Tải bản đầy đủ

Một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại trường cao đẳng NN PTNT bắc bộ xuân mai chương mỹ hà nội

bộ giáo dục và đào tạo

bộ nông nghiệp và ptnt

tr-ờng đại học lâm nghiệp
============

Phạm thị quyên

Một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất l-ợng đào tạo
nghề tại tr-ờng Cao đẳng NN&PTNT Bắc Bộ
Xuân Mai Ch-ơng Mỹ Hà Nội

Luận văn thạc sỹ kinh tế

Hà nội - 2011


bộ giáo dục và đào tạo

bộ nông nghiệp và ptnt


tr-ờng đại học lâm nghiệp
============

Phạm thị quyên

Một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất l-ợng đào tạo
nghề tại tr-ờng Cao đẳng NN&PTNT Bắc Bộ
Xuân Mai Ch-ơng Mỹ Hà Nội

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.31.10

Luận văn thạc sỹ kinh tế

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học
TS. Trần Hữu Dào

Hà nội - 2011


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Lực lượng lao động lành nghề là yếu tố quan trọng quyết định sự phát
triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia dựa trên sự phát triển của sản xuất.
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà sự thay đổi diễn ra từng ngày, sự
phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật thúc đẩy sản xuất phát triển. Vô
số các công nghệ, kỹ thuật mới, các loại vật liệu mới được ứng dụng vào sản
xuất đòi hỏi người lao động phải được đào tạo ở những trình độ lành nghề
nhất định.
Mặt khác, Việt Nam là một nước nông nghiệp 75% dân cư tập trung ở
nông thôn, tương ứng 61,33 triệu người. Trong đó lao động nông thôn chiếm
đến 75% tổng lực lượng lao động cả nước (Tổng cục thống kê năm 2006).
Trong những năm gần đây dân số mỗi năm tăng trên một triệu người và theo
dự báo của tổng cục thống kê dân số sẽ vượt 100 triệu người vào năm 2024.
Với một nước có dân số và nguồn lao động dồi dào như vậy thì vấn đề đào tạo
nghề, giải quyết việc làm là một trong những khó khăn lớn của đất nước
Hiện nay, ở Việt Nam có rất nhiều trường dạy nghề đang thực hiện đào
tạo nghề với quy mô tương đối lớn và cơ cấu ngành nghề phong phú. Tuy

nhiên, chất lượng sản phẩm đào tạo ở hầu hết các trường dạy nghề chưa cao.
Rất nhiều người sau khi đó tốt nghiệp các trường dạy nghề vẫn không đáp
ứng được yêu cầu công việc. Cung đào tạo do các trường dạy nghề đưa ra chủ
yếu dựa trên khả năng của mình mà không tính tới đường cầu tương ứng từ
các doanh nghiệp. Điều này dẫn đến sự mất cân đối cung – cầu đào tạo cả về
quy mô, cơ cấu và đặc biệt là chất lượng, gây ra những lãng phí lớn và giảm
hiệu quả đào tạo.
Trong bối cảnh chung ở Việt Nam như thế, trường Cao đẳng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn Bắc Bộ cũng là một trong các trường có đào
tạo về nghề cần thay đổi và điều chỉnh cách nhìn về quá trình đào tạo nghề để
cho phù hợp với điều kiện và nhu cầu hiện tại của đất nước.


2

Xuất phát từ thực tế trên và điều kiện nghiên cứu của bản thân, tác giả
chọn đề tài “Một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đào tạo nghề
tại trường CĐ NN & PTNT Bắc Bộ - Xuân Mai – Chương Mỹ - Hà Nội”
làm luận văn thạc sỹ cho mình.


3

Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại trường CĐ
nông nghiệp và PTNT Bắc Bộ
1.1.1. Khái niệm về nghề, đào tạo nghề, phân loại và các hình thức đào tạo nghề.

1.1.1.1. Khái niệm nghề
Nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến gắn chặt với
sự phân công lao động xã hội, với tiến bộ khoa học kỹ thuật và văn minh nhân
loại. Nó được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu dưới các góc độ
khác nhau. Nghề xuất hiện trong xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu làm ăn sinh
sống của con người và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội theo nhiều
lĩnh vực hoạt động xã hội, nhiều khu vực lãnh thổ và cộng đồng.
Cho đến nay thuật ngữ “nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách
khác nhau và theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất định.
Chẳng hạn ở Pháp “Nghề là một loại lao động có thói quen và kỹ năng, kỷ
xảo của một người để từ đó tìm được một phương tiện sinh sống”, ở Đức
“Nghề là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định,
đòi hỏi phải được đào tạo ở một trình độ nào đó”…Ở Việt Nam, một định
nghĩa được nhiều người sử dụng, “Nghề là công việc chuyên, làm theo sự
phân công lao động xã hội” (Từ điển tiếng Việt. NXB KHXH 1989). Mặc dù
khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song chúng ta có thể
nhận thấy một số nét đặc trưng nhất định sau:
+ Đó là công việc chuyên môn
+ Là phương tiện để sinh sống
+ Là hoạt động lao động của con người
+ Có thể làm thuê cho người khác hoặc làm cho bản thân
+ Phù hợp với yêu cầu xã hội và nhu cầu của bản thân


4

1.1.1.2. Khái niệm về đào tạo nghề.
“Đào tạo nghề là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm
hình thành và phát triển có hệ thống các kiến thức, kỹ năng, thái độ để hoàn
thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo năng lực cho họ vào đời hành nghề có
năng suất và hiệu quả cao. Thông thường sau khi đào tạo người lao động kỹ
thuật được cấp văn bằng, chứng chỉ nghề” [1]
Đào tạo nghề là một bộ phận quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc
dân (Hình 1.1). Khung đào tạo trình độ kỹ thuật thực hành (Hình 1.2) [13]


5

Sau đại học
Đại học
Cao đẳng nghề
( max: 3 năm)

Cao đẳng

Trung học
phổ thông

Trung cấp chuyên
nghiệp

Trung học
phổ thông cơ sở

Trung cấp nghề
( 1-3 năm)
Sơ cấp nghề
dưới 1 năm

Tiểu học

Mẫu giáo
Nhà trẻ
Đào tạo hàn lâm

Đào tạo kỹ thuật thực hành

Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống Dạy nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân
Nguồn: Hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành ở Việt Nam - Nội dung và các giải pháp thực hiện của
PGS.TS Nguyễn Viết Sự và CN Nguyễn Thị Hoàng Yế n [13]


6

LOẠI LAO
ĐỘNG

KHỐI LƯỢNG KIẾN
THỨC KỸ NĂNG

TRÌNH ĐỘ ĐT
KỸ THUẬT THỰC
HÀNH

TRÌNH ĐỘ
ĐÀO TẠO
HÀN LÂM

LAO ĐỘNG
QUẢN LÝ

BẰNG ĐH
SAU ĐH

LAO ĐỘNG
GIÁM SÁT

LAO ĐỘNG
VẬN HÀNH &
SẢN XUẤT
TRỰC TIẾP

BẰNG CAO
ĐẲNG NGHỀ

BẰNG
CAO ĐẲNG

BẰNG
TRUNG CẤP
NGHỀ

BẰNG THCN

CHỨNG CHỈ
SƠ CẤP NGHỀ

Kiến thức và kỹ năng giám sát quản lý
Kiến thức lý thuyết
Kỹ năng thực hành

Hình 1.2: Sơ đồ khung đào tạo trình độ kỹ thuật thực hành
Nguồn: Hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành ở Việt Nam - Nội dung và các giải pháp thực hiện của
PGS.TS Nguyễn Viết Sự và CN Nguyễn Thị Hoàng Yến [13]

Đào tạo nghề là một quá trình sản xuất đặc biệt. Học sinh trên thực tế là
sản phẩm ngành công nghiệp dạy nghề. Họ vào trường với tư cách là nguyên
vật liệu, trải qua quá trình xử lý (đào tạo) phức tạp của nhà trường để biến đổi
trình độ, nhân cách và chính thức là thành phẩm sau khi tốt nghiệp. Trong quá
trình học tập học sinh phải thực hiện các bài tập, thuyết trình, nghiên cứu,
kiểm tra, thi…dưới sự kiểm soát đánh giá của giáo viên. Như vậy, bản thân
học sinh chính là chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình giáo dục, đồng thời
là tiêu điểm của mọi chương trình, quá trình, biện pháp giáo dục góp phần
nâng cấp đầu vào thành đầu ra có mức chất lượng cao hơn. Quá trình đào tạo


7

nghề có một số đặc trưng khác với giáo dục phổ thông và giáo dục đại học.
Đó là quá trình đào tạo trên cơ sở tiếp thu kết quả phổ thông để đào tạo nghề
nghiệp cho học sinh học nghề. Việc đào tạo để hình thành năng lực nghề
nghiệp giữ vai trò then chốt, chủ đạo. Quá trình đào tạo chú trọng đến hệ
thống các kỹ năng thông qua thực hành, luyện tập, đó chính là những yêu cầu,
vị trí công tác, hoạt động nghề nghiệp của người công nhân kỹ thuật.
Hằng năm, mỗi trường dạy nghề đều thực hiện nhiệm vụ do các cơ quan
chủ quản qui định. Từ nhiệm vụ này, nhà trường xác định các mục tiêu và
chiến lược đào tạo sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội để đạt
được “chất lượng bên ngoài”, đồng thời các hoạt động của nhà trường sẽ được
hướng vào mục tiêu của nhà trường để đạt “chất lượng bên trong”.
1.1.1.3. Các cấ p trình độ trong đào tạo nghề
- Sơ cấp nghề: Dạy nghề trình độ sơ cấp trang bị cho người học nghề năng lực
thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của
một nghề. Thời gian học từ 3 tháng đến dưới 1 năm. Kết thúc chương trình
người học được cấp chứng chỉ sơ cấp nghề. [11]
- Trung cấp nghề: Dạy nghề trình độ trung cấp nhằm trang bị cho người học
kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có
khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc.
Thời gian học từ 1-2 năm tùy theo nghề đào tạo đối với người tốt nghiệp
THPT, 3-4 năm tùy theo nghề đào tạo đối với người tốt nghiệp THCS. Kết
thúc chương trình người học được cấp bằng trung cấp nghề. [11]
- Cao đẳng nghề: Dạy nghề trình độ cao đẳng nhằm trang bị cho người học
nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một
nghề, có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm, có khả
năng sáng tạo và ứng dụng kỹ thuật công nghệ vào công việc; giải quyết được
các tình huống phức tạp trong thực tế. Thời gian từ 2-3 năm tùy theo nghề đào
tạo với người tốt nghiệp THPT, 1-2 năm tùy theo nghề đào tạo với người tốt


8

nghiệp trung cấp nghề cùng nghề đào tạo. Kết thúc chương trình người học
được cấp bằng cao đẳng nghề. [11]
1.1.1.4. Phân loại và các hình thức đào tạo nghề.
a) Phân loại đào tạo nghề.
Có rất nhiều cách phân loại đào tạo nghề, tuỳ theo mỗi loại tiêu thức ta
có thể phân loại đào tạo nghề thành các loại hình khác nhau. Trong phạm vi
bài này chỉ xét hai tiêu thức phân loại như sau:
* Căn cứ vào thời gian đào tạo nghề:
- Đào tạo ngắn hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo dưới một
năm, chủ yếu áp dụng đối với phổ cập nghề. Loại hình này có ưu điểm là có
thể tập hợp được đông đảo lực lượng lao động ở mọi lứa tuổi, những người
không có điều kiện học tập tập trung vẫn có thể tiếp thu được tri thức ngay tại
chỗ, với sự hỗ trợ đắc lực của các cơ quan đoàn thể, địa phương, Nhà nước về
mặt giáo trình, giảng viên ... [11]
- Đào tạo dài hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo từ một năm
trở lên, chủ yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viên
nghiệp vụ. Đào tạo nghề dài hạn thường có chất lượng cao hơn các lớp đào
tạo ngắn hạn. [11]
* Căn cứ vào nghề đào tạo đối với người học:
- Đào tạo mới: Là loại hình đào tạo nghề áp dụng cho những người chưa có
nghề (đào tạo mới là để đáp ứng yêu cầu tăng thêm lao động có nghề). [11]
- Đào tạo lại: Là quá trình đào tạo nghề áp dụng với những người đã có
nghề song vì lý do nào đó, nghề của họ không còn phù hợp nữa. [11]
- Đào tạo nâng cao: Là quá trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinh
nghiệm làm việc để người lao động có thể đảm nhận được những công việc
phức tạp hơn. [11]


9

b) Các hình thức đào tạo nghề.
Các hình thức đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng nhìn chung
là rất phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, về cơ bản đào tạo nghề hiện nay
thường áp dụng một số hình thức chính sau đây:
* Đào tạo nghề chính quy:
Theo quy định của Luật dạy nghề, đào tạo nghề chính quy được thực
hiện với các chương trình sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề tại
các cơ sở dạy nghề theo các khoá học tập trung và liên tục. [11]
Có thể hiểu đào tạo nghề chính quy là loại hình đào tạo tập trung tại các
trung tâm dạy nghề, các trường nghề với quy mô đào tạo tương đối lớn, chủ
yếu là đào tạo các công nhân kỹ thuật có trình độ lành nghề cao.
Việc đào tạo công nhân kỹ thuật thường chia làm hai giai đoạn: giai
đoạn học tập cơ bản và giai đoạn học tập chuyên môn. Giai đoạn học tập cơ
bản là giai đoạn đào tạo nghề theo diện rộng, thường chiếm từ 70% đến 80%
nội dung giảng dạy và tương đối ổn định. Còn trong giai đoạn học tập chuyên
môn, người học được trang bị những kiến thức chuyên sâu và rèn luyện
những kỹ năng, kỹ xảo để nắm vững nghề đã chọn.
Ưu điểm cơ bản của hình thức đào tạo này là: Học sinh được học một
cách có hệ thống từ đơn giản đến phức tạp, từ lý thuyết đến thực hành, tạo
điều kiện cho học sinh tiếp thu kiến thức nhanh chóng và dễ dàng; Đào tạo
tương đối toàn diện cả lý thuyết lẫn thực hành.
Với hình thức đào tạo chính quy, sau khi đào tạo, học viên có thể chủ
động, độc lập giải quyết công việc, có khả năng đảm nhận các công việc
tương đối phức tạp, đòi hỏi trình độ lành nghề cao. Cùng với sự phát triển của
sản xuất và tiến bộ của khoa học kỹ thuật, hình thức đào tạo này ngày càng
giữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật.


10

Tuy nhiên, đào tạo chính quy cũng có nhược điểm là: Thời gian đào tạo
tương đối dài; Đòi hỏi phải đầu tư lớn để đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất, đội
ngũ GV, các CBQL… nên kinh phí đào tạo cho một học viên là rất lớn.
* Đào tạo nghề tại nơi làm việc (đào tạo trong công việc):
Đào tạo nghề tại nơi làm việc là hình thức đào tạo trực tiếp, trong đó
người học sẽ được dạy những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc
thông qua thực tế thực hiện công việc và thường là dưới sự hướng dẫn của
những người lao động có trình độ cao hơn. Hình thức đào tạo này thiên về
thực hành ngay trong quá trình sản xuất và thường là do các doanh nghiệp
(hoặc các cá nhân sản xuất) tự tổ chức.
Chương trình đào tạo áp dụng cho hình thức đào tạo tại nơi làm việc
thường chia làm bai giai đoạn: Giai đoạn đầu, người hướng dẫn vừa sản xuất
vừa hướng dẫn cho học viên; Giai đoạn hai, giao việc làm thử cho học viên
sau khi họ đã nắm được các nguyên tắc và phương pháp làm việc; Giai đoạn
ba, giao việc hoàn toàn cho học viên khi họ đã có thể tiến hành làm việc một
cách độc lập.
Hình thức đào tạo tại nơi làm việc có nhiều ưu điểm như: Có khả năng
đào tạo nhiều người cùng một lúc ở tất cả các doanh nghiệp, phân xưởng;
Thời gian đào tạo ngắn; Không đòi hỏi điều kiện về trường lớp, giáo viên
chuyên trách, bộ máy quản lý, thiết bị học tập riêng.... nên tiết kiệm chi phí
đào tạo; Trong quá trình học tập, người học còn được trực tiếp tham gia vào
quá trình lao động, điều này giúp họ có thể nắm chắc kỹ năng lao động.
Nhược điểm cơ bản của đào tạo tại nơi làm việc là: Việc truyền đạt và
tiếp thu kiến thức không có tính hệ thống; Người dạy không có nghiệp vụ sư
phạm nên hạn chế trong quá trình hướng dẫn, việc tổ chức dạy lý thuyết gặp
nhiều khó khăn... nên kết quả học tập còn hạn chế; Học viên không chỉ học
những phương pháp tiên tiến mà còn có thể bắt chước cả những thói quen


11

không tốt của người hướng dẫn. Vì vậy, hình thức đào tạo này chỉ phù hợp
với những công việc đòi hỏi trình độ không cao.
* Đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp:
Hình thức đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp được áp
dụng khá rộng rãi trên thế giới nhưng mới chỉ xuất hiện ở Việt Nam trong
những năm gần đây và còn có nhiều cách hiểu khác nhau. Có thể hiểu “đào
tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp là hình thức đào tạo dựa trên hệ
thống dạy và học có hai chỗ học, sự tích hợp chức năng của hai chỗ học tạo
thành chức năng chung của hệ thống”.
Đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp có thể được tổ chức
dưới nhiều hình thức khác nhau tuỳ theo điều kiện, quan điểm ở từng vùng,
lãnh thổ và khu vực.
Hình thức đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp xuất hiện ở Việt
Nam còn quá yếu, mới chỉ thực hiện ở một số khía cạnh của việc kết hợp đào
tạo và được biểu hiện ở các hoạt động như:
- Đào tạo theo đơn đặt hàng (Một số doanh nghiệp đặt hàng cho các
trường đào tạo);
- Một số tổng công ty lớn thành lập trường đào tạo riêng;
- Nhà trường có xưởng sản xuất;
- Một số trường liên kết đưa sinh viên đi thực tập ở các doanh nghiệp.
1.1.2. Chất lượng đào tạo nghề của trường dạy nghề.
1.1.2.1 Khái niệm về chất lượng.
Có rất nhiều định nghĩa và cách lý giải khác nhau. Có ý kiến cho rằng
chất lượng là sự xuất chúng, tuyệt hảo, là giá trị bằng tiền, là sự biến đổi về
chất, là sự phù hợp với mục tiêu. Các quan niệm về chất lượng chúng ta có
thể thấy qua 5 định nghĩa sau:


12

+ Chất lượng là “tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật
(sự việc)..làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác”
(Từ điển tiếng Việt phổ thông)
+ Chất lượng là “cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật” hoặc là “cái
tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia” (Từ điển
tiếng Việt thông dụng – Nhà xuất bản Giáo dục -1998).
+ Chất lượng là “mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng
tuyệt đối,
dấu hiệu đặc trưng của dữ kiện, các thông số cơ bản” (Oxford Pocket
Dictationary).
+ Chất lượng là “tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa
mãn nhu cầu người sử dụng” (Tiêu chuẩn Pháp - NFX 50-109)
+ Chất lượng là “tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo
cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc
nhu cầu tiềm ẩn” (TCVN - ISO 8402)
Tóm lại, chất lượng là khái niệm trừu tượng, phức tạp nhưng chung nhất
là khái niệm phản ánh bản chất của sự vật, dùng để so sánh sự vật này với sự
vật khác. [19]
1.1.2.2 Chất lượng đào tạo nghề của trường dạy nghề
Khái niệm chất lượng đào tạo nghề của trường dạy nghề nói riêng và
chất lượng giáo dục nói chung cho đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Nguyên
nhân bắt đầu từ nội hàm phức tạp của khái niệm “chất lượng” với sự trừu
tượng, tính đa diện, đa chiều của khái niệm này.
Có thể xác định 5 đối tượng khách hàng chính tham gia trong quá trình
đào tạo nghề, và những đối tượng này đều có những ưu tiên khác nhau khi
xem xét về chất lượng đào tạo nghề:
- Trước hết, phụ huynh HS là khách hàng khi họ là người bảo trợ, tài trợ
với mong muốn con em mình có đủ kiến thức, kỹ năng tự lập sau đào tạo.


13

- Các tổ chức tuyển dụng học sinh tốt nghiệp, người sử dụng khai thác
trực tiếp kết quả đào tạo. Khi nói về chất lượng, họ sẽ nói về kiến thức, kỹ
năng và đạo đức trong suốt quá trình học tập, sản phẩm bị thử thách chính là
những công nhân.
- Giáo viên, những người được mời sử dụng dịch vụ dạy nghề để giảng
dạy, truyền đạt kiến thức và kỹ năng. Họ sẽ định nghĩa chất lượng như là “đào
tạo tốt trên cơ sở chuyển giao kiến thức tốt, môi trường học tập tốt và quan hệ
tốt giữa giảng dạy và nghiên cứu”
- Chính quyền hay xã hội với tư cách là người thiết lập, vận hành chính
sách, hỗ trợ tài chính để đảm bảo sự đóng góp hữu hiệu của kết quả đào tạo
vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Khi chính phủ xem xét chất lượng, trước hết
họ nhìn vào tỷ lệ đậu/rớt, những người bỏ học và thời gian học tập. Chất
lượng dưới con mắt chính phủ có thể miêu tả như “càng nhiều học sinh kết
thúc chương trình theo đúng hạn qui định, với chất lượng tiêu chuẩn quốc tế
và với chi phí thấp nhất”.
- Học sinh là người có quyền chọn trường và trực tiếp tiêu thụ các dịch
vụ mà nhà trường cung ứng. Chất lượng liên hệ đến mức độ đáp ứng của nhà
trường đối với các nhu cầu trong quá trình học tập, đóng góp vào sự phát triển
cá nhân, chuẩn bị cho một vị trí xã hội.
Mặc dù khó có thể đưa ra định nghĩa về chất lượng đào tạo nghề của một
trường dạy nghề mà mọi người đều thừa nhận, song bản thân tác giả đồng ý
với ý kiến cho rằng “Chất lượng đào tạo nghề của một trường dạy nghề là
sự phù hợp với mục tiêu”. Cơ sở của cách tiếp cận này xem chất lượng là
một khái niệm mang tính tương đối, động, đa chiều và với những người ở các
cương vị khác nhau có thể có những ưu tiên khác nhau khi xem xét nó.
Sự phù hợp với mục tiêu có thể bao gồm việc đáp ứng đòi hỏi của
những người quan tâm như các nhà quản lý, nhà giáo hay các nhà nghiên cứu
giáo dục. Sự phù hợp với mục tiêu còn bao gồm cả sự đáp ứng hay vượt qua


14

các chuẩn mực đã đặt ra trong lĩnh vực dạy nghề. Sự phù hợp với mục tiêu
cũng đề cập đến những yêu cầu về sự hoàn thiện của đầu ra, hiệu quả của đầu
tư. Mỗi trường dạy nghề cần xác định nội dung của sự phù hợp với mục tiêu
trên cơ sở bối cảnh cụ thể của nhà trường tại thời điểm xác định mục tiêu đào
tạo của mình. Sau đó chất lượng là vấn đề làm sao để đạt được các mục tiêu đó.
Chất lượng đào tạo nghề của một trường dạy nghề phụ thuộc vào 3 yếu tố:
- Hoạch định mục tiêu
- Tổ chức quá trình đào tạo
- Sử dụng lao động
Với 3 yếu tố thể hiện trong sơ đồ đánh giá miền chất lượng đào tạo nghề
(Hình 1.3), miền chất lượng là vùng chập. Miền chất lượng càng lớn chứng tỏ
nhà trường đã tổ chức tốt quá trình đào tạo nghề phù hợp với mục tiêu thiết kế
ban đầu và đạt hiệu quả cao. [7]

Sử dụng lao động

Miền chất lượng

Hoạch định mục tiêu

Tổ chức đào tạo

Hình 1.3 : Sơ đồ đánh giá miền chất lượng đào tạo
nghề
Nguồn: Quản lý và kiểm định CLĐT nhân lực theo ISO&TQM - Trần Khánh Đức

Chất lượng đào tạo nghề bao gồm chất lượng đầu vào, chất lượng của
của quá trình đào tạo nghề và chất lượng đầu ra. Có thể đánh giá chất lượng
đào tạo ở 3 khâu, thể hiện hình 1.4. [8]


15

Đầu vào

\

Đầu ra

Quá trình đào tạo nghề
Nguồn: Tổ chức và quản lý quá trình đào tạo nghề - Nguyễn Minh Đường

Hình 1.4: Sơ đồ các giai đoạn đánh giá chất lượng đào tạo
nghề
Khâu thứ 1: Đánh giá trình độ của học sinh khi được tuyển vào trường
Khâu thứ 2: Kiểm định điều kiện và quá trình đảm bảo chất lượng đào
tạo tại trường
Khâu thứ 3: Đánh giá trình độ, năng lực của học sinh khi tốt nghiệp
1.1.2.3 Chất lượng đào tạo nghề
Chất lượng đào tạo nghề của một trường dạy nghề tập trung và chủ yếu
nhất đó là chất lượng của sản phẩm đào tạo, nhằm để chỉ chất lượng các công
nhân kỹ thuật được đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo mục
tiêu và chương trình đào tạo xác định trong các lĩnh vực ngành nghề khác
nhau, biểu hiện một cách tổng hợp nhất mức độ chấp nhận của thị trường lao
động, của xã hội đối với kết quả đào tạo. Chất lượng đào tạo nghề là chỉ tiêu
quan trọng để đánh giá chất lượng đào tạo nghề của trường dạy nghề.
Chất lượng đào tạo nghề gồm 2 phần cơ bản: Phần cứng và phần mềm.
+ Phần cứng bao gồm kiến thức, kỹ năng và thái độ (ý thức tổ chức,
tinh thần trách nhiệm...)
+ Phần mềm bao gồm năng lực sáng tạo, khả năng thích ứng với môi
trường và những biến động của sản xuất và thị trường sức lao động.
Chất lượng đào tạo nghề trước hết phải là kết quả của quá trình đào tạo
và được thể hiện trong hoạt động nghề nghiệp của người tốt nghiệp. Tuy
nhiên quá trình thích ứng với thị trường lao động không chỉ phụ thuộc vào
chất lượng đào tạo mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác của thị trường như


16

quan hệ cung-cầu, giá cả sức lao động, chính sách sử dụng lao động (Hình
1.5). [7]
MỤC TIÊU ĐÀO TẠO

Quá trình đào tạo

Kiến thức







e
Kỹ năng

Thái độ

NGƯỜI TỐT NGHIỆP

CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO

* Đặc trưng, giá trị nhân cách,
xã hội, nghề nghiệp
* Giá trị sức lao động
* Năng lực hành nghề
* Trình độ chuyên môn nghề
nghiệp (kiến thức, kỹ năng)
* Năng lực thích ứng với thị
trường lao động
* Năng lực phát triển nghề
nghiệp

Hình 1.5: Sơ đồ quan hệ giữa mục tiêu và chất lượng đào tạo
Nguồn: Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO&TQM - Trần Khánh Đức

Vì vậy ý kiến doanh nghiệp sử dụng lao động về việc làm và sự phát
triển nghề nghiệp của người tốt nghiệp là quan trọng trong việc đánh giá chất
lượng sản phẩm đào tạo nghề của trường dạy nghề.
1.1.3. Các yếu ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề.
Chất lượng giáo dục nói chung và đào tạo nghề nói riêng chịu ảnh
hưởng của nhiều yếu tố bao gồm cả yếu tố khách quan và chủ quan. Có thể
phân các yếu tố chủ yếu thành các nhóm để xem xét như sau:
- Các yếu tố bên trong (yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo nghề):
Đào tạo nghề chịu ảnh hưởng trước tiên là của các nhân tố bên trong
của chính quá trình đào tạo bao gồm: hệ thống cơ sở dạy nghề; cơ sở vật chất,
tài chính cho dạy nghề; đội ngũ giáo viên, học viên học nghề; chương trình,
giáo trình đào tạo; hệ thống mục tiêu; tuyển sinh, việc làm; kiểm tra đánh giá,
cấp văn bằng chứng chỉ…, những yếu tố này được coi là những yếu tố đảm
bảo chất lượng của đào tạo nghề. Chúng ta xét một số yếu tố chính như sau:


17

+ Cơ sở vật chất, tài chính:
Cơ sở vật chất bao gồm: phòng học, xưởng thực hành cơ bản và thực
tập sản xuất, thư viện – học liệu, trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy và học
tập… Đây là yếu tố hết sức quan trọng, nó tác động trực tiếp đến chất lượng
đào tạo nghề. Máy móc, trang thiết bị là những thứ không thể thiếu trong quá
trình đào tạo nghề, nó giúp cho học viên có điều kiện thực hành để hoàn thiện
kỹ năng. Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề càng tốt, càng hiện
đại, theo sát với công nghệ sản xuất thực tế bao nhiêu thì người học viên càng
có thể thích ứng, vận dụng nhanh chóng trong công việc bấy nhiêu. Do vậy,
cơ sở vật chất trang thiết bị cho đào tạo nghề đòi hỏi phải theo kịp với tốc độ
đổi mới của máy móc, công nghệ sản xuất.
Tài chính cho đào tạo nghề cũng là một trong những yếu tố cơ bản đảm
bảo chất lượng đào tạo, nó tác động gián tiếp tới chất lượng đào tạo nghề
thông qua khả năng trang bị về cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị giảng dạy,
khả năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên, …. Tài chính đầu tư
cho đào tạo nghề càng dồi dào thì càng có điều kiện bảo đảm chất lượng đào
tạo nghề. Các nguồn tài chính chủ yếu cho đào tạo nghề bao gồm: các nguồn
lực tchức năng quản
lý. CBQL phải thường xuyên cập nhật kiến thức và các văn bản về quản lý.
3.3.1.3 Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000
Ở nước ta, việc xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo bộ
tiêu chuẩn ISO 9000 trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ đã được triển khai từ
năm 1995. Hơn 20 năm qua, đã có hàng ngàn doanh nghiệp hưởng ứng và áp
dụng ISO 9000 trong quản lý chất lượng. Thực tiễn đã chứng minh là nếu áp
dụng ISO 9000 đúng cách, tổ chức và doanh nghiệp sẽ có được công cụ hữu
hiệu trong điều hành, quản lý, giúp giữ vững sự ổn định, nâng cao chất lượng
sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, thỏa mãn khách hàng ngày một cao hơn.
Năm 2000, Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 đã được Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế
ISO soát xét, thu gọn, hoàn thiện và ban hành lại. Trong đó tiêu chuẩn ISO
9001:2000 được thay thế 3 tiêu chuẩn (ISO 9001, ISO 9002, ISO 9003) và
được trình bày đơn giản, dễ hiểu, dễ vận dụng hơn so với các phiên bản cũ.
Việc áp dụng ISO 9000 không chỉ dành cho các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ mà còn cho các tổ chức khác như tổ chức sự nghiệp:
nhà trường, bệnh viện, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị. Nghĩa là
có thể áp dụng cho tất cả những tổ chức nào muốn nâng cao hiệu quả hoạt
động nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng tăng của khách hàng khi sử
dụng sản phẩm của mình.
Trong quản lý giáo dục, tuy mới mẻ song vấn đề này đã được các quốc
gia phát triển, nghiên cứu và áp dụng trong thực tiễn từ nhiều năm nay. Thống
kê cho thấy, hiện có trên 500 trường và cơ sở giáo dục trên thế giới thực hiện
quản lý chất lượng theo ISO 9000, trong đó có các trường nổi tiếng như
Havard (Mỹ), Cambridge (Anh), Chulalongkim (Thái Lan), Ấn độ, Trung
quốc...cũng đã đưa ISO 9000 vào áp dụng ở một số trường học. Thực tế cho
thấy, có thể ứng dụng ISO 9000 trong quản lý từng lĩnh vực ở nhà trường và


72

ngay cả trong các hoạt động đặc thù như: Thi tốt nghiệp, tuyển sinh, xây dựng
cơ sở vật chất ở trường học…
Tiêu chuẩn này khuyến khích việc chấp nhận cách tiếp cận theo quá trình
khi xây dựng, thực hiện và nâng cao hiệu lực của hệ thống quản lý chất lượng
(Hình 3.6), nhằm thỏa mãn khách hàng qua việc đáp ứng các yêu cầu của họ.[1]

HTQLCL ISO 9001:2000
QUÁ TRÌNH CẢI TIẾN LIÊN TỤC

Trách nhiệm
lãnh đạo

KHÁCH

KHÁCH
HÀNG –

HÀNGCÁC

SỰ
Quản lý
nguồn lực

YÊU

Đo lường, Phân
tích, Cải tiến

CẦU

THÕA
MÃN

Tạo sản
phẩm
Sản phẩm
Hoạt động gia tăng giá trị
Dòng thông tin

Hình 3.6: Mô hình hệ thống quản lý theo quá trình của hệ
thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000
Bản chất của ISO 9001:2000 có thể tóm lược như sau:
+ Thấu hiểu nhu cầu và kỳ vọng của khách hàng và các bên liên quan
+ Xác lập các chính sách, các mục tiêu và môi trường hoạt động cần
thiết để thúc đẩy nhà trường thỏa mãn các nhu cầu này.
+ Thiết lập, cung cấp nguồn lực và quản lý hệ thống các quá trình để
đạt những mục tiêu đề ra.
+ Đo lường, phân tích tính hiệu quả và hiệu lực của từng quá trình
trong việc hoàn thành các mục tiêu.


73

+ Thực hiện cải tiến liên tục trên cơ sở đánh giá khách quan năng lực
của hệ thống.
* Hiện tại, Trường CĐ NN&PTNT Bắc Bộ chưa xây dựng hệ thống quản
lý chất lượng. Nếu hệ thống quản lý chất lượng ISO được nghiên cứu và vận
dụng phù hợp tại trường CĐ NN&PTNT Bắc Bộ, với tinh thần ứng dụng
nghiêm túc, sáng tạo và quyết tâm duy trì một cách thường xuyên thì sẽ đem
lại những lợi ích cơ bản:
+ Chuyển dần từ quản lý theo chức năng thuộc cơ chế cũ sang cơ chế
mới là quản lý theo quy trình để kiểm soát chặt chẽ và gia tăng tính ổn định
của chất lượng DN nhằm tạo được niềm tin ở khách hàng.
+ Ghép nối các phòng ban chức năng thành một hệ thống quản lý
công khai minh bạch, biến cơ cấu tổ chức nhà trường từ dày sang mỏng, giảm
dần khoảng cách giữa các đơn vị nhằm tăng hiệu quả quản lý nhờ sử dụng
hợp lý nguồn lực và tiết kiệm chi phí.
+ Xác định được hiệu quả, chất lượng đào tạo nghề và mức độ đáp
ứng các yêu cầu của xã hội thông qua điều tra xã hội học về mức độ hài lòng
của HS và đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động.
+ Liên tục cải tiến và đổi mới không ngừng nâng cao chất lượng dạy
nghề trong quá trình hội nhập khu vực và thế giới.
Bối cảnh quá trình hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay đang đặt ra
những yêu cầu gay gắt với việc nâng cao chất lượng đào tạo nói chung và chất
lượng dạy nghề nói riêng. Việc đánh giá chất lượng lâu nay chỉ dựa vào kết
quả cuối cùng (đặc biệt là kết quả thi cử), công việc kiểm soát chất lượng của
toàn bộ quá trình bị xem nhẹ. Quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế sẽ là
giải pháp có tính đột phá nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm qua từng công
đoạn và trong cả quá trình đào tạo.


74

3.3.2 Tăng cường quản lý chất lượng đầu vào
Chất lượng đầu vào là yếu tố ảnh hưởng lớn đến kết quả của quá trình
đào tạo. Quản lý chất lượng đầu vào được thực hiện thông qua Hội đồng
tuyển sinh nhà trường. Tuyển sinh là nhiệm vụ đầu tiên trong đào tạo nghề,
năng lực tuyển sinh thể hiện tiềm năng, qui mô phát triển và góp phần xác
định thương hiệu của nhà trường do đó tuyển sinh phải kích thích được nhu
cầu người học và đáp ứng nguyện vọng, tạo được niềm tin nơi HS.
- Xây dựng bộ phận tuyển sinh chuyên nghiệp đảm bảo cung cấp đầy đủ
thông tin cho HS có nhu cầu học nghề, làm tốt công tác tư vấn, hướng nghiệp
cho HS khuyến khích HS học nghề và lựa chọn ngành nghề phù hợp với năng
lực, sở trường.
- Đa dạng hóa các hình thức tuyển sinh.
3.3.3 Nâng cao chất lượng quá trình đào tạo
3.3.3.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ, nhân viên, GV và HS về chất lượng
đào tạo nghề
- Phổ biến kịp thời, thường xuyên các chủ trương, chính sách phát triển
giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng của Đảng và Nhà nước
cho cán bộ nhân viên, đội ngũ GV và HS của trường. Thông qua việc tổ chức
quán triệt, học tập nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
nhằm tạo cho mọi người hiểu được giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu và
sự cần thiết phải đẩy mạnh sự nghiệp đào tạo nghề trong bối cảnh hội nhập và
phát triển kinh tế hiện nay.
- Tăng cường tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học, trao đổi về chủ đề
chất lượng lao động, chất lượng đào tạo nghề tại trường. Có chính sách tôn
vinh, động viên khen thưởng những GV dạy giỏi và phát động các phong trào
thi đua dạy giỏi, học tốt.
- Tạo điều kiện cho GV, nhân viên, HS học nghề tham dự, tham quan các
hoạt động của các hiệp hội nghề nghiệp, hội chợ việc làm, hội giảng giáo viên


75

và các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất kinh doanh trong và ngoài tỉnh, nhằm
nâng cao hơn nữa nhận thức về sự cần thiết phải nâng cao chất lượng đào tạo
nghề và hiểu biết thêm về nghề nghiệp đang giảng dạy.
3.3.3.2 Tăng cường quản lý mục tiêu đào tạo; Đổi mới nội dung và chương
trình đào tạo; Biên soạn giáo trình và chuẩn bị tài liệu giảng dạy.
a) Quản lý mục tiêu đào tạo
Đối với mỗi khóa học nghề, mục tiêu đào tạo phải nhằm đánh giá kết quả
thực hiện của HS. Nó được xây dựng dựa trên mục tiêu thực hiện công việc
của người đang hành nghề và phải thể hiện một hay nhiều hành động có thể
quan sát và đánh giá được. mục tiêu đào tạo của mỗi công việc có thể viết
theo dạng mục tiêu thực hiện công việc cuối cùng TPO (Terminal
Performance Objective). TPO xác định kết quả mong đợi cuối cùng là các tiêu
chuẩn đánh giá mà HS đạt được trong một điều kiện nhất định.
Nhằm tăng cường quản lý mục tiêu đào tạo, nhà trường cần xây dựng qui
trình xác định mục tiêu đào tạo cho một khóa đào tạo nghề, qui trình này phải
gắn với việc phân tích nghề dự kiến đào tạo và dựa trên các tiêu chuẩn kỹ
năng nghề. Định kỳ rà soát mục tiêu đào tạo để giám sát việc thực hiện và
điều chỉnh phù hợp với yêu cầu đặt ra đồng thời tổ chức đánh giá kết quả đào
tạo so với mục tiêu nhằm đánh giá chất lượng và hiệu quả đào tạo, tìm hiểu
nguyên nhân để có biện pháp khắc phục cho các khóa đào tạo sau.
b) Đổi mới nội dung và chương trình đào tạo
- Sử dụng phương pháp phân tích nghề DACUM (Develop a curriculum)
để xác định nội dung chương trình đào tạo cho một khóa học nghề. Dacum là
phương pháp phân tích nghề mà qua đó một tiểu ban gồm các chuyên gia lành
nghề được tập hợp và dẫn dắt bởi một thông hoạt viên đã được đào tạo để
cùng nhau xây dựng sơ đồ phân tích nghề (Hình 3.7).


76

Nhiệm vụ
TÊN NGHỀ,
PHẠM VI,
NHIỆM VỤ

Công việc
Công việc


………

Nhiệm vụ

Công việc
Công việc


Hình 3.7 : Quá trình phân tích nghề
Phân tích nghề cần xác định chính xác tên nghề, phạm vi và các nhiệm
vụ của nghề đào tạo. Nhiệm vụ của nghề là những phần công việc chuyên
môn, bao gồm các công việc có mối liên hệ logic với nhau. Công việc là
những phần việc nhỏ cần thiết để hoàn thành một nhiệm vụ. Mỗi nghề có
nhiều nhiệm vụ (6 đến 10 nhiệm vụ), mỗi nhiệm vụ gồm nhiều công việc
(khoảng 75 công việc). Khi phân tích chi tiết các công việc cần chú ý đến các
bước chủ yếu của công việc, các tiêu chuẩn đảm bảo để thực hiện công việc,
các phương tiện, điều kiện cần thiết, các kiến thức có liên quan, các kỹ năng
cần có khi tiến hành công việc, thái độ của học viên…
Căn cứ vào kết quả việc phân tích nghề, tiến hành xây dựng chương trình
đào tạo của từng nghề. Nội dung chương trình đào tạo cần gắn với thị trường
sử dụng lao động, thường xuyên có sự cập nhật, cần có sự thẩm định của các
cơ quan chức năng về quản lý đào tạo nghề. Chương trình nên xây dựng theo
hình thức môn học kết hợp với môđun nghề để có thể liên thông, linh hoạt
dạy nghề cho nhiều đối tượng, phù hợp với từng hoàn cảnh, bổ sung điều
chỉnh kịp thời theo yêu cầu của doanh nghiệp theo quan điểm nhu cầu đến
đâu, đào tạo đến đó đồng thời tổ chức đánh giá việc thực hiện nội dung
chương trình qua các hội nghị khách hàng (các doanh nghiệp), hội nghị giáo
viên, thu thập ý kiến học sinh để điều chỉnh nội dung, chương trình đào tạo
nghề phù hợp.


77

- Đưa “Văn hóa nghề” trở thành một môn học chính thức trong chương
trình giảng dạy. Một minh chứng cụ thể: Tại hội thi tay nghề ASEAN, thí sinh
Việt Nam có kỹ năng nghề nhưng không đoạt giải cao - một trong những
nguyên nhân là do tác phong làm việc, bố trí nơi làm việc chưa khoa học,
thiếu tính chuyên nghiệp. Vì vậy, việc rèn luyện tác phong công nghiệp, kiến
thức ứng xử văn hóa nơi làm việc, kiến thức pháp luật lao động phải trở thành
một nội dung không thể thiếu trong chương trình giảng dạy nghề.
c) Biên soạn giáo trình và chuẩn bị tài liệu giảng dạy
Trên cơ sở chương trình đào tạo đã được thẩm định và phê duyệt, nhà
trường tổ chức phân công giáo viên biên soạn giáo trình và các điều kiện cần
thiết phục vụ giảng dạy như : đồ dùng dạy học, vật tư thực tập...đồng thời tổ
chức thẩm định, phê duyệt và ban hành phục vụ công tác học tập và nghiên
cứu. Đảm bảo mỗi môdun, môn học của từng chương trình dạy nghề phải có
ít nhất 2 tài liệu tham khảo chính.
3.3.3.3 Đầu tư và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, nhà xưởng, thư viện,
máy móc thiết bị đào tạo nghề
Mở rộng qui mô, nâng cấp nhà xưởng dạy nghề, thư viện là vấn đề cơ
bản và lâu dài. Máy móc thiết bị cho dạy nghề cần phải được đầu tư có trọng
tâm, trọng điểm tránh tình trạng đầu tư dàn trãi, không đồng bộ. Muốn vậy
cần có qui hoạch, kế hoạch tổng thể cho phát triển đào tạo nghề tại trường.
Đầu tư theo hướng hiện đại, đồng bộ và hợp lý. Đầu tư cơ sở vật chất máy
móc thiết bị phải gắn với quá trình đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp
đào tạo nghề. Việc sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, máy móc thiết bị cần
phải được cân nhắc sao cho có hiệu quả, tránh tình trạng lưu kho, mất mát…
Cần tập trung một số biện pháp sau:
- Đầu tư nhà thực nhiệm, thư viện, máy móc thiết bị dạy nghề đúng tiêu
chuẩn hiện đại và đồng bộ: Đầu tư phải xuất phát từ yêu cầu phát triển của
nhà trường. Tập trung đầu tư đúng ngành nghề và phải lấy ý kiến công khai


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×