảy sinh nhiều
hơn.
Những tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc bắt nguồn từ nhiều
nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do những mâu thuẫn tất yếu trong quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế và sự khác biệt về phương thức phát triển kinh tế của mỗi nước. Trung Quốc là
một thành viên mới của WTO và là một nền kinh tế thị trường chưa đầy đủ, do đó Hoa Kỳ
và một số quốc gia phát triển khác cho rằng quốc gia này còn chưa tuân thủ nghiêm túc tất
cả các nghĩa vụ và quy định của WTO. Ngược lại, Trung Quốc cho rằng, để hạn chế thâm
hụt thương mại, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Trung Quốc,
chính phủ Hoa Kỳ đã thực hiện nhiều biện pháp và chính sách hỗ trợ sản xuất công nghiệp
trong nước, và một số biện pháp của Hoa Kỳ là thiếu công bằng đối với các nhà sản xuất
Trung Quốc. Chính những bất đồng về quan điểm trong quá trình phát triển kinh tế của hai
nước đã khiến cho các tranh chấp thương mại diễn ra càng thường xuyên.

Tương tự với Trung Quốc, Việt Nam là quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi, trao đổi
thương mại với các nước ngày càng mở rộng, dẫn đến những tranh chấp thương mại với
các nước có xu hướng ngày càng tăng. Có thể thấy, trong quá trình hội nhập kinh tế và từ


khi gia nhập WTO (năm 2007), Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức trong việc thực
hiện các quy định của WTO trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, do đó việc học hỏi kinh
nghiệm từ các quốc gia khác, đặc biệt là các nước lớn như Hoa Kỳ và Trung Quốc để ngày
càng hoàn thiện hơn trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại là hoàn toàn phù hợp
vì vậy tôi đã lựa chọn đề tài “Tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc từ khi
Trung Quốc gia nhập WTO đến nay” để nghiên cứu.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Phân tích thực trạng và bản chất tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc
từ khi Trung Quốc gia nhập WTO đến nay để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt
Nam trong việc giải quyết tranh chấp thương mại với các thành viên WTO đặc biệt là đối
với Hoa Kỳ và Trung Quốc.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, luận án tập trung nghiên cứu làm rõ nội dung
sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về tranh chấp và giải quyết tranh chấp thương mại
trong khuôn khổ WTO: Quy trình giải quyết tranh chấp thương mại; Cơ chế, trình tự, thủ
tục giải quyết tranh chấp thương mại.
- Phân tích thực trạng tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc và các
biện pháp giải quyết tranh chấp thương mại giữa hai bên.
- Làm rõ nguyên nhân của tranh chấp thương mại chủ yếu giữa Hoa Kỳ và Trung
Quốc kể từ khi Trung Quốc gia nhập WTO.
- Luận án rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc giải quyết
tranh chấp thương mại với các nước khác trong khuôn khổ WTO, đặc biệt với Trung Quốc
và Hoa Kỳ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu


Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung
Quốc từ khi Trung Quốc gia nhập WTO đến nay (2001-2017).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Về mặt nội dung, Luận án nghiên cứu những quy định về giải quyết tranh chấp
thương mại trong khuôn khổ WTO (trong đó nội dung trọng tâm là tranh chấp thương
mại hàng hóa) giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc kể từ khi Trung Quốc gia nhập WTO và tác
động của tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.
+ Về thời gian và không gian, đề tài sẽ đề cập tới các quy định giải quyết tranh chấp
thương mại trong khuôn khổ WTO, tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc
kể từ khi Trung Quốc gia nhập WTO đến nay (năm 2001 - 2017).
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
+ Căn cứ vào đối tượng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, Luận án sử dụng
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để thu thập thông
tin, tìm hiểu khái quát về tranh chấp thương mại của WTO cũng như tranh chấp thương
mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc từ khi Trung Quốc gia nhập WTO đến nay.
Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả có sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp phân tích tổng hợp: Luận án tổng hợp các vụ tranh chấp thương mại
trong khuôn khổ WTO cũng như tranh chấp thương mại song phương giữa Hoa Kỳ và
Trung Quốc, từ đó chỉ rõ tác động của việc tranh chấp thương mại giữa hai nước đối với
nền kinh tế hai nước cũng như đối với Việt Nam.
+ Phương pháp kế thừa: Luận án kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình
nghiên cứu trước đó, bổ sung và làm rõ hơn các vấn đề nghiên cứu liên quan đến tranh
chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.
+ Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình: Luận án chọn nghiên cứu thực tiễn
tranh chấp thương mại trong khuôn khổ WTO và một số vụ cụ thể trong tranh chấp thương
mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khuôn khổ WTO.


+ Phương pháp dự báo: được sử dụng để dự báo tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ
và Trung Quốc trong khuôn khổ WTO trong thời gian tới.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa lý luận
Luận án làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về tranh chấp thương mại và giải quyết
tranh chấp thương mại trong khuôn khổ WTO. Bổ sung và hệ thống hóa những vấn đề liên
quan đến việc tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khuôn khổ WTO.
Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở phân tích những vấn đề tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung
Quốc trong khuôn khổ WTO từ khi Trung Quốc gia nhập WTO đến nay, làm rõ nguyên
nhân và quá trình giải quyết tranh chấp, luận án rút ra một số bài học kinh nghiệm cho
Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp thương mại với các nước. Do đó, luận án có giá
trị tham khảo đối với các cơ quan hoạch định và thực thi chính sách thương mại của Việt
Nam, các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam và các cơ quan thương mại có liên quan.
6. Những đóng góp mới của luận án
- Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về giải quyết tranh chấp thương mại trong
khuôn khổ WTO và thực tiễn tranh chấp thương mại đối với các quốc gia thành viên
WTO.
- Luận án đã phân tích được những quan điểm chính sách thương mại của Hoa Kỳ
đối với Trung Quốc và của Trung Quốc đối với Hoa Kỳ, thông qua đó trình bày rõ nguyên
nhân gây ra tranh chấp thương mại chủ yếu gần đây giữa hai nước và biện pháp giải quyết
tranh chấp thương mại giữa hai nước.
- Luận án phân tích tác động của tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung
Quốc đối với nền kinh tế Hoa Kỳ, Trung Quốc cũng như đối với Việt Nam.
- Thông qua việc phân tích nguyên nhân và biện pháp giải quyết tranh chấp thương
mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, Luận án rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt
Nam trong việc giải quyết tranh chấp thương mại với các nước khác, đặc biệt với Hoa Kỳ
và Trung Quốc trong khuôn khổ của WTO.


7. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, kết cấu của Luận án bao gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 2: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến tranh chấp thương mại
giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc từ khi Trung Quốc gia nhập WTO đến nay
Chương 3: Thực trạng tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc từ khi
Trung Quốc gia nhập WTO đến nay
Chương 4: Tác động của tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong
khuôn khổ WTO và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Trong Chương này, Luận án điểm lại các công trình và các tác giả trong và ngoài
nước đã nghiên cứu về chủ đề của Luận án theo các vấn đề sau:
1. Về tranh chấp thương mại trong khuôn khổ WTO.
2. Về nguyên nhân tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc từ khi Trung
Quốc gia nhập WTO đến nay.
3. Về thực trạng tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc từ khi Trung
Quốc gia nhập WTO đến nay.
4. Về biện pháp giải quyết tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc từ khi
Trung Quốc gia nhập WTO đến nay.
Phần tổng quan tài liệu nghiên cứu liên quan đến chủ đề “Tranh chấp thương mại
giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc từ khi Trung Quốc gia nhập WTO đến nay” cho thấy những
công trình nghiên cứu về tranh chấp thương mại trong khuôn khổ WTO khá đa dạng, tuy
nhiên, các công trình nghiên cứu về tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc
giai đoạn từ khi Trung Quốc gia nhập WTO đến nay còn rất ít và mới chỉ đề cập đến một
số khía cạnh về thực trạng mối quan hệ thương mại song phương giữa hai nước như: sự
mất cân đối trong thương mại của Hoa Kỳ với Trung Quốc đã tồn tại trong nhiều năm qua
và ngày càng trở nên trầm trọng. Ngoài ra, các công trình nghiên cứu nêu trên mới chỉ đề


cập đến một số nguyên nhân kinh tế dẫn đến thâm hụt thương mại giữa hai nước mà chưa
chú ý đến những nguyên nhân khác như yếu tố chính trị và văn hóa do lịch sử để lại. Đáng
chú ý là, một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ
và Trung Quốc và những biện pháp tự vệ trong giải quyết tranh chấp thương mại giữa
Trung Quốc và Hoa Kỳ trong WTO như: chống bán phá giá, áp dụng hạn ngạch đối với
hàng hóa nhập khẩu, … . Những biện pháp này thường dẫn đến sự trả đũa của phía đối tác.
Vì vậy, việc áp dụng những biện pháp này trong việc giải quyết tranh chấp thương mại
giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc nhiều khi tỏ ra không hiệu quả. Do đó, việc nghiên cứu tranh
chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc một cách hệ thống và đầy đủ là hết sức cần
thiết. Những khoảng trống này sẽ được Luận án tiếp tục nghiên cứu để từ đó rút ra một số
bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp thương mại với các
nước khác, đặc biệt với Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khuôn khổ WTO.
CHƯƠNG 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN TRANH CHẤP
THƯƠNG MẠI GIỮA HOA KỲ VÀ TRUNG QUỐC
TỪ KHI TRUNG QUỐC GIA NHẬP WTO ĐẾN NAY
2.1. Cơ sở lý luận về tranh chấp thương mại quốc tế trong WTO giữa Hoa Kỳ và
Trung Quốc
2.1.1. Khái quát một số lý thuyết về thương mại quốc tế
2.1.2. Các khái niệm liên quan đến thương mại quốc tế và tranh chấp thương mại
quốc tế
Tranh chấp thương mại quốc tế
Theo định nghĩa của Từ điển Financial Times, tranh chấp thương mại là sự tranh
chấp giữa hai hay nhiều quốc gia do những rào cản thương mại trên thực tế hay nhận thức
được, có ảnh hưởng đến xuất khẩu của ít nhất một trong các quốc gia có liên quan.
Tranh chấp về thương mại quốc tế là tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia khi
tham gia vào quan hệ thương mại quốc tế. Tùy thuộc vào quan hệ thương mại giữa các
quốc gia là quan hệ thương mại ở cấp độ song phương, khu vực hay ở phạm vi toàn cầu


mà tranh chấp về thương mại quốc tế có thể là tranh chấp giữa hai quốc gia với nhau, giữa
một số quốc gia với từng khu vực hay giữa nhiều quốc gia ở nhiều châu lục khác nhau.
Tính phức tạp của các mối quan hệ thương mại giữa các quốc gia có tranh chấp do đó
cũng gia tăng tùy thuộc vào cấp độ tranh chấp là song phương, đa phương hoặc toàn cầu.
2.1.3. Tổng quan về tranh chấp thương mại trong WTO
Tranh chấp thương mại trong khuôn khổ của WTO
Tranh chấp thương mại trong khuôn khổ của WTO là tranh chấp giữa các nước thành
viên WTO về thực hiện chính sách thương mại trên cơ sở thực thi cam kết của WTO, các
hiệp định của WTO và cam kết gia nhập WTO. Một trong những đặc điểm trong hoạt
động của WTO là WTO có cơ chế giải quyết tranh chấp riêng của mình và sẽ được áp
dụng khi giữa các thành viên có xung đột hoặc tranh chấp trong quá trình thi hành các cam
kết theo các Hiệp định của WTO.
2.1.4. Tổng quan về cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại của WTO
Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại của WTO:
Cơ chế giải quyết tranh chấp là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định về thủ
tục, quy trình, phương thức giải quyết tranh chấp, về cơ quan có thẩm quyền giải quyết
tranh chấp với bộ máy có chức năng và thẩm quyền được phân định cụ thể, về biện pháp
bảo đảm thi hành phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp và thực thi phán quyết của
cơ quan giải quyết tranh chấp trong thực tế. Các quy phạm pháp luật này cũng được các
thành viên của WTO thỏa hiệp có giá trị ràng buộc đối với mỗi một cũng như tất cả các
thành viên của WTO với ý nghĩa là cơ chế giải quyết tranh chấp riêng có, đặc thù của
WTO thể hiện ở sự hình thành, nguyên tắc giải quyết tranh chấp, biện pháp bảo đảm thi
hành phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (thường được gọi tắt là DSB,
Dispute Settlement Body) với hệ thống các quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp
(thường được gọi tắt là DSU, Dispute Settlement Understanding). Sau một thời gian thực
hiện, DSU của WTO đã phát huy hiệu quả trong việc giải quyết các tranh chấp giữa các
quốc gia trong khuôn khổ WTO.
Văn bản điều chỉnh giải quyết tranh chấp thương mại


WTO đã hình thành một cơ chế giải quyết tranh chấp đầy đủ, chi tiết để giải quyết
tranh chấp thương mại giữa các thành viên WTO được gọi là Thỏa thuận về các Quy tắc
và Thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp (DSU, Dispute Settlement
Understanding). Điều 1.1 DSU quy định “các quy tắc và thủ tục của Thỏa thuận này phải
được áp dụng cho những tranh chấp được đưa ra theo những quy định về tham vấn và giải
quyết tranh chấp của những hiệp định liệt kê trong phụ lục 1 của hiệp định này”.
Các cơ quan giải quyết tranh chấp thương mại

Các cơ quan giải quyết tranh chấp thương mại trong khuôn khổ WTO
Quy trình giải quyết tranh chấp thương mại: Tham vấn (Consultation), Môi giới, Trung
gian, Hoà giải, Ban hội thẩm (Panel), Phúc thẩm (Appelate Review), Khuyến nghị các giải
pháp (Recommended Remedies), Thi hành (Implementation) và xem xét thi hành, Bồi
thường/trả đũa, Trọng tài.
2.1.5. Các hình thức cam kết thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khuôn
khổ WTO
2.2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại trong khuôn khổ WTO
Tính đến tháng 05/2017, đã có 525 vụ tranh chấp thương mại của các nước thành
viên đã được gửi đến WTO để giải quyết cho thấy sự thành công của cơ chế giải quyết
tranh chấp thương mại của WTO trong quan hệ kinh tế quốc tế. Các vụ tranh chấp thương


mại được giải quyết trong thời gian qua đem lại lợi ích, nâng cao năng lực cạnh tranh đảm
bảo cho sự phát triển của chính sách thương mại quốc tế cũng như tạo sự ổn định trong
quan hệ thương mại giữa các quốc gia thành viên WTO. Bên cạnh đó DSU còn có nhiều
quy định dành cho các nước thành viên là các nước đang phát triển hoặc kém phát triển
khi tham gia giải quyết tranh chấp, bảo vệ quyền lợi của mình trong quan hệ kinh tế quốc
tế.
Theo báo cáo hàng năm của WTO được công bố vào đầu năm 2017, đến hết năm
2016, đã có 2/3 số thành viên của WTO tham gia vào các vụ tranh chấp thương mại của tổ
chức này với tư cách nguyên đơn, bị đơn hoặc bên thứ hai. Số vụ kiện mà Hoa Kỳ là
nguyên đơn lên tới 112 vụ, EU là nguyên đơn của 97 vụ, Canada là nguyên đơn của 35 vụ
và Brazil 30 vụ. Với tư cách là bị đơn, Hoa Kỳ có liên quan đến 129 vụ, EU 83 vụ, Trung
Quốc 38 vụ và Ấn Độ 24 vụ.
Trong tổng số 525 vụ tranh chấp thương mại, có 427 vụ tranh chấp liên quan đến
GATT 1994, 59 vụ liên quan đến hiệp định thành lập WTO, 117 vụ liên quan đến Hiệp
định về bán phá giá và thuế chống bán phá giá (điều 6 GATT 1994),116 vụ liên quan đến
các biện pháp trợ cấp và đối kháng, 80 vụ liên quan đến hiệp định nông nghiệp, 52 vụ liên
quan đến các rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT), 47 vụ liên quan đến các biện
pháp tự vệ trong thương mại, 46 vụ liên quan đến giấy phép nhập khẩu, 45 vụ liên quan
đến các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch vệ sinh, 42 vụ tranh chấp liên quan đến đầu tư
thương mại (TRIMS), 34 vụ tranh chấp liên quan đến hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ
(TRIPS), 31 vụ liên quan đến Nghị định thư gia nhập, 24 vụ liên quan đến Hiệp định
chung về thương mại dịch vụ (GATS), 17 vụ liên quan đến việc tính giá kê khai hải quan
(Điều 7 GATT 1994), 16 vụ liên quan đến hiệp định về dệt may.
Các tranh chấp thương mại được gửi đến WTO rất đa dạng ở cả 3 lĩnh vực: thương
mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ, trong đó các vụ tranh chấp liên quan
đến thương mại hàng hóa chiếm tỷ lệ 86%, chính vì vậy các minh chứng trong Luận án
này tác giả lựa chọn sẽ đi phân tích những ví dụ về tranh chấp trong thương mại hàng hóa
và quyền sở hữu trí tuệ có liên quan đến thương mại.


Theo thống kê, các quốc gia liên quan nhiều nhất đến các vụ tranh chấp thương mại
trong phạm vi WTO là: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, Ấn Độ,
Australia, Canada, Hàn Quốc, Brazil, Mexico. Các quốc gia có nền kinh tế phát triển và là
thành viên từ trước của WTO như Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản thường khiếu kiện các quốc
gia thuộc nhóm đang phát triển, các quốc gia có nền kinh tế mới nổi do áp dụng các biện
pháp hạn chế đối với nhập khẩu hàng hóa, các biện pháp chống phá giá và chống trợ cấp,
vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và vi phạm các hiệp định trong phạm vi WTO. Ngược lại,
các quốc gia thuộc nhóm đang phát triển và các quốc gia có nền kinh tế mới nổi cũng
nhiều lần đệ đơn kiện các quốc gia có nền kinh tế phát triển về việc sử dụng các rào cản kỹ
thuật hay áp dụng các biện pháp trợ cấp, tự vệ …
Trong số các quốc gia có liên quan nhiều nhất tới các vụ tranh chấp thương mại trong
khuôn khổ WTO, Hoa Kỳ và Trung Quốc là hai trường hợp khá điển hình. Hoa Kỳ và
Trung Quốc là hai quốc gia có quy mô GDP lớn nhất thế giới và có quan hệ thương mại
với nhiều quốc gia và khu vực trong quan hệ quốc tế. Cùng với sự tăng cường hợp tác kinh
tế, mở rộng trao đổi thương mại những mâu thuẫn, tranh chấp thương mại cũng nảy sinh
ngày càng nhiều giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Tính đến tháng 5/2017, Hoa Kỳ tham gia tổng cộng 384 vụ tranh chấp thương mại
trong khuôn khổ WTO, trong đó có 114 vụ tham gia với tư cách là nguyên đơn, 130 vụ
tham gia với tư cách là bị đơn, và 140 vụ tham gia với tư cách là bên thứ ba. Trung Quốc
tham gia 194 vụ tranh chấp thương mại trong đó có 15 vụ tham gia với tư cách là nguyên
đơn, 39 vụ tham gia với tư cách là bị đơn, và 140 vụ tham gia với tư cách là bên thứ ba.
Một số ví dụ về giải quyết tranh chấp thương mại giữa các quốc gia trong khuôn khổ
WTO
+ Vụ tranh chấp DS438: EU kiện Argentina về các biện pháp ảnh hưởng tới nhập khẩu
hàng hóa.
+ Vụ tranh chấp DS454: Nhật Bản kiện Trung Quốc áp đặt thuế chống bán phá giá đối với
ống thép đúc không gỉ chất lượng cao từ Nhật Bản.
+ Vụ tranh chấp số DS436: Ấn Độ kiện Hoa Kỳ về các biện pháp chống trợ cấp đối với
sản phẩm tấm thép carbon nóng nhập khẩu từ Ấn Độ


Bên cạnh những thành công thì DSU của WTO thì cũng còn có những hạn chế sau:
Một là, các vụ tranh chấp thương mại được giải quyết theo đúng quy trình sẽ chiếm
một khoảng thời gian không nhỏ của các nước. Thời gian từ 9 – 12 tháng cho một vụ kiện
là tương đối dài cho các nước tham gia giải quyết tranh chấp thương mại.
Hai là, đi liền với những mất mát về thời gian khi theo đuổi các vụ tranh chấp thương
mại các nước cũng sẽ mất một khoản chi phí kinh tế không hề nhỏ nếu các vụ kiện đang
được xem xét trái với các quy định của các Hiệp định WTO đặc biệt đối với các thành viên
là nước đang hoặc kém phát triển.
Ba là, DSU cũng không có quy định hoặc biện pháp bảo vệ nào bảo vệ lợi ích thương
mại cho các bên tranh chấp thương mại trong suốt quá trình tham gia giải quyết tranh chấp
thương mại.
Bốn là, trong một vụ kiện được giải quyết tranh chấp thương mại các tài liệu liên
quan đến vụ tranh chấp thương mại cũng như các hoạt động của cơ quan giải quyết tranh
chấp thương mại đều bí mật. Điều này dẫn đến sự hoài nghi của một số nước thành viên
khi tham gia giải quyết tranh chấp thương mại của WTO.
CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
GIỮA HOA KỲ VÀ TRUNG QUỐC
TỪ KHI TRUNG QUỐC GIA NHẬP WTO ĐẾN NAY
3.1. Quan hệ thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc từ khi Trung Quốc gia nhập
WTO đến nay
3.1.1. Khái quát về quan hệ thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc từ khi Trung
Quốc gia nhập WTO đến nay
Kể từ khi Hoa Kỳ và Trung Quốc nối lại quan hệ ngoại giao (tháng 1/1979), ký kết
hiệp định thương mại song phương vào tháng 7/1979 và thông qua nguyên tắc ưu đãi tối
huệ quốc năm 1980, quan hệ thương mại giữa hai nước ngày càng phát triển. Tổng kim
ngạch thương mại hai chiều giữa hai nước đã tăng từ 2 tỷ USD năm 1979 đến 578,2 tỷ
USD năm 2016.


3.1.2. Những vấn đề tồn tại
Bên cạnh việc mở rộng trao đổi thương mại không ngừng, từ đầu thập niên đến nay,
quan hệ kinh tế và thương mại giữa hai nước vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề.
Thứ nhất, một vấn đề tồn tại lớn trong quan hệ thương mại giữa hai quốc gia là quy
mô thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ với Trung Quốc. Mức thâm hụt thương mại năm
2016 là 347 tỷ USD. Về phía Hoa Kỳ, mức thâm hụt thương mại khổng lồ của Hoa Kỳ với
Trung Quốc có thể được cho là một chỉ số cho thấy mối quan hệ thương mại mất cân bằng
và đe dọa tới sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế Hoa Kỳ.
Thứ hai, sự khác biệt về mô hình kinh tế của hai quốc gia. Trong thời gian qua, Hoa
Kỳ đã thể hiện quan điểm muốn thâm nhập sâu vào nền kinh tế Trung Quốc, hướng Trung
Quốc theo những định hướng có lợi cho cả Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Thứ ba, những bất đồng liên quan đến chính sách phát triển các ngành công nghiệp
của Trung Quốc. Cộng đồng các doanh nghiệp của Hoa Kỳ cũng thường xuyên bày tỏ sự
lo ngại về chính sách công nghiệp của Trung Quốc do những chính sách này có xu hướng
hạn chế khả năng tiếp cận của hàng hóa và dịch vụ từ các nhà sản xuất của nước ngoài
nhằm thúc đẩy các ngành công nghiệp trong nước của Trung Quốc, còn gọi là chính sách
hỗ trợ “sáng tạo bản địa”.
Thứ tư, Trung Quốc là chủ nợ lớn nhất của Hoa Kỳ. Theo số liệu thống kê của Bộ Tài
chính Hoa Kỳ, trong tổng số nợ nước ngoài hơn 6 nghìn tỷ USD của Hoa Kỳ, Nhật Bản
nắm giữ số nợ là 1.106,9 tỷ USD, trong khi Trung Quốc nắm giữ khoản nợ là 1.092,2 tỷ
USD, đây cũng là hai chủ nợ lớn nhất đối với khoản nợ nước ngoài khổng lồ của chính
phủ Hoa Kỳ.
Nhìn chung, quan hệ thương mại Hoa Kỳ và Trung Quốc, dù như một bản nhạc lúc
bổng lúc trầm nhưng hướng đi cơ bản vẫn là ổn định. Sự liên thuộc về lợi ích kinh tế được
xem là chiếc cầu nối giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Nếu như nền kinh tế Hoa Kỳ lại rơi vào
cuộc suy thoái, hệ thống đồng USD bị sụp đổ thì Trung Quốc sẽ chịu tổn thất vô cùng lớn,
nền kinh tế thế giới bao gồm cả nền kinh tế Trung Quốc cũng sẽ nảy sinh những khó khăn
rất lớn. Ngược lại, nếu kinh tế Trung Quốc rơi vào hoàn cảnh khó khăn nghiêm trọng thì
cũng gây ra những tác dụng phụ rất lớn đến kinh tế Hoa Kỳ, thậm chí cho cả nền kinh tế


thế giới. Do đó, mặc dù vẫn còn tồn tại những bất đồng song về cơ bản hai quốc gia này
vẫn phụ thuộc lẫn nhau về lợi ích kinh tế và chính trị.
3.2. Thực trạng tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc từ khi Trung
Quốc gia nhập WTO đến nay
3.2.1. Tình hình chung
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ trong trao đổi thương mại giữa hai nước, những
tranh chấp thương mại cũng nảy sinh ngày càng nhiều vì vậy cả hai nước thường xuyên
phải khiếu nại lên DSB của WTO để giải quyết tranh chấp thương mại.
Như đã đề cập đến ở chương II, tính đến tháng 5/2017, trong khuôn khổ WTO Hoa
Kỳ tham gia tổng cộng 384 vụ tranh chấp thương mại còn Trung Quốc tham gia 194 vụ
tranh chấp thương mại. Xét riêng những tranh chấp thương mại song phương giữa Hoa Kỳ
và Trung Quốc trong khuôn khổ WTO thì đến tháng 5/2017 Hoa Kỳ và Trung Quốc đã
nộp 31 đơn kiện tranh chấp thương mại lên DSB của WTO, trong đó có 21 đơn kiện từ
phía Hoa Kỳ, 10 đơn kiện từ phía Trung Quốc.
Tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc liên quan đến nhiều vấn đề: từ
thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc, áp đặt thuế chống trợ cấp đối với
lốp xe ô tô, ống thép sử dụng trong ngành dầu khí, vô tuyến màu, hạn chế sự gia tăng của
ngành dệt may do các công ty Trung Quốc sản xuất và xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ
đến vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của các doanh nghiệp Trung Quốc, thuế chống bán phá
giá và thuế đối kháng của Hoa Kỳ ... Nếu như các tranh chấp thương mại của Hoa Kỳ đối
với Trung Quốc có xu hướng nhằm mục tiêu vào các chính sách công nghiệp của Trung
Quốc và những vấn đề thách thức từ các doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc, thì các
tranh chấp thương mại của Trung Quốc đối với Hoa Kỳ lại liên quan nhiều đến chống bán
phá giá và thuế đối kháng.


Các hình thức tranh chấp thương mại phổ biến giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc
từ khi Trung Quốc gia nhập WTO đến nay
3.2.2. Các khiếu nại từ phía Hoa Kỳ
Các khiếu nại từ phía Hoa Kỳ liên quan đến các lĩnh vực: chất bán dẫn, phụ tùng ô
tô, sản phẩm nghe nhìn, xuất khẩu nguyên liệu thô của Trung Quốc, thiết bị điện gió, dịch
vụ thanh toán điện tử, vật liệu thép, đất hiếm. Các vấn đề liên quan trong những tranh chấp
thương mại bao gồm: việc không tuân thủ quyền sở hữu trí tuệ có liên quan đến thương
mại của Trung Quốc, quyền kinh doanh và phân phối dịch vụ cho các sản phẩm nhất định,
việc hỗ trợ các khoản vay của Trung Quốc, thuế đối kháng và thuế chống bán phá giá.
Minh chứng về một số vụ tranh chấp thương mại
 Hoa Kỳ kiện Trung Quốc về các rào cản thuế quan
 Hoa Kỳ kiện Trung Quốc về hạn ngạch xuất khẩu
 Hoa Kỳ kiện Trung Quốc về các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong nước
 Hoa Kỳ kiện Trung Quốc về các biện pháp thuế chống bán phá giá và thuế chống
trợ cấp
 Hoa Kỳ kiện Trung Quốc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ có liên quan đến thương mại
3.2.3. Các khiếu nại từ phía Trung Quốc


Có thể thấy, những tranh chấp thương mại của Trung Quốc với bị đơn là Hoa Kỳ
thường liên quan đến các lĩnh vực nhập khẩu thép, lốp ô tô gia cầm, thủy sản. Phần lớn các
trường hợp khiếu nại của Trung Quốc liên quan đến chống bán phá giá (AD), thuế chống
trợ cấp hay thuế đối kháng (CVD), và biện pháp tự vệ. Để giải quyết những tranh chấp
thương mại, Trung Quốc đã sử dụng cơ chế DSM nhằm chống lại chính sách bảo vệ của
Hoa Kỳ. Trung Quốc cho rằng, nếu họ không giành chiến thắng, việc sử dụng cơ chế DSM
của Trung Quốc cũng có thể giúp ngăn chặn các thành viên khác trong WTO giảm bớt hồ
sơ chống bán phá giá đối với Trung Quốc.
Minh chứng về một số vụ tranh chấp thương mại
 Trung Quốc kiện Hoa Kỳ về biện pháp tự vệ
 Trung Quốc kiện Hoa Kỳ về các rào cản kỹ thuật
 Trung Quốc kiện Hoa Kỳ về các biện pháp thuế chống bán phá giá và chống trợ
cấp.
3.3. Những nguyên nhân tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc từ khi
Trung Quốc gia nhập WTO đến nay
3.3.1. Nguyên nhân chính trị
Mục tiêu của Hoa Kỳ là duy trì địa vị lãnh đạo thế giới, không để cho các nước cạnh
tranh với vai trò này của Hoa Kỳ. Trong khi đó, Trung Quốc hiện nay tạm thời chấp nhận
vai trò siêu cường đứng sau Hoa Kỳ nhưng lại muốn thiết lập một thế giới đa cực, trong đó
Trung Quốc là một cực, có vị trí và vai trò quan trọng trên trường quốc tế. Điều này thể
hiện chính sách hai mặt dường như mâu thuẫn nhau của Trung Quốc: một mặt mong muốn
tăng cường quan hệ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, mặt khác lại muốn làm suy yếu địa vị bá
quyền của Hoa Kỳ. Sự bất đồng về lợi ích chiến lược này có tính chất lâu dài và cạnh
tranh nhau, một trong những biểu hiện của mâu thuẫn chính là kiềm chế nhau về mặt kinh
tế.
3.3.2. Nguyên nhân kinh tế
3.3.2.1. Quan điểm từ phía Hoa Kỳ


Theo quan điểm của các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ, hầu hết các vụ
tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc là do hậu quả của sự quá độ không
hoàn toàn sang nền kinh tế thị trường tự do.
- “Chủ nghĩa tư bản nhà nước” (State Capitalism) và chính sách “sáng tạo bản địa” của
Trung Quốc
Phía Hoa Kỳ cũng cho rằng chính sách hiện đại hóa kinh tế và thúc đẩy “sáng tạo bản địa”
của Trung Quốc là một trong những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp thương mại giữa hai
nước.
- Hàng rào thương mại của Trung Quốc
Theo quan điểm của Hoa Kỳ, Trung Quốc vốn là một nước đặc trưng bởi hàng rào thương
mại cao và vô số các luật lệ thương mại không bình đẳng.
- Chính sách đồng nhân dân tệ của Trung Quốc
Nhiều ý kiến cho rằng, việc Trung Quốc kiểm soát tỷ giá hối đoái đã góp phần thúc đẩy
thâm hụt thương mại giữa hai nước và khiến những tranh chấp thương mại gia tăng trong
những năm gần đây.
- Vấn đề quyền sở hữu trí tuệ
Mặc dù Trung Quốc đã đưa ra nhiều quy định mới về việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ có
liên quan đến thương mại cho các đối tác của nước ngoài, song việc vi phạm bản quyền sở
hữu trí tuệ ở Trung Quốc vẫn ở mức độ cao và gây ra những thiệt hại lớn về kinh tế.
- Vấn đề an ninh mạng
An ninh mạng từ lâu đã được coi là một vấn đề gây nhiều tranh cãi trong mối quan hệ
thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Trong một báo cáo lên Quốc hội Hoa Kỳ, Bộ
Quốc phòng Hoa Kỳ cho rằng các tin tặc Trung Quốc xâm nhập không gian mạng để ăn
cắp công nghệ và các bí mật thương mại của Hoa Kỳ để cung cấp cho quân sự và chính
phủ Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc phủ nhận những cáo buộc của Hoa Kỳ.
- Các vấn đề khác
3.2.2.2. Quan điểm từ phía Trung Quốc
- Chính sách kiểm soát xuất khẩu của Hoa Kỳ đối với hàng hóa của Trung Quốc


Thông thường, Hoa Kỳ xuất khẩu các sản phẩm có chi phí vốn cao và sử dụng công nghệ
cao hơn, nhưng trên thực tế, nhằm mục đích kiềm chế Trung Quốc, Hoa Kỳ không xuất
khẩu các sản phẩm có chi phí vốn cao và công nghệ cao sang Trung Quốc, và Hoa Kỳ
cũng hạn chế xuất khẩu công nghệ cao, do đó dẫn đến thâm hụt thương mại lớn. Mất cân
bằng thương mại dẫn đến tranh chấp thương mại giữa hai bên ngày càng tăng.
- Các hàng rào kỹ thuật của Hoa Kỳ để hạn chế hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc
Theo quan điểm từ phía Trung Quốc, chính phủ Hoa Kỳ thường xuyên sử dụng các hàng
rào kỹ thuật của Hoa Kỳ để hạn chế hàng hóa của Trung Quốc.
- Các biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa của Trung Quốc
Trong những năm qua, các công cụ chính sách thương mại chống bán phá giá thường
xuyên được sử dụng ở Hoa Kỳ để bảo vệ các ngành sản xuất trong nước khỏi các nhà sản
xuất nước ngoài. Trong số đó, các nhà sản xuất của Trung Quốc liên quan đến các vụ điều
tra của Hoa Kỳ về bán phá giá nhiều nhất.
- Các vấn đề khác
3.4. Một số nhận xét về tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc từ khi
Trung Quốc gia nhập WTO đến nay
Từ khi Trung Quốc gia nhập WTO đến nay, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã có nhiều vụ
tranh chấp thương mại. Theo thống kê về các vụ khiếu nại trong khuôn khổ WTO giữa
Hoa Kỳ và Trung Quốc, tính đến tháng 5/2017, trong tổng số 31 vụ tranh chấp giữa hai
bên trong phạm vi WTO, Hoa Kỳ là nguyên đơn trong 21 vụ, Trung Quốc là nguyên đơn
trong 10 vụ. DSU của WTO đã tiến hành điều tra và đã đưa ra phán quyết đối với nhiều vụ
khiếu nại trong số đó. Từ các vụ tranh chấp thương mại giữa hai nước từ khi Trung Quốc
gia nhập WTO đến nay có thể rút ra một số nhận xét như sau:
Thứ nhất, cả Hoa Kỳ và Trung Quốc đều sử dụng các cơ chế tranh chấp thương mại
của WTO như là một phương thức để giành lợi thế trong cạnh tranh thương mại nhằm hỗ
trợ cho xuất khẩu của mình. Tuy nhiên, với tư cách là một quốc gia có nền kinh tế thị
trường phát triển, Hoa Kỳ đã thành công trong việc sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp
của WTO để yêu cầu Trung Quốc thực hiện các quy định và nghĩa vụ của một nước thành


viên trong WTO. Tính đến tháng 5/2017, Ban giải quyết tranh chấp của WTO đã đưa ra
phán quyết đối với 12 vụ khiếu nại (18 vụ còn lại khiếu nại chưa có phán quyết chính
thức), trong đó 07 vụ Hoa Kỳ là nguyên đơn và 05 vụ Trung Quốc là nguyên đơn. Trong
12 vụ kiếu nại thì có đến 07 vụ khiếu nại mà Hoa Kỳ là nguyên đơn thì bên thắng kiện đều
là phía Hoa Kỳ, thậm chí trong 05 vụ khiếu nại mà Trung Quốc là nguyên đơn có 02 vụ
Hoa Kỳ được xử thắng kiện.
Thứ hai, các vụ khiếu nại của Trung Quốc đối với Hoa Kỳ chủ yếu liên quan đến
các biện pháp tự vệ, các hàng rào kỹ thuật, đặc biệt là thuế chống bán phá giá và thuế
chống trợ cấp của Hoa Kỳ. Trong khi đó, các vụ khiếu nại của Hoa Kỳ đối với Trung
Quốc chủ yếu liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ có liên quan đến thương mại, vấn đề bán
phá giá, các biện pháp kiểm soát xuất khẩu của Trung Quốc đối với một số sản phẩm, các
biện pháp hỗ trợ đối với doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu, các chính sách hỗ trợ đối với
các ngành công nghiệp trong nước.
Thứ ba, các lĩnh vực tranh chấp thương mại giữa hai quốc gia chủ yếu liên quan đến
các sản phẩm và hàng hóa như: ô tô và phụ tùng ô tô, thép, đất hiếm, nguyên liệu thô,
hàng dệt may, giày dép, các loại lương thực thực phẩm… Đây là những mặt hàng dẫn đầu
trong kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc sang thị trường Hoa Kỳ hoặc là
những mặt hàng dẫn đầu trong kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Hoa Kỳ sang Trung
Quốc.
Thứ tư, các công cụ được các bên sử dụng để minh chứng cho những cáo buộc của
mình là các quy định trong các thỏa thuận mà các thành viên WTO phải tuân thủ. Các quy
định này bao gồm các điều khoản và nội dung của GATT 1994, Hiệp định TRIPs về các
khía cạnh liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ, Hiệp định SCM về trợ cấp và các biện pháp
đối kháng, Nghị định thư Gia nhập WTO của Trung Quốc, …
Thứ năm, các nguyên nhân tranh chấp thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế
giới này bao gồm cả những nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Ngoài
những nguyên nhân khách quan liên quan tới quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế
quốc tế dẫn tới những va chạm và xung đột khó tránh khỏi khi trao đổi thương mại này


càng mở rộng, những nguyên nhân chủ quan bắt nguồn từ những quan điểm bất đồng của
hai quốc gia.
Như vậy, có thể thấy, sự cạnh tranh thương mại và những bất đồng về quan điểm,
những khác biệt về bối cảnh kinh tế, chính sách kinh tế của mỗi quốc gia đã khiến cho các
vụ tranh chấp thương mại giữa hai nền kinh tế lớn thế giới là Hoa Kỳ và Trung Quốc có
xu hướng ngày càng tăng từ khi Trung Quốc gia nhập WTO. Tuy nhiên, những tranh chấp
thương mại này không đáng lo ngại và sẽ không gây ra chiến tranh thương mại, bởi vì,
tranh chấp thương mại là khó tránh khỏi trong quá trình phát triển và tự do hóa kinh tế.
Bất chấp việc những tranh chấp thương mại giữa hai nước ngày càng nhiều, hầu hết các ý
kiến đều cho rằng, những tranh chấp thương mại giữa hai nước sẽ chỉ dừng lại ở những bất
đồng thương mại mà không thể ảnh hưởng tới quan hệ thương mại song phương giữa Hoa
Kỳ và Trung Quốc.
CHƯƠNG 4
TÁC ĐỘNG CỦA TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
GIỮA HOA KỲ VÀ TRUNG QUỐC TRONG KHUÔN KHỔ WTO VÀ BÀI HỌC
KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
4.1. Tác động của tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc từ khi Trung
Quốc gia nhập WTO đến nay đối với nền kinh tế Hoa Kỳ, Trung Quốc
4.1.1. Vị trí của Hoa Kỳ và Trung Quốc trong nền kinh tế thế giới
4.1.2. Những tác động chung đối với nền kinh tế Hoa Kỳ, Trung Quốc và các nước
khác
Các tác động của tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc có thể tích
cực, tiêu cực, trực tiếp hay gián tiếp song với tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và
Trung Quốc thì tác động tiêu cực nhiều hơn tích cực.
Tác động tích cực là khi Hoa Kỳ đánh thuế 100% vào các mặt hàng của Trung Quốc
bị Hoa Kỳ coi là bán phá giá, cũng có nghĩa là hàng hoá Trung Quốc trở nên đắt gấp đôi
và hàng hoá cùng chủng loại của các nước đang phát triển khác sẽ có cơ hội thâm nhập thị
trường Hoa Kỳ nhiều hơn.


Tuy nhiên, tác động của tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc chủ
yếu là tác động tiêu cực:
Một là, Các hàng rào thương mại giữa hai nước hạn chế sự xâm nhập vào thị trường
của nhau, làm giảm tốc độ gia tăng xuất khẩu vào nhau cũng như tốc độ xuất khẩu của các
nước khác vào Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Hai là, Tác động của tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc còn thể
hiện ở cách thức giải quyết tranh chấp thương mại có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm quá
trình tự do hoá thương mại, mà quá trình này ảnh hưởng đến hầu hết các nền kinh tế trên
thế giới.
Ba là, Các mặt hàng xuất khẩu cùng loại với các mặt hàng có nguồn gốc từ Trung
Quốc bị cạnh tranh gay gắt với hàng hóa của Trung Quốc tại thị trường Hoa Kỳ. Tranh
chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc khiến các nước trong khu vực phải thực thi
chính sách đối ngoại nhằm cân bằng quan hệ kinh tế và thương mại với cả hai nước.
4.1.3. Những tác động riêng của tranh chấp thương mại đối với nền kinh tế Hoa Kỳ
và nền kinh tế Trung Quốc
(*) Đối với Hoa Kỳ
Thứ nhất, các ngành sản xuất được Hoa Kỳ bảo hộ ngày càng bị gạt ra khỏi cạnh
tranh trong thương mại tự do và người tiêu dùng Hoa Kỳ đứng trước nguy cơ bị tước đoạt
lợi ích của phân công lao động quốc tế.
Thứ hai, Hoa Kỳ cũng có thể sẽ phải gánh chịu hậu quả nặng nề hơn nếu Trung Quốc
áp dụng các biện pháp trả đũa. Tranh chấp thương mại nối tiếp tranh chấp thương mại và
cuối cùng đều gây tổn hại cho cả hai phía.
Thứ ba, như trên đã phân tích, Trung Quốc hiện đang là chủ nợ lớn nhất của Hoa Kỳ
và đồng USD Mỹ đang bị phụ thuộc vào đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc.
(*) Đối với Trung Quốc
Trước hết, do Hoa Kỳ áp đặt hạn ngạch hay mức thuế cao đối với hàng hoá Trung
Quốc với phương thức chống bán phá giá, hàng Trung Quốc gặp khó khăn hơn nhiều khi
thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ. Không ít doanh nghiệp Trung Quốc bị đánh thuế cao đã


phải tạm từ bỏ một phần thị trường Hoa Kỳ nên khả năng xuất khẩu bị chững lại, buộc
phải thu hẹp sản xuất và sa thải nhiều nhân công.
4.2. Dự báo tình hình tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong
khuôn khổ WTO thời gian tới
Một là, tranh chấp tiếp tục diễn ra
Trong tương lai gần, tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ tiếp tục
xảy ra và mang tính thường xuyên vì hai nước có những va chạm về lợi ích kinh tế. Có hai
nhân tố tác động trực tiếp làm cho tranh chấp thương mại Hoa Kỳ - Trung Quốc có thể gia
tăng đó là: (1) Thâm hụt thương mại giữa Hoa Kỳ với Trung Quốc có xu hướng ngày một
tăng lên cùng với sự bùng nổ xuất khẩu của Trung Quốc; (2) Việc còn tồn tại những nhóm
lợi ích phản đối Trung Quốc trong lòng Hoa Kỳ. Hai nhân tố này khó có thể loại bỏ trong
thời gian ngắn vì thế mà tranh chấp thương mại hai bên vẫn sẽ phải trải qua những gập
ghềnh giông bão. Nếu hai bên không thiện chí, nhân nhượng lẫn nhau thì các tranh chấp
trong thương mại có thể biến thành xung đột.
Hai là, tranh chấp khó có thể biến thành một cuộc chiến thương mại
Những giả thiết tồi tệ nhất của tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc
dường như phi thực tế khi mà toàn cầu hóa làm cho quan hệ giữa các nước lớn không còn
phân định bạn thù rõ rệt ở mức độ khác nhau như trước mà đã thể hiện trạng thái mập mờ
đan xen lẫn nhau.
Tranh chấp thương mại là khó tránh, song quá mức để dẫn đến không khống chế nổi
là không phù hợp với lợi ích căn bản của cả hai nước, cũng như không phù hợp với trào
lưu thế giới do đó hai nước sẽ căn cứ vào quy tắc quan hệ thương mại song phương và đa
phương để giải quyết tranh chấp thương mại.
4.3. Xu hướng giải quyết tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong
khuôn khổ WTO trong thời gian tới
4.3.1. Xu hướng chung
Như đã phân tích ở trên trong những năm tiếp theo, tranh chấp thương mại giữa Hoa
Kỳ và Trung Quốc sẽ thường xuyên xảy ra vì hai nước tiếp tục va chạm về lợi ích kinh tế.


Vì thế, từ nay đến năm 2025 Hoa Kỳ sẽ tranh thủ những ưu thế đang có của mình để gây
sức ép với Trung Quốc trong một số vấn đề nhất định nhằm đạt được mục tiêu chiến lược
của Hoa Kỳ, đồng thời kìm chế sự phát triển của Trung Quốc.
4.3.2.Về phía Hoa Kỳ
Đối với Hoa Kỳ, một trong những mối quan hệ quan trọng mà chính quyền Tổng
thống Donal Trump sẽ đặc biệt chú trọng đó là quan hệ với Trung Quốc.
Tuy nhiên, có thể thấy, thay vì áp đặt các biện pháp hạn chế hay trừng phạt Trung
Quốc, Hoa Kỳ có thể tìm cách nâng cao sức cạnh tranh của các ngành sản xuất trong nước
để có thể cạnh tranh được với hàng Trung Quốc.
4.3.3. Về phía Trung Quốc
Trung Quốc đang nỗ lực xây dựng một chính sách chống bán phá giá đủ mạnh, ở tầm
vĩ mô, tăng cường quản lý các hoạt động xuất khẩu, ngăn chặn kịp thời các hành vi bán
phá giá. Ở tầm vi mô, Chính phủ tích cực quản lý các doanh nghiệp và xử phạt nghiêm
khắc các doanh nghiệp bán phá giá nhằm bảo vệ và giữ vững môi trường cạnh tranh lành
mạnh của thị trường.
4.4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc tham gia giải quyết tranh chấp
thương mại trong khuôn khổ WTO
4.4.1. Tác động đến Việt Nam của tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung
Quốc từ khi Trung Quốc gia nhập WTO đến nay
Từ khi Trung Quốc gia nhập WTO đến nay, về số lượng, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã
gửi 31 đơn kiện tranh chấp thương mại lên DSB của WTO trong đó Hoa Kỳ có 21 đơn
kiện đối với Trung Quốc và Trung Quốc có 10 đơn kiện đối với Hoa Kỳ. So sánh với Việt
Nam, như đã nói ở trên, tính đến tháng 5/2017 Việt Nam đã gửi 02 đơn kiện tranh chấp
thương mại đối với Hoa Kỳ lên DSB của WTO, và phía Hoa Kỳ chưa có đơn kiện nào đối
với Việt Nam. Trong quan hệ với Trung Quốc, giữa Trung Quốc và Việt Nam đến nay
chưa có một tranh chấp thương mại nào được gửi lên DSB của WTO. Tranh chấp thương
mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc liên quan đến nhiều vấn đề: thương mại hàng hóa, dịch
vụ, đến sở hữu trí tuệ... trong khi đó hiện nay tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Việt


Nam trong phạm vi thương mại hàng hóa. Do đó có thể dễ dàng nhận thấy tranh chấp
thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc diễn ra phức tạp hơn và ở nhiều lĩnh vực: công
nghiệp, dịch vụ, thủy sản, thương mại ... trong khi đó ở cả 02 vụ kiện tranh chấp thương
mại giữa Hoa Kỳ và Việt Nam mà Việt Nam là nguyên đơn chỉ ở lĩnh vực thủy sản. Tuy
nhiên cũng cần thẳng thắn thừa nhận rằng, các bên tham gia vụ kiện đều tôn trọng các
quyết định của DSB, cũng như có sự chuẩn bị kỹ lưỡng chu đáo đầy đủ chứng cứ, lập luận
theo các Hiệp định có liên quan của WTO để trình ra DSB. Cả Trung Quốc và Việt Nam
có cùng thể chế chính trị, chất lượng hàng hóa của Việt Nam và Trung Quốc đều tương
đương nhau, tuy nhiên trong quan hệ quốc tế hiện đại, không có kẻ thù hoặc đồng minh
vĩnh viễn mà chỉ có lợi ích quốc gia không bao giờ thay đổi, do vậy sức mạnh, khả năng
cạnh tranh của nền kinh tế luôn là cơ sở quan trọng để giải quyết những tranh chấp thương
mại giữa các quốc gia. Quan hệ thương mại tam giác Trung Quốc – Hoa Kỳ - Việt Nam
cũng không là ngoại lệ.
Tranh chấp thương mại minh chứng: vụ tranh chấp thương mại số DS404
4.4.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc tham gia giải quyết tranh chấp
thương mại trong khuôn khổ WTO
Tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc diễn ra giữa hai nước song
không phải không ảnh hưởng tới các nước nhỏ trong đó có Việt Nam. Tác động tích cực là
khi Hoa Kỳ tìm cách hạn chế xuất khẩu của Trung Quốc, hàng hoá của Việt Nam sẽ có
nhiều cơ hội thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ hơn. Tác động tiêu cực là ở chỗ nếu Hoa
Kỳ áp đặt mức thuế cao hay hạn ngạch đối với các sản phẩm xuất khẩu của Trung Quốc
thì điều này cũng có thể xảy ra tương tự với Việt Nam vì cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt
Nam tương tự như Trung Quốc.
Việt Nam và Trung Quốc đều đang vận hành nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu hàng xuất khẩu và lợi thế cạnh tranh của hai nước tương tự nhau,
đều cùng hướng đến thị trường Hoa Kỳ như một thị trường mục tiêu cho sức xuất khẩu
của mình. Đây chính là nhân tố thuận lợi cơ bản để Việt Nam tiếp cận và vận dụng những
bài học kinh nghiệm từ tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Dựa trên


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×