Tải bản đầy đủ

LVTS 2015 các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự việt nam

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-----------------------

TRẦN THỊ THANH THỦY

c¸c t×nh tiÕt lo¹i trõ tr¸ch nhiÖm h×nh sù
trong luËt h×nh sù viÖt nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

-----------------------

TRẦN THỊ THANH THỦY


c¸c t×nh tiÕt lo¹i trõ tr¸ch nhiÖm h×nh sù
trong luËt h×nh sù viÖt nam

Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa

HÀ NỘI – 2015


MỤC LỤC
Trang phụ bìa

Trang

Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TÌNH TIẾT LOẠI
TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ................................................................. 7
1.1. Khái niệm các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự................................. 7
1.1.1. Các cách hiểu và tên gọi khác nhau về các tình tiết loại trừ trách nhiệm
hình sự ............................................................................................................... 7
1.1.2. Định nghĩa và các đặc điểm của các tình tiết loại trừ trách nhiệm
hình sự ............................................................................................................. 13
1.2. Phạm vi các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự ................................... 21
1.3. Phân biệt các tình tiết loại trừ TNHS với những trường hợp không có
TNHS và miễn TNHS ..................................................................................... 23
1.4. Khái quát lịch sử lập pháp Việt Nam về các tình tiết loại trừ trách nhiệm
hình sự ............................................................................................................. 26
1.4.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban
hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 ...................................................... 26
1.4.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến nay ............ 28
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 .............................................................................. 30
CHƢƠNG 2: CÁC TÌNH TIẾT LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH ....................... 32
2.1. Loại trừ trách nhiệm hình sự do phòng vệ chính đáng .......................... 32
2.1.1. Khái niệm phòng vệ chính đáng ......................................................... 32

2.1.2. Các điều kiện của phòng vệ chính đáng ............................................. 34
2.2. Loại trừ trách nhiệm hình sự do tình thế cấp thiết................................. 43
2.2.1. Khái niệm tình thế cấp thiết................................................................ 43


2.2.2. Các điều kiện của tình thế cấp thiết .................................................... 45
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 .............................................................................. 50
CHƢƠNG 3: HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH CÁC TÌNH TIẾT LOẠI TRỪ
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ...... 52
3.1. Đánh giá các tình tiết loại trừ TNHS trong BLHS Việt Nam .................. 52
3.2. Hoàn thiện BLHS quy định về các tình tiết loại trừ TNHS ..................... 57
3.2.1. Hoàn thiện quy định về phòng vệ chính đáng ....................................... 58
3.2.2. Bổ sung quy định về các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự khác ... 60
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 .............................................................................. 69
KẾT LUẬN .................................................................................................... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 73


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan nội dung trong luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nghiên cứu, các trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính
chính xác, tin cậy và trung thực.

Ngƣời cam đoan

Trần Thị Thanh Thủy


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS:

Bộ luật hình sự

CHLB:

Cộng hòa Liên bang

CHND:

Cộng hòa nhân dân

CTTP:

Cấu thành tội phạm

PLHS:

Pháp luật hình sự

PVCĐ:

Phòng vệ chính đáng

TTCT:

Tình thế cấp thiết

TNHS:

Trách nhiệm hình sự

TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
XHCN:

Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trách nhiệm hình sự (TNHS) là một dạng trách nhiệm pháp lý buộc
người phạm tội phải chịu chế tài hình sự được luật hình sự quy định. Theo đó,
luật hình sự có nhiệm vụ xác định các hành vi vi phạm pháp luật là tội phạm
và phải chịu TNHS. Bên cạnh đó, luật hình sự cũng có những quy định về các
trường hợp mà hành vi đã thực hiện về hình thức tuy có các dấu hiệu của tội
phạm nhưng vì có những tình tiết đặc biệt nên không bị coi là tội phạm và
không phải chịu TNHS. Luật hình sự Việt Nam nói chung cũng như Bộ luật
hình sự (BLHS) hiện hành chưa có tên gọi cho các tình tiết này mà chỉ có tên
gọi cho từng tình tiết cụ thể, đó là phòng vệ chính đáng (Điều 15) và tình thế
cấp thiết (Điều 16). Trong khoa học luật hình sự, các tình tiết này được các
nhà khoa học gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau. Các tên gọi khác nhau đó là:
“căn cứ hợp pháp của hành vi nguy hiểm cho xã hội”; “những trường hợp
(tình tiết) loại trừ tính chất tội phạm của hành vi”; “các yếu tố loại trừ tính
chất tội phạm của hành vi”; “những tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã
hội và tính trái pháp luật hình sự”; “các tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm
cho xã hội của hành vi” và “các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự”... Mặc
dù chưa có sự thống nhất trong việc sử dụng các thuật ngữ như kể trên nhưng
xét về nội dung, các trường hợp này đều được hiểu không khác nhau và hậu
quả pháp lý mà người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội đều giống
nhau – không phải chịu TNHS. Khi nghiên cứu đề tài, tác giả chọn thuật ngữ
“các tình tiết loại trừ TNHS” theo cách gọi trong Giáo trình Luật hình sự
(Phần chung) của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2003).
Cùng với chế định TNHS, chế định “các tình tiết loại trừ TNHS” có ý
nghĩa trong việc giải quyết TNHS, là “cơ sở pháp lý cho việc đấu tranh chống
và phòng ngừa tội phạm, góp phần bảo vệ chế độ XHCN, quyền làm chủ của
nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa các dân tộc, các quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN, xây dựng nhà nước pháp
1


quyền XHCN Việt Nam trên con đường đổi mới” [9, tr.280]. Tuy nhiên, trong
khoa học luật hình sự và trong thực tiễn, nhận thức và áp dụng các tình tiết
loại trừ TNHS đang còn có một số vướng mắc. Bản thân hai tình tiết được
quy định trong BLHS hiện hành (phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết)
vẫn còn nhận thức và áp dụng chưa thống nhất; bên cạnh đó, phạm vi các tình
tiết loại trừ TNHS gồm những trường hợp nào vẫn còn nhiều tranh luận.
Hơn nữa, việc Dự thảo BLHS (sửa đổi) đã quy định thêm một số
trường hợp cùng với “phòng vệ chính đáng” (PVCĐ) và “tình thế cấp thiết”
(TTCT) trong chương mới - chương IV - “Những trường hợp loại trừ TNHS”
cũng đòi hỏi có sự nghiên cứu về các trường hợp bổ sung này để làm rõ hơn
chế định “các tình tiết loại trừ TNHS”.
Với lý do như vậy, tác giả lựa chọn đề tài “các tình tiết loại trừ trách
nhiệm hình sự trong Luật hình sự Việt Nam” làm đề luận văn thạc sỹ luật học
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế định “các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự” trong luật hình sự
có ý nghĩa quan trọng về mặt xã hội cũng như về mặt pháp lý hình sự. Do đó,
vấn đề này được nhiều nhà khoa học và nhà hoạt động thực tiễn quan tâm
nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau.
Trước hết, các Giáo trình Luật hình sự - Phần chung của các cơ sở đào
tạo đại học đều có nội dung trình bày những kiến thức cơ bản về chế định này
cũng như về nội dung của hai điều luật trong BLHS quy định về phòng vệ
chính đáng và tình thế cấp thiết. Tuy nhiên, đây chỉ là những kiến thức cơ
bản, tạo điều kiện cho việc nghiên cứu sâu về lý luận cũng như thực tiễn.
Các công trình nghiên cứu khác về vấn đề mà tác giả luận văn nghiên
cứu bao gồm các luận án, luận văn, các sách và các bài báo. Các công trình
này có thể được chia thành các nhóm sau:
- Nhóm nghiên cứu về nhiều vấn đề của Luật hình sự trong đó có nội
dung về chế định mà tác giả luận văn nghiên cứu. Ví dụ: Lê Văn Cảm, Những
2


vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Sách chuyên khảo
Sau đại học, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội (2005); Nguyễn Ngọc Hòa, Tội
phạm và cấu thành tội phạm, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội (2010); Trịnh
Tiến Việt, Tội phạm và trách nhiệm hình sự, Nxb. Lao động, Hà Nội (2013);
- Nhóm nghiên cứu “các trường hợp (tình tiết) loại trừ trách nhiệm hình
sự” được hiểu bao gồm cả các trường hợp không có TNHS khác. Do vậy,
trong các công trình này, vấn đề mà tác giả luận văn nghiên cứu chỉ là một nội
dung trong nhiều nội dung khác được nghiên cứu. Ví dụ: Nguyễn Ngọc Chí,
Về chế định loại trừ trách nhiệm hình sự, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 4
(1999); Giang Sơn, Các yếu tố loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của
hành vi, Luận án tiến sĩ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội (2002); Trịnh
Tiến Việt, Chế định loại trừ trách nhiệm hình sự và những yêu cầu đặt ra khi
sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQG, Luật
học, tập 29, số 4 (2013); Nguyễn Tuyết Mai, Hoàn thiện chế định loại trừ
trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Luật học số 2
(2014);...
Như vậy, hai nhóm nghiên cứu này có nội dung nghiên cứu tương đối
rộng và nội dung thuộc đề tài luận văn của tác giả không phải là nội dung
được tập trung nghiên cứu của các công trình này.
- Nhóm nghiên cứu chuyên về chế định phòng vệ chính đáng hoặc về
tình tiết cấp thiết. Đây là nhóm có nhiều công trình nghiên cứu để phục vụ
trực tiếp việc giải thích, bình luận các điều luật của BLHS. Điểm chung của
các công trình này là tập trung giải thích nội dung quy định của BLHS về
phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết, từ cơ sở, nội dung, phạm vi đến các
vướng mắc có liên quan. Ví dụ: Hoàng Văn Hùng, Tìm hiểu về bản chất của
tình thế cấp thiết, Tạp chí Luật học số 5/1999; Nguyễn Đức Mai, Phòng vệ
chính đáng theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, Tạp chí Tòa án nhân
dân, số 6 (2000); Giang Sơn, Quy định về chế định phòng vệ chính đáng theo
Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện
3


Nhà nước và pháp luật, số 8 (2001); Phạm Quốc Hưng, Phòng vệ chính đáng
trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, trường Đại học Luật
Hà Nội (2001); Đinh Văn Quế, Một số vấn đề phòng vệ chính đáng, vượt quá
giới hạn phòng vệ chính đáng và những vướng mắc trong thực tiễn xét xử,
Tạp chí Tòa án nhân dân, số 17 (2009); Nguyễn Hương Giang, Tình thế cấp
thiết trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại
học Quốc gia Hà Nội (2011); Nguyễn Sơn, Phòng vệ chính đáng và vượt quá
giới hạn phòng vệ chính đáng theo luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ
Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2014); v.v… Các công trình
này đều nghiên cứu từng điều luật trong BLHS mà không gắn kết các điều
luật này với nội dung của chế định chung “các tình tiết loại TNHS”.
- Nhóm nghiên cứu “các tình tiết loại trừ TNHS” theo nghĩa như cách
hiểu trong luận văn của tác giả. Ví dụ: Hoàng Văn Hùng, Các tình tiết loại trừ
tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi trong luật hình sự Việt Nam, Luận
văn thạc sĩ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội (1999);… Các công trình
công trình nghiên cứu này tuy đã làm rõ hơn cơ sở lí luận về các tình tiết loại
trừ TNHS nhưng mới chỉ tập trung vào hai tình tiết đã được quy định trong
BLHS.
Tóm lại, các công trình đã được công bố đã góp phần làm rõ cơ sở lý
luận cũng như những vướng mắc trong thực tiễn của chế định các tình tiết loại
trừ TNHS. Tuy nhiên, trước đòi hỏi của thực tiễn pháp lý, vẫn còn một số vấn
đề yêu cầu cần được làm rõ hơn như: làm rõ hơn bản chất của các trường hợp
được loại trừ TNHS; mối quan hệ giữa chế định này với các trường hợp
không có TNHS và miễn TNHS; cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định
các tình tiết loại trừ TNHS, cũng như làm rõ nội dung của các quy định mới
được bổ sung trong Dự thảo BLHS (sửa đổi) hoặc nội dung liên quan đến
thực tiễn gần đây như vấn đề thi hành công vụ và phòng vệ chính đáng.

4


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có mục đích làm rõ hơn về lý luận chế định các tình tiết loại
trừ TNHS để đánh giá và đề xuất hướng hoàn thiện các quy định của BLHS
Việt Nam về vấn đề này.
Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Phân tích cơ sở lý luận của các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự;
- Giải thích các quy định của BLHS năm 1999 về phòng vệ chính đáng
và tình thế cấp thiết trong sự so sánh với lý luận và thực tiễn lập pháp của một
số quốc gia trên thế giới.
Từ đó, tác giả luận văn đề xuất những kiến nghị hoàn thiện chế định
các tình tiết loại trừ TNHS trong BLHS Việt Nam.
4.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Ngoài cơ sở lý luận của chế định các tình tiết loại trừ TNHS, luận văn

còn có các đối tượng nghiên cứu là: các quy định của BLHS Việt Nam năm
1999, của Dự thảo BLHS Việt Nam (sửa đổi) và luật hình sự một số quốc gia
khác trên thế giới về các tình tiết này. Cụ thể: Các điều luật được nghiên cứu
là các điều 15, 16 BLHS Việt Nam năm 1999; các điều 20, 21, 22, 23, 24, 25,
26 Dự thảo BLHS Việt Nam (sửa đổi); các điều 37, 38, 39, 40, 41,42 BLHS
Liên bang Nga; các điều 1, 2, 4, 8, (chương 24) BLHS Thụy Điển; các điều
25, 27, 34 BLHS Cannada; các điều 32, 33, 34 BLHS Cộng hòa Liên bang
Đức; các điều 20, 21 BLHS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phép duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử.
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phân tích, so
sánh, tổng hợp.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 3 chương:
5


- Chương 1. Một số vấn đề chung về các tình tiết loại trừ trách nhiệm
hình sự
- Chương 2. Các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự trong Bộ luật
hình sự Việt Nam hiện hành
- Chương 3. Hoàn thiện chế định các tình tiết loại trừ trách nhiệm
hình sự trong Bộ luật hình sự Việt Nam

6


CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TÌNH TIẾT LOẠI TRỪ
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự
1.1.1. Các cách hiểu và tên gọi khác nhau về các tình tiết loại trừ trách
nhiệm hình sự
Các tình tiết loại trừ TNHS là chế định không thể thiếu trong luật hình
sự của mỗi quốc gia, có quan hệ chặt chẽ với chế định TNHS cũng như các
chế định khác để tạo thành cơ sở pháp lý hoàn chỉnh cho việc truy cứu TNHS.
Một người chỉ có thể phải chịu TNHS về hành vi gây thiệt hại cho xã
hội khi họ có đủ điều kiện về chủ thể của tội phạm và có lỗi khi thực hiện
hành vi gây thiệt hại. Trái lại, họ sẽ không có TNHS khi thuộc về một trong
các trường hợp sau:
- Chưa đủ tuổi chịu TNHS theo quy định của pháp luật hình sự (PLHS);
- Là người đang trong tình trạng mắc bệnh nên mất khả năng nhận thức
hoặc điều khiển hành vi theo đòi hỏi của xã hội hoặc
- Không có lỗi (có thể là trường hợp bất khả kháng hoặc trường hợp sự
kiện bất ngờ).
Các trường hợp này có thể được gọi là các trường hợp không có TNHS.
Ngoài các trường hợp trên đây, một người cũng không phải chịu TNHS
về hành vi gây thiệt hại cho xã hội mà mình đã thực hiện nếu việc thực hiện
được PLHS cho phép vì có những tình tiết nhất định (như phòng vệ chính
đáng hay tình thế cấp thiết). Những tình tiết này có thể được gọi là các tình
tiết loại trừ TNHS.
Như vậy, các trường hợp không có TNHS và các tình tiết loại trừ
TNHS có sự khác nhau. Tuy nhiên, về vấn đề này hiện có các ý kiến khác
nhau. Từ đó dẫn đến có những cách hiểu khác nhau về các tình tiết loại trừ
TNHS. Cụ thể: các tình tiết loại trừ TNHS có thể được hiểu theo nghĩa không
bao gồm các trường hợp không có TNHS. Cách hiểu khác lại cho rằng, các
tình tiết loại trừ TNHS bao gồm tất cả các trường hợp đã được nêu trên.
7


Khái niệm “các tình tiết loại trừ TNHS” trong luận văn của tác giả
được sử dụng theo các hiểu thứ nhất (không bao gồm các trường hợp không
có TNHS) như đã được khẳng định trong Phần mở đầu. Cách hiểu này cũng
được Giáo trình luật hình sự Việt Nam của nhiều cơ sở giáo dục đại học tại
Việt Nam sử dụng như trường Đại học Luật Hà Nội, trường Đại học Luật
Thành phố Hồ Chí Minh, trường Đại học Huế.
Khác với quan điểm trên đây, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần
chung của Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội (2003) khẳng định các
tình loại trừ TNHS còn bao gồm cả “Sự kiện bất ngờ; tuổi chịu trách nhiệm
hình sự; không có năng lực trách nhiệm hình sự …” [9, tr. 291].
Cùng với quan điểm trên đây, GS.TSKH. Lê Văn Cảm đã xác định 10
tình tiết loại trừ TNHS, bao gồm: tình tiết chưa đủ tuổi chịu TNHS; tình trạng
không có năng lực TNHS; tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi không đáng
kể; sự kiện bất ngờ; tình trạng bất khả kháng; phòng vệ chính đáng; tình thế
cấp thiết; bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã; chấp hành chỉ thị,
mệnh lệnh của cấp trên; rủi ro chấp nhận được về kinh tế hoặc nghề nghiệp
[8, các tr.514, tr.515].
PGS. TS. Nguyễn Ngọc Chí cho rằng: “Loại trừ trách nhiệm hình sự
bao gồm nhiều quy định tạo thành một nhóm quy phạm điều chỉnh hành vi
gây hậu quả về hình sự nhưng được loại trừ trách nhiệm hình sự” [11, tr.35].
Theo đó, tác giả xác định 9 tình tiết loại trừ TNHS, bao gồm: Sự kiện bất ngờ;
tình trạng không có năng lực TNHS; phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết;
tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội; chưa đủ tuổi chịu TNHS; bắt người
phạm tội; chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên; rủi ro trong nghiên cứu
khoa học, trong sản xuất [11; tr.33].
TS. Trịnh Tiến Việt quan niệm: “Loại trừ trách nhiệm hình sự là
trường hợp một người đã thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội, nhưng
đối chiếu (căn cứ) vào các quy định của Bộ luật hình sự thì họ không phải
chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này. Nói một cách khác, trong hành vi
8


của một người khi thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội do không thỏa
mãn ít nhất một trong các dấu hiệu cơ bản của tội phạm, nên tính chất tội
phạm của hành vi đó được loại trừ, và logic tương ứng, người thực hiện nó
không phải chịu trách nhiệm hình sự hay được loại trừ trách nhiệm hình sự”
[54, các tr.17, tr.18]. Theo đó, tác giả xác định 14 tình tiết loại trừ TNHS, bao
gồm: hành vi có tính chất nguy hiểm không đáng kể; sự kiện bất ngờ; chưa đủ
tuổi chịu TNHS; tình trạng không có năng lực TNHS; phòng vệ chính đáng;
tình thế cấp thiết; sự kiện bất khả kháng; không có lỗi trong tình trạng say do
dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác; gây thiệt hại hợp pháp khi bắt
người phạm tội; rủi ro trong sản xuất, nghiên cứu khoa học; thi hành quyết
định của cấp trên; giúp người đã thành niên tự sát theo yêu cầu tự nguyện của
người đó; người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo; hành vi phạm
tội thái quá của người thực hành trong đồng phạm [54, các tr.18, tr.26 – tr.28].
TS. Nguyễn Tuyết Mai định nghĩa: “Loại trừ trách nhiệm hình sự là
những trường hợp người thực hiện hành vi gây nguy hại cho xã hội nhưng
được pháp luật xác định không phải chịu trách nhiệm hình sự do: tính nguy
hiểm cho xã hội không đáng kể; hoặc thiếu yếu tố của tội phạm; hoặc có căn
cứ hợp pháp của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội” [22, tr.12]. Tác
giả cũng xác định 14 tình tiết loại trừ TNHS, bao gồm: hành vi có tính chất
nguy hiểm cho xã hội không đáng kể; sự kiện bất ngờ; chưa đủ tuổi chịu
TNHS; tình trạng không có năng lực TNHS; phòng vệ chính đáng; tình thế
cấp thiết; không tố giác tội phạm; bị ép buộc đưa hối lộ; tình trạng bất khả
kháng; không có lỗi với tình trạng say; bị cưỡng bức; thi hành mệnh lệnh của
cấp trên; rủi ro trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ; bắt người
phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã [22, các tr.12, tr.13].
Tác giả Đinh Văn Quế còn mở rộng hơn nữa khái niệm này khi xác
định 18 trường hợp loại trừ TNHS và phân chia thành 3 nhóm: a) Nhóm thứ
nhất - những trường hợp “không có năng lực TNHS” (bao gồm ba trường hợp
là: tình trạng không có năng lực TNHS; chưa đến tuổi chịu TNHS; chưa bị kết
9


án, chưa bị xử lý hành chính hoặc xử lý kỷ luật, chưa được giáo dục); b)
Nhóm thứ hai - những trường hợp “không bị coi là có lỗi” (bao gồm 9 trường
hợp là: phòng vệ chính đáng; tình thế cấp thiết; sự kiện bất ngờ; tình trạng
không thể khắc phục được; bắt người phạm tội quả tang hoặc có lệnh truy nã;
chấp hành chỉ thị, quyết định hoặc mệnh lệnh; rủi ro trong nghề nghiệp hoặc
trong sản xuất; không phải chịu TNHS về hành vi thái quá của người thực
hành trong vụ án có đồng phạm); c) Nhóm thứ ba - những trường hợp được
loại trừ TNHS theo quy định của pháp luật (bao gồm 6 trường hợp là: tính
chất nguy hiểm không đáng kể của hành vi; tự ý nửa chừng chấm dứt việc
phạm tội; chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại chưa tới mức phải truy cứu
TNHS; được miễn TNHS; hết thời hiệu truy cứu TNHS; hành vi nguy hiểm
cho xã hội không thuộc phạm vi áp dụng BLHS) [24, các tr.18, tr.19].
Trong khoa học hình sự nước ngoài, GS. TSKH luật Xlutxki I.I của
Liên bang Nga đã phân các trường hợp loại trừ TNHS thành ba nhóm: a)
Nhóm thứ nhất – các tình tiết thể hiện rõ lợi ích cho xã hội tính hợp pháp của
hành vi (bao gồm: phòng vệ chính đáng, áp dụng các biện pháp cần thiết để
bắt giữ người phạm tội, tình thế cấp thiết, chấp hành mệnh lệnh hợp pháp,
thực hiện các trách nhiệm nghề nghiệp và công vụ, thực hiện quyền của mình
và bắt buộc phải tuân thủ); b) Nhóm thứ hai – các tình tiết loại trừ tính chất
nguy hiểm cho xã hội và tính phải bị xử phạt của hành vi (bao gồm: tự nguyện
đình chỉ tội phạm, sự đồng ý của người bị hại, tính chất nhỏ nhặt của vi phạm
pháp luật, sự thay đổi của pháp luật, sự thay đổi của tình hình chính trị - xã
hội, hết thời hiệu truy tố hình sự, hết thời hiệu thi hành của bản án); c) Nhóm
thứ ba – các tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi (bao
gồm: sự cưỡng bức về thể xác và, sức mạnh không thể chống lại được) [8; các
tr.510, tr.511].
Tóm lại, các tình tiết loại trừ TNHS có thể được các tác giả hiểu theo
nhiều phạm vi khác nhau. Bên cạnh đó, tên gọi của các trường hợp này cũng
có sự không thống nhất.
10


Tên gọi “các tình tiết loại trừ TNHS” là tên gọi được sử dụng trong
Giáo trình luật hình sự Việt Nam – Phần chung của Khoa Luật thuộc Đại học
Quốc gia Hà Nội (2003). Tác giả của Giáo trình này cho rằng “TNHS là hậu
quả pháp lý của trường hợp hành vi nguy hiểm bị coi là tội phạm và đối lập
với TNHS là không có hay loại trừ TNHS, là hậu quả pháp lý của hành vi gây
hậu quả về hình sự nhưng không bị coi là tội phạm” [9, tr.284]. Tác giả luận
văn chọn cách gọi này vì nó “… xác định rõ ràng phạm vi điều chỉnh của luật
hình sự, đồng thời phù hợp với nhận thức chung của cán bộ áp dụng pháp
luật đã được thống nhất lâu nay ở nước ta” [24, tr.9].
Khác với Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần chung của Khoa
Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, các giáo trình Luật hình sự Việt Nam
của hầu hết các cơ sở đào tạo luật khác như trường Đại học Luật Hà Nội
(2013), trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2014), trường Đại học
Huế (2001) đều đặt tên cho nhóm các quy phạm này là: “Những tình tiết loại
trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi”. Sở dĩ tên gọi này được lựa
chọn vì các tác giả cho rằng “hành vi đã thực hiện, xét về khách quan đã gây
ra thiệt hại nhưng xét về chủ quan thì chủ thể thực hiện không có lỗi vì đã lựa
chọn cách xử sự phù hợp với đòi hỏi của xã hội... Do không có lỗi nên hành vi
gây thiệt hại không bị coi là có tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm” [47,
tr.201]. Các tác giả cho rằng, hành vi gây thiệt hại sẽ không phải chịu TNHS
vì “xét về chủ quan thì chủ thể thực hiện không có lỗi vì đã lựa chọn cách xử
sự phù hợp với đòi hỏi của xã hội”. Do vậy, hành vi được thực hiện tuy gây
thiệt hại nhưng không phải là tội phạm. Theo đó, “gốc” của vấn đề là tính chất
nguy hiểm cho xã hội bị loại trừ. Từ đó, các tác giả đưa ra định nghĩa về
những tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi là “những
tình tiết làm mất đi tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thiệt hại nên
được quy định trong luật hình sự để xác định những trường hợp bình thường
là tội phạm nhưng không bị coi là tội phạm khi được thực hiện trong những
điều kiện kèm theo tình tiết đó” [47, tr.202]. Như vậy, các tác giả đã xuất phát
11


từ đặc điểm (dấu hiệu) về nội dung của tội phạm (tính nguy hiểm cho xã hội)
khi đặt tên gọi riêng cho nhóm các quy phạm này. Ở đây, tính chất nguy hiểm
cho xã hội được hiểu bao gồm tính gây thiệt hại về khách quan và tính có lỗi
về chủ quan. Nếu hiểu tính nguy hiểm cho xã hội chỉ là tính gây thiệt hại hoặc
đe dọa gây thiệt hại thì tên gọi trên đây sẽ không chính xác vì đặc điểm này
“… của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện luôn tồn tại không phụ
thuộc vào có hay không có tình tiết phòng vệ chính đáng hay tình thế cấp
thiết” [15, tr.39].
Khác với cách đặt tên trên đây, GS. TSKH. Lê Văn Cảm gọi các tình
tiết đó là “Những trường hợp (tình tiết) loại trừ tính chất tội phạm của hành
vi”. Trong cuốn “Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần
chung)”, tác giả cho rằng, “tính chất tội phạm của hành vi là phạm trù rộng
hơn và bao trùm lên tất cả các tính chất khác – tính nguy hiểm cho xã hội,
tính chất lỗi, và tính chất trái pháp luật hình sự” [8, tr.516]. Theo đó, “những
trường hợp (tình tiết) loại trừ tính chất tội phạm của hành vi là những tình
tiết được điều chỉnh trong pháp luật hình sự mà khi có căn cứ do luật định thì
việc gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự không bị coi là tội phạm và do vậy,
người gây ra thiệt hại đó không phải chịu TNHS” [8; tr.504].
Một tên gọi khác được GS. TS. Nguyễn Ngọc Hòa nêu trong cuốn “Tội
phạm và cấu thành tội phạm” là “các căn cứ hợp pháp của hành vi nguy hiểm
cho xã hội”. Cách gọi này xuất phát từ quan điểm cho rằng “hành vi nguy
hiểm cho xã hội chỉ bị coi là tội phạm khi hành vi đó được quy định trong
BLHS và không thuộc những trường hợp có căn cứ hợp pháp khác. Theo đó,
hành vi đã thực hiện tuy được quy định trong BLHS nhưng vẫn không phải là
tội phạm nếu chủ thể có căn cứ hợp pháp được quy định trong BLHS khi thực
hiện hành vi này” [15, tr.38]. Tác giả của tên gọi này cho rằng, các hành vi
được quy định trong BLHS là các hành vi bị cấm nhưng một người vẫn có thể
được quyền thực hiện những hành vi có tính gây thiệt hại đã được quy định
đó trong trường hợp có căn cứ (tình tiết) nhất định được Bộ luật quy định. Do
12


vậy, những căn cứ (tình tiết) này được coi là các căn cứ hợp pháp của hành vi.
Các căn cứ này làm cho hành vi đã thực hiện “...không còn tính trái pháp luật
hình sự” [15, tr.39].
Bên cạnh các quan điểm về các tình tiết loại trừ TNHS được nhìn nhận
dưới nhiều góc độ khác nhau như đã trình ở trên, còn có quan điểm khoa học
của một số nhà khoa học trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề loại trừ
TNHS.
Mỗi nhóm quan điểm nêu trên đều có lập luận khoa học và nhân tố hợp
lý riêng của mình. Trên cơ sở tổng kết, tiếp thu các quan điểm khác nhau
được giới thiệu khái quát trên đây, tác giả luận văn lựa chọn tên gọi “các tình
tiết loại trừ TNHS” và hiểu các tình tiết này theo phạm vi chỉ bao gồm những
tình tiết cho phép được thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội.
1.1.2. Định nghĩa và các đặc điểm của các tình tiết loại trừ trách nhiệm
hình sự
Các tình tiết loại trừ TNHS là các tình tiết mà khi có một trong các tình
tiết này thì người có hành vi gây thiệt hại cho xã hội được quy định trong luật
hình sự vẫn không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Như vậy, các tình tiết loại trừ TNHS chỉ được đề cập đến trong trường
hợp một người đã thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội và về hình thức
đã thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm (CTTP). Nếu không có
một trong các tình tiết loại trừ TNHS thì hành vi của họ đã CTTP, TNHS đã
được đặt ra và họ phải gánh chịu trách nhiệm này. Nhưng TNHS đã không
được đặt ra vì hành vi được thực hiện có một trong các tình tiết đặc biệt này,
hay nói cách khác, các tình tiết đặc biệt này đã làm mất đi TNHS. Do có đặc
điểm làm mất đi TNHS mà các tình tiết này có thể được gọi là các tình tiết
loại trừ TNHS. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp về mặt ngôn ngữ. Theo Từ
điển Tiếng Việt, loại trừ có nghĩa là “làm cho mất đi, …” [21, tr.574] và như
vậy các tình tiết loại trừ TNHS có nghĩa là các tình tiết làm mất đi TNHS.
Khác với các tình tiết loại trừ TNHS, các tình khác như tình tiết chưa đủ tuổi
13


trách nhiệm hình sự hay tình tiết trong tình trạng không có năng lực trách
nhiệm hình sự hay tình tiết sự kiện bất ngờ là các tình tiết phản ánh hành vi
thiếu dấu hiệu của tội phạm (dấu hiệu về chủ thể hoặc dấu hiệu về lỗi) và do
vậy vấn đề TNHS không được đặt ra. Câu hỏi được đặt ra là tại sao các tình
tiết loại trừ TNHS lại có thể làm mất trách nhiệm hình sự mặc dù chủ thể đã
có hành vi gây thiệt hại và hành vi này đã được quy định trong luật hình sự?
Xét về mặt khách quan, người được loại trừ trách nhiệm hình sự đã có
hành vi khách quan gây thiệt hại cho xã hội và hành vi này được quy định
trong luật hình sự. Xét về mặt chủ quan, họ cũng thấy trước khả năng gây ra
thiệt hại. Tuy nhiên, động cơ thực hiện các hành vi này không phải là động cơ
phạm tội mà là động cơ có ích và mục đích hướng tới không phải là gây thiệt
hại mà cũng là lợi ích chung, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người
khác. Ví dụ: Trường hợp phải gây thiệt hại cho kẻ tấn công để bảo vệ chính
mình hay người khác là trường hợp mà hành vi gây thiệt hại có động cơ và
mục đích như vậy. Chính động cơ và mục đích này đã loại trừ trách nhiệm
hình sự. Do đó, phòng vệ được coi là một tình tiết loại trừ TNHS. Như vậy,
trong trường hợp có tình tiết loại trừ TNHS, chủ thể tuy lựa chọn hành vi gây
thiệt hại nhưng không phải là lựa chọn xử sự trái với đòi hỏi của xã hội mà là
lựa chọn hành vi cần thiết và phù hợp với lợi ích chung của xã hội. Điều này
cũng có nghĩa, chủ thể không có lỗi (theo đúng nghĩa) đối với hành vi khách
quan đã gây thiệt hại.
Cũng như trách nhiệm hình sự, các tình tiết loại trừ TNHS cũng cần
phải được luật hóa để đảm bảo nguyên tắc pháp chế. Cơ sở của TNHS phải
được luật quy định. Điều này cũng đòi các tình tiết cụ thể cũng như các dấu
hiệu của các tình tiết đó cũng phải được luật quy định. Việc được quy định
này chính là cơ sở pháp lý cho phép cá nhân được thực hiện hành vi gây thiệt
hại mà bình thường là tội phạm. Đây cũng là lý do giải thích tại sao có tác giả
gọi các tình tiết này là các căn cứ hợp pháp của hành vi gây thiệt hại.

14


Từ các phân tích khái quát trên, có thể rút ra các đặc điểm cơ bản của
các tình tiết loại trừ TNHS như sau:
* Tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự luôn gắn với hành vi gây thiệt
hại có dấu hiệu về hình thức của một tội phạm.
Hành vi đã thực hiện khi có tình tiết loại trừ TNHS là hành vi về mặt
hình thức đã thỏa mãn các dấu hiệu của một CTTP hay nói cách khác hành vi
đã là hành vi phạm tội nếu giả sử không có tình tiết này. Cụ thể:
- Chủ thể đã thực hiện hành vi có tính gây thiệt hại và hành vi này đã
được mô tả trong một CTTP. Trong đó, hành vi được coi là biểu hiện cơ bản
nhất trong mặt khách quan của CTTP, đã “làm biến đổi tình trạng của đối
tượng tác động và do vậy là nguyên nhân gây thiệt hại cho quan hệ xã hội là
khách thể của tội phạm” [15, tr.63];
- Khi thực hiện hành vi đó, chủ thể nhận thức được tính gây thiệt hại và
thấy trước hậu quả thiệt hại mà hành vi có thể gây ra cho các quan hệ xã hội và
- Chủ thể thực hiện là người có đủ điều kiện về chủ thể.
Như vậy, xét về về tổng thể, hành vi đã thực hiện là hành vi có đủ dấu
hiệu của một CTTP. Nếu không xét đến sự có mặt của tình tiết loại trừ TNHS
thì hành vi đã cấu thành một tội phạm cụ thể. Ví dụ: Tội cố ý gây thương tích
hay tội giết người hay tội hủy hoại tài sản v.v…
* Tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự là tình tiết làm cho hành vi gây
thiệt hại mất tính nguy hiểm của một tội phạm.
Hành vi gây thiệt hại khi có tình tiết loại trừ TNHS tuy về hình thức
thỏa mãn các dấu hiệu của một CTTP nhưng xét trong mối quan hệ với tình
tiết loại trừ TNHS thì hành vi đó không có tính nguy hiểm của tội phạm. Các
tình tiết này tuy khác nhau nhưng đều gắn với động cơ và mục đích của hành
vi đã thực hiện. Động cơ thúc đẩy là vì lợi ích chung hoặc lợi ích chính đáng
của cá nhân được xã hội chấp nhận; mục đích không phải để gây thiệt hại mà
để bảo vệ hoặc mang lại lợi ích chung. Chính tính chất đặc biệt và phù hợp
với đòi hỏi của xã hội, được xã hội chấp nhận của động cơ và mục đích của
15


hành vi như vậy đã làm mất đi tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây
thiệt hại. Ví dụ: Việc chọn và thực hiện hành vi gây thương tích cho người
khác trong điều kiện bình thường là trường hợp cố ý gây thương tích và có thể
cấu thành tội cố ý gây thương tích nhưng khi gắn với tình tiết “phòng vệ”
nhằm ngăn chặn hành vi tấn công, bảo vệ tính mạng người khác thì hành vi
gây thương tích không còn tính nguy hiểm cho xã hội. Động cơ ngăn chặn sự
tấn công và mục đích bảo vệ tính mạng con người đã loại trừ tính nguy hiểm
cho xã hội của hành vi gây thương tích. Việc gây thiệt hại trong những trường
hợp với động cơ, mục đích như vậy được coi là hành vi có ích, được xã hội
chấp nhận và do vậy không thể là hành vi tội phạm để buộc chủ thể phải chịu
TNHS.
* Các tình tiết loại trừ TNHS được quy định trong luật hình sự
Hai đặc điểm nêu trên là đặc điểm về nội dung nhưng chỉ với hai đặc
điểm đó thì các tình tiết loại trừ TNHS chưa thể là cơ sở pháp lý cho việc loại
trừ TNHS. Các tình tiết này phải được luật hóa, phải được quy định rõ ràng
trong luật và khi đó các quy định này mới là căn cứ hợp pháp của các hành vi
gây thiệt hại.
Việc phải xác định các tình tiết nào là tình tiết loại trừ TNHS và các
dấu hiệu cụ thể của từng tiết để quy định trong luật là cần thiết để đảm bảo
nguyên tắc pháp chế và qua đó bảo đảm tính thống nhất trong nhận thức và áp
dụng các tình tiết này.
Việc các tình tiết này được quy định trong luật hình sự không chỉ là xác
định các tình tiết loại trừ TNHS cụ thể mà quan trọng hơn là xác định rõ ràng
cơ sở cũng như phạm vi được phép thực hiện hành vi gây thiệt hại hoặc có thể
gây thiệt hại, hay nói cách khác là phải xác định rõ các dấu hiệu của từng tình
tiết loại trừ TNHS. Việc xác định tình tiết loại trừ TNHS cụ thể và dấu hiệu
của từng tình tiết đó phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia.
Từ các phân tích trên có thể định nghĩa các tình tiết loại trừ trách nhiệm
hình sự như sau: Các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự là các tình tiết
16


được luật hình sự quy định mà khi có một trong những tình tiết đó thì người
đã thực hiện hành vi gây thiệt hại có dấu hiệu của tội phạm được loại trừ
trách nhiệm hình sự vì hành vi của họ không có tính nguy hiểm của tội phạm.
1.1.3. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định các tình tiết loại trừ
trách nhiệm hình sự
Theo Từ điển Tiếng Việt, từ „cơ sở” được hiểu là “cái làm nền tảng
trong quan hệ với những cái được xây dựng trên nó hoặc dựa trên nó mà tồn
tại, phát triển” [23, tr.215]. Nếu cho rằng cơ sở của TNHS là việc cá nhân
thực hiện một hành vi mà luật hình sự quy định là tội phạm thì cơ sở làm loại
trừ TNHS của các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự chính là động cơ có
ích – vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích của tổ chức, lợi ích chính đáng của mình
hoặc của người khác đã làm đi mất tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây
thiệt hại.
Việc quy định các tình tiết loại trừ TNHS trong BLHS là vô cùng quan
trọng, nó tạo cơ sở pháp lý cho người dân được quyền hành động để bảo vệ
lợi ích chính đáng của mình hay của người khác, bảo vệ lợi ích của Nhà nước
cũng như của tổ chức; đồng thời, nó động viên quần chúng nhân dân tích cực
tham gia công tác đấu tranh chống tội phạm, tích cực, tự giác bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, của tổ chức, lợi ích chính đáng của công dân.
Như đã phân tích ở trên, các tình tiết loại trừ TNHS về hình thức đã có
những dấu hiệu của tội phạm. Tuy nhiên, không phải bất kì hành vi nào thỏa
mãn các dấu hiệu của tội phạm cũng làm phát sinh TNHS. Hành vi được biểu
hiện ra bên ngoài thế giới khách quan có thể giống nhau nhưng diễn biến tâm
lý bên trong của người thực hiện hành vi trong từng hoàn cảnh cụ thể lại rất
phức tạp. Đặc biệt, đối với những hành vi mặc dù xét về hình thức đã hội đủ
các yếu tố CTTP nhưng do mục đích, động cơ của người thực hiện hành vi là
nhằm bảo vệ lợi ích của xã hội, của người khác hoặc lợi ích hợp pháp của
chính bản thân mình thì những hành vi đó cần được loại trừ TNHS. Chẳng
hạn như: trong trường hợp PVCĐ, TTCT, hay bắt giữ người phạm tội...., rõ
17


ràng hậu quả gây thiệt hại không phải là mong muốn của chủ thể. Việc lựa
chọn hành vi gây thiệt hại trong những trường hợp này xuất phát từ động cơ
nhằm bảo vệ các lợi ích hợp pháp khác và quan trọng hơn là cần thiết và phù
hợp với lợi ích chung của xã hội. Vì vậy, nó được coi là những tình tiết loại
trừ TNHS đối với người thực hiện hành vi gây thiệt hại đó. Do vậy, BLHS
cần thiết phải qui định các tình tiết loại trừ TNHS để tạo cơ sở pháp lý cho
người dân được hành động, được gây thiệt hại nhất định vì lợi ích chung, vì
bảo vệ những quan hệ xã hội đã được pháp luật bảo vệ. Chỉ trên cơ sở pháp
luật ghi nhận chính thức (về mặt pháp lý) công dân được phép làm gì (cũng
như không được phép làm gì) thì khi đó người dân mới dám thực hiện hành vi
pháp luật cho phép, mới xử sự trên cơ sở qui định pháp luật. Khi quyền lợi
chính đáng của mình được bảo vệ, được ghi nhận chính thức trong luật, người
dân mới dám chống trả lại hành vi đang xâm hại lợi ích của Nhà nước, của tổ
chức, lợi ích chính đáng của mình hay của người khác, mới dám “cống hiến”
và góp sức để phát triển xã hội. Bên cạnh đó, đối với người thi hành công vụ,
trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình, việc gây thiệt hại nhất định vì lợi
ích chung cũng vẫn phải trên cơ sở qui định của pháp luật, không được trái
pháp luật. Mặc dù đây là những hành vi có ích cho xã hội, tuy nhiên, điều đó
không có nghĩa là công dân “tùy tiện” muốn làm gì thì làm. Pháp luật đòi hỏi
họ phải thực hiện hành vi có ích trên cơ sở qui định của pháp luật. Trong một
xã hội mà “tinh thần thượng tôn pháp luật” là tối cao thì điều này lại càng có
ý nghĩa.
Trên thực tế, tình hình tội phạm ở nước ta nói riêng cũng như trên thế
giới nói chung diễn ra ngày càng phức tạp. Hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà
nước, của xã hội, của tập thể, của công dân có xu hướng ngày càng gia tăng.
Công cuộc đấu tranh chống tội phạm muốn hiệu quả đòi hỏi phải có sự tham
gia tích cực của đông đảo người dân trong xã hội. Tuy nhiên, chúng ta có thể
thấy hiện tượng nhiều người dân thường có thái độ bàng quan, thờ ơ khi
chứng kiến tội phạm xảy ra (như trông thấy tên lưu manh đang trộm cắp,
18


cướp tài sản, hoặc gặp trường hợp một số người đang hành hung người khác...
mà không dám phản ứng ngăn cản), thậm chí có người bị tội phạm trực tiếp
xâm phạm đến lợi ích chính đáng của chính bản thân mình mà cũng không
dám phản kháng. Việc người dân không tích cực tham gia chống tội phạm,
bảo vệ các lợi ích hợp pháp đã được pháp luật bảo vệ thì càng tạo điều kiện
cho phạm tội ngang nhiên hoành hành, càng gây mất trật tự trị an xã hội.
Nguyên nhân một phần cũng bởi họ sợ người phạm tội, sợ bị liên lụy hoặc
không biết về sự đảm bảo quyền chính đáng của mình trong pháp luật... Hay
đối với những người say mê nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, ham muốn tìm
tòi, sáng tạo, muốn góp một phần trí tuệ của mình vào công cuộc phát triển
đất nước nhưng chẳng may xảy ra sự cố ngoài ý muốn trong quá trình nghiên
cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật, gây thiệt hại cho xã hội cũng rất lo lắng về
trách nhiệm mà mình phải gánh chịu. Điều đó đã khiến cho công dân trong xã
hội không dám đấu tranh chống lại hành vi trái pháp luật, không dám tìm tòi,
đổi mới... Những hành vi nguy hiểm cho xã hội được chủ thể thực hiện trong
những trường hợp như vậy là nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức,
quyền và lợi ích chính đáng của công dân hoặc nhằm đem lại lợi ích cho xã
hội, xây dựng, phát triển xã hội, do vậy, rất cần được khuyến khích, nhân rộng
trong xã hội. Do vậy, nếu không qui định rõ trong luật về các tình tiết loại trừ
TNHS, người dân sẽ không dám đương đầu với tội phạm hoặc nguồn nguy
hiểm để bảo vệ những lợi ích hợp pháp hoặc không dám dũng cảm say mê,
tìm tòi nghiên cứu khoa học vì lợi ích chung. Việc ghi nhận các tình tiết loại
trừ TNHS trong PLHS là ghi nhận quyền hợp pháp của công dân, đồng thời,
định hướng công dân thực hiện được đúng các quyền của mình cũng như phát
huy tính tích cực của mỗi người, quan trọng hơn nữa là khẳng định đó là
những hành vi có ích được pháp luật cho phép, khuyến khích thực hiện. Chính
vì vậy, các tình tiết loại trừ TNHS cần phải được quy định trong luật hình sự
của mỗi quốc gia, có như vậy PLHS mới phát huy được tối đa tính chủ động,
tích cực của mọi người trong quản lý trật tự xã hội, đồng thời cũng tạo cơ sở
cho PLHS thực hiện nhiệm vụ của mình một cách có hiệu quả.
19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×