Tải bản đầy đủ

LVTS 2015 biện pháp tạm giam trong luật tố tụng hình sự việt nam

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

TRIU VN MN

Biện pháp tạm giam
trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Bắc Kạn)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

TRIU VN MN

Biện pháp tạm giam
trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam

(Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Bắc Kạn)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: TS. NGUYN C PHC

H NI - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN

Triệu Văn Mẫn


MỤC LỤC

Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIỆN PHÁP
NGĂN CHẶN TẠM GIAM THEO QUY ĐỊNH CỦA
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ ............................................................. 8
1.1.


Khái niệm và các vấn đề cơ bản của biện pháp tạm giam
trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam ............................................... 8

1.1.1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn và mục đích của biện pháp
ngăn chặn.............................................................................................. 8
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của biện pháp ngăn chặn tạm giam .................. 10
1.1.3. Mục đích, ý nghĩa của tạm giam ........................................................ 13
1.2.

Nội dung quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về
biện pháp ngăn chặn tạm giam ....................................................... 15

1.2.1. Đối tượng áp dụng biện pháp tạm giam ............................................. 15
1.2.2. Quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam...................... 17
1.2.3. Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam .................................................. 18
1.2.4. Về thủ tục tạm giam ........................................................................... 20
1.2.5. Về chế độ tạm giam............................................................................ 21
1.2.6. Về thời hạn tạm giam ......................................................................... 25
1.2.7. Về quyền của người bị tạm giam ....................................................... 29


1.3.

Quy định về biện pháp tạm giam trong pháp luật một số
nước trên thế giới ............................................................................. 30

Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
TẠM GIAM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN (GIAI ĐOẠN
2010 – 2014)...................................................................................................33
2.1.

Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến việc
áp dụng pháp luật về biện pháp tạm giam trong hoạt động
giải quyết vụ án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng ở
tỉnh Bắc Kạn ..................................................................................... 33

2.2.

Thực tiễn áp dụng biện pháp tạm giam trên địa bàn tỉnh
Bắc Kạn (giai đoạn 2010 – 2014)..................................................... 37

2.2.1. Tình hình điều tra, truy tố, xét xử án hình sự trên địa bàn tỉnh
Bắc Kạn .............................................................................................. 37
2.2.2. Tình hình áp dụng biện pháp tạm giam trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn......... 38
2.3.

Những vướng mắc, hạn chế và nguyên nhân của những tồn
tại, hạn chế trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn
tạm giam trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn .............................................. 45

2.3.1. Những vướng mắc trong quy định của pháp luật về biện pháp
ngăn chặn tạm giam............................................................................ 45
2.3.2. Những hạn chế trong công tác áp dụng biện pháp ngăn chặn
tạm giam trong tố tụng hình sự .......................................................... 55
2.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế ........................................... 59
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIAM
VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TẠM
GIAM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN .................................... 63
3.1.

Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự hiện hành về biện pháp tạm giam ............................ 63


3.2.

Những giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về
biện pháp tạm giam .......................................................................... 65

3.2.1. Hoàn thiện quy định về căn cứ tạm giam........................................... 66
3.2.2. Về thời hạn tạm giam ......................................................................... 70
3.2.3. Về thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp tạm giam ................... 72
3.2.4. Về thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam ........................................... 74
3.3.

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện
pháp tạm giam trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn .................................... 76

3.3.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc áp dụng pháp
luật về biện pháp tạm giam trong hoạt động giải quyết các vụ án
hình của các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Bắc Kạn ........................ 76
3.3.2. Tăng cường công tác giải thích và hướng dẫn áp dụng thống
nhất pháp luật về biện pháp tạm giam................................................ 78
3.3.3. Tăng cường tổng kết kinh nghiệm trong hoạt động tố tụng của
các cơ quan tiến hành tố tụng làm cơ sở cho hoạt động áp dụng
pháp luật về biện pháp tạm giam được thực hiện thống nhất ............ 79
3.3.4. Tăng cường nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực trình độ
chuyên môn của đội ngũ người tiến hành tố tụng .............................. 81
3.3.5. Tăng cường điều kiện cơ sở vật chất cho các các cơ quan tiến
hành tố tụng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn và hoàn thiện chế độ
chính sách đối với người tiến hành tố tụng ........................................ 86
3.3.6. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật ..................... 87
KẾT LUẬN .................................................................................................... 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 92


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ADPL:

Áp dụng pháp luật

BLHS:

Bộ luật hình sự

BLTTHS:

Bộ luật tố tụng hình sự

BPNC:

Biện pháp ngăn chặn

BPTG:

Biện pháp tạm giam

CQĐT:

Cơ quan điều tra

CQTHTT: Cơ quan tiến hành tố tụng
HĐXX:

Hội đồng xét xử

TAND:

Tòa án nhân dân

THTG:

Tiến hành tạm giam

THTT:

Tiến hành tố tụng

TTHS:

Tố tụng hình sự

VKS:

Viện kiểm sát

VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
XHCN:

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1: Số liệu thụ lý án hình sự trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn
từ năm 2010 đến 2014

38

Bảng 2.2: Tình hình áp dụng biện pháp tạm giam trên địa bàn
tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn 2010 - 2014

39

Bảng 2.3: Tình hình áp dụng biện pháp ngăn chặn trên địa bàn
tỉnh Bắc Kạn

40

Bảng 2.4: Tổng hợp số bị cáo bị tạm giam của một số loại tội
phạm từ năm 2010 đến năm 2013 của TAND ở tỉnh
Bắc Kạn

41


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cùng với pháp luật hình sự, Pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) là một
trong những công cụ sắc bén và hữu hiệu của Đảng và Nhà nước ta trong
công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, quyền làm
chủ của nhân dân, quyền bình đẳng giữa các dân tộc, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân, duy trì trật tự, an toàn xã hội, đồng thời, pháp luật
hình sự còn góp phần chống lại mọi hành vị phạm tội, giáo dục mọi người ý
thức chấp hành và tuân theo pháp luật.
Trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, các biện pháp ngăn
chặn (BPNC) trong Luật TTHS có ý nghĩa quan trọng. Việc áp dụng các biện
pháp ngăn chặn có ảnh hưởng lớn đến việc giải quyết có hiệu quả nhiệm vụ
của TTHS cũng như kết quả đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
Trong hệ thống các biện pháp ngăn chặn trong Luật TTHS, tạm giam là biện
pháp ngăn chặn quan trọng và nghiêm khắc nhất. Việc áp dụng biện pháp tạm
giam (BPTG) luôn luôn gắn liền với những hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân như: hạn chế quyền tự do của cá nhân, quyền tự do đi lại, quyền
bầu cử, ứng cử… Người bị áp dụng biện pháp này sẽ bị cách ly khỏi xã hội
trong một thời gian nhất định mà với một số trường hợp có thể rất dài. Đây là
những quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận và bảo đảm trong Hiến
pháp. Điều 20 Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
quy định:“Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật
bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy
bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức
khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm” [20, Điều 20]. Quy định này của Hiến
pháp đảm bảo mọi công dân không bị áp dụng BPTG một cách tùy tiện.

1


Nghiên cứu lý luận và thực tiễn áp dụng BPTG ở nước ta nói chung và
ở tỉnh Bắc Kạn nói riêng trong những năm gần đây cho thấy, BPTG được áp
dụng khá phổ biến trong các vụ án hình sự. Việc áp dụng chúng trong nhiều
trường hợp đã ngăn chặn kịp thời hoạt động phạm tội, chặn đứng hành vi
trốn tránh pháp luật của bị can, bị cáo hoặc đảm bảo cho việc thi hành án đạt
kết quả. Bên cạnh những kết quả đạt được, trong thời gian qua cho thấy, vẫn
còn có những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật cũng như nhận
thức của người tiến hành tố tụng về áp dụng biện pháp này. Đó là việc tạm
giam bị can, bị cáo một cách tràn lan, tùy tiện không có căn cứ; áp dụng
BPTG trái pháp luật; sử dụng BPTG như là một biện pháp nghiệp vụ điều
tra; tạm giam bị can, bị cáo với thời hạn quá dài… Những sai sót đó đã ảnh
hưởng nghiêm trọng đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, phần nào dẫn đến việc hạn chế mục đích cần đạt được của TTHS
nói chung và BPTG nói riêng, làm suy giảm niềm tin của người dân đối với
tính tôn nghiêm của pháp luật.
Nguyên nhân của tình hình trên có nhiều nhưng chủ yếu do những quy
định của pháp luật TTHS còn sơ hở, thiếu chặt chẽ, chồng chéo dẫn đến khó
khăn trong việc thống nhất áp dụng pháp luật; trình độ, năng lực của đội ngũ
cán bộ trong các cơ quan tiến hành tố tụng còn bất cập, chưa đáp ứng được
yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Thực tiễn áp dụng các biện pháp ngăn
chặn cũng đã đặt ra nhiều vấn đề vướng mắc đòi hỏi khoa học Luật TTHS
phải tiếp tục nghiên cứu, giải quyết đề làm sáng tỏ về mặt lý luận như: Khái
niệm biện pháp ngăn chặn, khái niệm BPTG, các điều kiện, chủ thể áp dụng
BPTG trong TTHS nhiều lúc còn chưa được áp dụng một cách thống nhất,
còn nhiều vướng mắc, bất cập... Trong khi đó xung quanh những vấn đề lý
luận này, cũng còn nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Chính
vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “BPTG trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
(trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Bắc Kạn” là vấn đề mang tính

2


cấp bách, thiết thực không những về mặt lý luận mà cả về mặt thực tiễn đối
với địa phương trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp ngăn chặn tạm giam nói
riêng là vấn đề quan trọng trong TTHS, trong thời gian qua đã có một số sách,
báo pháp lý ở nước ta đã tiến hành nghiên cứu về việc xây dựng và áp dụng
các biện pháp ngăn chặn nói chung trong đó có biện pháp tạm tam. Có thể kể
đến các công trình nghiên cứu như:
* Ở cấp độ đề tài nghiên cứu khoa học, luận án, luận văn và sách
chuyên khảo có thể kể đến các công trình nghiên cứu như sau:
- Tác giả Phạm Thanh Bình - Nguyễn Vạn Nguyên với sách tham khảo
"Những điều cần biết về bắt người, tạm giữ, tạm giam đúng pháp luật", Nxb,
Sự thật năm 1993;
- Tác giả Võ Khánh Vinh (chủ biên) với cuốn “Bình luận khoa học Bộ
luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Nxb. Công an nhân dân, năm 2004
- Tác giả Nguyễn Văn Điệp với luận án tiến sĩ “Các biện pháp ngăn
chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam – Thực trạng,
nguyên nhân và giải pháp” Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2005;
* Ở cấp độ các bài viết nghiên cứu khoa học trên các tạp chí chuyên
ngành có thể kể đến như:
- Tác giả Phùng Văn Tài với bài viết “Những vướng mắc trong việc áp
dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và
kiến nghị sửa đổi, bổ sung” , Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 8/2012
- Nguyễn Ngọc Khánh với bài viết “Thẩm quyền của Viện kiểm sát
trong việc quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn và các biện pháp
cưỡng chế tố tụng khác trong hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư
pháp”, Tạp chí Kiểm sát, số 1/2011;

3


- Tác giả Đoàn Tấn Minh với bài viết "Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các
biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên theo quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự", Tòa án nhân dân, số 7/2009;
- Tác giả Nguyễn Văn Oanh với bài viết "Hoàn thiện quy định của Bộ
luật tố tụng hình sự về việc tạm giam đối với bị cáo sao khi tuyên án", Tạp chí
Tòa án nhân dân, số 2/2003
- Tác giả Nguyễn Đình Bình với bài viết "Một số ý kiến hoàn thiện
các quy định về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự" Tạp chí
kiểm sát, số 5/2008.
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đây đã nghiên cứu về một số
khía cạnh nhất định của các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự đặc biệt
là BPTG. Tuy nhiên, cho đến hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu nào
ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học trình bày một cách có hệ thống về biện
pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự. Chính vì vậy, việc nghiên cứu
đề tài “BPTG trong luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực
tiễn địa bàn tỉnh Bắc Kạn” mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn được thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu những vấn đề lý
luận của BPTG trong TTHS Việt Nam hiện hành và việc áp dụng biện pháp
này trong thực tiễn ở địa bàn tỉnh Bắc Kạn. Trên cơ sở đó xây dựng hệ thống
giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao hiệu quả của việc áp
dụng BPTG trong thực tiễn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau.
- Nghiên cứu và phân tích sơ lược khái quát quá trình hình thành và
phát triển của BPTG trong TTHS; pháp luật thực định về BPTG, từ đó đưa ra

4


khái niệm về biện pháp ngăn chặn nói chung và khái niệm về biện pháp ngăn
chặn tạm giam nói riêng.
- Nghiên cứu các quy định cụ thể của biện pháp ngăn chặn tạm giam
trong TTHS, và thực trạng áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trên
phạm vi địa giới hành chính cụ thể của một tỉnh để tìm hiểu làm rõ những
vướng mắc, tồn tại, hạn chế và bất cập giữa các quy định luật và thực tiễn
áp dụng từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá để hoàn thiện các quy định
của Luật TTHS hiện hành.
- Đồng thời trên cơ sở nghiên cứu đưa ra một số giải pháp để kiến nghị
sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật TTHS cũng như những giải pháp
nâng cao tính hiệu quả đối với BPTG trong thực tiễn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh biện pháp
ngăn chặn tạm giam trong Luật TTHS Việt Nam, kết hợp với việc nghiên cứu
đánh giá thực trạng áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong thực tiễn địa
bàn tỉnh Bắc Kạn và những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế, vướng
mắc để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện luật thực định và nâng cao hiệu
quả áp dụng biện pháp ngăn chặn trong thực tiễn.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Nghiên cứu và phân tích sơ lược khái quát lịch sử lập pháp TTHS quy
định về BPTG.
Nghiên cứu các quy định thực định của biện pháp ngăn chặn tạm giam
trong Luật TTHS Việt Nam hiện hành. Đồng thời, luận văn cũng đi sâu
nghiên cứu thực tiễn áp dụng biện pháp này của các cơ quan tiến hành tố tụng
trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.
Về thời gian: Tác giả thực hiện luận văn trên cơ sở nghiên cứu thu thập
tài liệu, số liệu thực tiễn trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn trong 5 năm (2010-2014).

5


5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Tác giả thực hiện luận văn trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật và
quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam về đấu
tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an
toàn xã hội và đảm bảo nhân quyền.
Luận văn sử dụng linh hoạt và hợp lý các phương pháp nghiên cứu cụ
thể, bao gồm: Phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, Lôgic kết hợp trên
cơ sở lý luận của khoa học luật hình sự, luật TTHS và các khoa học pháp lý
khác cũng như tham khảo các công trình nghiên cứu của các tác giả, gắn kết
giữa lý luận và thực tiễn là quá trình nghiên cứu các chỉ thị, nghị quyết Bộ
Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác tư
pháp, qua thực tiễn công tác thực hiện các hoạt động TTHS nói chung và biện
pháp ngăn chặn tạm giam nói riêng.
6. Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện
lý luận và thực tiễn, công trình nghiên cứu có hệ thống, chuyên sâu và đầy đủ
về biện pháp ngăn chặn tạm giam, mà trong đó giải quyết nhiều vấn đề quan
trọng về lý luận và thực tiễn liên quan tới biện pháp này trong TTHS Việt Nam.
Những kết quả đạt được của luận văn còn giúp nhận thức đầy đủ về lý
luận và thực tiễn trong đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung cũng như
hoạt động áp dụng BPTG nói riêng.
Luận văn phân tích đánh giá đúng thực trạng hoạt động áp dụng BPTG
trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn; xây dựng được hệ thống giải pháp hữu hiệu và có
tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện tình hình tại địa phương, chỉ ra được
những tồn tại, hạn chế của thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam,
cũng như những nguyên nhân cơ bản của các tồn tại, hạn chế đó.

6


Kết quả của nghiên cứu còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức
chuyên sâu cho các cán bộ đang công tác tại các cơ quan tiến hành tố tụng tại
địa phương tham khảo trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được khách
quan, có căn cứ và đúng pháp luật.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đã đề xuất
các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao hiệu
quả áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong giai đoạn xây dựng Nhà
nước pháp quyền và cải cách tư pháp hiện nay ở Việt Nam.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo đề tài
được kết cấu làm 3 chương.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về biện pháp ngăn chặn tạm
giam theo quy định của luật tố tụng hình sự.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trên địa
bàn tỉnh Bắc Kạn (giai đoạn 2010 – 2014).
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam.

7


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
TẠM GIAM THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm và các vấn đề cơ bản của biện pháp tạm giam trong
Luật tố tụng hình sự Việt Nam
1.1.1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn và mục đích của biện pháp
ngăn chặn
Bộ luật TTHS quy định một loạt các biện pháp cưỡng chế nhà nước do
cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng nhằm thực hiện những mục đích tố tụng
nhất định.
Căn cứ vào mục đích của chúng có thể phân loại các biện pháp cưỡng
chế thành các nhóm sau:
- Nhóm biện pháp cưỡng chế để đảm bảo thu thập và ghi nhận chứng
cứ (khám người, khám nơi ở, xem xét dấu vết...);
- Nhóm biện pháp cưỡng chế để đảm bảo cho quá trình tố tụng được
tiến hành bình thường và thuận lợi (kê biên tài sản, áp giải bị can...);
- Các BPNC (bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh,
đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm).
Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế TTHS thì các BPNC chiếm vị
trí đặc biệt quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến thân thể, quyền con người,
hạn chế một số quyền nhân thân của công dân. Chính vì vậy mà BLTTHS đã
dành một chương riêng để quy định về các BPNC. Để việc hiểu và thực hiện
tốt các quy định về BPNC, nhiều công trình, tài liệu, sách báo đã có những
khái niệm khác nhau về các BPNC.
Từ điển thuật ngữ pháp lý phổ thông của Nhà xuất bản "Sách pháp lý"
Matxcơva, 1973 giải thích rằng:
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế về mặt TTHS do điều tra
8


viên, dự thẩm viên, kiểm sát viên và tòa án áp dụng đối với bị can (người bị
tình nghi) nếu có đủ căn cứ cho rằng bị can trốn tránh việc điều tra, dự thẩm
hoặc trốn tránh tòa án, cản trở việc xác minh sự thật về vụ án, hay sẽ tiếp tục
hoạt động phạm tội, cũng như để đảm bảo việc thi hành án [3, tr.673].
BLTTHS Việt Nam hiện hành mặc dù không đưa ra một khái niệm về
BPNC, tuy nhiên tại Điều 79 BLTTHS 2003 cũng đã quy định các căn cứ áp
dụng các BPNC như sau:
Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị
cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm
tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát
hoặc Tòa án có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây:
bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản
có giá trị để bảo đảm [18].
Các căn cứ này cũng đã phản ánh một phần bản chất của của các BPNC
của pháp luật TTHS Việt Nam. Tuy nhiên, BPNC là biện pháp cưỡng chế tố
tụng rất nghiêm khắc, đòi hỏi phải có sự phân định rõ ràng về chủ thể áp
dụng, về thẩm quyền áp dụng, về đối tượng bị áp dụng, về căn cứ và mục đích
áp dụng để từ đó mới có thể hiểu một cách thấu đáo và vận dụng đúng đắn
vào thực tiễn.
Giáo trình luật TTHS Việt Nam - Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội,
cho rằng: BPNC là biện pháp cưỡng chế trong TTHS áp dụng với bị can, bị
cáo, người phạm tội quả tang và người cần phải bắt trong trường hợp khẩn cấp.
Nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm của họ, ngăn chặn người đó gây khó khăn
cho việc điều tra truy tố, xét xử và tiếp tục phạm tội hoặc trốn [30, tr.133].
Cuốn "Tội phạm học, luật hình sự và TTHS" lại giải thích rằng BPNC
là một loại biện pháp do cơ quan điều tra, VKS và Tòa án áp dụng đối với
người bị tình nghi phạm tội, đối với bị can, bị cáo và cả người bị kết án khi

9


các cơ quan này có căn cứ cho rằng những người này sẽ gây khó khăn cho
việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc tiếp tục phạm tội. BPNC gồm:
Bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản
có giá trị để bảo đảm.
Có thể nói rằng, các sách báo, tài liệu nêu trên đã nêu lên được khía cạnh
này hay khía cạnh khác khái niệm về các BPNC. Một khái niệm hoàn chỉnh,
chính xác về các biện pháp ngăn chặn thì trong khái niệm đó phải hàm chứa tất
cả các dấu hiệu đặc trưng của các BPNC như: căn cứ áp dụng; mục đích áp
dụng; thẩm quyền áp dụng và đối tượng áp dụng biện pháp ngăn chặn. Vì vậy
có thể hiểu:
Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế TTHS do
cơ quan hoặc người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật áp
dụng đối với bị can, bị cáo hoặc đối với người chưa bị khởi tố; khi có
căn cứ do BLTTHS quy định, nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm,
ngăn chặn việc bị can, bị cáo gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố,
xét xử và thi hành án hoặc ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội. Biện pháp
ngăn chặn gồm: Bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo
lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm.
Việc quy định các BPNC nhằm đảm bảo cho hoạt động của các cơ quan
có thẩm quyền được thực hiện thuận lợi, việc chứng minh vụ án đạt kết quả
tốt, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh phòng và chống tội
phạm. Đồng thời góp phần bảo đảm việc thực hiện dân chủ, tôn trọng các
quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo vệ.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của biện pháp ngăn chặn tạm giam
Tạm giam là một BPNC trong TTHS. Nó là biện pháp bảo đảm cho
hoạt động TTHS đạt được hiệu quả cao, đồng thời thể hiện thái độ nghiêm
khắc của Nhà nước đối với người có hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước,

10


lợi ích xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên, khi áp
dụng BPTG vào quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng phải
tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật, để bảo đảm các quyền của
công dân, góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh chống và phòng
ngừa tội phạm. Bản chất pháp lý của BPTG còn thể hiện ở chỗ: đây là những
biện pháp cưỡng chế của Nhà nước áp dụng đối với các đối tượng nhất định
và trong những trường hợp do pháp luật quy định, nhằm ngăn chặn những
hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội hoặc gây cản
trở cho các hoạt động tố tụng.
Theo Điều 88 BLTTHS thì đối tượng bị áp dụng BPTG chỉ có thể là bị
can, bị cáo tức là những người đã bị khởi tố về hình sự hoặc đã bị Tòa án
quyết định đưa ra xét xử và không phải tất cả bị can, bị cáo đều bị tạm giam
mà chỉ áp dụng khi bị can, bị cáo rơi vào trường hợp sau:
- Bị can, bị cáo phạm tội trong những trường hợp đặc biệt nghiêm
trọng, phạm tội rất nghiêm trọng;
- Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà
BLHS quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ để cho rằng người đó có
thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
Là biện pháp cưỡng chế nhà nước, pháp luật nước ta chỉ quy định một
phạm vi hẹp những cơ quan và cá nhân có thẩm quyền áp dụng BPTG, đó là:
- Viện trưởng, phó Viện trưởng VKSND và VKS quân sự các cấp.
- Chánh án, phó chánh án TAND và Tòa án quân sự các cấp.
- Thẩm phán là Chánh tòa, Phó Chánh tòa phúc thẩm TANDTC.
- Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trong trường
hợp này, lệnh tạm giam phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.
Tạm giam là biện pháp tạm thời tước tự do do Cơ quan điều tra, VKS,
Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo trong trường hợp do luật định. Thời hạn

11


tạm giam phụ thuộc vào giai đoạn tố tụng cũng như tính chất phức tạp của vụ
án mà bị can, bị cáo phải thực hiện
Tạm giam là BPNC nghiêm khắc nhất trong số các BPNC. Nếu như các
biện pháp ngăn chặn khác như cầm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc
tài sản có giá trị để bảo đảm chỉ ảnh hưởng đến các quyền tự do khác của
công dân như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do giao tiếp,
quyền hội họp. Còn các biện pháp bắt người, tạm giữ cũng là BPNC nghiêm
khắc, nó cũng hạn chế quyền tự do của công dân, nhưng thời gian hạn chế
quyền tự do trong bắt và tạm giữ ngắn hơn nhiều so với tạm giam. Trong
vòng 24 giờ sau khi bị bắt, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai, ra quyết định
tạm giữ hoặc trả lại tự do cho người bị bắt. Thời gian tạm giữ là 3 ngày đêm
và tối đa là 09 ngày đếm đối với trường hợp có gia hạn tạm giữ. Trong khi đó
thời hạn tạm giam để điều tra có thể lên đến 12 tháng hoặc 16 tháng.
Tạm giam là BPNC nghiêm khắc nhất nhưng tạm giam không phải là
hình phạt tù bởi vì mục đích của tạm giam là ngăn chặn tội phạm và hành vi
trốn tránh pháp luật của người phạm tội, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố,
xét xử hoặc thi hành án được tiến hành đúng đắn, còn hình phạt là biện pháp
cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước do Tòa án áp dụng nhằm trừng phạt
người phạm tội và nhằm mục đích cải tạo họ thành người có ích cho xã hội
Tạm giam là biện pháp có tính chất lựa chọn “có thể áp dụng” tức là
không phải bắt buộc áp dụng đồng loạt cho mọi bị can, bị cáo khi đã có đủ
căn cứ mà những căn cứ chỉ là điều kiện đủ để áp dụng tạm giam
Với mục đích ngăn chặn và phòng ngừa tội phạm, việc quy định
BPTG trong BLTTHS có ý nghĩa rất quan trọng. BPTG góp phần nâng cao
hiệu lục quản lý nhà nước, củng cố, tăng cường pháp chế XHCN, bảo vệ sự
an toàn và vững mạnh của chế độ XHCN, bảo vệ tài sản, tĩnh mạng, sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân, tạm giam đúng sẽ góp phần bảo

12


đảm sự dân chủ, tôn trọng các quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp
quy định như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do cư trú và đi
lại…, tạm giam đúng còn bảo đảm cho việc đấu tranh chống và phòng ngừa
tội phạm có hiệu quả, bảo đảm hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng
được thuận lợi, thể hiện sự chuyên chính của nhà nước XHCN trong việc
đấu tranh phòng chống tội phạm.
Như vậy, có định nghĩa về tạm giam như sau:
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong TTHS do người có
thẩm quyền ở Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối
với bị can, bị cáo phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng,
phạm tội rất nghiêm trọng hoặc bị can, bị cáo phạm tội nghiêm
trọng; phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình
phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc
cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
1.1.3. Mục đích, ý nghĩa của tạm giam
1.1.3.1. Mục đích
Ngoài mục đích chung, thống nhất là ngăn chặn không để bị can, bị cáo
tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án thì ở
mỗi giai đoạn tố tụng nhất định, việc áp dụng BPNC tạm giam còn có mục
đích riêng nhằm bảo đảm thực hiện tốt chức năng tố tụng của cơ quan áp
dụng. Ví dụ: việc áp dụng BPTG trong giai đoạn điều tra tạo điều kiện thuận
lợi cho Cơ quan điều tra tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ từ lời khai của
bị can vào bất cứ khi nào nếu thấy cần thiết mà không phải mất thời gian triệu
tập nhiều lần, giúp cho quản lý giám sát bị can được chặt chẽ; còn việc tạm
giam bị cáo sau khi tuyên án nhằm đảm bảo cho việc thi hành bản án có hiệu
lực pháp luật được thuận tiện.

13


1.1.3.2. Ý nghĩa
Với vai trò là một biện pháp ngăn chặn, tạm giam có ý nghĩa rất lớn
trong việc đấu tranh và phòng chống các loại tội phạm cũng như bảo đảm các
quyền tự do dân chủ của công dân, cụ thể:
Một là, tạm giam góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, củng
cố tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, thể hiện sự kiên quyết của nhà nước
trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm. Với việc áp dụng BPTG sẽ đảm
bảo cho trật tự xã hội được ổn định, pháp luật được giữ vững, chế độ xã hội
chủ nghĩa được bảo vệ, các quyền cũng như lợi ích hợp pháp của công dân
được tôn trọng.
Hai là, tạm giam tạo cơ sở pháp lý vững chắc nhằm đảm bảo sự tôn
trọng các quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận.
Đảm bảo không một công dân nào bị tạm giam trái pháp luật, khi áp dụng
BPTG không đúng pháp luật quy định, công dân có quyền khiếu nại đến các
chủ thể có thẩm quyền.
Ba là, tạm giam là biện pháp hữu hiệu bảo đảm cho hoạt động điều tra,
truy tố, xét xử và thi hành án đạt hiệu quả cao nhất. Bởi đây là biện pháp bảo
đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của CQTHTT, đảm bảo
sự chính xác, khách quan của hoạt động tố tụng, ngăn ngừa các đối tượng tiếp
tục phạm tội hoặc tìm cách xóa dấu vết phạm tội, chứng cứ, tài liệu liên quan
đến vụ án. Ngoài ra, tạm giam còn đảm bảo cho việc thi hành đúng pháp luật
và hiệu lực của bản án đã được tuyên.
Cuối cùng, tạm giam thể hiện tính ưu việt của nhà nước ta. Đó là biện
pháp bảo đảm cho mọi công dân được sống trong xã hội mà quyền và lợi ích
hợp pháp của họ được tôn trọng và bảo vệ, tránh được sự tấn công, xâm hại từ
phía các đối tượng nhất định, bảo đảm cho mọi công dân yên tâm sinh sống,
học tập, làm việc tham gia vào công tác đấu tranh phòng chống tội phạm đạt
hiệu quả cao nhất.
14


1.2. Nội dung quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về
biện pháp ngăn chặn tạm giam
1.2.1. Đối tượng áp dụng biện pháp tạm giam
Về đối tượng áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, theo quy định
của khoản 1 Điều 88 BLTTHS 2003 thì:
Tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những
trường hợp sau đây:
a) Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất
nghiêm trọng;
b) Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm
trọng mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có
căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy
tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội [18, Điều 88, Khoản 1].
Theo quy định trên thì đối tượng có thể bị áp dụng BPTG chỉ có thể là
bị can, bị cáo. Bị can là “người đã bị khởi tố về hình sự” (Khoản 1 Điều 49
BLTTHS 2003), tức là những người có quyết định khởi tố bị can về một tội
phạm cụ thể được quy định trong BLHS. Còn bị cáo là “người đã bị Tòa án
quyết định đưa ra xét xử” (Khoản 1 Điều 50 BLTTHS 2003). Tuy nhiên,
không phải tất cả bị can, bị cáo đều bị áp dụng BPTG, mà chỉ áp dụng đối với
họ trong hai trường hợp sau:
- Thứ nhất, bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất
nghiêm trọng. Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc
biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là
trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình; tội phạm rất nghiêm trọng
là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình
phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù (Khoản 3 Điều 8 BLHS) [18]. Nếu
bị can, bị cáo thuộc những trường hợp này, người có thẩm quyền ra lệnh tạm
giam có thể tạm giam ngay mà không cần có thêm căn cứ nào khác.

15


- Thứ hai, bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm
trọng mà BLHS quy định hình phạt từ trên hai năm và có căn cứ cho rằng
người đó có thể bỏ trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể
tiếp tục phạm tội. Theo quy định của BLTTHS, tạm giam chỉ áp dụng đối
với những bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình
phạt tù trên hai năm. Đối với bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng mà
BLHS quy định hình phạt từ hai năm trở xuống hoặc hình phạt khác không
phải là hình phạt tù thì không áp dụng BPTG. Nếu xét thấy cần thiết, thì
CQTHTT có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn khác như cấm đi khỏi nơi cư
trú, bão lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Trong trường hợp bị
can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy
định tù trên hai năm, để tạm giam họ cần có thêm điều kiện thứ hai đó là,
căn cứ cho rằng họ có thể bỏ trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử
hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
Để có thể xác định được thế nào là căn cứ cho rằng bị can, bị cáo có thể
bỏ trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội, thì
thường căn cứ vào nhân thân bị can, bị cáo, thái độ của họ sau khi phạm tội
hoặc những vi phạm nghĩa vụ của bị can, bị cáo khi được áp dụng biện pháp
ngăn chặn khác ít nghiêm khắc.
Thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa BLTTHS 2003 quy định
những trường hợp không được áp dụng BPTG, gồm:
+ Bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba
mươi sáu tháng tuổi,
+ Người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng.
Tuy nhiên, những đối tượng này có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn
tạm giam trong những trường hợp đặc biệt đó là:
+ Bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã;

16


+ Bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác
nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến
việc điều tra, truy tố, xét xử;
+ Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có
đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy
hại đến an ninh quốc gia [18, Điều 88, Khoản 2].
Với quy định này, BLTTHS đã thể hiện khá rõ nét nguyên tắc nhân đạo
xã hội chủ nghĩa, tôn trọng quyền con người, bảo vệ quyền trẻ em. Với điều
kiện sinh hoạt trong các trại tạm giam thì không thể đảm bảo những nhu cầu
thiết yếu của phụ nữ mang thai, nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi người
già yếu và người bị bệnh nặng. Hơn nữa trong những trường hợp này thì bị
can, bị cáo đã có nơi cư trú rõ ràng, nếu họ không thuộc các trường hợp đặc
biệt kể trên, các CQTHTT có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn khác để đảm
bảo sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của CQTHTT.
1.2.2. Quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam
Theo quy định tại BLTTHS 2003, những người sau đây có quyền ra
lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam:
- Viện trưởng, Phó viện trưởng VKSND và VKSQS các cấp;
- Chánh án, Phó chánh án TAND và TAQS các cấp;
- Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa phúc
thẩm TANDTC; Hội đồng xét xử;
- Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT các cấp. Trong trường
hợp này, lệnh tạm giam phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước
khi thi hành [19, Điều 80, Khoản 1].
Như vậy, thẩm quyền áp dụng BPTG được quy định cho nhiều cơ quan
với nhiều chủ thể khác nhau tùy thuộc vào các giai đoạn tố tụng. VKS với
chức năng là cơ quan kiểm sát các hoạt động tư pháp sẽ kiểm tra, giám sát

17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×