Tải bản đầy đủ

LVTS 2015 giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh hà giang

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

KIM SƠN TRÚC

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN SỰ
TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

KIM SƠN TRÚC


GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN SỰ
TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số

: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Tuân

HÀ NỘI - 2015

2


Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Kim Sơn Trúc

3


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
1


MỞ ĐẦU

Chương 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

8

DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1.

Khái niệm, ý nghĩa của giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án

8

hình sự
1.1.1. Khái niệm giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

8

1.1.2. Ý nghĩa của giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

17

1.2.

Bản chất và phạm vi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

19

1.3.

Khái quát lịch sử quy định của pháp luật Việt Nam về giải

24

quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
1.3.1. Giai đoạn từ 1945 đến 1988

25

1.3.2. Giai đoạn từ 1988 đến nay

26

1.4.

29

Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự trong luật tố tụng
hình sự một số nước trên thế giới

1.4.1. Bộ luật Tố tụng hình sự của liên bang Nga

29

1.4.2. Luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

31

1.4.3. Luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hòa Pháp

33

1.4.4. Luật Điều tra và tố tụng hình sự của Vương quốc Anh

36

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

39

DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG

2.1.

Quy định của pháp luật về giải quyết vấn đề dân sự trong vụ
án hình sự

4

39


2.1.1. Những quy định chung

39

2.1.2. Về tách việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

41

2.1.3. Về giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

43

2.2.

63

Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về việc giải quyết vấn
đề dân sự trong vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Giang

2.2.1. Tình hình giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự trên

63

địa bàn tỉnh Hà Giang
2.2.2. Hạn chế trong việc áp dụng quy định của pháp luật về giải

72

quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Hà
Giang và nguyên nhân
Chương 3:

YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG

82

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ

3.1.

Yêu cầu về nâng cao chất lượng giải quyết vấn đề dân sự

82

trong vụ án hình sự
3.2.

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định

85

của pháp luật về giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
3.2.1. Về lập pháp

85

3.2.2. Về áp dụng pháp luật

90

3.2.3. Về công tác cán bộ

92

KẾT LUẬN

95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

98

5


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Tên bảng

Trang

Số liệu về công tác giải quyết, xét xử sơ thẩm các loại án

68

bảng
2.1

của Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Hà Giang từ năm
2010 đến năm 2014
2.2

Tổng hợp số vụ án hình sự có giải quyết vấn đề dân sự từ

68

năm 2010 - 2014 tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang
2.3

Tổng hợp số vụ án hình sự có giải quyết vấn đề dân sự bị

69

kháng cáo, kháng nghị phần dân sự từ năm 2010 - 2014
tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang
2.4

Số liệu thống kê kết quả thi hành án dân sự trong hình sự
theo đơn yêu cầu các năm từ 2010 đến 2014

6

71


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động xét xử là hoạt động có tính đặc thù và chỉ do Tòa án thực
hiện. Do đó, yêu cầu tối cao và cũng là cái mốc để đánh giá hiệu quả của công
tác xét xử là phải khách quan, toàn diện và đầy đủ; xét xử đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật; không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Đồng
thời với việc giải quyết vụ án hình sự, pháp luật Việt Nam cho phép Tòa án
giải quyết cả vấn đề dân sự liên quan đến tội phạm. Công dân không chỉ được
pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khỏe mà cả tài sản, danh dự và nhân
phẩm... Yêu cầu xét xử đối với vụ án hình sự không chỉ là giải quyết tốt về
mặt hình sự mà cần giải quyết tốt cả vấn đề dân sự có liên quan.
Trong thực tế việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự còn có
những hạn chế nhất định, thậm chí cách hiểu và áp dụng còn lúng túng từ các
cơ quan xét xử. Các Tòa án chỉ chú trọng đến phần hình sự mà ít chú trọng đến
phần dân sự có liên quan trong vụ án. Bên cạnh đó, Hà Giang là một tỉnh miền
núi, có nhiều dân tộc, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí
còn hạn chế. Tình hình tội phạm diễn ra phức tạp, nhiều trường hợp phạm tội
xảy ra do lạc hậu, mê tín dị đoan, do không hiểu biết pháp luật... dẫn đến việc
trong quá trình xét xử Tòa án phải áp dụng quy định về giải quyết vấn đề dân
sự trong vụ án hình sự. Tuy nhiên thực tiễn áp dụng quy định này trong quá
trình xét xử các vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh còn có những sai sót nhất định.
Mặt khác, trong khoa học luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay, việc
nghiên cứu về nội dung giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự tuy đã có
những bài viết, luận văn nghiên cứu về vấn đề này nhưng những nghiên cứu
đó chưa thật sự sâu sắc, đầy đủ, có hệ thống và toàn diện, chủ yếu chỉ dừng lại
ở các bài báo hoặc trong công trình nghiên cứu về hoạt động xét xử của Tòa
án. Trong khi đó, Đảng và nhà nước ta đã ban hành các văn bản quan trọng về

7


cải cách tư pháp như: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ
Chính trị về "Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian
tới", Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 25/4/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến
lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định
hướng đến năm 2020". Đặc biệt Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của
Bộ Chính trị về "Chiến lược cải cách đến năm 2020" đã xác định: "Sớm hoàn
thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp phù hợp mục tiêu của
chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Coi trọng việc hoàn
thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa
và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội..." [13] Hoàn thiện các
quy định pháp luật về giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự cũng là
một nội dung quan trọng trong công tác hoàn thiện chính sách pháp luật hình
sự và thủ tục tố tụng tư pháp.
Có thể nói, giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là vấn đề
phức tạp cả về lý luận và thực tiễn áp dụng. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu
sâu sắc hơn nữa những vấn đề lý luận và đặc biệt là thực tiễn về "giải quyết
vấn đề dân sự trong vụ án hình sự", đồng thời đánh giá việc áp dụng vấn đề
này trong thực tiễn áp dụng là cần thiết. Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá từ
thực tiễn áp dụng nguyên tắc này trên phạm vi địa bàn tỉnh Hà Giang để đưa
ra những kiến giải lập pháp và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các
quy phạm về vấn đề này trong giai đoạn hiện nay không những có ý nghĩa lý
luận - thực tiễn và pháp lý quan trọng, mà còn là vấn đề mang tính cấp thiết.
Đây cũng là lý do luận chứng cho việc bản thân quyết định chọn đề tài "Giải
quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng trên địa bàn
tỉnh Hà Giang" làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Quy định về giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự đã được
nghiên cứu ở nhiều phương diện, phạm vi khác nhau nhằm làm sáng tỏ các

8


vấn đề mang tính chất lý luận và thực tiễn được công bố trong các công trình
khoa học, giáo trình giảng dạy, bài viết, bài bình luận trên các tạp chí như:
Cấp độ luận văn thạc sĩ luật học có đề tài "Nguyên tắc giải quyết vấn
đề dân sự trong vụ án hình sự" của Nguyễn Thị Thu Hương bảo vệ năm 2009
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Ngoài ra, một số tác giả cũng đã công bố những bài báo khoa học đề
cập đến các vấn đề về giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự như: Đinh
Văn Quế, "Vấn đề kháng nghị giám đốc thẩm về "dân sự" trong vụ án hình
sự", Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9, 2005; Đỗ Văn Đại, "Bàn về việc giải
quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự", Tạp chí Kiểm sát, số 9, 2007;
Nguyễn Xuân Đang, "Giải quyết trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự",
Tạp chí Tòa án nhân dân, số 21, 2005; Nguyễn Văn Tuân, "Bản chất và phạm
vi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự", Tạp chí Dân chủ và pháp
luật, số 8, 2011; Nguyễn Văn Tuân, "Thủ tục giải quyết việc kiện dân sự trong
vụ án hình sự", Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 9, 2011; Hoàng Thị Sơn,
"Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự", Tạp chí Luật học, số 6,
1998; Trọng Tài, "Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều xác định
sai vấn đề dân sự trong vụ án hình sự", Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6, 2006;
Nguyễn Ngọc Chí: "Bàn về nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án
hình sự", Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học 26, 2010 v.v...
Trên cơ sở nghiên cứu cho thấy, các tác giả chủ yếu nghiên cứu ở từng
khía cạnh của vấn đề. Hiện nay chưa có một cuốn giáo trình, sách chuyên
khảo, bình luận chuyên biệt, tổng hợp đầy đủ về vấn đề này. Giải quyết vấn
đề dân sự trong vụ án hình sự chủ yếu mới chỉ được nghiên cứu riêng chủ yếu
qua các bài viết của các nhà khoa học. Hiện nay cũng chưa có công trình nào
nghiên cứu về việc giải quyết vấn đề dân sự trong thực tiễn giải quyết các vụ
án hình sự phát sinh trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Do vậy, giải quyết vấn đề
dân sự trong vụ án hình sự cần được quan tâm nghiên cứu hơn nữa để chế

9


định này ngày càng hoàn thiện, góp phần nâng cao hiệu quả trong thực tiễn
giải quyết các vụ án hình sự, góp phần vào công tác đấu tranh phòng, chống
tội phạm trong giai đoạn hiện nay trên cả nước nói chung và thực tiễn áp dụng
trên địa bàn tỉnh Hà Giang nói riêng.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về
thủ tục giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự và tổng hợp các quan
điểm của các nhà khoa học đã nghiên cứu về vấn đề này để làm sáng tỏ bản
chất của việc giải quyết vấn đề dân sự trong các vụ án hình sự gồm: những
vấn đề chung nhất về giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự như khái
niệm, bản chất và ý nghĩa, phạm vi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình
sự cũng như thủ tục giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự...
Trên cơ sở nghiên cứu các quy định pháp luật về thủ tục giải quyết
vấn đề dân sự và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về thủ tục giải
quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự trên tại địa bàn tỉnh Hà Giang, luận
văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả trong thực
tiễn áp dụng các quy định pháp luật về giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án
hình sự.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ
yếu sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề chung về giải quyết vấn đề dân sự trong
vụ án hình sự, như: Khái niệm, ý nghĩa nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự
trong vụ án hình sự; bản chất và phạm vi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án
hình sự v.v...
- Nghiên cứu các quy định chung về giải quyết vấn đề dân sự trong vụ
án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam; thủ tục giải

10


quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh
Hà Giang.
- Đưa ra các kiến nghị, đề xuất một số quan điểm và giải pháp hoàn
thiện về quy định giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự trong pháp
luật tố tụng hình sự hiện hành, cũng như những giải pháp nâng cao hiệu quả
áp dụng của quy định này trong thực tiễn.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề lý luận chung về
giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự Việt
Nam, kết hợp với việc nghiên cứu, đánh giá tình hình áp dụng quy định về
giải quyết vấn đề dân sự trong giải quyết vụ án hình sự trong thực tiễn xét
xử của Tòa án hai cấp trên địa bàn tỉnh Hà Giang và những nguyên nhân tồn
tại, hạn chế để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện luật thực định và nâng
cao hiệu quả áp dụng quy định giải quyết vấn đề dân sự trong thực tiễn xét
xử các vụ án hình sự.
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng việc giải quyết
vấn đề dân sự trong quá trình xét xử các vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Hà
Giang trong 05 năm (2010 - 2014).
5. Phƣơng pháp luận và các phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật
lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về
Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà
nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể
hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết số
08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về
Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các
phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp

11


phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn
dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để
tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề tương
ứng được nghiên cứu trong luận văn.
6. Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp xác định
được khái niệm, nội dung, thủ tục giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình
sự từ đó đưa ra những kiến nghị về mặt lập pháp nhằm xây dựng và hoàn
thiện quy định giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Việc xây dựng
các quy phạm pháp luật phù hợp, đầy đủ, có hệ thống sẽ là cơ sở pháp lý quan
trọng để giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự.
Về thực tiễn: Nghiên cứu một cách khá toàn diện và có hệ thống về
việc áp dụng các quy định pháp luật về giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án
hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Giang, phân tích những vấn đề chung về giải
quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh, từ đó đưa ra những
hạn chế, nguyên nhân của nó trong việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án
hình sự trên địa bàn, nêu lên những điểm bất cập trong các quy định của pháp
luật hình sự và tố tụng hình sự hiện hành về vấn đề này, đồng thời đưa ra
những giải pháp, kiến giải để nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc giải
quyết vấn đề dân sự trong luật tố tụng hình sự Việt Nam và trong thực tiễn thi
hành quy định này trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên, có
tính hệ thống và tương đối toàn diện về thực tiễn áp dụng nguyên tắc giải quyết
vấn đề dân sự trong vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Giang ở cấp độ một
luận văn thạc sĩ luật học với những đóng góp về mặt khoa học đã nêu trên.
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn giúp các cơ quan
tiến hành tố tụng xác định và áp dụng đúng đắn, thống nhất nguyên tắc, trình

12


tự, thủ tục giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự trong quá trình giải
quyết vụ án, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy phạm pháp luật.
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích
dành cho không chỉ các nhà lập pháp, mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán
bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên
thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật. Kết quả
nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức cho
các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá
trình giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được khách quan, có căn cứ
và đúng pháp luật.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về giải quyết vấn đề dân sự trong vụ
án hình sự.
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về giải quyết vấn
đề dân sự trong vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng giải quyết vấn
đề dân sự trong vụ án hình sự.

13


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA CỦA GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN SỰ TRONG
VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1.1. Khái niệm giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
Hành vi phạm tội xảy ra không chỉ xâm hại đến những quan hệ do pháp
luật hình sự bảo vệ mà còn xâm hại đến các quan hệ dân sự, nên có hai loại trách
nhiệm được đặt ra khi giải quyết vụ án hình sự, đó là: Trách nhiệm hình sự và
trách nhiệm dân sự. Có nghĩa là, khi giải quyết vụ án hình sự mà tội phạm xâm
hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản… của cá nhân, tổ chức
thì ngoài việc điều tra, truy tố, xét xử về hình sự, áp dụng, thi hành hình phạt đối
với người phạm tội, các cơ quan tiến hành tố tụng còn phải giải quyết vấn đề bồi
thường thiệt hại về vật chất và tinh thần cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại. Luật
tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay đã quy định về giải quyết vấn đề dân sự
trong vụ án hình sự tại Điều 28, Chương II, Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, đó là:
Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến
hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự. Trong trường hợp vụ án
hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường, bồi hoàn mà chưa có điều
kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình
sự thì có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự [24].
Tuy nhiên, vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là gì? Khái niệm giải
quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là gì thì hiện nay còn có những nhận
thức, quan điểm khác nhau, như:
Quan điểm của tác giả Dương Văn Thăng thì vấn đề bồi thường thiệt
hại trong vụ án hình sự không phải là vấn đề dân sự thuần túy, mà vấn đề này
có ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, thủ tục tố tụng về

14


bồi thường trong trường hợp này cũng có những đặc điểm riêng. Do vậy vấn
đề bồi thường phải được quy định trong Bộ luật Hình sự làm căn cứ cho việc
giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự [32].
Theo tác giả Đinh Văn Quế cho rằng, "dân sự" trong vụ án hình sự chỉ
bao gồm những khoản tiền hoặc tài sản có liên quan đến việc trả lại tài sản,
sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 42 Bộ luật Hình sự, hay
nói cách khác là "dân sự" trong vụ án hình sự chỉ trong phạm vi "trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng" theo quy định tại Chương V Bộ luật Dân
sự năm 1995 (nay là chương XXI Bộ luật Dân sự 2005) [19]. Đó là những
quan hệ bồi thường thiệt hại phát sinh do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm, tài sản của tổ chức, cá nhân bị tội phạm xâm hại.
Theo Công văn số 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003 của Tòa án nhân
dân tối cao về việc giải quyết vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại
trong vụ án hình sự (sau đây gọi tắt là Công văn 121/2003/KHXX) thì phần dân
sự trong vụ án hình sự bao gồm: Việc đòi trả lại tài sản bị chiếm đoạt, đòi bồi
thường giá trị tài sản do bị can, bị cáo chiếm đoạt nhưng bị mất hoặc bị hủy hoại,
buộc phải sửa chữa tài sản bị hư hỏng, đòi bồi thường thiệt hại về lợi ích gắn liền
với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt
hại do tài sản bị chiếm đoạt, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng; đòi bồi thường thiệt
hại do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại.
Như vậy, khái niệm "dân sự" là một khái niệm rộng và khó xác định.
Điều 28 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 cũng không xác định rõ giải quyết "vấn đề
dân sự" là giải quyết cái gì? Điều 28, Bộ luật Tố tụng hình sự có đoạn quy định:
"... Trong trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường, bồi
hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết
vụ án hình sự thì có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự" [24].
Như vậy, có thể hiểu "vấn đề dân sự" trong vụ án hình sự gồm không chỉ là
bồi thường mà cả bồi hoàn. Theo tinh thần của Điều 28 Bộ luật Tố tụng hình

15


sự thì "vấn đề dân sự" là vấn đề có thể được giải quyết cùng vụ án hình sự và
cũng có thể giải quyết riêng theo thủ tục tố tụng dân sự. Theo quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự thì những vụ việc được giải quyết theo thủ tục tố tụng
dân sự là những vụ việc dân sự.
Chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả Đinh Văn Quế cho rằng,
"dân sự" trong vụ án hình sự không phải là tất cả những gì có liên quan đến
tiền hoặc tài sản mà Tòa án xét xử và quyết định, vì trong quá trình giải quyết
vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng còn áp dụng một số biện pháp tư pháp có
liên quan đến tiền hoặc tài sản như: tịch thu công cụ, phương tiện dùng vào
việc phạm tội; tịch thu vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác
những thứ ấy mà có; tịch thu vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành; tịch thu
hoặc trả lại vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép; tịch
thu hoặc trả lại vật, tiền của người khác mà người phạm tội đã sử dụng vào
việc thực hiện tội phạm... Các quyết định này tuy có liên quan đến tài sản
nhưng không phải là quan hệ dân sự giữa những người tham gia tố tụng trong
vụ án hình sự và được giải quyết theo luật hình sự và tố tụng hình sự [19].
Vì vậy, "vấn đề dân sự" không thể được quy định trong Bộ luật Hình
sự và không thể là căn cứ để giải quyết vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do tội phạm gây ra, mà nó phải được quy định trong Bộ luật Dân sự, bởi lẽ
nó là "vấn đề dân sự" chứ không phải là "vấn đề hình sự", mặc dù nó có quan
hệ nhất định đến vụ án hình sự. Tuy nhiên không phải tất cả những quy định
của Chương XXI của Bộ luật Dân sự 2005 về trách nhiệm bồi thường ngoài
hợp đồng đều là "vấn đề dân sự" trong vụ án hình sự. Chỉ có những thiệt hại
nào do tội phạm gây ra và trách nhiệm bồi thường thiệt hại đó mới là "vấn đề
dân sự" trong vụ án hình sự hay nói một cách chính xác hơn đây là việc kiện
dân sự đòi bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra. Căn cứ để xác định trách
nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm các yếu tố: Có tội phạm xảy ra, có thiệt
hại, có quan hệ nhân quả giữa tội phạm và thiệt hại.

16


Từ những phân tích trên, ta có thể đưa ra khái niệm giải quyết vấn đề
dân sự trong vụ án hình sự như sau: Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án
hình sự là trình tự, thủ tục giải quyết việc đòi bồi thường những thiệt hại do
tội phạm gây ra.
Từ khái niệm trên, chúng ta có thể đưa ra những đặc điểm cơ bản của
giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự như sau:
Thứ nhất: Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là một trong
những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự nên nó chứa đựng những
nội dung thể hiện phương châm, định hướng của Đảng và Nhà nước ta về việc
giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự.
Về nguyên tắc, thì mọi vấn đề liên quan đến "phần dân sự" thì đương
sự có quyền tự định đoạt, do đó vấn đề dân sự trong vụ án hình sự đương sự
có quyền có thể khởi kiện vụ án dân sự riêng biệt với vụ án hình sự tại Tòa
dân sự. Tuy nhiên, phần dân sự của vụ án sẽ chưa được xét xử chừng nào phần
hình sự của vụ án chưa được xét xử xong, nếu đã khởi tố hình sự, tức là một khi
cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố vụ án hình sự thì phải xem xét giải quyết
xong vấn đề hình sự rồi mới xem xét giải quyết vấn đề dân sự. Đó là nguyên tắc
"Hình hoãn hộ". Theo đó, vấn đề hình sự chưa giải quyết thì không thể giải
quyết vấn đề dân sự làm như vậy để tránh cho Tòa hình sự và Tòa dân sự cùng
xử lý một vụ việc có thể đưa ra hai bản án trái ngược nhau, như trường hợp Tòa
hình sự không kết tội, còn Tòa dân sự bắt bị cáo bồi thường thiệt hại hoặc
ngược lại, điều này có thể ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của các bên đương
sự. Do đó, để thể hiện tính nhân đạo trong pháp luật của nhà nước ta, Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2003 xác định việc giải quyết vấn đề dân sự được tiến
hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự và trong trường hợp vụ án hình
sự phải giải quyết vấn đề bồi thường, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng
minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì có thể tách ra
để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

17


Thứ hai: Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự chỉ có phạm vi
áp dụng đối với những quan hệ về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
xuất hiện do việc thực hiện tội phạm.
Có nhiều vấn đề dân sự phát sinh do việc thực hiện tội phạm gây thiệt
hại cho các quan hệ dân sự, bao gồm: Hành vi phạm tội xâm hại đến sức
khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, tài sản thì ngoài việc làm phát sinh
trách nhiệm hình sự còn làm phát sinh trách nhiệm dân sự của những người
tham gia tố tụng. Hoặc những vấn đề có liên quan đến tiền và tài sản như:
tang vật, án phí, tịch thu vật, tiền hoặc tài sản do phạm tội mà có, đòi lại tài
sản, đòi bồi thường thiệt hại… Tuy nhiên, không phải tất cả vấn đề dân sự nào
liên quan đến tiền hoặc tài sản mà cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết cũng
đều nằm trong phạm vi điều chỉnh của qui định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng
hình sự. Bởi lẽ, việc Tòa án áp dụng việc trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi
thường thiệt hại theo quy định tại Điều 42 Bộ luật Hình sự và xử lý vật chứng
theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự tuy có liên quan đến tài sản
nhưng không phải là quan hệ dân sự giữa những người tham gia tố tụng trong
vụ án hình sự và được giải quyết theo luật hình sự, tố tụng hình sự và trách
nhiệm giải quyết thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng. Theo đó, vấn đề dân sự
trong vụ án hình sự chỉ bao gồm việc đòi trả lại tài sản bị chiếm đoạt, đòi bồi
thường giá trị tài sản do bị can, bị cáo chiếm đoạt nhưng bị mất hoặc bị hủy
hoại, buộc phải sửa chữa tài sản bị hư hỏng, đòi bồi thường thiệt hại về lợi ích
gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc
phục thiệt hại do tài sản bị chiếm đoạt; đòi bồi thường thiệt hại về vật chất
và tinh thần do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm
phạm. Nói cách khác, vấn đề dân sự trong vụ án hình sự bao gồm không chỉ
vấn đền bồi thường mà cả bồi hoàn và được xác định trong phạm vi "trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng" theo quy định tại chương XXI
Bộ luật Dân sự 2005 và đó là những quan hệ bồi thường thiệt hại phát sinh

18


do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của tổ chức, cá nhân bị
tội phạm xâm hại.
Thứ ba: Vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được giải quyết cùng với
việc giải quyết vấn đề hình sự sau khi khởi tố vụ án hình sự. Quyết định khởi
tố vụ án hình sự là văn bản pháp lí xác định có sự việc phạm tội, làm cơ sở
cho các hoạt động điều tra. Do đó, khi vụ án hình sự có vấn đề dân sự phát
sinh do việc thực hiện tội phạm bị khởi tố thì việc dân sự đó được xem xét và
giải quyết mà không cần phải khởi kiện riêng bằng một thủ tục khác nữa.
Theo thủ tục tố tụng dân sự thì vụ án dân sự chỉ được đặt ra và xem xét giải
quyết khi có đơn khởi kiện của các chủ thể có quyền khởi kiện theo quy định
tại Điều 161, 162 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, theo đó, cá nhân, tổ chức
có quyền tự mình hoặc thông qua đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho mình và tòa án chỉ giải quyết khi có đơn khởi
kiện dân sự. Trong vụ án hình sự, khi vụ án hình sự đã khởi tố vụ án mà có
vấn đề dân sự liên quan đến việc thực hiện tội phạm thì các cơ quan tiến hành
tố tụng sẽ xem xét giải quyết vấn đề dân sự, chứng minh có thiệt hại về vật
chất, tài sản… là việc giải quyết phần hình sự của vụ án đồng thời cũng chính
là việc chứng minh mức độ thiệt hại, giá trị tài sản cần được bồi thường cho
người bị hại. Còn đối với trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do
tội phạm gây ra được xác định là nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự thì
trong quá trình giải quyết vụ án hình sự người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến
hành tố tụng phải tuân theo nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của
đương sự, đó là việc nguyên đơn có quyền yêu cầu hoặc không yêu cầu đòi
bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp này Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
quy định vấn đề dân sự chỉ được giải quyết cùng vụ án hình sự khi họ có đơn
yêu cầu bồi thường thiệt hại. Thời điểm nguyên đơn dân sự có đơn yêu cầu
bồi thường là thời điểm vấn đề dân sự trong vụ án hình sự bắt đầu được giải
quyết. Để bảo vệ quyền lợi của mình, trong trường hợp này nguyên đơn dân

19


sự cần phải chứng minh mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra, trong đó có
những thiệt hại mà cơ quan tiến hành tố tụng không thể và không có trách
nhiệm chứng minh. Thông thường đơn yêu cầu được thực hiện sau khi có quyết
định khởi tố vụ án hình sự, nhưng trước khi kết thúc xét hỏi tại phiên tòa.
Thứ tư: Quá trình giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự có sự
tham gia của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc chứng minh, xác định mức
độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
Trong vụ án dân sự bình thường, về nguyên tắc thì nghĩa vụ chứng
minh cho yêu cầu của mình thuộc trách nhiệm của đương sự, trách nhiệm của
bên đi kiện. Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự cũng không
phải ngoại lệ. Tuy nhiên, Trong trường hợp vấn đề dân sự được giải quyết
trong vụ án hình sự, ở đây được hiểu là giải quyết việc tranh tụng dân sự
trong vụ án hình sự và do Tòa hình sự giải quyết, về nguyên tắc vì là được
giải quyết bởi Tòa hình sự nên khi xem xét giải quyết vụ án Tòa án phải áp
dụng các quy định, trình tự, thủ tục của luật tố tụng hình sự để giải quyết. Tuy
nhiên, việc giải quyết vấn đề dân sự trong cùng vụ án hình sự về bản chất vẫn
là giải quyết mối quan hệ dân sự, do đó không thể áp dụng thủ tục hình sự để
giải quyết vấn đề dân sự mà phải áp dụng thủ tục tố tụng dân sự để giải quyết.
Hay nói cách khác, giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự phải được
giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự nằm trong thủ tục tố tụng hình sự nói
chung. Theo tác giả PGS.TS Hoàng Thị Sơn thì:
Tranh tụng dân sự nhằm giải quyết các vấn đề dân sự song
khi áp dụng vào tố tụng hình sự nó trở thành chế định pháp luật tố
tụng hình sự. Vậy, khái niệm tranh tụng dân sự phải được hiểu
thống nhất trong tố tụng dân sự cũng như trong tố tụng hình sự.
Ngoài những đặc điểm chung tranh tụng dân sự trong tố tụng hình
sự có những đặc điểm riêng của nó như có sự tham gia của cơ quan
điều tra và việc xác định mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây

20


ra. Sự thống nhất đó đòi hỏi: Quá trình áp dụng, phương pháp, thủ
tục giải quyết các tranh chấp dân sự trong tố tụng hình sự không
được trái với quy định chung của pháp luật tố tụng dân sự trừ
trường hợp đặc biệt có quy định cụ thể trong pháp luật tố tụng hình
sự nhưng không gây thiệt hại cho đương sự so với tố tụng dân sự.
Trong trường hợp luật tố tụng dân sự không quy định thủ tục tranh
tụng dân sự thì việc áp dụng ấy phải xuất phát từ quy định chung
của luật tố tụng dân sự [28].
Như vậy, dù là vấn đề dân sự trong vụ án hình sự nhưng thực chất đó
vẫn là quan hệ dân sự, do đó cần phải đảm bảo quyền bình đẳng thỏa thuận
giữa các đương sự khi tham gia tố tụng.
Tuy nhiên, một điểm khác biệt quan trọng là trong tố tụng hình sự,
việc chứng minh tội phạm thuộc trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố
tụng. Cơ quan tiến hành tố tụng phải điều tra, thu thập chứng cứ để chứng
minh tội phạm. Vấn đề dân sự phát sinh khi có hành vi phạm tội xảy ra được
giải quyết trong vụ án hình sự nên trước hết phải tuân theo các nguyên tắc của
tố tụng hình sự, do vậy các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm điều tra,
thu thập chứng cứ để làm sáng tỏ vụ án bao gồm cả việc điều tra, thu thập
chứng cứ để làm rõ về phần trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự. Trường
hợp các đương sự không cung cấp được chứng cứ về vấn đề dân sự mà những
vấn đề dân sự này có liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị
cáo thì cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải điều tra, làm rõ những thiệt hại đã
xảy ra, trên cơ sở đó xác định được mức bồi thường thiệt hại. Theo quan điểm
của PGS.TS. Hoàng Thị Sơn cho rằng:
Nếu vấn đề dân sự được giải quyết ngay trong vụ án hình sự
thì cơ quan điều tra có thể làm sáng tỏ các tình tiết liên quan đến
việc bồi thường ngay từ khi tiến hành điều tra vụ án. Vì tuy là vấn
đề dân sự nhưng nó là vấn đề phát sinh từ vụ án hình sự. Ngược lại,

21


nếu vấn đề đó được giải quyết riêng ở phiên tòa dân sự thì khả năng
đó sẽ không còn nữa bởi lẽ cơ quan điều tra không có trách nhiệm
điều tra, xác minh các tình tiết của vụ án dân sự [28].
Trong tố tụng dân sự, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh
thuộc về các đương sự. Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ mà chỉ xét
xử trên cơ sở chứng cứ của các bên đương sự cung cấp và Tòa án chỉ xác
minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp luật định. Tuy nhiên, quá
trình giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự người bị thiệt hại được sự
hỗ trợ từ phía cơ quan tiến hành tố tụng, được sử dụng kết quả của việc xét xử
về hình sự như lỗi của chủ thể gây thiệt hại, mức độ gây thiệt hại, nhưng
không phải tất cả các trường hợp mức độ bị thiệt hại đều được xác định.
Trong một số trường hợp người bị thiệt hại phải xác định bổ sung thiệt hại do
tội phạm gây ra ngoài những thiệt hại đã được cơ quan tiến hành tố tụng xác
định có liên quan đến tội phạm.
Trong trường hợp vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tách ra để
giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự thông thường thì quá trình giả quyết vụ
việc đương nhiên áp dụng thủ tục tố tụng dân sự, Tuy nhiên, việc giải quyết
đó chỉ được tiến hành khi đã có bản án hình sự, bởi lẽ theo nguyên tắc "hình
hoãn hộ" thì một khi vụ án hình sự chưa xét xử xong thì vụ việc dân sự chưa
ược xem xét giải quyết.
Thứ năm: Trong quá trình giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình
sự Tòa án không bắt buộc phải mở các phiên hòa giải giữa các đương sự như
trong tố tụng dân sự.
Thủ tục mở phiên hòa giải không phải là thủ tục bắt buộc mà Tòa án
phải thực hiện khi chuẩn bị xét xử phiên tòa sơ thẩm vấn đề dân sự trong vụ
án hình sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng không bắt buộc phải tiến hành
hòa giải giữa các đương sự. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử, các cơ quan tiến
hành tố tụng vẫn tạo điều kiện cho các bên tự thỏa thuận với nhau về việc giải

22


quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Trường hợp các đương sự tự nguyện
thỏa thuận được với nhau thì Tòa án công nhận việc thỏa thuận này của các
đương sự và sự thỏa thuận này được ghi vào phần quyết định của bản án hình sự
chứ Tòa án không ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Đây
là điểm khác biệt lớn so với tố tụng dân sự vì trong tố tụng dân sự Tòa án cấp sơ
thẩm bắt buộc phải tiến hành mở các phiên hòa giải giữa các đương sự và việc
hòa giải được tiến hành trước và tại phiên tòa. Nếu các đương sự thỏa thuận
được với nhau thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự.
1.1.2. Ý nghĩa của giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
Giải quyết vấn đề dân sự ngay trong vụ án hình sự có ý nghĩa thực tiễn
là: góp phần vào việc bảo đảm cho quá trình tiến hành tố tụng được thực hiện
một cách thống nhất; là cơ sở quan trọng cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân khi tham gia tố tụng hình sự, bảo đảm mọi hành vi gây
thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của công dân, cơ quan nhà
nước, tổ chức xã hội đều phải bồi thường và xử lí kịp thời; góp phần vào việc
động viên, giáo dục và tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức và mọi công dân
có ý thức tuân thủ pháp luật và tích cực tham gia vào việc đấu tranh phòng
chống tội phạm và dân chủ hóa quá trình tố tụng; có ý nghĩa cho việc định
hướng xây dựng pháp luật tố tụng hình sự [29, tr. 45].
Việc quy định giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự có ý nghĩa
đối với việc bảo đảm tôn trọng các quyền cơ bản của công dân. Theo quy định
của Hiến pháp và pháp luật thì công dân được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu
hợp pháp đối với tài sản, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm. Mọi hành vi gây thiệt hại đến tài sản thuộc sở hữu hợp
pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và xâm hại tới tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, của cá nhân đều phải bồi thường và xử lý theo pháp luật.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, một mặt người phạm tội phải chịu
trách nhiệm hình sự, mặt khác họ còn phải chịu trách nhiệm dân sự với tính

23


chất là một chế tài được áp dụng đối với người gây thiệt hại. Việc áp dụng
trách nhiệm dân sự đối với người phạm tội không chỉ làm tăng khả năng trừng
trị mà còn có ý nghĩa giáo dục đối với bản thân họ và có tác dụng răn đe,
phòng ngừa chung. Hơn nữa, quan hệ dân sự trong vụ án hình sự không đơn
thuần chỉ là một quan hệ dân sự thông thường mà việc thực hiện trách nhiệm
dân sự của bị can, bị cáo còn nhằm thực hiện trách nhiệm hình sự của họ.
Chẳng hạn, trường hợp người phạm tội bị buộc trả lại tài sản, sửa chữa hoặc
bồi thường thiệt hại do họ gây ra là để thực hiện một biện pháp tư pháp được
quy định tại Điều 42 Bộ luật Hình sự năm 1999, tức là để thực hiện một yêu
cầu của trách nhiệm hình sự.
Quy định giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự còn có ý nghĩa
đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được chính xác, nhanh gọn, đỡ tốn kém về
thời gian, công sức, bảo vệ quyền lợi cho người bị hại, nguyên đơn dân sự,
người có quyền lợi liên quan khi bị tội phạm xâm hại, giúp cho cơ quan tiến
hành tố tụng tránh được việc tiến hành các hoạt động trùng lặp không cần
thiết, tức là xem xét hai lần các tình tiết của cùng một hành vi vi phạm pháp
luật hình sự và vi phạm pháp luật dân sự đồng thời tạo điều cho người bị hại
chứng minh là có thiệt hại do tội phạm gây ra, người bị thiệt hại sẽ có nhiều
thuận lợi hơn trong việc bảo vệ quyền lợi của mình qua đó bảo đảm hiệu quả
về mặt kinh tế, tiết kiệm thời gian và chi phí cho việc xét xử cũng như tránh
được việc gọi đến tòa một lần nữa các bên tham gia tố tụng.
Vấn đề dân sự được giải quyết ngay trong vụ án hình sự thì cơ quan
điều tra có thể làm sáng tỏ các tình tiết có liên quan đến việc bồi thường ngay
từ khi tiến hành điều tra vụ án, vì tuy là vấn đề dân sự nhưng vì nó là vấn đề
phát sinh trong vụ án hình sự nên nhiều chứng cứ trong vụ án hình sự có thể
làm cơ sở cho việc giải quyết vấn đề dân sự đồng thời góp phần tăng tính khả
thi trong việc thực hiện các quyết định về dân sự trong vụ án hình sự. Nếu vấn
đề đó được giải quyết riêng ở phiên tòa dân sự thì khả năng đó sẽ không còn

24


bởi cơ quan điều tra không có trách nhiệm điều tra, xác minh các tình tiết của
vụ án dân sự.
1.2. BẢN CHẤT VÀ PHẠM VI GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN SỰ TRONG
VỤ ÁN HÌNH SỰ

Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân là một trong những
nguyên tắc quan trọng trong tố tụng hình sự và được ghi nhận trong Hiến pháp.
Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Mọi người có quyền bất khả
xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân
phẩm" [27]. Nguyên tắc này thể hiện tính dân chủ trọng hoạt động tố tụng
hình sự, luôn đề cao và tôn trọng quyền con người. Cùng với nhiệm vụ đấu
tranh chống tội phạm, không để lọt tội phạm, các cơ quan tiến hành tố tụng
còn bảo đảm các quyền cơ bản của công dân không bị xâm phạm, không vì
mục đích tìm ra tội phạm mà có những hành vi trái pháp luật, xâm phạm đến
quyền của con người.
Hành vi phạm tội xảy ra ngoài việc làm phát sinh quan hệ pháp luật
hình sự còn làm phát sinh quan hệ dân sự. Điều 42 Bộ luật Hình sự 1999 quy
định: "Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc
người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã
được xác định do hành vi phạm tội gây ra" [22]. Nghĩa vụ hoàn trả tài sản và
trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất còn được quy định trong Bộ luật
Dân sự, Điều 559 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: "Người chiếm hữu, người sử
dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả lại
cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp tài sản đó" [25]. Điều 604 cũng
quy định: "Người nào do có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác
của cá nhân hoặc của chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường" [25].
Như vậy vấn đề dân sự có liên qua đến tội phạm đã được quy định, đề cập đến
trong cả Bộ luật Hình sự và Bộ luật Dân sự.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×