Tải bản đầy đủ

LVTS 2015 bảo đảm quyền con người của phạm nhân theo pháp luật việt nam

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN TUẤN QUANG

B¶O §¶M QUYÒN CON NG¦êI CñA PH¹M NH¢N
THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN TUẤN QUANG

B¶O §¶M QUYÒN CON NG¦êI CñA PH¹M NH¢N
THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Khắc Hải

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực.
Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Tuấn Quang


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN
CON NGƯỜI CỦA PHẠM NHÂN BẰNG CÁC QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT .............................................................................. 7
1.1.

Khái niệm bảo đảm quyền con người của phạm nhân bằng
pháp luật.............................................................................................. 7

1.1.1. Khái niệm quyền con người của phạm nhân ........................................ 7
1.1.2. Khái niệm bảo đảm các quyền con người của phạm nhân bằng
pháp luật ............................................................................................. 10
1.2.


Những nhóm quyền con người của phạm nhân cần được
bảo đảm ............................................................................................. 14

1.2.1. An toàn về thân thể và tôn trọng nhân phẩm ..................................... 15
1.2.2. Quyền được bảo đảm mức sống tiêu chuẩn đầy đủ (điều kiện sống) ....... 21
1.2.3. Quyền về y tế ...................................................................................... 24
1.2.4. Sử dụng thời gian trong trại giam hữu ích nhất ................................. 27
1.2.5. Quyền liên lạc với bên ngoài, vấn đề giam kín và biệt giam ............. 30
1.3.

Bảo đảm quyền của phạm nhân ở một số nước trên thế giới ...... 33

1.3.1. Bảo đảm quyền của phạm nhân ở Nhật Bản ...................................... 33
1.3.2. Bảo vệ quyền của phạm nhân ở Hoa Kỳ ............................................ 34
1.3.3. Bảo vệ quyền của phạm nhân ở Cộng hòa Liên Bang Đức ............... 35
1.3.4. Bảo vệ quyền của phạm nhân ở Anh .................................................. 36


Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO
ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA PHẠM NHÂN VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG .................................................................. 38
2.1.

Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền con
người của phạm nhân ...................................................................... 38

2.1.1. Hiến pháp ........................................................................................... 38
2.1.2. Các luật và văn bản dưới luật ............................................................. 40
2.2.

Những kết quả đạt được trong việc bảo đảm quyền con
người của phạm nhân ...................................................................... 44

2.2.1. Chế độ ăn của phạm nhân .................................................................. 44
2.2.2. Chế độ mặc của phạm nhân ............................................................... 45
2.2.3. Chế độ ở của phạm nhân .................................................................... 46
2.2.4. Tổ chức lao động sản xuất, dạy nghề cho phạm nhân ....................... 47
2.2.5. Chế độ bảo hộ lao động ...................................................................... 48
2.2.6. Chế độ học tập .................................................................................... 49
2.2.7. Chế độ gặp thân nhân, gửi, nhận thư, quà, tiền, trao đổi thông
tin bằng điện thoại và mua hàng tại căng tin ...................................... 51
2.2.8. Tạm đình chỉ thi hành án phạt tù, xét giảm thời hạn chấp hành
hình phạt tù, đặc xá tha tù trước thời hạn ........................................... 52
2.2.9. Khiếu nại, tố cáo................................................................................. 54
2.3.

Một số tồn tại, hạn chế trong việc bảo đảm quyền con người
của phạm nhân và nguyên nhân ..................................................... 54

2.3.1. Về chế độ giam giữ ............................................................................ 56
2.3.2. Về chế độ ăn ....................................................................................... 57
2.3.3. Chế độ mặc ......................................................................................... 58
2.3.4. Chế độ ở ............................................................................................. 59
2.3.5. Chế độ sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, thông tin ....... 61
2.3.6. Chế độ chăm sóc y tế.......................................................................... 61


2.3.7. Chế độ học tập .................................................................................... 61
2.3.8. Chế độ lao động, dạy nghề ................................................................. 62
2.3.9. Quyền được gặp thân nhân, nhận, gửi thư, quà, trao đổi thông
tin bằng điện thoại và mua hàng tại căng tin ...................................... 65
2.3.10. Quyền khiếu nại, tố cáo ...................................................................... 66
2.3.11. Quyền được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, giảm thời hạn
chấp hành án phạt tù, và đặc xá của phạm nhân ................................ 67
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
CỦA PHẠM NHÂN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM ......................70
3.1.

Hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam ........................ 70

3.1.1. Hoàn thiện pháp luật hình sự.............................................................. 70
3.1.2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật thi hành án phạt tù ............................ 72
3.2.

Bảo đảm sự thực thi của pháp luật ................................................. 76

3.2.1.

Xác lập cơ chế thanh tra, kiểm tra giám sát để phát hiện kịp thời, xử
lý nghiêm minh các sai phạm vi phạm quyền và nghĩa vụ của phạm
nhân .................................................................................................... 76

3.2.2. Xây dựng cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị và nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực cán bộ phục vụ cho công tác giam
giữ, quản lý, giáo dục cũng như bảo đảm các quyền của phạm
nhân chấp hành hình phạt tù ở trại giam ............................................ 80
3.3.

Xã hội hóa công tác giáo dục cải tạo phạm nhân nhằm tăng
cường bảo vệ các quyền con người của phạm nhân...................... 83

3.3.1. Cơ sở pháp lý...................................................................................... 84
3.3.2. Nội dung xã hội hóa giáo dục, cải tạo phạm nhân ............................. 90
KẾT LUẬN .................................................................................................... 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 99


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS:

Bộ luật hình sự

BLTTHS:

Bộ luật tố tụng hình sự

CSND:

Cảnh sát nhân dân

ĐHQG:

Đại học Quốc gia

PTTH:

Phổ thông trung học

QTTCTT :

Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu

TAND:

Tòa án nhân dân

UBND:

Ủy ban nhân dân

XHCN :

Xã hội chủ nghĩa

XHDS :

Xã hội dân sự


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1: Thống kê về hoãn chấp hành và tạm đình chỉ chấp
hành thi hành án hình sự 2013-2014 tại Đắk Lắk

53

Bảng 2.2: Thống kê số lượng phạm nhân tại các trại giam ở
tỉnh Đắk Lắk

54

Bảng 2.3: Thống kê số lượng phạm nhân tại trại giam công an
tỉnh Đắk Lắk

54

Bảng 2.4: Thống kê số lượng các phạm nhân theo thời gian
giam giữ

55

Bảng 2.5: Thống kê trung bình chung hàng năm số lượng và
trình độ cán bộ trực tiếp tiến hành công tác hướng
nghiệp, dạy nghề cho phạm nhân trong Trại giam
Đắk Trung từ năm 2010 đến năm 2014

56

Bảng 2.6: Chế độ ăn của các phạm nhân

57

Bảng 2.7: Chế độ mặc của các phạm nhân

59

Bảng 2.8: Thống kê trình độ học vấn của phạm nhân

61

Bảng 2.9: Thống kê nghề nghiệp của phạm nhân trước khi
phạm tội

63

Bảng 2.10: Thống kê về nơi cư trú trước khi chấp hành án của
phạm nhân

64


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang ngày càng quan hệ gắn bó hơn với thế giới văn minh,
trong đó bảo vệ quyền con người là một trong những vấn đề nền tảng để có
được sự tôn trọng quốc gia và giúp tăng cường các quan hệ hợp tác quốc tế.
Là một thành viên của Liên hợp quốc, nhà nước Việt Nam đã tham gia vào
nhiều văn kiện quốc tế để đảm bảo các quyền con người được thừa nhận và
bảo vệ, như Công ước quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị (Việt Nam gia
nhập ngày 24/09/1982), Công ước quốc tế về các Quyền kinh tế, xã hội và
văn hóa (Việt Nam gia nhập ngày 24/09/1982). Đáng chú ý là vào ngày
07/11/2013 Việt Nam đã ký tham gia Công ước của Liên Hợp quốc về chống
tra tấn và trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc làm mất phẩm
giá (Công ước chống tra tấn 1984). Như vậy là chỉ trong vòng 02 năm kể từ
khi Luật thi hành án hình sự của Việt Nam có hiệu lực, Công ước chống tra
tấn được ký sẽ tạo thêm những cơ sở pháp lý bảo đảm cho quyền của phạm
nhân. Tuy nhiên trên thực tế việc bảo đảm quyền của phạm nhân trong nhiều
trại giam của Việt Nam vẫn là một vấn đề rất đáng quan tâm. Thực hiện các
quy phạm pháp luật thi hành án hình sự, nhất là thực hiện các quy phạm pháp
luật thi hành án phạt tù đảm bảo quyền con người đang đứng trước những khó
khăn nhất định: tình hình người phải chấp hành án phạt tù ngày càng tăng, hệ
thống trại giam đang quá tải, cơ sở vật chất nhiều trại giam bị xuống cấp. Hơn
nữa, khi nói đến hình phạt tù và phạm nhân, xã hội thường có tâm lý xa lánh,
kỳ thị và xem hành động trừng phạt họ là đương nhiên. Thế nhưng con người
càng văn minh thì càng nhận thức được quyền lợi của mình, không chỉ quyền
cho người sống bình thường, lương thiện mà còn quyền cho những phạm
nhân. Phạm nhân cũng phải được tôn trọng phẩm giá, phải được đối xử như

1


một con người. Hành vi phạm tội của họ đến đâu thì họ bị ở tù, bị mất tự do
đến đó, không ai được phép tra tấn, bỏ đói, nhục mạ họ. Chính vì vậy, yêu cầu
của xã hội đối với hoạt động thi hành án phạt tù ngày càng cao.
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu đề tài “Bảo đảm quyền con người
của phạm nhân theo pháp luật Việt Nam” trên cơ sở tương thích với các
chuẩn mực quốc tế và bắt kịp với thực tiện ở Việt Nam nói chung và thực tiễn
ở Đắk Lắk nói riêng là cần thiết và có ý nghĩa to lớn, góp phần hoàn thiện các
quy định của pháp luật Việt Nam hướng tới bảo đảm tốt hơn các quyền con
người của phạm nhân.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong khoa học pháp lý vấn đề bảo vệ quyền con người trong pháp luật
nói chung và bảo vệ quyền của phạm nhân trong pháp luật thi hành án phạt tù
nói riêng đã được nhiều tác giả, nhà nghiên cứu hết sức quan tâm nhất là
trong thời kỳ đổi mới, hội nhập. Đã có nhiều bài viết, công trình nổi bật được
nghiên cứu từ các góc độ và với mức độ khác nhau. Có thể kể đến một số
công trình nghiên cứu như sau:
Về sách, giáo trình có cuốn sách chuyên khảo Pháp luật thi hành án
hình sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn của PGS. TS Võ Khánh
Vinh, Nguyễn Mạnh Kháng đồng chủ biên, do Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản
năm 2006; Hoàn thiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự ở
Việt Nam của TS.Vũ Trọng Hách, NXB Tư pháp, năm 2006; Một số vấn đề thi
hành án hình sự, của tác giả Trần Quang Tiệp, NXB Công An Nhân Dân, năm
2002; Sách tham khảo Bình luận khoa học Luật thi hành án hình sự và các
quy định mới nhất về thi hành án hình sự của TS. Trần Minh Hưởng, NXB
Hồng Đức, năm 2011; Thi hành án phạt tù từ thực tiễn đến khoa học giáo dục
của PGS. TS Nguyễn Hữu Duyện, NXB Công an nhân dân, năm 2010. Đây là
các công trình nghiên cứu chuyên sâu về thi hành án hình sự, nhất là thi hành

2


án phạt tù với hướng nghiên cứu tổng quan, sâu sắc về thực tiễn lý luận của
hoạt động thi hành án. Hay nghiên cứu cụ thể ở một khía cạnh khác như cuốn
sách Những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác giáo dục phạm nhân trong
giai đoạn hiện nay của PGS. TS Nguyễn Hữu Duyện, NXB Công an nhân
dân, năm 2010. Các công trình có hướng nghiên cứu khác nhau nhưng trực
tiếp hay gián tiếp cũng đã đề cập đến vấn đề bảo vệ quyền của phạm nhân
trong pháp luật thi hành án hình sự.
Về bài viết, tạp chí và chuyên đề nghiên cứu phải kể đến Những vấn đề
lý luận về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự của GS. TSKH
Lê Cảm, đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân số 11(6)/2006; Thực trạng công
tác thi hành án hình sự và những kiến nghị của tác giả Nguyễn Phong Hòa,
đăng trên tạp chí TAND số 21/2006; Thực trạng pháp luật thi hành án phạt tù
và phương hướng hoàn thiện của Phạm Văn Lợi, đăng trên tạp chí Nhà nước
và pháp luật số 02 /2006; Chuyên đề nghiên cứu khoa học Thực trạng các quy
phạm pháp luật thi hành án hình sự về bảo vệ quyền con người của TS.
Nguyễn Đức Phúc, đơn vị Học viện CSND, năm 2011; Dạy nghề cho phạm
nhân và bảo đảm việc làm cho người mãn hạn tù của ThS. Thượng tá Nguyễn
Văn Cừ, đăng trên Tạp chí Nhân quyền số 1+2/2011. Đây là các công trình
nghiên cứu tổng thể trong đó có một số lĩnh vực cụ thể trong thi hành án phạt
tù mà quyền con người được cần được quan tâm và bảo đảm thực hiện.
Về luận văn có một số công trình như Thi hành án phạt tù ở Việt Nam –
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn của Nguyễn Anh Hào, Khoa
Luật - ĐHQG Hà Nội, năm 2002; Bảo đảm quyền con người trong hoạt động
tư pháp, Luận án tiễn sĩ luật học của Nguyễn Huy Hoàn, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, Năm 2004; Phòng ngừa tội phạm thông qua
hoạt động thi hành án phạt tù của lực lượng Cảnh sát nhân dân hiện nay,
Luận án tiễn sĩ luật học của Lê Văn Thư, Học viện cảnh sát nhân dân, năm

3


2004; Hình phạt tù và thi hành hình phạt tù - những vấn đề lý luận và thực
tiễn, Luận văn Thạc sĩ luật học của Trần Thị Thu Hằng, Khoa Luật - ĐHQG
Hà Nội, năm 2009; Thực hiện pháp luật về quyền con người của phạm nhân
trong thi hành án phạt tù ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ của Nguyễn Đức Phúc,
Học viện cảnh sát nhân dân, năm 2012; Một số vấn đề chủ yếu về pháp luật
thi hành án hình sự Việt Nam trong việc bảo vệ các quyền con người, Luận
văn Thạc sĩ luật học, của Hứa Thị Thơ, Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội, năm
2012. Trong các công trình nghiên cứu này, vấn đề quyền của phạm nhân và
bảo vệ quyền của phạm nhân đã được nghiên cứu cụ thể và rõ ràng, đồng thời
cũng đã nghiên cứu về các giải pháp để quyền của phạm nhân được thực hiện
có hiệu quả trong thi hành án hình phạt tù.
Tuy nhiên, các công trình khoa học nêu trên chỉ nghiên cứu có tính chất
tổng thể hoặc về những vấn đề chung của hình phạt, mà chưa công trình
nghiên cứu nào đi sâu vào sự thể hiện tư tưởng bảo đảm quyền của phạm
nhân trong pháp luật Việt Nam và sự tương thích của nó với pháp luật quốc tế.
Hơn nữa, các công trình chủ yếu được nghiên cứu khi các quy định của pháp
luật thi hành án hình sự Việt Nam nằm rải rác trong các văn bản mà chưa
được pháp điển hóa thành luật, vì vậy ý nghĩa, giá trị phục vụ nghiên cứu sau
này và tính cập nhật không cao. Đó là những vấn đề mà luận văn này mong
muốn góp phần giải quyết.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích cơ bản của đề tài là làm sáng tỏ một cách có hệ thống, đầy đủ
và chi tiết về việc bảo đảm các quyền con người của phạm nhân, cũng như cơ
chế bảo đảm các quyền này trên thực tế, nghiên cứu những chuẩn mực và
kinh nghiệm quốc tế về bảo đảm quyền của phạm nhân. Từ những kết quả
nghiên cứu, luận văn đưa ra một số khuyến nghị nhằm bảo đảm quyền con
người của phạm nhân bằng pháp luật tại Việt Nam hiện nay.

4


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn này tập trung nghiên cứu giải
quyết những nội dung sau:
a) Khái niệm bảo đảm quyền các con người của phạm nhân bằng các
quy định của pháp luật;
b) Những chuẩn mực và kinh nghiệm quốc tế về bảo đảm các quyền
con người của phạm nhân;
c) Xã hội hóa công tác giáo dục cải tạo phạm nhân nhằm tạo cơ chế bảo
vệ tốt hơn các quyền con người của phạm nhân;
d) Lịch sử hình thành và phát triển những quy định của pháp luật Việt
Nam về bảo đảm quyền của phạm nhân;
đ) Những quy định, chế định liên quan trực tiếp đến bảo đảm quyền của
phạm nhân trong pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam hiện hành;
e) Đánh giá việc áp dụng các quy phạm pháp luật hiện hành về bảo đảm
quyền con người của phạm nhân ở Đắk Lắk;
g) Làm rõ những tồn tại, hạn chế trong bảo đảm các quyền con người
của phạm nhân thông qua các số liệu, thông tin trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk làm
cơ sở đề xuất các giải pháp;
5. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp tiếp cận được sử dụng đó là: phương pháp phân tích chứng minh, logic, phương pháp thống kê hình sự, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp lịch sử, liệt kê,... Đặc
biệt trong đó tác giả nhấn mạnh chú ý tới các phương pháp tổng hợp – hệ
thống, đối chiếu so sánh, lịch sử phân tích, thống kê, khảo sát thực tiễn,
phương pháp xã hội học,... để qua đó đưa ra được những kết luận khoa học
mang tính thuyết phục cao, đề xuất các phương án cụ thể sao cho phù hợp
nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật thi hành án hình sự cũng như một

5


số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật nhằm bảo vệ tốt hơn và toàn
diện hơn quyền của phạm nhân.
6. Những đóng góp của luận văn
Kế thừa các nghiên cứu khoa học và thực tiễn về bảo đảm các quyền
con người của phạm nhân của các học giả luật học, luật gia trong nước và
quốc tế, luận văn có những đóng góp mới trong việc nghiên cứu, cụ thể là:
a) Trên cơ sở làm rõ các khía cạnh lý luận và thực tiễn của quyền phạm
nhân, nghiên cứu đã tiếp cận khái niệm và các đặc điểm của việc bảo đảm
quyền con người của phạm nhân;
b) Nghiên cứu so sánh pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam với chuẩn
mực quốc tế và pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền con người của phạm nhân;
c) Phân tích thực trạng bảo đảm các quyền con người của phạm nhân
trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk, từ đó chỉ ra những tồn tại và hạn
chế của cơ chế bảo đảm và làm sáng tỏ những nguyên nhân của chúng;
d) Từ việc nghiên cứu bao quát, có hệ thống, với các góc nhìn khác
nhau, nghiên cứu này kết hợp lý luận với thực tiễn, kết hợp truyền thống lập
pháp của quốc gia với chuẩn mực và kinh nghiệm quốc tế để rút ra những cơ
sở cho việc hoàn thiện pháp luật quốc gia và cơ chế thực thi chúng nhằm bảo
vệ toàn diện hơn nữa các quyền con người của phạm nhân tại Việt Nam.
7. Bố cục
Ngoài phần lời mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
khóa luận bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về bảo đảm quyền con người của
phạm nhân trong pháp luật Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam về bảo
đảm quyền của phạm nhân và thực tiễn áp dụng.
Chương 3: Một số giải pháp bảo đảm quyền của phạm nhân bằng các
quy định của pháp luật Việt Nam.

6


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
CỦA PHẠM NHÂN BẰNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
1.1. Khái niệm bảo đảm quyền con người của phạm nhân bằng
pháp luật
1.1.1. Khái niệm quyền con người của phạm nhân
Quyền là cái mà pháp luật, xã hội phong tục hay lẽ phải cho phép
hưởng thụ, vận dụng, thi hành và khi thiếu được yêu cầu để có, nếu bị tước
đoạt có thể đòi hỏi để giành lại. Như vậy, để được coi là quyền và được bảo
vệ cần có sự thể hiện thái độ của xã hội và luật pháp. Hay nói cách khác,
những quyền tự nhiên vốn có của con người như quyền sống, quyền tư do cá
nhân, quyền mưu cầu hạnh phúc và các lợi ích, nhu cầu khác trở thành quyền
khi được xã hội, luật pháp ghi nhận và đảm bảo thực hiện.
Quyền con người là sự kết tinh những giá trị cao đẹp nhất của nền văn
hóa nhân loại, được hình thành với sự đóng góp của tất cả các quốc gia, dân
tộc, giai cấp tầng lớp và cá nhân con người trên trái đất thông qua một quá
trình phát triển lịch sử lâu dài. Tuy nhiên, cho đến nay cách hiểu về khái niệm
quyền con người vẫn chưa được thống nhất. Theo Văn phòng Cao ủy Liên
hợp quốc về quyền con người (OHCHR) được trích dẫn bởi các nhà nghiên
cứu đã định nghĩa "Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có
tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc
sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tư do cơ
bản của con người".
Ở Việt Nam, một số định nghĩa về quyền con người do một số chuyên
gia, cơ quan nghiên cứu từng nên ra, quyền con người thường được hiểu là
những nhu cầu lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi

7


nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.
Nghĩa là nhìn từ góc độ nào và cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác
định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ.
Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ
áp dụng với con người, cho tất cả mọi người. Nhờ những chuẩn mực này mà
mọi thành viên của cộng đồng nhân loại được bảo vệ nhân phẩm và có điều
kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người.
Cho dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định thì quyền con người vẫn
là những giá trị cao cả cần được tôn trong và bảo vệ trong mọi xã hội và trong
mọi giai đoạn lịch sử [17, tr.42].
Đối với phạm nhân đang chấp hành án phạt tù cũng vậy, những nhu
cầu, lợi ích của họ là những quyền họ đương nhiên có với tư cách là một thực
thể tự nhiên. Bởi vì họ là con người nên họ được hưởng những quyền đó và
Nhà nước phải có trách nhiệm trong việc đảm bảo những quyền đó của phạm
nhân. Bất kể mức độ phạm tội hay lý do bị bắt giam, phạm nhân vẫn được giữ
nguyên quyền con người của mình và được pháp luật bảo vệ. Một con người
được coi là phạm nhân khi họ phạm tội bị kết án phạt tù và được đưa đến trại
giam để chấp hành bản án, đồng thời với việc trở thành phạm nhân họ có một
địa vị pháp lý hoàn toàn khác với các công dân bình thường ngoài xã hội. Tòa
án hay bất cứ cơ quan tư pháp nào thụ lý hồ sơ của họ có thể tuyên bố tước
quyền tự do nhưng không thể phủ nhận quyền con người của họ. Ngoài những
quyền chung của người chấp hành án phạm nhân còn có các quyền riêng được
pháp luật quy định. Trước hết, phạm nhân được hưởng các quyền công dân
trừ những quyền bị pháp luật hoặc Tòa án tước đã ghi trong bản án, quyết
định của Tòa án. Đó là quyền sống; quyền được học tập văn hóa, học nghề;
quyền lao động; quyền bình đẳng; quyền được bảo đảm an ninh xã hội; quyền
không bị đối xử tàn bạo, vô nhân đạo; quyền bất khả xâm phạm về thân thể;

8


quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình; quyền khiếu nại, tố cáo; quyền được
bảo vệ, chăm sóc sức khỏe ; quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa,
tham gia vào đời sống văn hóa.
Tuy nhiên, khi bị kết án phạt tù nghĩa là sẽ bị tước quyền tự do và phạm
nhân có những quyền bị mất, bị hạn chế như sau:
Một số quyền bị hạn chế: Quyền gặp gỡ gia đình (Tuyên ngôn toàn thế
giới về Nhân quyền, Điều 12); Quyền hưởng cuộc sống gia đình của các bà
mẹ và trẻ em đòi hỏi phải có một chế độ đặc biệt. (Khoản 2 Điều 25 Tuyên
ngôn toàn thế giới về Nhân quyền); quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín
và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác
Một số quyền bị mất: Quyền tự do đi lại và tự do cư trú (Tuyên ngôn
Nhân quyền, Điều 13), Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí (Tuyên ngôn
Nhân quyền, Điều 19); Quyền hội họp và lập hội (Tuyên ngôn toàn thế giới về
Nhân quyền, Điều 20); quyền tự do kinh doanh; Quyền bầu cử, ứng cử và
tham gia quản lý nhà nước (Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền, Điều
21), đây cũng là một trong những quyền mà phạm nhân là người chưa thành
niên, người nước ngoài không có [50, p.32].
Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm "quyền của phạm nhân
là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có cần phải đảm bảo của phạm nhân
trong tổ chức thực hiện thi hành án phạt tù và phải được thể hiện trong các
quy định của pháp luật".
Như vậy, dù bị cầm tù phạm nhân vẫn là những con người và có những
quyền cơ bản của con người, tuy nhiên quyền của phạm nhân bị hạn chế hơn
so với quyền con người. Và quyền của phạm nhân chỉ xuất hiện khi người bị
kết án phạt tù được coi là phạm nhân, đó là khi họ được trại giam, phân trại
giam, nhà tạm giữ thuộc cơ quan thi hành án hình sự tiếp nhận để thi hành án
phạt tù đến thời điểm họ được trả tự do.

9


1.1.2. Khái niệm bảo đảm các quyền con người của phạm nhân bằng
pháp luật
Trong lời nói đầu Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 đã
khẳng định "Điều cốt yếu là các quyền con người phải được bảo vệ bằng pháp
luật" [18]. Quyền con người dù là quyền tự nhiên hay quyền pháp lý thì để đảm
bảo trong thực tiễn cũng cần có pháp luật. Con người cùng với các quyền con
người luôn là đối tượng phản ánh của hệ thống pháp luật. Và cũng chỉ có thông
qua pháp luật các quyền con người mới được ghi nhận, bảo vệ và thúc đẩy một
cách có hiệu quả nhất. Quyền của phạm nhân cũng vậy, nhưng cụ thể bảo vệ
quyền của phạm nhân trong pháp luật thi hành án hình sự là như thế nào ?
Từ góc độ tổ chức Nhà nước, PGS. TS. Đinh Văn Mậu cho rằng quyền
con người được bảo đảm:
a) Thông qua mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân do
pháp luật quy định; b) Thông qua hệ thống các cơ quan quyền lực
Nhà nước như cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, Tòa án và
Viện kiểm sát; c) Bằng việc hoàn thiện tổ chức Nhà nước như đổi
mới tổ chức thực hiện thẩm quyền Quốc hội, cải cách nền hành
chính Nhà nước, cải cách tư pháp và nâng cao trách nhiệm của Nhà
nước trong việc bảo đảm, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của
công dân trong cơ chế thị trường và dân chủ hóa xã hội [31, tr.82111].
PGS. TS Trần Ngọc Đường cho rằng những bảo đảm pháp lý trong việc
thực hiện quyền con người bao gồm:
Hệ thống thống nhất về mặt pháp lý cơ chế pháp lý bảo đảm
thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý thông qua hệ thống cơ quan
quyền lực Nhà nước, thông qua hệ thống cơ quan hành pháp, thông
qua hệ thống cơ quan tư pháp, thông qua mặt trận Tổ quốc Việt

10


Nam; thông qua mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân; thông qua
hành vi hợp pháp và trình độ văn hóa pháp lý của mỗi cá nhân công
dân [21, tr.111-178].
Việc bảo vệ và tôn trọng các quyền con người của phạm nhân chính là
thành quả của loài người trong các cuộc đấu tranh bền bỉ, với phương châm
mọi người bị mất tự do đều được đối xử nhân đạo và tôn trọng đối với nhân
phẩm vốn có của con người [28, Điều 10]. Ở Việt Nam, việc nhận thức, ghi
nhận và bảo vệ trên thực tế các quyền của phạm nhân là thể hiện qua lịch sử
phát triển của pháp luật quốc gia. Đồng thời việc bảo vệ các quyền này luôn
được đề cập trong những quan điểm, tư tưởng, chỉ đạo:
Trong đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, phải kết hợp chặt chẽ
giữa đấu tranh chống tội phạm và phòng ngừa tội phạm; coi trọng
các biện pháp phòng ngừa; xây dựng chương trình quốc gia về phòng
ngừa tội phạm, có ngân sách dành cho chương trình đó. Thực hiện
nghiêm các hình phạt do luật định đối với kẻ phạm tội; đồng thời tích
cực giáo dục kết hợp với dạy nghề và tổ chức lao động sản xuất, cải
thiện các điều kiện giam giữ để cải tạo, cảm hóa phạm nhân, tạo điều
kiện đưa họ trở lại làm ăn lương thiện. Ngăn chặn và nghiêm trị các
hành vi ngược đãi, ức hiếp người bị giam [2].
Tăng cường và đổi mới công tác cảm hóa, giáo dục giúp đỡ
những người phạm tội được đặc xá, tha tù, người mắc tệ nạn xã hội
tại cộng đồng và tại các trại giam, cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục,
trường giáo dưỡng với những hình thức phù hợp. Quan tâm hỗ trợ
những người lầm lỗi đã cải tạo tốt để sớm ổn định cuộc sống, tái
hòa nhập cộng đồng [3].
Từ ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng của pháp luật thi hành án hình sự là
nhằm bảo vệ các quyền và tự do của con người và của công dân với tư cách là

11


những giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh
nhân loại. TSKH. GS Lê Cảm đã đưa ra khái niệm:
Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật thi hành án hình sự
trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền là sự điều chỉnh đầy
đủ về mặt lập pháp, sự thực thi chính xác về mặt hành pháp và sự
đảm bảo tối đa về mặt tư pháp các quy định của pháp luật thi hành
án hình sự để làm cho các quy định đó phù hợp với các nguyên tắc
và các quy phạm tương ứng của pháp luật quốc tế trong lĩnh vực tư
pháp hình sự, được tuân thủ, chấp hành và áp dụng một cách
nghiêm chỉnh, thống nhất và triệt để bởi các cơ quan bảo vệ pháp
luật, cũng như những người có chức vụ của các cơ quan này trong
thực tiễn thi hành án hình sự, đồng thời góp phần tạo nên lòng tin
của công dân vào sự nghiêm minh của pháp chế, tính minh bạch và
sự bình đẳng của pháp luật, sức mạnh và uy tín của bộ máy công
quyền, tính nhân đạo và dân chủ của XHDS và nhà nước pháp
quyền [10, tr.406-407].
Từ các quan điểm khác nhau về bảo vệ và đảm bảo thực hiện quyền
con người trong Nhà nước Pháp quyền, trong hệ thống Tư pháp hình sự nói
chung và trong pháp luật thi hành án hình sự nói riêng ta có thể rút ra đặc
điểm việc bảo vệ quyền của phạm nhân trong pháp luật thi hành án hình sự
như sau:
Trước hết trong quá trình lập pháp, quyền của phạm nhân phải được ghi
nhận đầy đủ trong pháp luật, quá trình thực thi pháp luật phải đảm bảo chính
xác và tuân thủ chặt chẽ những quy định.
Bảo vệ quyền của phạm nhân trong pháp luật thi hành án hình sự chính
là việc thực hiện những nguyên tắc, những thừa nhận chung trong pháp luật
thi hành án hình sự như nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc nhân đạo,... nhằm

12


đảm bảo sự phù hợp với pháp luật quốc gia và các chuẩn mực quốc tế về bảo
vệ quyển của phạm nhân.
Bảo vệ quyền của phạm nhân trong pháp luật thi hành án hình sự là làm
cho những quy định của pháp luật thi hành án hình sự về quyền của phạm
nhân được tuân thủ, chấp hành, áp dụng một cách triệt để, nghiêm minh,
thống nhất thông qua các cơ quan thi hành án hình sự.
Bảo vệ quyền của phạm nhân trong pháp luật thi hành án hình sự còn
nhằm mục đích tạo dựng niềm tin trong nhân dân vào sự nghiêm minh của
pháp chế, minh bạch, bình đẳng của pháp luật và sự uy tín của bộ máy nhà
nước nói chung và cơ quan thi hành án hình sự nói riêng.
Thi hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy
định buộc phạm nhân phải chịu sự quản lý, giam giữ, giáo dục, cải tạo để họ
trở thành có ích cho xã hội. Từ những quan điểm trên cho thấy: Phạm nhân là
các công dân có vị trí pháp lý đặc biệt. Chính vị trí này là cơ sở để các cơ
quan thi hành án phạt tù áp dụng các biện pháp cưỡng chế và giáo dục đặc thù
đối với họ, nhằm mục đích giáo dục họ trở thành người lương thiện. Việc họ
bị giam giữ trong trại giam không có nghĩa chỉ là để trừng phạt, bảo đảm an
toàn cho xã hội mà mục đích chủ yếu là giáo dục họ trở thành người lương
thiện, có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các qui tắc của cuộc
sống XHCN, ngăn ngừa họ phạm tội.
Bảo đảm quyền của phạm nhân trong pháp luật thi hành án hình sự phải
là nội dung được quy định trong luật có tính khả thi và được thực hiện có hiệu
quả trên thực tế.
Từ những đặc điểm trên có thể đưa ra khái niệm "Bảo đảm quyền con
người của phạm nhân theo pháp luật là sự điều chỉnh, ghi nhận đầy đủ trong
quá trình lập pháp, sự đảm bảo thực thi chính xác trong hành pháp, tư pháp
và được tuân thủ, thực hiện một cách có hiệu quả trên thực tế các quyền của
người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn và tù chung thân”.

13


1.2. Những nhóm quyền con người của phạm nhân cần được bảo đảm
Trong thực tiễn công tác tổ chức thi hành hình phạt tù, việc hiểu rõ
người đang chấp hành hình phạt tù có những quyền gì, những quyền gì của
công dân họ bị tước bỏ hoặc bị hạn chế và nghĩa vụ thế nào có ý nghĩa cực kỳ
quan trọng đối với cơ quan thi hành án. Điều quan trọng được thể hiện ở chỗ,
nó không chỉ dừng lại ở mức độ nhận thức, mà còn thể hiện trong việc vận
dụng các quy định của pháp luật trong công tác quản lý, giáo dục người phạm
tội hướng tới mục đích trả về cho xã hội những con người hoàn lương. Đồng
thời trên cơ sở đó tiến hành các biện pháp quản lý, giáo dục, ngăn chặn và xử
lý các hành vi vi phạm pháp luật.
Có thể khái quát các quyền cơ bản của phạm nhân cần được bảo vệ
thành 6 nhóm quyền sau:
 An toàn về thân thể và tôn trọng nhân phẩm: bao gồm cấm tra tấn,
đối xử tàn ác, vô nhân đạo; việc nhập trại và phân loại phạm nhân; bảo đảm
an toàn, trật tự an ninh;
 Quyền được bảo đảm mức sống tiêu chuẩn đầy đủ (điều kiện sống):
bao gồm nơi ở, lương thực, thực phẩm, chỗ ngủ;
 Quyền về y tế: bao gồm quyền của phạm nhân tiếp cận dịch vụ y tế;
điều kiện vệ sinh;
 Sử dụng thời gian trong trại giam hữu ích nhất: việc lao động, giáo
dục, văn hóa, tôn giáo, học nghề, chuẩn bị cho việc tái hòa nhập;
 Quyền liên lạc với bên ngoài, vấn đề giam kín và biệt giam;
 Quyền khiếu nại;
Các tiểu mục dưới đây sẽ lần lượt phân tích, làm rõ thêm về các nhóm
quyền này. Cũng cần lưu ý rằng, ở đây chủ yếu khái quát những quyền cơ bản
của mọi phạm nhân, đối với một số nhóm phạm nhân đặc biệt, yếu thế hơn
(chưa thành niên, phụ nữ, người nước ngoài,...) cũng có một số mối quan tâm

14


đặc thù đã được các văn bản pháp luật quốc tế nêu lên (chẳng hạn như trong
Phần II của QTTCTT, trong Các Quy tắc của Liên hợp quốc bảo vệ người
chưa thành niên bị tước tự do -1990, Các Quy tắc đối xử đối với phạm nhân
nữ và các biện pháp không giam giữ đối với phụ nữ phạm pháp - 2010,...).
1.2.1. An toàn về thân thể và tôn trọng nhân phẩm
1.2.1.1. Cấm tra tấn
Điều 5 của Tuyên bố chung về quyền con người của Liên Hợp Quốc
(UDHR) quy định rằng không ai phải chịu đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô
nhân đạo hoặc hạ nhục. Quy định này được cụ thể hóa trong Công ước về các
quyền chính trị và dân sự của Liên Hợp Quốc (ICCPR), Công ước chống tra
tấn (1984) và một số văn kiện pháp lý khác.Quyền này là một trong số ít các
quyền tuyệt đối mà các quốc gia không thể đặt ra bất kỳ giới hạn nào đối với
quyền này. Trong mọi hoàn cảnh, không thể tạm đình chỉ hay ngưng áp dụng
quyền này.
Nghĩa vụ đối xử nhân đạo với những người bị tước tự do bao gồm việc
tuân thủ các quy định về cấm tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn bạo, vô nhân
đạo hoặc sử dụng họ vào các thí nghiệm y tế hay khoa học mà trái với ý muốn
của họ, theo như quy định ở Điều 7 ICCPR (đoạn 3). Đối xử nhân đạo và với
sự tôn trọng nhân phẩm của những người bị tước tự do là một nguyên tắc cơ
bản về quyền con người trong tố tụng hình sự mà đã được áp dụng rộng rãi
trên thế giới. Các quốc gia thành viên phải áp dụng nguyên tắc này như một
yêu cầu tối thiểu, không phụ thuộc vào nguồn lực sẵn có của quốc gia và
không mang tính phân biệt đối xử dưới bất kỳ hình thức nào (đoạn 4).
Công ước chống tra tấn (CAT), tại Điều 1, đưa ra định nghĩa tra tấn là:
bất kỳ hành vi nào cố ý gây đau đớn hoặc khổ đau nghiêm trọng về thể xác hay
tinh thần cho một người, vì những mục đích như lấy thông tin hoặc lời thú tội
từ người đó hay một người thứ ba, hoặc để trừng phạt người đó vì một hành vi

15


mà người đó hay người thứ ba thực hiện hay bị nghi ngờ đã thực hiện, hoặc để
đe dọa hay ép buộc người đó hay người thứ ba, hoặc vì bất kỳ một lý do nào
khác dựa trên sự phân biệt đối xử dưới mọi hình thức, khi nỗi đau đớn và khổ
đau đó do một công chức hay người nào khác hành động với tư cách chính thức
gây ra, hay với sự xúi giục, đồng tình hay ưng thuận của một công chức. Khái
niệm tra tấn không bao gồm những đau đớn hoặc đau khổ xuất phát từ, gắn liền
với, hoặc có liên quan đến, các biện pháp trừng phạt hợp pháp.
Đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo và hạ nhục (hạ thấp nhân
phẩm)(cruel, inhumane, and degrading treatment - được gọi tắt là CIDT)
thường được coi là gây ra mức độ đau đớn thấp hơn so với tra tấn. Trong thực
tế, người ta thường căn cứ vào mức độ nghiêm trọng của sự đau đớn về thể
chất hay tinh thần, cộng với các yếu tố khác (thời gian, không gian,...) để
phân biệt giữa tra tấn và CIDT. Khoản 1 Điều 16 của CAT cũng đã xác định:
Mỗi quốc gia thành viên cam kết ngăn ngừa trên lãnh thổ
thuộc quyền tài phán của mình những hành vi đối xử hoặc trừng
phạt tàn ác, vô nhân đạo và hạ nhục khác mà chưa đến mức tra tấn
như định nghĩa ở Điều 1, khi những hành vi này do một công chức
hay người nào khác hành động với tư cách chính thức thực hiện,
hoặc do xúi giục, đồng tình hay ưng thuận.
Trong ICCPR, tại Điều 7, cũng đã chi tiết hóa quyền được bảo vệ khỏi
bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục. Điều 7
ICCPR nêu rõ không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô
nhân đạo hoặc hạ nhục; không ai có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm y học
hoặc khoa học mà không có sự đồng ý tự nguyện của người đó. Một số khía
cạnh liên quan đến nội dung Điều 7 ICCPR đã được Ủy ban Nhân quyền
(HRC, cơ quan giám sát việc thực thi ICCPR) phân tích, đầu tiên là trong
Bình luận chung số 7 (thông qua tại kỳ họp lần thứ 16 năm 1982 của Ủy ban),

16


và sau đó được sửa đổi và bổ sung trong Bình luận chung số 20 (thông qua tại
kỳ họp lần thứ 44 năm 1992 của Ủy ban).
Để bảo vệ cá nhân, trong đó có các phạm nhân khỏi bị tra tấn, theo
Công ước chống tra tấn, các quốc gia có những nghĩa vụ chính sau đây:
 Phải thực thi các biện pháp phòng ngừa tra tấn. Khẳng định tra tấn
không thể được biện minh trong mọi hoàn cảnh (quyền được bảo vệ chống lại
tra tấn là một quyền không thể bị giới hạn), kể cả khi có chỉ đạo của cấp trên
hoặc cơ quan có thẩm quyền - Điều 2.
 Cấm trục xuất các cá nhân đến một quốc gia nơi mà có bằng chứng để
cho rằng họ sẽ có nguy cơ bị tra tấn (nguyên tắc này được gọi là không trao
trả) - Điều 3.
 Phải xác định tra tấn là các tội phạm trong pháp luật quốc gia và trừng
phạt thủ phạm tra tấn - Điều 4.
 Phải xác lập thẩm quyền pháp lý phổ quát, truy tố hoặc dẫn độ thủ
phạm của tra tấn để truy cứu tại quốc gia khác - Điều 5.
 Phải thực thi thẩm quyền pháp lý phổ quát như nêu tại Điều 5 (điều
tra, giam giữ, thẩm vấn, xét xử, coi tra tấn là loại tội phạm có thể dẫn độ) Điều 6 đến 8.
 Phải phổ biến thông tin về cấm tra tấn, tập huấn, đào tạo cho các lực
lượng thực thi pháp luật và những người khác về lĩnh vực này - Điều 10.
 Phải thường xuyên rà soát các quy định về thẩm vấn và chế độ giam
giữ nhằm chống lại tra tấn - Điều 11.
 Bảo đảm điều tra nhanh chóng và khách quan các hành vi tra tấn đã
xảy ra - Điều 12.
 Bảo đảm nạn nhân của tra tấn quyền có khiếu nại được giải quyết,
được bảo vệ và bồi thường - Điều 13 - 14.
 Cấm sử dụng lời khai có được do tra tấn - Điều 15.

17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×