Tải bản đầy đủ

LVTS 2009 những vấn đề pháp lý về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong quân đội

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN GIA TRỌNG

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CỔ PHẦN HÓA
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG QUÂN
ĐỘI

luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc

Hµ néi - 2009


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN GIA TRỌNG

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CỔ PHẦN HÓA
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG QUÂN

ĐỘI
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số

: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Vũ Quang

Hµ néi - 2009


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục các bảng
Mở đầu

Chương 1:

1
Những vấn đề chung về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà

6

nƣớc và doanh nghiệp nhà nƣớc trong quân Đội

1.1.

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

6

1.1.1.

Khái niệm về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước


6

1.1.2.

Đặc điểm của tiến trình cổ phần hóa

8

1.2.

Sự cần thiết phải cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở
Việt Nam và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong
quân đội.

11

1.2.1.

Sự cần thiết phải cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở
Việt Nam

11

1.2.2.

Sự cần thiết phải cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong
quân đội

15

1.3.

Kinh nghiệm chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước ở Nga,
Trung Quốc và những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

25

1.3.1.

Cổ phần hóa - tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước ở Nga
(Liên bang Nga)

27

1.3.1.1. Giai đoạn thứ nhất - Tư nhân hóa thông qua phát hành séc

27

1.3.1.2. Giai đoạn thứ hai - Tư nhân hóa bằng tiền tệ

33

1.3.1.3. Kết quả của quá trình tư nhân hóa và hiện đại hóa

34

1


1.3.1.4. Bài học kinh nghiệm của Liên bang Nga đối với các nền
kinh tế chuyển đổi

37

1.3.1.5. Những bước chuyển đổi đối với các doanh nghiệp quốc
phòng của Nga

39

Cổ phần hóa và mô hình doanh nghiệp nhà nước hiện đại ở
Trung Quốc.

41

1.3.2.

1.3.2.1. Giai đoạn thí điểm cổ phần hóa

41

1.3.2.2. Giai đoạn thí điểm "hệ thống doanh nghiệp hiện đại"

45

1.3.2.3. Bài học kinh nghiệm của Trung Quốc đối với các nền kinh
tế chuyển đổi

48

1.3.2.4. Những bước chuyển đổi đối với các doanh nghiệp quốc
phòng của Trung Quốc

50

Những vấn đề pháp lý về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà

56

Chương 2:

nƣớc trong quân đội và thực trạng thi hành

2.1.

Thực trạng các quy định của pháp luật về cổ phần hóa
doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam.

56

2.1.1.

Giai đoạn thí điểm cổ phần hóa một số doanh nghiệp nhà
nước (từ năm 1992 - 1996)

56

2.1.2.

Giai đoạn mở rộng cổ phần hóa (từ năm 1996 - 1998)

58

2.1.3.

Giai đoạn đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
(từ năm 1998 đến nay)

60

2.1.4.

Những nội dung cơ bản của pháp luật hiện hành về cổ phần
hóa doanh nghiệp nhà nước

63

2.2.

Thực trạng những quy định của Bộ Quốc phòng về việc cổ
phần hóa doanh nghiệp Nhà nước trong quân đội

70

2.2.1.

Giai đoạn thí điểm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
trong quân đội (từ năm 2001 - 2003)

70

2.2.2.

Giai đoạn mở rộng và đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp
nhà nước trong quân đội (từ năm 2003 - nay)

73

2


2.2.3.

Những quy định pháp luật đặc thù hiện hành trong quá trình

77

cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong quân đội
2.2.4.

Kết quả thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

83

trong quân đội đến tháng 12/2007
2.2.5.

Một số bất cập trong các quy định hiện hành về cổ phần hóa

86

doanh nghiệp nhà nước trong quân đội
2.2.6.

Những nguyên nhân dẫn đến sự chậm trễ tiến trình cổ phần

93

hóa các doanh nghiệp thuộc diện cổ phần hóa trong quân đội
Chương 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật cổ phần

96

hóa doanh nghiệp nhà nƣớc trong quân đội

3.1.

Một số định hướng về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

96

và doanh nghiệp nhà nước trong quân đội
3.1.1.

Một số định hướng về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

96

3.1.2.

Một số định hướng về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

98

trong quân đội
3.1.3.

Một số quan điểm về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

101

trong quân đội
3.2.

Những phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp

101

luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp
nhà nước trong quân đội
3.3.

Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật

105

đối với cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp
nhà nước trong quân đội và các giải pháp cụ thể nhằm đẩy
nhanh tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong
quân đội
3.3.1.

Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện pháp luật cổ phần hóa
doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nhà nước trong quân

3

105


đội
3.3.1.1. Cần sớm có văn bản có giá trị pháp lý cao về cổ phần hóa
làm căn cứ pháp lý cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trên
diện rộng, giải quyết thật cơ bản những vấn đề pháp lý đặt
ra đối với doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa

105

3.3.1.2. Cần hoàn thiện các quy định về xác định tính giá trị quyền
sử dụng đất theo giá thị trường

106

3.3.1.3. Đề nghị sửa đổi, bổ sung các quy định bán cổ phần cho người
lao động và người quản lý doanh nghiệp

107

3.3.1.4. Cần quy định rõ ràng nhằm xóa bỏ cơ chế chủ quản đối với
doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa và tách bạch giữa
chủ sở hữu và điều hành trong công ty cổ phần

108

3.3.1.5. Cần quy định rõ ràng, nhất quán việc sử dụng đất quốc
phòng đối với các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa

110

3.3.1.6. Cần hoàn thiện các quy định về chế độ chính sách đối với sĩ
quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng
tại các doanh nghiệp nhà nước trong quân đội cổ phần hóa

113

Một số giải pháp cụ thể nhằm đẩy nhanh tiến trình cổ phần
hóa doanh nghiệp nhà nước trong quân đội

115

3.3.2.1. Tuyên truyền sâu rộng về chủ trương, chính sách cổ phần
hóa, nâng cao hơn nữa nhận thức của cán bộ, đảng viên, sĩ
quan, quân nhân chuyên nghiệp và người lao động về sự
cần thiết cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

115

3.3.2.2. Nắm chắc các yêu cầu, nội dung, phương pháp để thực hiện
tốt công tác cổ phần hóa

116

3.3.2.

Kết luận

118

Danh Mục tài liệu tham khảo

120

Phụ lục

127

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

4


CPH

: Cổ phần hóa

CPH DNNN : Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
CNQP

: Công nghiệp quốc phòng

CNQP - KT : Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế
CTCP

: Công ty cổ phần

DN

: Doanh nghiệp

DNNN

: Doanh nghiệp nhà nước

DNQĐ

: Doanh nghiệp quân đội

TNHH

: Trách nhiệm hữu hạn

5


DANH MỤC CÁC BẢNG
số hiệu
bảng

Tên bảng

Trang

2.1

Tình hình thực hiện kế hoạch cổ phần hóa giai đoạn
2005 - 2006

85

6


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đầy, nhất là từ năm 2001, khi nền kinh tế đất
nước đi vào chiều sâu của công cuộc đổi mới, vấn đề cổ phần hóa (CPH)
doanh nghiệp nhà nước (DNNN) luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm; tại
Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (ngày
24/9/2001) đã khẳng định: "Đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn, xem đó là khâu quan trọng để tạo
chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước".
Đến Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X (từ ngày 18/4 - 25/4/2006),
tiếp tục khẳng định "Đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả
doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là cổ phần hóa". Theo số liệu tại Hội nghị
sắp xếp, đổi mới DNNN tổ chức ngày 23/4/2008, đến hết năm 2007 tổng số
đơn vị được sắp xếp là 5.366 doanh nghiệp (DN), trong đó CPH là 3.756 DN.
Các DN CPH về cơ bản đều có lãi, đời sống người lao động được cải thiện:
tính đến 2006, trong tổng số 1.616 DN sau một năm CPH trở lên thì bình
quân vốn điều lệ tăng 58,6%, doanh thu tăng 48,2%, lợi nhuận tăng hàng
trăm phần trăm, nộp ngân sách tăng 44,2%, thu nhập người lao động tăng
51,8%, cổ tức đạt 13%.
Đối với các DNNN trong quân đội, thực hiện quyết định của Thủ
tướng Chính phủ về sắp xếp đổi mới các DNNN, nhà nước sẽ nắm giữ 100%
vốn của các DN quốc phòng an ninh, các DN còn lại sẽ hầu hết thực hiện
CPH, nếu chưa kịp tiến hành CPH thì chuyển thành công ty trách nhiệm hữu
hạn (TNHH) một thành viên. Tính đến cuối năm 2007, Bộ Quốc phòng đã
CPH thành công gần 30 DN, hầu hết các công ty cổ phần (CTCP) đều đạt
được kết quả đáng khích lệ, các chỉ tiêu chủ yếu như doanh thu, lợi nhuận,
nộp ngân sách, tỉ suất lợi nhuận trên vốn đều tăng hơn nhiều lần so với trước

7


khi CPH. Tình hình việc làm ổn định, thu nhập người lao động được cải thiện,
các yếu kém mang tính cố hữu của DNNN đã được hóa giải.
Mặc dù, CPH đạt được những kết quả khá khả quan, nhưng tiến trình
CPH đang bị chậm so với mục tiêu đề ra, ngoài những nguyên nhân chung
của các DNNN, thì các doanh nghiệp quân đội (DNQĐ) trong diện CPH có
những nguyên nhân mang tính chất đặc thù như chưa có nhận thức thống nhất
về CPH DNNN trong quân đội, nên các cơ quan, DN và ngay cả người lao
động không thấy tránh nhiệm của mình trong việc triển khai thực hiện chủ
trương CPH; còn sự luyến tiếc khi rời bỏ DNQĐ (doanh nghiệp nhà nước) vì DN,
cán bộ, người lao động trong DN sẽ "mất" một số đặc quyền đặc lợi khi còn là
DNQĐ.
Doanh nghiệp quân đội, người lao động trong DNQĐ vừa là đối tượng
điều chỉnh của các văn bản quy pháp pháp luật như đối với các DNNN trong
diện CPH, đồng thời cũng vừa là đối tượng điều chỉnh của các văn bản quy
phạm pháp luật "quân sư". Do vậy việc giải quyết chế độ, chính sách đối với
người lao động; trình tự CPH; sử dụng nguồn vốn và đất quốc phòng sau
CPH….đối với các DNQĐ trong diện CPH gặp nhiều khó khăn, vướng mắc
và thời gian triển khai CPH thường chậm, cá biệt có những vướng mắc hiện
nay được các cơ quan cấp trên cho "khoanh" lại chờ tìm cách giải quyết.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế kể trên, việc nghiên cứu những vấn đề pháp
lý về CPH DNNN nói chung và CPH trong quân đội nói riêng là rất cần thiết,
góp phần đề xuất những cơ sở lý luận, thực tiễn và kiến nghị những giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả và đẩy nhanh tiến trình CPH DNNN trong quân đội.
Chính vì vậy tác giả đã lựa chọn đề tài "Những vấn đề pháp lý về cổ phần
hóa doanh nghiệp nhà nước trong quân đội" làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
CPH DNNN là một vấn đề kinh tế - xã hội được diễn ra ở nhiều nước
trên thế giới. Việt Nam cũng không nằm ngoài qui luật này. Trong hơn 10

8


năm qua đã có nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước hướng dẫn triển khai
thực hiện CPH DNNN, nhiều văn bản quy phạm pháp luật về CPH DNNN
đã được ban hành, đã có nhiều đề tài khoa học, luận văn thạc sĩ các bài viết
về vấn đề này.
Tuy nhiên, vấn đề CPH DNNN trong quân đội mới chỉ có một luận
văn thạc sĩ "Những vấn đề pháp lý về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước"
(Qua thực tiễn phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong quân đội)" của Hàn
Mạnh Thắng, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội - 2005. Luận văn mới chỉ
đề cấp đến những vấn đề pháp lý chung về CPH DNNN, trong đó DNNN
trong quân đội là một loại hình, mà chưa đề cấp đến sự mâu thuẫn, sự không
đồng nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật về CPH DNNN với các văn
bản Quy phạm pháp luật quân sự (Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Sĩ quan Quân
đội nhân dân Việt Nam, Luật Quốc phòng, Pháp lệnh Công nghiệp quốc
phòng (CNQP), các nghị định hướng dẫn và qui định đối với các DN quốc
phòng…) và địa vị pháp lý "kép" của người lao động trong các DNQĐ. Mặt
khác, từ năm 2005 đến nay đã có sự phát triển mới về CPH DNNN trong quân
đội, nên vấn đề CPH DNNN trong quân đội cần tiếp tục được nghiên cứu một
cách toàn diện và có hệ thống cả về lý luận, thực tiễn và đưa ra các biện pháp
có tính khả thi nhằm đẩy nhanh và có hiệu quả quá trình CPH DNNN trong
quân đội. Tác giả cũng hy vọng rằng với sự đầu tư thích đáng, kết quả nghiên
cứu sẽ là một tài liệu tham khảo có giá trị.
3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu các vấn đề pháp lý cũng như cơ sở lý
luận của CPH DNNN nói chung và trong quân đội nói riêng theo quy định
của pháp luật Việt Nam. Trong nội dung trình bày tác giả sẽ đưa ra những
nhận xét, đánh giá thực tiễn cũng như xu hướng CPH DNNN trong quân đội
khi sắp xếp đổi mới DNQĐ. Qua đó nêu nên những kiến nghị có thể áp dụng
khi CPH DNNN trong quân đội và việc hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực

9


này, đồng thời xây dựng một tiến trình CPH phù hợp với đặc thù của các
DNQĐ, góp một phần đẩy nhanh tiến trình đổi mới và phát triển DNQĐ.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề pháp lý liên quan đến tiến trình CPH
DNNN nói chung và DNNN trong quân nói riêng:
- Cơ sở lý luận về CPH DNNN
- Chủ trương, chính sách thực hiện, tổ chức thực hiện CPH DNNN
trong quân đội
- Đối tượng CPH, xác định giá trị DN.
- Giải quyết các vấn đề liên quan đến người lao động, quyền sử dụng
đất quốc phòng.
- Hoạt động của DN sau CPH.
b) Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các DNNN trong quân đội kể từ khi có
chủ trương của Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng về CPH DNNN trong
quân đội đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Tác giả sẽ sử dụng phương pháp phân tích, so sánh các quy định của
pháp luật quốc gia trong các giai đoạn khác nhau, thu thập kinh nghiệm thực
tiễn của một số quốc gia có những đặc điểm gần giống với Việt Nam trong
việc thực hiện CPH DNNN trong quá trình sắp xếp, đổi mới DNNN nói
chung và DNQĐ nói riêng, từ đó rút ra những ưu điểm trong quy định của
pháp luật của một số nước về vấn đề sắp xếp đổi mới DNNN; xem xét tính

10


phù hợp với điều kiện Việt Nam để hướng tới hoàn thiện các quy định của
pháp luật Việt Nam và các quy định của Bộ Quốc phòng trong CPH DNQĐ
nhằm đẩy nhanh tiến độ CPH DNNN hiện nay.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà
nước và doanh nghiệp nhà nước trong quân đội.
Chương 2: Những vấn đề pháp lí về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà
nước trong quân đội và Thực trạng thi hành.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp về hoàn thiện pháp luật cổ
phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong quân đội.

11


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CỔ PHẦN HÓA
DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC VÀ DOANH NGHIỆP TRONG QUÂN ĐỘI

1.1. CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC

1.1.1. Khái niệm về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc
Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đều tồn tại khu vực kinh tế
nhà nước và đã trở thành một bộ phần quan trọng trong cơ cấu kinh tế của
mỗi nước, đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế
xã hội, góp phần thực hiện sự tăng trưởng và ổn định nền kinh tế mỗi nước.
Trên thực tế, không một nước nào lại không sử dụng các DNNN ở những lĩnh
vực quan trọng nhằm thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô, đặc biệt vì lợi ích
xã hội. Tuy nhiên, kinh tế nhà nước trong quá trình phát triển nó đã bộc lộ
nhiều hạn chế, kìm hãm sự phát triển kinh tế.
Việc đổi mới và phát triển DNNN để thích ứng với các đòi hỏi của
nền kinh tế thị trường là một yêu cầu đặt ra đối với tất cả các nước đang phát
triển. Một trong những giải pháp quan trọng thúc đẩy chuyển đổi sở hữu
DNNN là CPH DNNN. Quá trình CPH của các nước này đã góp phần khắc
phục hạn chế và yếu kém trong quá trình kinh doanh của các DNNN, là một
phần đòi hỏi khách quan nhằm đáp ứng những yêu cầu về cải cách, đổi mới
khu vực kinh tế nhà nước cho phù hợp với các yêu cầu phát triển của nền kinh
tế.
Xét về bản chất kinh tế, CPH là việc nhà nước hoặc giữ nguyên vốn
hiện có trong DN nhưng phát hành cổ phiếu để thu hút thêm vốn, hoặc bán
bớt một phần hay toàn bộ giá trị cổ phần của mình trong DN cho các đối
tượng là tổ chức hoặc cá nhân trong và ngoài nước hoặc cho cán bộ quản lý,

12


cán bộ công nhân viên của DN bằng đấu giá công khai hay thông qua thị
trường chứng khoán.
Tại Việt Nam, Điều 4 Nghị định 109/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày
26/6/2007 (thay thế điều 3, Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004) đã
quy định cụ thể các hình thức CPH công ty nhà nước gồm có:
- Giữ nguyên vốn nhà nước hiện tại DN, phát hành cổ phiếu để tăng
vốn điều lệ.
- Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại DN hoặc kết hợp vừa bán bớt
một phần vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ.
- Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại DN hoặc kết hợp vừa bán toàn
bộ vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ [23, tr. 2].
Xét về mặt sở hữu, CPH là quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN, chuyển
DN thuộc quyền sở hữu của nhà nước thành DN có nhiều chủ sở hữu với mục
đích bảo đảm sự tồn tại và phát triển không ngừng của DN theo sự phát triển
của kinh tế - xã hội. Sự chuyển hoá này không phải chỉ là sự thay đổi về tên
gọi mà là sự thay đổi căn bản trên ba mặt:
Thứ nhất, chuyển hóa quyền sở hữu (từ đơn sở hữu sang đa sở hữu).
Từ đó dẫn đến việc thay đổi cả quyền quản lý điều hành DN, tạo nên sự gắn
kết chặt chẽ giữa ba quyền liên quan đến vốn và tài sản của DN. Đây cũng là
điều kiện thiết yếu để đảm bảo quyền làm chủ thực sự của những người góp
vốn và để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN.
Thứ hai, thay đổi căn bản về tổ chức các quan hệ quản lý nội bộ. Với
cơ cấu tổ chức chặt chẽ gồm đại hội cổ đông, hội đồng quản trị, ban kiểm soát,
ban điều hành đã có sự phân công, phân cấp và giám sát lẫn nhau, CTCP có
khả năng bảo đảm hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

13


Thứ ba, thay đổi căn bản về quản lý giữa nhà nước và DN. Từ chỗ
DNNN bị chi phối toàn diện bởi nhà nước (nhà nước là chủ sở hữu 100% vốn
điều lệ trước đây) sang quyền tự chủ kinh doanh được mở rộng và tính chịu
trách nhiệm được đề cao.
Điều 1, Nghị định 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ đã
nêu rõ mục tiêu, yêu cầu của việc chuyển công ty nhà nước thành CTCP là:
1. Chuyển đổi công ty nhà nước mà nhà nước không cần nắm giữ
100% vốn sang loại hình DN có nhiều chủ sở hữu; huy động vốn của cá nhân,
các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong và ngoài nước để tăng năng lực tài
chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu
quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
2. Đảm bảo hài hòa lợi ích của nhà nước, DN, nhà đầu tư và người lao
động trong DN.
3. Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc
phục tình trạng CPH khép kín trong nội bộ DN; gắn với phát triển thị thường
vốn, thị trường chứng khoán [23, tr. 1].
Xét về mặt pháp lý, CPH là việc chuyển đổi DNNN sang hoạt động
theo mô hình CTCP. CPH DNNN là quá trình thực hiện đa dạng hóa sở hữu,
chuyển các DNNN thuộc sở hữu của nhà nước thành CTCP thuộc sở hữu của
các cổ đông thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia mua cổ phiếu.
Xét về mặt xã hội, CPH góp phần nâng cao sự minh bạch trong quản
trị và điều hành DN, tạo ra cơ chế thực hiện sự công bằng đối với các nhà đầu
tư, người lao động. CPH DNNN, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý xã hội
đối với các lĩnh vực mà trước đây nhà nước (độc quyền) quản lý thông qua
việc chuyển giao vốn, "thoát vốn" nhà nước tại các DNNN sau CPH.
1.1.2. Đặc điểm của tiến trình cổ phần hóa
Qua khái niệm trên, có thể thấy CPH DNNN có những đặc điểm sau:

14


Thứ nhất, CPH DNNN là biện pháp chuyển DN từ sở hữu nhà nước
sang hình thức nhiều sở hữu hay còn gọi là đa sở hữu. Trước khi CPH, toàn
bộ vốn của DN thuộc sở hữu nhà nước. Hội đồng quản trị (đối với DN có hội
đồng quản trị) hoặc giám đốc (đối với DN không có hội đồng quản trị) là đại
diện chủ sở hữu trực tiếp của nhà nước tại DN. Họ không phải là chủ sở hữu
thực sự mà chỉ là người được nhà nước giao quyền quản lý và khai thác tài
sản mà nhà nước đã đầu tư để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh và
các mục tiêu kinh tế - xã hội mà nhà nước giao. Khi tiến hành CPH, nhà nước
sẽ tiến hành xác định giá trị phần vốn nhà nước tại DN, xác định số lượng cổ
phiếu phát hành thông qua hình thức bán một phần vốn nhà nước hoặc giữ
nguyên phần vốn nhà nước, hoặc phát hành cổ phiếu ra bên ngoài để thu hút
vốn cho DN. Trên cơ sở đó, DN bán cổ phiếu của mình cho các tổ chức, cá
nhân thuộc mọi thành phần kinh tế. Những người mua cổ phiếu trở thành cổ
đông của CTCP, có quyền sở hữu chung đối với công ty, tương ứng với tỷ lệ
phần vốn góp trong vốn điều lệ, đồng thời phải chịu trách nhiệm đối với các
khoản nợ của công ty tương ứng với phần vốn góp vào công ty. Các cổ đông
góp vốn sẽ thể hiện quyền và nghĩa vụ của mình thông qua đại hội cổ đông và
được giới thiệu đại diện tham gia ứng cử hội đồng quản trị của CTCP nếu đủ
điều kiện do điều lệ công ty quy định.
Việc chuyển đổi sở hữu DNNN từ hình thức sở hữu đơn nhất sang
hình thức đa sở hữu đã thu hút sự tham gia của các nhà đầu tư trong và ngoài
nước, giúp cho DN thay đổi căn bản phương thức quản lý điều hành DN, nâng
cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN và hoạt động của DN vì
lợi ích của các cổ đông công ty và sự phát triển lâu dài, bền vững của CTCP.
Thứ hai, CPH là quá trình chuyển đổi hình thức hoạt động từ DN
100% vốn nhà nước sang CTCP. Điều đó có nghĩa là một DNNN sau khi
CPH sẽ không tồn tại dưới loại hình DNNN nữa mà chuyển sang loại hình
CTCP. Khác với DNNN hoạt động theo Luật DNNN trước CPH, DN sau khi
chuyển đổi hình thức hoạt động sang CTCP thì địa vị pháp lý của DN được

15


quy định trong Luật DN 2005. Toàn bộ các vấn đề liên quan đến hoạt động
của DN như quyền và nghĩa vụ, cơ chế quản lý đến việc thành lập, giải thể,
phá sản đều được điều chỉnh bởi Luật DN và các bản hướng dẫn thi hành Luật
DN. DNNN trước CPH hoạt động theo cơ chế chủ quan, cấp trên giao hoặc
duyệt kế hoạch, măng nặng cơ chế "xin - cho" mối quan hệ của DN với cơ
quan chủ quản là cấp trên cấp dưới, thiếu sự bình đẳng, không theo nguyên
tắc thị trường. Khi chuyển sang CTCP hoạt động theo Luật DN, cơ quan cao
nhất của công ty là Đại hội đồng cổ đông. Công ty được quản lý bởi hội đồng
quản trị do đại hội đồng cổ đông bầu ra và được điều hành bởi giám đốc (hoặc
Tổng giám đốc) được hội đồng quản trị bổ nhiệm hoặc ký hợp đồng thuê. Các
quy định của Luật DN về quản lý CTCP có tính chất mềm dẻo, linh hoạt và
tạo cơ chế cho CTCP được phát huy quyền chủ động trong hoạt động của DN
vì lợi ích của các công ty và của các cổ đông công ty.
Thứ ba, quá trình CPH được tiến hành thông qua hình thức nhà nước
bán một phần hay toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại DN. Việc bán cổ phần
được áp dụng cho các đối tượng sau:
+ Bán cổ phần cho những người lao động trong DN: khi xây dựng
phương án bán cổ phần, DN sẽ dành một số cổ phần để bán cho những người
quản lý và những người lao động theo giá ưu đãi tương ứng với thời gian
công tác của họ tại DN. Việc bán cổ phần cho những người lao động với giá
ưu đãi nhằm mục đích ghi nhận những đóng góp của họ trong DN trong thời
gian qua đồng thời thu hút sự tham gia của họ vào công tác quản lý DN, nâng
cao trách nhiệm và tinh thần sáng tạo của họ trong hoạt động sản xuất - kinh
doanh của DN. Việc bán cổ phần như vậy có ý nghĩa xã hội rất lớn và cũng là
một trong những lý do để thu hút người lao động tham gia mua cổ phần của
DN.
+ Bán cổ phần cho một số nhà đầu tư chiến lược: Trong phương án cổ
phần, DN sẽ xác định một số lượng cổ phần phát hành cho một số nhà đầu tư

16


chiến lược. Các cổ đông chiến lược là những nhà đầu tư có khả năng hỗ trợ
DN về tài chính, nguồn nguyên vật liệu thiết yếu, thị trường tiêu thụ sản
phẩm..., góp phần quan trọng vào việc thực hiện chiến lược phát triển lâu dài
của DN sau CPH. Các nhà đầu tư chiến lược được hưởng một mức giá ưu đãi
hơn so với các nhà đầu tư thông thường khác. Tuy nhiên, số lượng cổ phần
bán cho các nhà đầu tư chiến lược sẽ bị giới hạn ở một mức độ nhất định.
+ Bán cổ phần của DN ra công chúng: Nhà nước bán toàn bộ hay một
phần sở hữu nhà nước trong DN cho công chúng thường được thể hiện thông
qua một số tổ chức tài chính trung gian hoặc sàn giao dịch chứng khoán.
Thông qua việc bán cổ phần ra công chúng, các nhà đầu tư các cá nhân và tổ
chức có thể mua được cổ phần của DNNN CPH. Để thu hút được công chúng
tham gia mua cổ phần phát hành của DN, đòi hỏi DN có phương án sản xuất
kinh doanh hiệu quả, có tỷ lệ sinh lợi cao đồng thời có các biện pháp bảo vệ
quyền lợi của các cổ đông tham gia mua cổ phần đặc biệt là các cổ đông thiểu
số.
Thông qua việc bán cổ phần của DN ra công chúng, DNNN sau khi
CPH có thể thu hút sự tham gia mua cổ phần của những người có trình độ và
kinh nghiệm về kỹ thuật, tài chính, quản lý và thương mại. Họ là những nhà
quản lý giỏi, có tinh thần trách nhiệm cao và hoạt động thực sự vì lợi ích của
DN.
1.2. SỰ CẦN THIẾT PHẢI CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC Ở
VIỆT NAM VÀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC TRONG QUÂN ĐỘI

1.2.1. Sự cần thiết phải cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc ở Việt
Nam
Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn,
thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích
nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước giao. Quá trình phát

17


triển của DNNN ở Việt Nam gắn liền với quá trình phát triển kinh tế xã hội ở
nước ta, có thể chia ra làm hai giai đoạn trước và sau khi đổi mới.
Giai đoạn trước năm 1986, với quyết định 25-CP, ngày 21/1/1981 của
Hội đồng Chính phủ "về một số chủ trương và biện pháp nhằm phát huy
quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của các xí
nghiệp quốc doanh". Theo đó, ngoài nhiệm vụ kế hoạch nhà nước giao, nhà
nước khuyến khích các DNNN (xí nghiệp quốc doanh) chủ động sản xuất
thêm sản phẩm chính, sản phẩm phụ, làm các công việc có tính chất công
nghiệp (đối với các Xí nghiệp sản xuất) hoặc mở rộng diện kinh doanh (đối
với các xí nghiệp thương nghiệp), nếu DN còn năng lực sản xuất và có khả
năng tự cung ứng những điều kiện vật chất. Như vậy, kế hoạch của DNNN
gồm 3 phần: Phần nhà nước giao có vật tư đảm bảo; phần DN tự làm; phần
sản xuất phụ. Thời gian này để khuyến khích tăng năng suất lao động, các
DNNN đã chuyển từ hình thức trả lương theo thời gian sang trả lương theo
sản phẩm. DN được tự do hơn trong việc mua vật tư và bán sản phẩm thông
qua các quan hệ trực tiếp với nguồn cung cấp và khách hàng.
Tuy nhiên, các DNNN thời kỳ này vấn chưa có những biến đổi cơ bản
do quản lý vẫn theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, DNNN vẫn không chủ
động được đầu vào, đầu ra vì hệ thống giá còn nhiều bất cập cũng như sự
thiếu đồng bộ của Chính phủ trong việc cấp tín dụng, bù giá, bù lỗ… dẫn đến
quản lý tài chính lỏng lẻo ở các DNNN.
Giai đoạn sau năm 1986, với quyết định 76-HĐBT ngày 26/6/1986
của Hội đồng Bộ trưởng "về việc ban hành các văn bản quy định tạm thời về
bảo đảm quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở", tiếp
đó là quyết định 217/HĐBT ngày 14/11/1987 của Hội đồng Bộ trưởng "về
ban hành các chính sách đổi mới kế hoạch hóa và hạch toán kinh doanh xã hội
chủ nghĩa đối với xí nghiệp quốc doanh". Theo quyết định này, DNNN phải
thực hiện hạch toán kinh tế, lấy thu bù chi, nhà nước không cấp bù lỗ như

18


trước đây, các DNNN phải tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
mình. Để giao quyền chủ động cho các DN, nhà nước đã giảm các chỉ tiêu kế
hoạch pháp lệnh, đến năm 1989, hầu hết các DNNN chỉ còn phải thực hiện
một chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh duy nhất, đó là khoản nộp ngân sách. Với
quyết định này, các DNNN đã được cởi trói. Bên cạnh đó là một loạt các biện
pháp tổ chức sắp xếp lại các DNNN như: thực hiện thí điểm chương trình
CPH DNNN theo quyết định 134/HĐBT ngày 10/5/1990, quyết định
202/HĐBT ngày 8/6/1992, chỉ thị 84/TTg ngày 4/3/1993; đồng thời ban hành
Luật DNNN tháng 4 năm 1995.
Cho đến nay, DNNN vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc điều tiết
nền kinh tế, với tiềm lực to lớn, DNNN đảm bảo hầu hết các sản phẩm dịch
vụ công ích, các điều kiện hạ tầng cơ sở, hạ tầng kỹ thuật cho các thành phần
kinh tế, có ảnh hưởng tới sự phát triển của nền kinh tế theo những phương
hướng, mục tiêu, nhiệm vụ phù hợp với lợi ích quốc gia trong từng giai đoạn
cụ thể. Đảm bảo sự phát triển ổn định của nền kinh tế, việc làm cho người lao
động. Trong thực tế, ở những thời điểm nhất định, DNNN ở các nước đã thực
hiện tốt được vai trò này. Tuy nhiên, so với yêu cầu của nền kinh tế thị
trường, hội nhập kinh tế thế giới thì các DN Việt Nam nói chung và đặc biệt
là các DNNN nói riêng cần phải được sắp xếp và cơ cấu lại.
Nghị quyết hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(khóa IX) về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN
đã nhận định về thực trạng DNNN ở Việt Nam hiện nay như sau: DNNN đã
chi phối được các ngành, lĩnh vực then chốt và sản phẩm thiết yếu của nền
kinh tế; góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, ổn định và
phát triển kinh tế - xã hội tăng thế và lực của đất nước. DNNN chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng sản phẩm trong nước, trong tổng thu ngân sách, kim ngạch
xuất khẩu và công trình hợp tác đầu tư với nước ngoài; là lực lượng quan
trọng trong thực hiện các chính sách xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai và
bảo đảm nhiều sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội, quốc phòng,

19


an ninh. DNNN ngày càng thích ứng với cơ chế thị trường; năng lực sản xuất
tiếp tục tăng; cơ cấu ngày càng hợp lý hơn; trình độ công nghệ và quản lý có
nhiều tiến bộ; hiệu quả và sức mạnh cạnh tranh từng bước được nâng lên; đời
sống của người lao động từng bước được cải thiện.
Tuy nhiên, DNNN còn những mặt hạn chế, yếu kém, có mặt rất nghiêm
trọng như: quy mô còn nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý, chưa thật tập trung
vào những ngành, lĩnh vực then chốt; nhìn chung trình độ công nghệ còn lạc
hậu, quản lý còn yếu kém, chưa thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt
động sản xuất kinh doanh; kết quả sản xuất kinh doanh chưa tương xứng với
các nguồn lực đã có và sự hỗ trợ, đầu tư của nhà nước; hiệu quả và sức cạnh
tranh còn thấp, nợ không có khả năng thanh toán tăng lên, lao động thiếu việc
làm và dôi dư còn lớn. Hiện nay, DNNN đang đứng trước thách thức gay gắt
của yêu cầu đổi mới, phát triển và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Những hạn chế yếu kém của DNNN có nguyên nhân khách quan,
nhưng chủ yếu là do những nguyên nhân chủ quan: chưa có sự thống nhất cao
trong nhận thức về vai trò, vị trí nền kinh tế Nhà nước và DNNN, về yêu cầu
và giải pháp sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN; nhiều
vấn đề chưa rõ, còn ý kiến khác nhau nhưng chưa được tổng kết thực tiễn để
kết luận. Quản lý nhà nước đối với DNNN còn nhiều yếu kém, vướng mắc;
cải cách hành chính chậm. Cơ chế, chính sách còn nhiều bất cập chưa đồng
bộ,còn nhiều điểm chưa phù hợp với nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, chưa tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy cán bộ và người lao
động trong DN nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh; một bộ
phận cán bộ DNNN chưa đáp ứng yêu cầu về năng lực và phẩm chất. Sự lãnh
đạo của Đảng và chỉ đạo của Chính phủ đối với việc đổi mới và nâng cao hiệu
quả DNNN chưa tương xứng với nhiệm vụ quan trọng và phức tạp này. Tổ
chức và phương thức hoạt động của Đảng tại DNNN chậm được đổi mới [3,
tr.1-2].

20


Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X trong phần "Tiếp
tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" đã nhận
định: "Doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát triển, trở thành hình thức kinh tế
phổ biến, thúc đẩy xã hội hóa sản xuất kinh doanh và sở hữu" [5, tr. 83]; và
chỉ rõ:
Đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả
doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là cổ phần hóa…Đẩy mạnh và
mở rộng diện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, kể cả các tổng
công ty nhà nước. Việc xác định giá trị doanh nghiệp nhà nước
được cổ phần hóa, kể cả giá trị quyền sử dụng đất, phải theo cơ chế
thị trường. Đề phòng và khắc phục những lệch lạc, tiêu cực trong
quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước [5, tr. 85].
Thể chế hóa quan điểm của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn
bản pháp luật quy định về CPH DNNN. Từ thí điểm CPH, đến nhân rộng và
trở thành một hiện tượng phổ biến trong quá trình sắp xếp, đổi mới và phát
triển DNNN. Ngày 29/6/1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 44/CP về
chuyển DNNN thành CTCP thay thể cho Nghị định 28/CP. Sau 4 năm thực
hiện, Chính phủ đã ban hành Nghị định 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002, tiếp
đến là Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về chuyển DNNN thành
CTCP thay thế cho Nghị định 64/2002/NĐ-CP, sau 3 năm thực hiện, Nghị
định 187/2004/NĐ-CP đã bộc lộ nhiều hạn chế, số lượng các DNNN CPH có
dấu hiệu chậm lại, ngoài những nguyên nhân khách quan, có nguyên nhân cơ
bản là những quy định trong Nghị định này không đáp ứng được các mục tiêu
đã đề ra. Ngày 26/6/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
109/2007/NĐ-CP về chuyển DN 100% vốn nhà nước thành CTCP.
Bên cạnh đó, nhà nước đã ban hành một số văn bản luật quan trọng
liên quan đến quá trình CPH DNNN, như: Luật DNNN (sửa đổi) năm 2003,

21


Luật Đất đai (sửa đổi) 2003, Luật Kế toán 2004, Luật Phá sản 2004, Luật DN
2005, Luật Đầu tư 2005, Luật Thương mại 2005, Bộ luật Dân sự 2005.
Quá trình CPH DNNN ở Việt Nam đã thực hiện được 20 năm, những
kết quả và thành tựu mà chúng ta đã đạt được càng khẳng định tính tất yếu,
phù hợp quy luật của nền kinh tế thị trường, nâng cao hiệu quả và sức cạnh
tranh của DN không chỉ tại thị trường trong nước mà cả thị trường nước
ngoài.
1.2.2. Sự cần thiết phải cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc trong
quân đội
Có thể nói, DNNN trong quân đội là một bộ phận của thành phần kinh
tế nhà nước nằm trong tổ chức biên chế của quân đội, do quân đội tổ chức,
quản lý, điều hành hoạt động theo pháp luật của Nhà nước và quy định của Bộ
Quốc phòng. Nhiệm vụ chủ yếu, thường xuyên của DNNN trong quân đội là
phục vụ nhiệm vụ quốc phòng an ninh đồng thời tham gia vào các hoạt động
sản xuất - kinh doanh, góp phần vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân,
củng cố vị trí vai trò của DNNN trong quân đội, góp phần củng cố an ninh
quốc phòng, giữ và duy trì đội ngũ, tiềm lực quốc phòng góp phần vào sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Từ khi Đảng và Nhà nước chủ trương chuyển nền kinh tế nước ta từ
cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, Hội đồng Bộ
trưởng đã có Quyết định 217/HĐBT ngày 14/11/1987 về ban hành chính sách
đổi mới kế hoạch hóa và hạch toán kinh doanh XHCN đối với xí nghiệp quốc
doanh. Trên cơ sở Quyết định 217/HĐBT, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã có
thông tư hướng dẫn về quyền tự chủ sản xuất đối với các đơn vị làm kinh tế và
các xí nghiệp quốc phòng.
Ngày 3 tháng 3 năm 1989, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định số
22/HĐBT về thành lập Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế, là cơ
quan trực thuộc Bộ Quốc phòng, với chức năng quản thực hiện quản lý nhà

22


nước đối với các xí nghiệp sản xuất quốc phòng và cơ sở kinh tế trong toàn
quân. Sự ra đời của cơ quan này đánh dấu việc chuyển hoạt động của các xí
nghiệp quốc phòng từ cơ chế bao cấp sang sản xuất kinh doanh, hạch toán độc
lập.
Cùng ngày 3/ 3/ 1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra Chỉ thị 46/CT
về nhiệm vụ sản xuất quốc phòng và kinh tế của Quân đội. Nội dung chỉ thị
cho phép Bộ Quốc phòng được huy động các cơ sở vật chất, kỹ thuật bao gồm
nhà máy, xí nghiệp, kho tàng, bến cảng, nhà cửa, đất đai hiện đang quản lý,
các vật tư thiết bị cần thành lý để đưa vào sản xuất phục vụ quốc phòng và
kinh tế nhằm giữ gìn tiềm lực CNQP, đóng góp cho ngân sách và cải thiện đời
sống cho bộ đội. Các tổ chức Tổng công ty, Công ty, Liên hiệp và Xí nghiệp
thuộc Bộ Quốc phòng là đơn vị sản xuất kinh doanh hoạt động theo chế độ hạch
toán độc lập; theo đúng Điều lệ Xí nghiệp quốc doanh do nhà nước ban hành.
Ngày 24/4/1989, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Quyết định
131/QĐ-QP về nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục CNQP-KT
nhằm cụ thể hóa phạm vi, đối tượng quản lý và quyền hạn của Tổng cục CNQPKT.
Ngày 21 tháng 11 năm 1989, Bộ Quốc phòng đã có chỉ thị số 298/CTQP chỉ đạo việc kiện toàn tổ chức và quản lý các cơ sở sản xuất, kinh doanh
của quân đội. Trên cơ sở đó, các cấp đã triển khai việc sắp xếp lại các đơn vị
kinh tế thành các tổng công ty, công ty, xí nghiệp… cho phù hợp với tổ chức
và cơ chế hoạt động kinh tế đang được đổi mới.
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các DN thực hiện quyền tự chủ
trong sản xuất kinh doanh, Bộ Quốc phòng thực hiện chủ trương giao vốn cho
các đơn vị kinh tế. Việc giao vốn cho các đơn vị làm ăn kinh tế là bước ngoặt
quan trọng để tăng cường trách nhiệm của các DN trong việc sử dụng tài sản,
quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả. Trong quá trình đổi mới sắp xếp lại các
DN, thực hiện Nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ

23


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×