Tải bản đầy đủ

Hợp chất cr2o3

Hợp chất Cr2O3


Giới thiệu chung :



Ôxít crôm (III) (công thức Cr2O3) là một ôxít của crôm, có cấu trúc tinh thể
giống Al2O3. Nó có phân tử gam 152 g/mol, nhiệt độ nóng chảy 2265 °C.



Ôxít crôm (III) (công thức Cr2O3) là dạng ổn định nhất, vì nó là Oxit lưỡng
tính, số Oxi hóa trung gian giữa +6 và +2 là +3.








Tinh chat vat li:

Ôxít crôm (III) (công thức Cr2O3) là chất rắn, không tan trong nước.
Ôxít crôm (III) (công thức Cr2O3) được dùng là chất tạo màu trong vật liệu
gốm nhóm tạo màu. Nó luôn cho màu xanh lục (xanh crôm) đặc trưng dù
nung chậm hay nhanh, môi trường lò ôxi hóa hay khử. Tuy nhiên nó cho
men màu xanh mờ và nhạt. Nếu có CaO, màu xanh có thể chuyển thisang
màu xanh cỏ.
Ôxít crôm (III) (công thức Cr2O3) lưỡng tính là dạng ôxít bền vững duy
nhất của crôm trong khoảng nhiệt độ đến 1200°C (sau đó nó sẽ bắt đầu hoá
hơi một phần). Chất này lấy từ nguồn ôxít crôm tự nhiên hoặc kali đicrômat.



Tính chất hóa học:

Là một Oxit lưỡng tính mạnh


Ôxít crôm (III) là 1 oxit bazơ khi tác dụng với axit đặc, to:
Cr2O3 + 6HCl = 2CrCl3 + 3H2O



Ôxít crôm (III) là 1 Oxit axit khi tác dụng với kiềm đặc, to:
Cr2O3 + NaOH = NaCrO2 + H2O




Cr2O3.xH2O có là thành phần của kết tủa keo nhầy Cr(OH)3


Ứng dụng:



Ôxít crôm (III) sử dụng trong men có kẽm có khuynh hướng tạo ra kẽm
crômat màu nâu (hay cam?). Ôxít crôm kết hợp với thiếc cho màu hồng vì
vậy nếu cần làm sáng màu xanh crôm có thể sử dụng vôit bột trắng và ôxít

nhôm thay vì dùng thiếc. Màu hồng crôm-thiếc sẽ có độ đồng nhất cao nếu
hỗn hợp được nung chảy trước (chủ yếu là tạo sự biến màu) và nếu men có
hàm lượng canxi hay stronti cao (tối thiểu 10% CaO), không có kẽm. Thông
thường hàm lượng ôxít thiếc khoảng 4-5%, cao hơn ôxít crôm từ 20 đến 30
lần. Màu hồng crôm-thiếc chuyển sang màu tím nếu trong men có lượng
đáng kể bo. Nếu men có thành phần là 3,3 SiO2, 0,27 Al2O3, 0,2 B2O3, 0,15
Li2O, 0,5 CaO, 0,1 MgO, 0,15 Na2O được pha màu 5% ôxít thiếc, 0,6%
cacbonat côban, 0,17% ôxít crôm sẽ có màu tím đẹp ở mức 6 của que thăm
nhiệt.



Ôxít crôm (III) trong men có hàm lượng chì cao sẽ tạo thành crômat chì
màu vàng. Trong men gốc nên có thêm các ôxít kiềm thổ. Thêm ôxít kẽm sẽ
có thể tạo màu cam. Dưới 950°C, trong men có hàm lượng chì cao, nhôm
thấp, ôxít crôm cho màu đỏ đến cam, thường có dạng kết tinh bề mặt. Nếu
thêm sô đa màu sẽ chuyển sang vàng.



Ôxít crôm (III) được sử dụng trong hầu hết mọi loại vết màu đen ôxi hóa.
Nó có thể chiếm đến 40% trong hệ Cr-Co-Fe và 65% trong hệ Cu-Cr.



Ôxít crôm (III) là một kim loại đánh bóng được gọi là phấn màu xanh lá
cây.
Thủy tinh có màu xanh lá cây bằng cách cho thêm oxit Ôxít crôm (III).
Điều này cũng tương tự như ngọc lục bảo, cũng là màu của crom. Một màu
đỏ là đạt được bằng doping crom (III) thành các tinh thể của corundum, mà
sau đó được gọi là hồng ngọc. Do đó, crom được sử dụng trong sản xuất
hồng ngọc tổng hợp.






Điều chế:

Nhiệt phân Cr(OH)3 và (NH4)2Cr2O7:
2Cr(OH)3 = Cr2O3 + 3H2O
(NH4)2Cr2O7 = Cr2O3 + NH3 + H2O




Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×