Tải bản đầy đủ

20 câu NHẬN ĐỊNH LUẬT tố TỤNG dân sự

20 CÂU NHẬN ĐỊNH LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

1 – Hội thẩm nhân dân tham gia gia tất cả các phiên tòa dân sự sơ thẩm.
Nhận định sai.
Bởi vì: Theo quy định tại Điều 11 khoản 1 BLTTDS 2015 thì: Việc xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự có Hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của Bộ luật này, trừ
trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn. Nói cách khác, Hội thẩm nhân dân không
tham gia xét xử sơ thẩm vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn.
Cơ sở pháp lý: Điều 11 khoản 1 BLTTDS 2015

2 – Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp bắt buộc phải tham gia tất cả
phiên tòa dân sự.
Nhận định sai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp không bắt buộc phải tham gia tất cả
phiên tòa dân sự.
Ở phiên tòa sơ thẩm: Đại diện Viện kiểm sát chỉ tham gia các phiên họp sơ thẩm đối
với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu
thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền
sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực
hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong
nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 BLTTDS

2015.
Do đó, câu nhận định này là sai.
Cơ sở pháp lý: Điều 21 khoản 2 BLTTDS 2015


Nhận định môn tố tụng dân sự có đáp án tham khảo.
3 – Thư ký Tòa án có quyền chủ trì phiên hòa giải tại Tòa án.
Nhận định sai.
Bởi vì:
Thứ nhất: căn cứ vào nhiệm vụ và quyền hạn của Thư ký Tòa án và Thẩm phán ta
thấy:
Theo đó, trong tất cả các quy định tại Điều 51 BLTTDS 2015 về nhiệm vụ và quyền
hạn của Thư ký Tòa án thì Thư ký Tòa không có quyền chủ trì phiên hòa giải.
Bên cạnh đó, căn cứ vào Điều 48 BLTTDS 2015 quy địnhvề nhiệm vụ và quyền hạn
của Thẩm phán thì tại khoản 10 có quy định về thẩm quyền Chủ tọa hoặc tham gia
xét xử vụ án dân sự, giải quyết việc dân sự của Thẩm phán.
Thứ hai: Căn cứ vào khoản 1 Điều 209 BLTTDS 2015 quy định về Thành phần
tham gia phiên họp hòa giải thì Thẩm phán là người chủ trì phiên họp và Thư ký
Tòa án chỉ là người ghi biên bản phiên họp.
Căn cứ Điều 210 BLTTDS 2015 thì Thẩm phán là người chủ trì phiên họp, là người
công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tiến hành thủ tục hỏi đương sự,…
và tiến hành hòa giải.
Cuối cùng thẩm phán kết luận về những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa
thống nhất.
Do đó, Thư ký Tòa án không có quyền chủ trì phiên hòa giải tại Tòa án.
Cơ sở pháp lý: Điều 48, Điều 51, khoản 1 Điều 209 , Điều 210 BLTTDS 2015
4 – Người không gây thiệt hại cho nguyên đơn không thể trở thành bị đơn.
Nhận định sai.


Bởi vì: Căn cứ Điều 68 khoản 3 BLTTDS 2015 quy định về Đương sự trong vụ việc
dân sự thì Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện. Do đó, chỉ
cần Nguyên đơn cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm và khởi kiện, thì
người bị nguyên đơn khởi kiện là bị đơn, kể cả Bị đơn có thể đã hoặc chưa gây thiệt
cho nguyên đơn.
Cơ sở pháp lý: Điều 68 khoản 3 BLTTDS 2015

5 – Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố tại phiên tòa sơ thẩm.
Nhận định sai.
Bởi vì: Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn theo quy định

tại Điều 72 khoản 4 BLTTDS 2015. Tuy nhiên, thời điểm Bị đơn có quyền đưa ra
yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn là trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (Điều 200 khoản 3 BLTTDS
2015). Do vậy, Bị đơn không có quyền đưa ra yêu cầu phản tố tại phiên tòa sơ thẩm.
Cơ sở pháp lý: Điều 200 khoản 3 BLTTDS 2015

6 – Tư cách tố tụng của đương sự có thể bị thay đổi tại phiên tòa sơ thẩm.
Nhận định Sai
Căn cứ vào Điều 68 BLTTDS 2015 ta có: tư cách tố tụng của đương sự được hình
thành khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự. Trong đó: Nguyên đơn trong vụ án dân sự là
người khởi kiện, cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm; Bị đơn là người
bị nguyên đơn khởi kiện; Người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan là người tuy
không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan
đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ.


Trường hợp người khởi kiện rút toàn bộ đơn khởi kiện của mình, tuy nhiên bị đơn
vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố thì lúc này bị đơn trở thành nguyên đơn dân sự và
ngược lại, bên nguyên đơn trở thành bị đơn.
Cơ sở pháp lý: Điều 68, BLTTDS 2015

7 – Biên bản lấy lời khai là chứng cứ.
Nhận định Sai
Cơ sở pháp lý: Điều 94 khoản 1, Điều 95 khoản 1 BLTTDS 2015
Bởi vì: Biên bản lấy lời khai là Nguồn của chứng cứ theo quy định tại khoản 1 Điều
94. Theo đó Biên bản lấy lời khai là tài liệu đọc được. Mà theo quy định tại khoản 1
Điều 95, Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc
bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền cung cấp, xác nhận.
Do vậy, Nếu Biên bản lấy lời khai không phải là bản chính hoặc bản sao không có
công chứng, chứng thực hợp pháp,… thì không được xem là chứng cứ.

8 – Một người có thể đại diện cho nhiều đương sự trong vụ án dân sự.
Nhận định Đúng
Cơ sở pháp lý: Điều 87 khoản 1 điểm b BLTTDS 2015
Bởi vì: Nếu họ đang là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự cho một
đương sự khác mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền và
lợi ích hợp pháp của người được đại diện thì họ không được làm người đại diện.
Hay nói một cách đơn giản, một người không được đại diện cho nhiều đương sự
trong cùng một vụ án dân sự khi quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập nhau.


Do vậy, nếu họ đại diện cho nhiều đương sự trong cùng một vụ án dân sự mà quyền
và lợi ích hợp pháp của những người được đại diện này không đối lập với nhau thì
một người đại diện có thể đại diện cho nhiều đương sự.

9 – Tòa án cấp phúc thẩm có quyền xét xử lại toàn bộ vụ án đã xét xử ở Tòa án
cấp sơ thẩm.
Nhận định Sai
Cơ sở pháp lý: Điều 293 BLTTDS 2015
Bởi vì: Phạm vi xét xử phúc thẩm là Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của
bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc
có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị. Vì vậy Tòa án cấp
thẩm không có quyền xét xử lại toàn bộ vụ án đã xét xử ở Tòa án cấp phúc thẩm
nếu kháng cáo, kháng nghị chỉ kháng cáo, kháng nghị một phần Bản án, quyết định
của Tòa án sơ thẩm.

10 – Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có thể bị kháng
nghị giám đốc thẩm.
Nhận định Đúng
Cơ sở pháp lý: Điều 213 khoản 2 BLTTDS 2015
Bởi vì: Căn cứ Điều 213 khoản 2 BLTTDS 2015 thì: Quyết định công nhận sự thỏa
thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có
căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc
vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.
Do vậy, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có thể bị kháng nghị
giám đốc thẩm.


11 – Ở giai đoạn sơ thẩm, khi công nhận sự thỏa thuận hợp pháp của các đương sự,
Tòa án phải ra ngay quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Nhận định Sai.
Bởi vì: Ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm (giai đoạn sơ thẩm), sau khi công nhận
sự thỏa thuận hợp pháp của các đương sự, Tòa án không ra ngay quyết định công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Mà phải hết thời hạn 7 ngày kể từ ngày biên
bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó
thì Tòa án mới ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Cơ sở pháp lý: đoạn 1 khoản 1 Điều 212 BLTTDS 2015

12 – Thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo của bản án sơ thẩm là ngày Tòa án
tuyên án đối với đương sự có mặt tại phiên tòa.
Nhận định Sai.
Bởi vì: Về nguyên tắc thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo của bản án sơ thẩm
là ngày Tòa án tuyên án đối với đương sự có mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, đối với
trường hợp đương sự khong có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời
hạn kháng cáo không được tính bắt đầu từ ngày tuyên án, mà bắt đầu tính từ ngày
họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Cơ sở pháp lý: đoạn 1 khoản 1 Điều 273 BLTTDS 2015


13 – Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh giám đốc thẩm những bản án
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng nghị.
Nhận định Sai.
Bởi vì: Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh không giám đốc thẩm những
bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng
nghị. Thẩm quyền giám đốc thẩm những bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng nghị thuộc Ủy ban Thẩm phán Tòa án
nhân dân cấp cao.
Cơ sở pháp lý: điểm a khoản 1 Điều 337 BLTTDS 2015

14 – Chỉ người gây thiệt hại cho nguyên đơn mới có thể trở thành bị đơn.
Nhận định Sai.
Bởi vì: Căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015 thì bị đơn chỉ cần
là người mà nguyên đơn khởi kiện cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên
đơn bị bị đơn đó xâm phạm. Tức là, không chỉ người gây thiệt hại cho nguyên đơn
mới có thể trở thành bị đơn, mà trên thực tế, mặc dù, bị đơn không gây thiệt hại cho
nguyên đơn vẫn có thể trở thành bị đơn, trong trường hợp bị đơn đó bị nguyên đơn
khởi kiện.
Cơ sở pháp lý: khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015


15 – Nếu đương sự vắng mặt không có lý do chính đáng, Tòa án phải hoãn phiên
hòa giải.
Nhận định Sai.
Bởi vì: Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 207 BLTTDS 2015 thì mặc dù đã
được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nếu đương sự vẫn cố tình vắng mặt (kể cả
trường hợp đương sự vắng mặt có lý do chính đáng hoặc không chính đáng) thì vụ
án bị coi không tiến hành hòa giải được. Hay nói cách khác, Tòa án không hoãn
phiên hòa giải trong trường hợp này.
Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 207 BLTTDS 2015

16 – Đối chất là thủ tục bắt buộc trong tố tụng dân sự.
Nhận định Sai.
Bởi vì: Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 100 BLTTDS 2015 thì theo yêu cầu
của đương sự hoặc khi xét thấy có mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự,
người làm chứng, Thẩm phán tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa
đương sự với người làm chứng hoặc giữa các người làm chứng với nhau. Nói cách
khác, nếu không có yêu cầu của đương sự hoặc không thấy có mâu thuẫn trong lời
khai của các đương sự, người làm chứng thì Thẩm phán không tiến hành đối chất.
Do đó, Đối chất không là thủ tục bắt buộc trong tố tụng dân sự.
Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 100 BLTTDS 2015


17 – Nếu nguyên đơn chết Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
Nhận định Sai.
Bởi vì: Không phải trong mọi trường hợp khi nguyên đơn chết Tòa án đều ra quyết
định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Trường hợp, nguyên đơn chết mà chưa tìm
thấy người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn thì Tòa án ra quyết
định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều
214 BLTTDS 2015. Trường hợp, nguyên đơn chết mà đã tìm thấy người thừa kế
quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn thì Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án dân
sự. Trường hợp, nguyên đơn chết mà không có người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố
tụng của nguyên đơn thì khi đó Tòa án mới ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015.
Do đó, Nếu nguyên đơn chết, không phải trong mọi trường hợp, Tòa án đều ra
quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
Cơ sở pháp lý: điểm a khoản 1 Điều 214 BLTTDS 2015, điểm a khoản 1 Điều 217
BLTTDS 2015.

18– Thẩm phán tuyệt đối không được tham gia xét xử hai lần một vụ án.
Nhận định Sai.
Bởi vì: Căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 53 BLTTDS 2015 thì trường hợp
Thẩm phán đã tham gia xét xử vụ án dân sự nhưng chưa ra được bản án hoặc Thẩm
phán đó là thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban


Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao thì Thẩm phán đó vẫn có thể tham gia xét xử
lần thứ hai đối với cùng một vụ án dân sự.
Do đó, Thẩm phán có thể tham gia xét xử hai lần trong cùng một vụ án.
Cơ sở pháp lý: khoản 3 Điều 53 BLTTDS 2015

19 – Biên bản lấy lời khai là chứng cứ.
Nhận định Sai.
Bởi vì: Căn cứ vào quy định tại Điều 94 BLTTDS 2015 thì Biên bản lấy lời khai chỉ
được xem là nguồn của chứng cứ. Biên bản lấy lời khai là chứng cứ khi Biên bản
lấy lời khai đó được xác địn là có thật, được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân
khác gia nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập
theo trình tự thủ tục luật định và được Tòa án làm căn cứ để xác định tình tiết khách
quan của vụ án thì mới được xem là chứng cứ theo quy định tại Điều 93 BLTTDS
2015.
Cơ sở pháp lý: Điều 93, Điều 94 BLTTDS 2015

20 – Các đương sự có quyền thỏa thuận nộp chi phí giám định.
Nhận định Đúng.
Bởi vì: Căn cứ vào quy định tại Điều 161 BLTTDS 2015 thì trừ trường hợp các bên
đương sự không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì
nghĩa vụ chịu chi phí giám định được xác định theo các nguyên tắc được quy định


tại các khoản 1,2,3,4,5 tại Điều 161 BLTTDS 2015. Do đó, trong trường hợp đương
sự có thỏa thuận về việc nộp chi phí giám định thì nghĩa vụ chịu chi phí giám định
được xác định theo thỏa thuận của các bên. Hay nói cách khác, các đương sự có
quyền thỏa thuận nộp chi phí giám định.
Cơ sở pháp lý: Điều 161 BLTTDS 2015



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×