Tải bản đầy đủ

LVTS 2015 chức năng thực hành quyền công tố của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk nông)

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lấ THANH HNG

CHứC NĂNG THựC HàNH QUYềN CÔNG Tố
CủA VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Nông)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lấ THANH HNG

CHứC NĂNG THựC HàNH QUYềN CÔNG Tố
CủA VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN

(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Nông)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: PGS. TS NGUYN NGC CH

H NI - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn
trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy, trung thực, chỉ rõ
nguồn gốc. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học
Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!.
Người cam đoan

Lê Thanh Hưng


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT ..................... 7
1.1.

Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố trong
tố tụng hình sự .................................................................................... 7


1.1.1. Khái niệm quyền công tố ..................................................................... 7
1.1.2. Khái niệm thực hành quyền công tố .................................................. 11
1.2.

Phạm vi và nội dung thực hành quyền công tố ............................. 14

1.2.1. Phạm vi thực hành quyền công tố ...................................................... 14
1.2.2. Nội dung thực hành quyền công tố .................................................... 19
1.3.

Chức năng công tố trong một số mô hình tố tụng hình sự tiêu
biểu trên thế giới ............................................................................... 27

1.3.1. Thực hành quyền công tố trong mô hình tố tụng tranh tụng ............. 28
1.3.2. Thực hành quyền công tố trong mô hình tố tụng thẩm vấn ............... 32
Chương 2: CHỨC NĂNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM .......... 34
2.1.

Chức năng thực hành quyền công tố theo qui định của pháp
luật tố tụng hình sự việt nam giai đoạn từ 1945 đến trước 2003..... 34

2.1.1. Chức năng Thực hành quyền công tố theo quy định của pháp luật
tố tụng hình sự Việt Nam từ 1945 đến trước năm 1960 .................... 34


2.1.2. Chức năng thực hành quyền công tố theo quy định của pháp luật
tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1960 đến trước năm 2003 ............ 35
2.2.

Chức năng thực hành quyền công tố theo qui định của Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2003 ....................................................... 37

2.2.1. Nội dung thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự ................................................ 37
2.2.2. Nội dung Thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân
trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự .................................................. 49
Chương 3: THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM VÀ CÁC
GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ............................. 69
3.1.

Thực tiễn thực hành quyền công tố ở địa bàn tỉnh Đắk Nông.......... 69

3.1.1. Một số đặc điểm tình hình kinh tế - Xã hội và tổ chức bộ máy
của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông....................................... 69
3.1.2. Thực trạng thực hành quyền công tố ở Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Đắk Nông .................................................................................... 71
3.2.

Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hành quyền
công tố ở Việt Nam ........................................................................... 77

3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật .............................................. 77
3.2.2. Đổi mới nội dung và phương pháp thực hành quyền công tố
trong tố tụng hình sự .......................................................................... 81
3.2.3. Giải pháp về công tác cán bộ của Viện kiểm sát nhân dân ................ 84
KẾT LUẬN .................................................................................................... 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 89


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS:

Bộ luật hình sự

BLTTHS:

Bộ luật tố tụng hình sự

CQTHTT:

Cơ quan tiến hành tố tụng

NQ:

Nghị Quyết

TTHS:

Tố tụng hình sự

VKSNDND:

Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDNDTC:

Viện kiểm sát nhân dân tối
cao


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư
pháp trong đó có Viện kiểm sát nhân dân(VKSNDND) là một đòi hỏi cấp
bách của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: “Viện kiểm sát nhân dân tập trung làm
tốt chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”. Yêu cầu trên đã
được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) và Luật tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, BLTTHS năm 2003, cũng như Hiến
pháp năm 2013 và luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.
Yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình hiện nay đòi
hỏi phải nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật.
Trong đó việc tăng cường chất lượng công tố của VKSND nhằm chống bỏ lọt
tội phạm, không làm oan người vô tội, là một nội dung quan trọng được thể
hiện trong nhiều nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp. Nghị quyết 08/NQTW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm của
công tác tư pháp trong thời gian tới” đã chỉ rõ:
Chất lượng công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với
nhu cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội
phạm, làm oan người vô tội; vi phạm các quyền tự do, dân chủ của
công dân, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước
và với các cơ quan tư pháp [11].
Cụ thể về công tố, Nghị quyết 08 đã có ý kiến chỉ đạo:
Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện tốt chức năng công
tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Hoạt
động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong

1


suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người
phạm tội, không làm oan người vô tội… Nâng cao chất lượng công
tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng với Luật sư,
người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác… [11].
Ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 48/NQ-TW “Về
Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm
2010, định hướng đến năm 2020”, trong đó có nội dung: “Hoàn thiện pháp
luật về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát theo hướng bảo đảm thực hiện
tốt chức năng công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Nghiên cứu hướng tới
chuyển thành Viện công tố” [12].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục
ghi nhận các nội dung: Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa;
hoàn thiện hệ thống pháp luật; xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch,
vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh; đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020; lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm;
thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra…
Trong những năm vừa qua, quá trình thực hiện đã đạt được những
thành tựu đáng khích lệ trong việc trừng trị tội phạm, bảo vệ quyền tự do dân
chủ của công dân. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế, Nghị quyết 49/NQ-TW
ngày 02/6/2005 “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đã chỉ ra:
Công tác tư pháp còn bộc lộ nhiều hạn chế. Chính sách hình
sự, chế định pháp luật dân sự và pháp luật về tổ chức tố tụng tư
pháp còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi, bổ sung. Tổ chức bộ
máy, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của các cơ quan tư
pháp còn bất hợp lý. Đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn
thiếu; trình độ nghiệp vụ bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ
còn yếu, thậm chí có một số cán bộ sa sút về phẩm chất, đạo đức và

2


trách nhiệm nghề nghiệp. Vẫn còn tình trạng oan, sai trong điều tra,
bắt, giam giữ, truy tố, xét xử. Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc
của cơ quan tư pháp còn thiếu thốn, lạc hậu [13].
Những năm qua, Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung và ban hành nhiều văn
bản pháp luật như: Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), Hiến pháp năm 2013, Luật
tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, luật tổ chức Viện kiểm sát nhân
dân năm 2014, BLTTHS năm 2003 nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của
các cơ quan tư pháp nói chung và Viện kiểm sát nhân dân nói riêng. Các văn
bản trên có nhiều quy định mới liên quan đến chức năng công tố của Viện
kiểm sát. Vì vậy, cần nghiên cứu, làm rõ các quy định của pháp luật góp phần
nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân riêng cũng như của
các cơ quan tư pháp nói chung.
Trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay, để góp phần bảo đảm Viện
kiểm sát thực hiện tốt chức năng công tố, việc tiếp tục nghiên cứu, làm rõ cả
về mặt lý luận và thực tiễn quyền công tố trong tố tụng hình sự là vấn đề bức
xúc và cần thiết. Đây cũng là lý do tôi lựa chọn đề tài “Chức năng thực hành
quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa
bàn tỉnh Đắk Nông) làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề quyền công tố và thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự
đã được một số sách, báo, công trình nghiên cứu đề cập. Một số tác giả đã có
những nghiên cứu, bài viết về vấn đề này: Tiến sĩ khoa học Lê Cảm có bài
“Những vấn đề lý luận về chế định quyền công tố” (nhìn nhận từ góc độ nhà
nước pháp quyền) (tạp chí chuyên ngành), Hà Nội, 2001; Lê Thị Tuyết
Hoa: Quyền công tố ở Việt Nam, (Luận án tiến sĩ luật học), Hà Nội, 2002;
Tiến sĩ Trần Văn Độ có bài “Một số vấn đề về quyền công tố”; một số bài viết
của các tác giả khác trong tập kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ “Những vấn đề

3


lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam
từ năm 1945 đến nay”, Hà Nội, 1999…
Một số luận văn thạc sĩ luật học đã được công bố tại Khoa luật – Đại
học quốc gia Hà Nội: “Quyền công tố trong tố tụng hình sự tranh tụng và việc
vận dụng vào điều kiện Việt Nam” của tác giả Lý Văn Chính (năm 2004);
“Quan hệ giữa CQĐT và Viện kiểm sát trong khởi tố, điều tra vụ án hình sự
theo BLTTHS năm 2003” của tác giả Lang Văn Bảo (năm 2005); “Tranh tụng
tại phiên tòa một số vấn đề lý luận và thực tiễn” cuả tác giả Nguyễn Mạnh
Tiến (năm 2005); “Phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân đối với các quyết
định của CQĐT trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự theo quy định của
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Đào Thị Diệp (năm 2008).
Những luận văn, đề tài, công trình nghiên cứu trên về tổ chức và hoạt
động của Viện kiểm sát nhân dân nói chung, đồng thời đề cập đến các vấn đề
liên quan đến quyền công tố. Từ khi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực đến nay
chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập toàn diện, đầy đủ về chức năng
công tố của Viện kiểm sát nhân dân; ngoài ra việc thực hiện các quy định về
chức năng công tố có những nơi, địa bàn còn có nhận thức, áp dụng chưa
thống nhất. Chính vì vậy việc tiếp tục nghiên cứu về chức năng công tố của
Viện kiểm sát nhân dân là vấn đề có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và
thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích của đề tài:
Trên cơ sở nghiên cứu chức năng để làm rõ vai trò của Viện kiểm sát
nhân dân trong thực hiện chức năng công tố cả về mặt lý luận và thực tiễn. Từ
đó làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về chức năng công tố, đồng thời xác
định thực trạng thực hiện chức năng, tìm nguyên nhân, trên cơ sở đó đề xuất
một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động công tố đáp ứng yêu cầu
cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay.
4


* Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về quyền công tố trong tố
tụng hình sự.
- Nghiên cứu việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố trong
một số mô hình tố tụng hình sự tiêu biểu trên thế giới.
- Nghiên cứu về chức năng công tố theo quy định của pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam.
- Nghiên cứu thực trạng thực hành quyền công tố ở nước ta trong
những năm gần đây, tìm ra những nguyên nhân của những kết quả đạt được
và những tồn tại, hạn chế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ chuyên ngành luật hình sự, luận văn tập trung nghiên
cứu, phân tích một số vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền
công tố trong tố tụng hình sự, thực trạng thực hành quyền công tố trong tố
tụng hình sự những năm gần đây ở Việt Nam.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư
pháp, cũng như thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như: lịch sử
pháp luật, lý luận về Nhà nước và pháp luật, xã hội học pháp luật, luật hình
sự, tội phạm học, luật tố tụng hình sự và triết học, những luận điểm khoa học
trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên
tạp chí của một số nhà khoa học luật hình sự Việt Nam và nước ngoài.
- Luận văn sử dụng một số phương pháp tiếp cận cụ thể để làm sáng tỏ
về mặt khoa học từng vấn đề tương ứng, đó là các phương pháp nghiên cứu
như: lịch sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê; nghiên cứu hồ sơ vụ án,
báo cáo tổng kết, báo cáo chuyên đề của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

5


Ngoài ra, tác giả cũng tiếp thu có chọn lọc kết quả của của các công trình đã
công bố; các đánh giá, tổng kết của cơ quan chuyên môn và các chuyên gia về
những vấn đề có liên quan đến tổ chức và hoạt động của VKSNDND.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Kết quả luận văn có ý nghĩa nhất định về mặt khoa học
góp phần xây dựng một cái nhìn toàn diện về chức năng công tố của VKSND,
đồng thời thấy được trách nhiệm cũng như vai trò của VKSND trong công
cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm hiện nay.
Về thực tiễn: Luận văn sẽ là tài liệu có giá trị, có thể dùng làm tài liệu
tham khảo, nghiên cứu, học tập trong các cơ sở đào tạo, trong hoạt động
nghiệp vụ của Kiểm sát viên và lãnh đạo VKSND. Những đề xuất, kiến nghị
của luận văn sẽ cung cấp các luận cứ khoa học, làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ
sung các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về tổ chức, hoạt động trong
cơ quan VKSND.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương, các đề mục với cơ cấu như sau:
Chương 1: Lý luận về chức năng thực hành quyền công tố của Viện
kiểm sát.
Chương 2: Chức năng thực hành quyền công tố trong pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam.
Chương 3: Thực trạng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân
dân ở Việt Nam và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả.

6


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
1.1. Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố trong tố
tụng hình sự
1.1.1. Khái niệm quyền công tố
Cho đến nay, trong các nghiên cứu có nhiều quan điểm về quyền công
tố, quan điểm cho rằng, quyền công tố gắn liền với sự phát triển của khoa học
pháp lý, khi mà các khái niệm dân chủ và quyền con người được đề cao, đòi
hỏi cần phải có một cơ quan thay mặt nhà nước đứng ra bảo vệ quyền bị xét xử
bởi các cơ quan tư pháp [39, tr.11]. Theo quan điểm này thì quyền công tố chỉ
xuất hiện khi nhà nước đó phát triển ở mức độ tương đối cao, chỉ xuất hiện
trong nhà nước có tính chất pháp quyền. Quan điểm thứ hai, coi công tố là một
quyền độc lập, chỉ có trong xã hội dân chủ, nhằm bảo vệ quyền của các chủ thể
quan hệ pháp luật khi tham gia quá trình tố tụng tại phiên tòa và thực hiện các
quyền theo quy định của pháp luật (có thể nằm trong cơ cấu của Tối cao pháp
viện). Cơ quan công tố là “mối dây liên lạc giữa các cơ quan công quyền với
quần chúng, giữa các cơ quan công quyền với nhau nhằm phục vụ lợi ích của
các bên theo quy định của pháp luật”. Đại diện cho trường phái này là
E.Hermann và tập thể tác giả trong cuốn “Quyền công tố trong cơ cấu hành
chính – chính trị”. Các tác giả nhấn mạnh quyền công tố là một loại quyền
năng mà khi có sự phân chia triệt để ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
thì phải có một loại cơ quan đặc biệt để thực hiện quyền tư pháp nhưng
“chống” lại quyền xét xử để nhằm bảo vệ các đạo luật, bảo vệ Chính phủ và
các thể nhân bị Tòa án xét xử. Đó là quyền công tố [39, tr. 12]. Quan điểm thứ
ba cho rằng, với việc tách các cơ quan Tòa án ra khỏi hệ thống các cơ quan

7


hành pháp, cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật thì công tố mới xuất
hiện. Những người theo quan điểm này cho rằng, quyền công tố là quyền đại
diện cho nhà nước, đại diện công quyền để đưa các vụ việc vi phạm trật tự
pháp luật thống trị ra cơ quan xét xử (ra Tòa án), do đó quyền công tố không
thể xuất hiện cùng với nhà nước mà chỉ xuất hiện cùng với sự xuất hiện của
Tòa án với tư cách là cơ quan xét xử chuyên nghiệp và độc lập [39, tr. 13].
Không đồng ý với các quan điểm nêu trên, quan điểm cho rằng, quyền
công tố là một khái niệm pháp lý, gắn liền với bản chất của nhà nước và xuất
hiện cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật. Quyền công tố tồn tại
trong tất cả các kiểu nhà nước, từ nhà nước chủ nô đến các nhà nước đại
diện [39, tr. 14]. Quan điểm này là khá cởi mở và coi quyền công tố như một
đặc tính vốn có của nhà nước như dân cư, lãnh thổ...Trong các nghiên cứu ở
nước ta hiên nay, đa phần ủng hộ quan điểm này,và cho rằng: Quyền công tố
luôn luôn gắn liền với bản chất của nhà nước, là một bộ phận cấu thành và
không thể tách rời của công quyền. Với quan điểm coi quyền công tố là quyền
nhân danh nhà nước (nhân danh công quyền) thực hiện việc buộc tội đối với
những người đã thực hiện hành vi phạm tội (theo quan điểm của giai cấp
thống trị xã hội), chúng tôi cho rằng khi nhà nước xuất hiện thì cùng đồng
thời xuất hiện quyền công tố. Nhà nước nào cùng ban hành pháp luật để quản
lý xã hội (nói chính xác hơn là để điều chỉnh các quan hệ xã hội, giữ cho các
quan hệ xã hội được thực hiện theo ý muốn, theo khuôn mẫu tư tưởng của
giới thống trị xã hội). Đồng thời nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại khi xuất
hiện và tồn tại những mâu thuẫn đối kháng (mang tính giai cấp) không thể
điều hòa được. Điều đó có nghĩa là trong bất kỳ một xã hội nào (khi đã xuất
hiện nhà nước), bên cạnh lực lượng thống trị xã hội luôn luôn tồn tại một
(hoặc nhiều) lực lượng (bị thống trị) có thái độ, có hành động thù địch chống
lại lực lượng thống trị xã hội (nắm quyền lực nhà nước), biểu hiện cụ thể ở

8


những hành vi vi phạm pháp luật (chống lại ý chí của giai cấp thống trị) đến
mức nguy hiểm (đe dọa đến quyền thống trị nhà nước) cần phải bị trừng trị.
Muốn trừng trị kẻ vi phạm thì phải buộc được tội của họ. Quyền nhân danh
nhà nước (nhân danh công quyền) thực hiện sự buộc tội này chính là quyền
công tố. Tuy nhiên việc tổ chức thực hiện quyền công tố, nội dung quyền
công tố, và phạm vi thực hành quyền này được quy định rất khác nhau ở mỗi
quốc gia, mỗi thời kỳ lịch sử, tùy thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể.
Ngay trong một nhà nước cụ thể với một chế độ chính trị xác định, ở mỗi giai
đoạn phát triển của nó cũng có thể có những thay đổi nhất định trong việc tổ
chức và xác định phạm vi thực hiện quyền công tố.
Thời kỳ đầu, khi nhà nước mới ra đời, trong điều kiện bộ máy nhà nước
còn đơn giản và hệ thống pháp luật mới được hình thành quyền công tố chỉ
được sử dụng trong một phạm vi hẹp để bảo vệ các lợi ích công, như các lợi
ích của nhà nước (của giai cấp thống trị) và lợi ích của cả cộng đồng. Do đó
chức năng nhà nước chưa được phân định rõ ràng giữa các cơ quan nhà nước,
quyền công tố có thể do một cơ quan, thậm chí một quan chức nhà nước duy
nhất thực hiện từ đầu đến cuối. Ví dụ, trong nhà nước chủ nô hoặc phong
kiến, việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thông thường chỉ do một quan
án đảm nhiệm.
Càng về sau cùng với sự phát triển, hoàn thiện của bộ máy nhà nước và
hệ thống pháp luật, việc phân định chức năng nhà nước giữa các cơ quan
trong bộ máy nhà nước ngày càng cụ thể, rõ ràng hơn theo hướng chuyên môn
hóa. Mặt khác, nhận thức xã hội về lợi ích công, lợi ích tư, về trách nhiệm của
nhà nước đối với xã hội và cá nhân đã có sự thay đổi đáng kể. Dần dần, nhà
nước (giai cấp thống trị) nhận thức một cách đầy đủ và rõ ràng rằng, trong
nhiều trường hợp khi có lợi ích cá nhân bị xâm phạm thì lợi ích công (như trật
tự công cộng, an ninh xã hội...) cũng bị xâm hại hoặc bị đe dọa. Bởi vậy, cần

9


thiết phải có sự can thiệp của nhà nước để bảo vệ lợi ích cá nhân khi chúng bị
xâm phạm. Chính vì lẽ đó, vai trò của công tố ngày càng được đề cao, trong
khi vai trò của tư tố ngày càng mờ nhạt dần trong hoạt động tố tụng hình sự.
Quyền công tố có liên hệ chặt chẽ với pháp luật, đặc biệt là pháp luật
hình sự, trong đó quy định cụ thể các loại hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội
phạm. Bất kỳ giai cấp thống trị nào khi lên nắm quyền lực nhà nước đều hết
sức quan tâm đến lĩnh vực pháp luật hình sự, bởi chính pháp luật hình sự là
phương tiện cai trị hữu hiệu nhất. Khi một hành vi bị coi là tội phạm được
thực hiện sẽ làm phát sinh một loại quan hệ pháp luật giữa một bên là nhà
nước và bên kia là người phạm tội. Trong quan hệ này nhà nước là chủ thể sử
dụng quyền lực nhà nước (quyền lực công) để thực hiện việc truy cứu trách
nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, còn người phạm
tội là chủ thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự và gánh chịu các chế tài do pháp
luật hình sự quy định và áp dụng. Quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hình sự
gắn liền với sự buộc tội nhân danh nhà nước (nhân danh công quyền) và chỉ
phát sinh khi có hành vi phạm tội xảy ra. Sự buộc tội nhân danh công quyền
đó được gọi là quyền công tố.
Từ những phân tích trên, chúng tôi chia sẻ quan điểm cho rằng: “quyền
công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất của nhà nước. Nó xuất
hiện cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật, tồn tại khi có nhà nước và
mất đi khi không còn nhà nước” [39, tr.17]. Đồng thời, đồng ý với quan điểm
của TS. Lê Hữu Thể khi đưa ra định nghĩa về quyền công tố:
Quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước thực hiện việc
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này
thuộc về nhà nước, được nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện
(ở nước ta là Viện kiểm sát) để phát hiện tội phạm và truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Để làm được điều này, cơ

10


quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm
bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội
phạm và người phạm tội. Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra
trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên toà [39, tr.40].
1.1.2. Khái niệm thực hành quyền công tố
Khi nghiên cứu về thực hành quyền công tố, trong giới luật học hiện
nay còn tồn tại hai xu hướng khác nhau: Một là, họ gắn việc thực hành quyền
công tố với việc thực hiện những nhiệm vụ khác của những Công tố viên
trong tố tụng hình sự. Cơ sở lý luận mà họ dựa vào là việc tổ chức và hoạt
động của cơ quan công tố ở nước ngoài, cơ sở pháp lý mà họ đưa ra là các
quy định của pháp luật hiện hành của nước ta, nhưng chỉ bó hẹp ở phạm vi
truy tố hoặc buộc tội của VKSND trước Tòa án (vốn là những nét hoạt động
công tố tương đồng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới). Một số khác thì
lại mở rộng phạm vi thực hành quyền công tố được thực hiện trong mọi giai
đoạn tố tụng bao gồm cả điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án [23, tr.100].
Hai là, họ chỉ nêu ra một số biện pháp pháp lý như: Lập cáo trạng và luận tội
trước phiên tòa sơ thẩm hình sự và coi đó là thực hành quyền công tố, thậm
chí có người còn cho rằng thực hành quyền công tố chỉ là sự buộc tội trước
phiên tòa sơ thẩm [27, tr. 28-38].
Gần đây có một số công trình khoa học nghiên cứu về thực hành
quyền công tố hoặc nghiên cứu về các vấn đề pháp lý khác trong đó có một
số vấn đề liên quan đến thực hành quyền công tố mới chỉ dừng lại ở mức
đưa ra được một số biện pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
kiểm sát như kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử hình sự, kiểm sát giam, giữ
và cải tạo, kiểm sát thi hành án. Các công trình này vận dụng những nguyên
lý của V.I Lênin về pháp chế xã hội chủ nghĩa và vai trò của VKSND, về vai
trò và bộ phận của ủy viên công tố làm cơ sở lý luận và lấy các quy định của

11


Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân từ năm 1960 đến nay làm
cơ sở pháp lý. Bởi vậy trong nhận thức của không ít những người làm công
tác nghiên cứu và thực tiễn cũng như ngoài ngành kiểm sát đã nhầm lẫn
quyền công tố với thực hành quyền công tố trên nhiều phương diện như đối
tượng, nội dung, phạm vi. Đồng thời các công trình này luôn gắn quyền
công tố chỉ với VKSND, coi đó là quyền của VKSND. Do đó đã không lý
giải được một số vấn đề là khi một số cơ quan khác (CQĐT, Tòa án...) sử
dụng một số biện pháp như khởi tố vụ án, khởi tố bị can... thì có phải các cơ
quan này cũng thực hành quyền công tố hay không.
Với quan điểm cho rằng, quyền công tố là quyền nhân danh quyền lực
công thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, đây
là quyền của nhà nước, gắn liền với bản chất của từng kiểu nhà nước và chỉ có
trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi tội
phạm xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng
nghị. Đối tượng tác động của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội.
Để bảo đảm thực hiện quyền công tố trong thực tế đấu tranh phòng, chống tội
phạm thì nhà nước ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong đó quy định
các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố. Các quyền năng đó
được giao cho các cơ quan nào thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, thì cơ quan ấy gọi là cơ quan có
trách nhiệm thực hành quyền công tố.
Để thực hiện quyền lực nhà nước trên một lĩnh vực cụ thể thì nhà nước
tổ chức ra một hệ thống cơ quan nhất định để thực hiện quyền lực đó. Hệ thống
cơ quan này đóng vai trò chính trong sự phối hợp cùng với cơ quan nhà nước
khác để thực hiện quyền lực nhà nước đã được xác định. Ở các nước, đa phần
họ thành lập cơ quan công tố để thực hành quyền công tố với các quyền hạn,
trách nhiệm tố tụng trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử của TTHS.

12


Ở Việt Nam, căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành, VKSND
là cơ quan duy nhất được giao thực hành quyền công tố “Không có cơ quan
nhà nước nào có thể thay thế ngành kiểm sát để sử dụng quyền công tố; bắt,
giam, tha, điều tra, truy tố, xét xử có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
hay không, đó chính là Viện kiểm sát phải trông nom, bảo đảm cho tốt” [9].
Không cơ quan nào có thể thay Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công
tố, bởi lẽ: a. Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất về mặt pháp lý có
quyền độc lập phát động quyền công tố. Các quyết định khởi tố vụ án hình sự,
khởi tố bị can của CQĐT chỉ thực sự có ý nghĩa phát động quyền công tố sau
khi sau khi được VKSND xem xét. Nếu quyết định khởi tố vụ án của CQĐT
không có căn cứ, trái pháp luật thì VKSND có quyền hủy bỏ. Nếu quyết định
không khởi tố vụ án của CQĐT không có căn cứ VKSND cũng có quyền hủy
bỏ quyết định đó và ra quyết định khởi tố vụ án. Tòa án (Hội đồng xét xử)
cũng có quyền khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử phát hiện có tội
phạm bị bỏ lọt, tuy nhiên nếu quyết định của Hội đồng xét xử không có căn
cứ thì VKSND vẫn có quyền kháng nghị lên Tòa án cấp trên. b.VKSND có
quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, CQĐT chỉ có quyền đề
nghị. c.Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, VKSND có trách nhiệm đảm
bảo đủ các chứng cứ để truy tố bị can. CQĐT có quyền thu thập chứng cứ,
nhưng VKSND chịu trách nhiệm về việc chứng cứ đó có đủ để truy tố bị can
một cách có căn cứ. Trường hợp không đủ căn cứ để buộc tội, VKSND có
quyền yêu cầu CQĐT điều tra bổ sung tài liệu hoặc đình chỉ vụ án, yêu cầu
CQĐT khắc phục và xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật trong hoạt động
điều tra, kiến nghị với các cơ quan, tổ chức liên quan xử lý hành vi vi phạm
pháp luật. d.Khi có đủ chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội và xét cần thiết
phải xử lý người phạm tội trước pháp luật VKSND quyết định truy tố bị can
ra Tòa. Tại phiên tòa, VKSND có trách nhiệm bảo đảm việc truy tố, buộc tội

13


bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Bản án kết tội của Tòa án chính là việc
chấp nhận lời buộc tội của VKSND đối với người phạm tội.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm thực hành quyền công
tố trong tố tụng hình sự như sau:
Thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự là việc cơ quan
công tố/ Viện kiểm sát sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định
để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, đưa người
phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó; đảm bảo
mọi hành vi phạm tội đều được xử lý kịp thời, việc khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt
người phạm tội và tội phạm, không làm oan người vô tội [38].
1.2. Phạm vi và nội dung thực hành quyền công tố
1.2.1. Phạm vi thực hành quyền công tố
Phạm vi thực hành quyền công tố là vấn đề gây nhiều bàn luận trong
giới nghiên cứu vì vậy, khi xem xét cần phải phân biệt cụ thể, đầy đủ chính
xác giữa phạm vi của quyền công tố với phạm vi thực hành quyền công tố.
Xét về mặt nguyên tắc thì quyền công tố và thực hành quyền công tố đồng
nhất về phạm vi, tức là nó có từ khi có tội phạm xảy ra cho đến khi bản án của
Tòa án có hiệu lực pháp luật. Mục đích của tố tụng hình sự đòi hỏi mọi tội
phạm xảy ra đều phải được phát hiện kịp thời và xử lý theo pháp luật. Do đó,
về mặt nguyên tắc, cứ có tội phạm xảy ra là đòi hỏi quyền công tố phải được
phát động. Song, để có cơ sở phát động quyền công tố phải thu thập tài liệu,
tin tức về tội phạm, như: tiếp nhận, xác minh tin báo, tố giác về tội phạm; tiến
hành một số hoạt động điều tra trước khi khởi tố vụ án như khám nghiệm hiện
trường, khám nghiệm tử thi, lấy lời khai người biết việc, lấy lời khai người bị
tạm giữ...Vì vậy, phạm vi của quyền công tố được bắt đầu từ khi có tội phạm
xảy ra, cơ quan công tố có các hoạt động thu thập chứng cứ, xác định có hay

14


không có tội phạm xảy ra và nó kết thúc khi bản án của tòa án tuyên có hiệu
lực pháp luật. Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam thì khởi
tố vụ án hình sự chỉ cần có dấu hiệu của tội phạm (điều 100 BLTTHS) chứ
không nhất thiết phải khi tội phạm đã rõ mới được khởi tố. Như vậy, pháp
luật tố tụng hình sự đã cho phép thực hành quyền công tố sớm hơn một bước
để tạo điều kiện chủ động và phát hiện có hiệu quả mọi hành vi phạm tội.
Khởi tố vụ án khi có dấu hiệu của tội phạm chỉ mang tính dự báo, tạo cơ sở
pháp lý để tiến hành các hoạt động điều tra do BLTTHS quy định để làm rõ
có tội phạm xảy ra hay không, chống bỏ lọt tội phạm và đấu tranh chống tội
phạm kịp thời. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp quyền công tố
kéo dài đến khi bản án có hiệu lực pháp luật mà nó có thể triệt tiêu ở giai đoạn
tố tụng sớm hơn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Điều đó có
nghĩa là không phải mọi vụ án đều được đưa ra xét xử trước Tòa án. Bởi vậy,
khi quyền công tố bị triệt tiêu thì cũng có nghĩa là không còn việc thực hành
quyền công tố. Những căn cứ dẫn đến việc triệt tiêu quyền công tố và theo đó
dẫn đến chấm dứt việc thực hành quyền công tố là: không có sự việc phạm
tội, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách
nhiệm hình sự, hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự...
Như vậy, quyền công tố được thực hiện khi có tội phạm xảy ra và kết
thúc khi bản án được tòa án tuyên có hiệu lực pháp luật, bao gồm các hoạt động
làm rõ tội phạm, truy tố tội phạm và người phạm tội ra trước tòa án và bảo vệ
cáo trạng của cơ quan công tố tại phiên tòa. Tuy nhiên, ở nước ta vẫn tồn tại rất
nhiều quan điểm khác nhau về phạm vi, đối tượng và nội dung quyền công tố:
Thứ nhất, đồng nhất hoạt động thực hành quyền công tố với hoạt động kiểm sát
việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân (trước khi Hiến pháp năm
1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001). Quan điểm này cho rằng, tất cả các hoạt
động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là thực hành quyền công tố, ngay cả

15


khi VKSND kiến nghị yêu cầu các cơ quan nhà nước sửa chữa những vi phạm
pháp luật của mình trên các lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội (một thời chúng
ta gọi là kiểm sát chung) cũng là thực hành quyền công tố. Công tố không phải
là một chức năng độc lập của VKSND, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức
thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật [44, tr.85-87]. Thứ hai,
quyền công tố là quyền đại diện cho nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm trật
tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích của nhà nước, bảo vệ trật tự
pháp luật. Quyền công tố xuất hiện từ khi có nhà nước và pháp luật, được thể
hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự, cùng với sự phát triển của
xã hội, của các ngành luật, quyền công tố được mở rộng sang lĩnh vực dân sự,
tố tụng dân sự và ngày nay tiếp tục mở rộng sang các lĩnh vực tố tụng tư pháp
khác. Theo quan điểm này, trong khoa học pháp lýXHCN, khái niệm quyền
công tố được xác định trên cơ sở các khái niệm công tố nhà nước, công tố xã
hội và tư tố. Do đó, quyền công tố là tổng hợp các biện pháp pháp lý đặc trưng
theo luật định mà VKSND có trách nhiệm thực hiện trong hoạt động tố tụng tư
pháp, là một nội dung hoạt động thực hiện chức năng của VKSND trong lĩnh
vực tố tụng dân sự, tố tụng hình sự và các lĩnh vực tư pháp khác nhằm bảo đảm
mọi hành vi vi pháp pháp luật, hành vi phạm tội đều được phát hiện, điều tra,
xử lý theo pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, tăng
cường pháp chế thống nhất. Quan điểm này đã quá mở rộng khái niệm, phạm
vi, nội dung của quyền công tố, dẫn đến sự xóa nhòa ranh giới và tính đặc thù
giữa tố tụng hình sự và các lĩnh vực tố tụng khác, đã đồng nhất quyền công tố
với những quyền năng của VKSND trong quá trình giải quyết các vụ án hình
sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động; Thứ ba, quyền công tố là quyền nhà
nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm
hình sự và dùng các chế tài hình sự đối với người phạm tội. Nói cách khác,
quyền công tố giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình

16


khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự và thi hành án hình sự, là
hoạt động tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người khác được
pháp luật quy định có trách nhiệm xác định kẻ phạm tội cũng như các căn cứ để
kết tội và áp dụng các hình phạt đối với người phạm tội [57, tr.380]. Quan điểm
trên đã đồng nhất hoạt động thực hành quyền công tố với nguyên tắc truy cứu
trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội được thực
hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (CQĐT, Cơ quan công tố, Cơ
quan xét xử và Cơ quan thi hành án). Quan điểm này dễ dẫn đến việc nhầm lẫn
giữa hoạt động công tố với các hoạt động buộc tội, xét xử và bào chữa trong tố
tụng hình sự. Thứ tư, quyền công tố bao gồm quyền khởi tố, điều tra vụ án,
quyền truy tố và buộc tội bị cáo trước Tòa án. Quyền công tố luôn gắn với hoạt
động buộc tội nhân danh nhà nước (nhân danh công quyền), do vậy, quyền
công tố chỉ được thực hiện trong một lĩnh vực duy nhất, đó là lĩnh vực tố tụng
hình sự. Chủ thể tham gia vào hoạt động thực hành quyền công tố chỉ bao gồm
CQĐT (Điều tra viên) và Viện công tố (Công tố viên). Riêng quyền truy tố kẻ
phạm tội ra trước phiên tòa chỉ thuộc về Viện công tố. Quyền công tố được sử
dụng không chỉ để bảo vệ các lợi ích công (lợi ích chung của toàn xã hội) mà
cả lợi ích cá nhân khi bị hành vi phạm tội xâm hại. Thứ năm, quyền công tố là
sự cáo buộc của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật, bao
gồm vi phạm hành chính, vi phạm luật dân sự, luật kinh tế và luật hình sự. Và,
quyền công tố là quyền của nhà nước thực hiện sự cáo buộc đó [18, tr.82-88].
Theo quan điểm này, quyền công tố có trong các hoạt động tố tụng khác nhau
và không giống nhau về nội dung cũng như hình thức thực hiện. Thứ sáu,
quyền công tố là quyền của nhà nước đưa các việc làm phạm pháp liên quan
đến lợi ích chung ra Tòa án xét xử, vì nhà nước nhân danh xã hội duy trì trật tự
chung bằng pháp luật. Sự can thiệp của nhà nước vào các việc phạm pháp nói
trên là do nhu cầu duy trì mọi xung đột xã hội gắn với trật tự công cộng. Theo

17


quan điểm này, quyền công tố là quyền lực công, quyền đó thuộc nhà nước
được bắt đầu từ nhu cầu phải duy trì trật tự xã hội bằng pháp luật để bảo vệ lợi
ích của giai cấp thống trị và những lợi ích chung có liên quan. Quyền công tố là
quyền lực công, đòi hỏi phải xử lý các vụ việc xâm phạm lợi ích chung một
cách công khai bằng con đường Tòa án. Vì thế quyền công tố thường gắn với
quyền tài phán của Tòa án [17, tr.138-140].
Những quan điểm khác nhau về phạm vi thực hành quyền công tố trên
đây đều có những hạt nhân hợp lý, nhưng xuất phát từ căn cứ khoa học, các
quy định của pháp luật, thực tiễn hoạt động của các cơ quan tư pháp cũng như
kinh nghiệm tổ chức và hoạt động công tố ở các nước khác cho thấy các quan
điểm trên đã bộc lộ một số bất cập sau: Thứ nhất, hoặc là đánh đồng quyền
công tố với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND, dẫn đến
tình trạng mở rộng phạm vi thực hành quyền công tố vượt khỏi lĩnh vực tố
tụng hình sự sang các lĩnh vực tư pháp khác như dân sự, lao động, hành
chính, kinh tế; Thứ hai, hoặc là coi quyền công tố là một quyền năng, một
hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng
hình sự, dẫn đến việc xem nhẹ bản chất của quyền công tố như là một hoạt
động độc lập của VKSND nhân danh quyền lực công; Thứ ba, hoặc là quá thu
hẹp phạm vi quyền công tố, coi quyền công tố là quyền của VKSND truy tố
kẻ phạm tội ra trước Tòa án và thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa hình sự.
Từ những phân tích nêu trên, thì phạm vi thực hành quyền công tố
được xác định là:
- Quyền công tố được giao cơ quan nhà nước nhất định, cơ quan đó
có thể là cơ quan công tố hoặc Viện kiểm sát nhân dân. Những cơ quan này
là cơ quan thực hành quyền công tố được tiến hành các hoạt động tố tụng
giải quyết vụ án hình sự theo qui định của pháp luật. Như vậy, thực hành
quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực TTHS chứ không có trong các lĩnh vực
hành chính, kinh tế, dân sự...

18


- Thực hành quyền công tố được khởi động từ khi cơ quan công tố/
Viện kiểm sát nhân dân nhận được tin báo, tố giác về tội phạm và kết thúc
khi bản án có hiệu lực pháp luật do tòa án tuyên. Các hoạt động xác minh
tin báo, tố giác về tội phạm để khẳng định có dấu hiệu tội phạm hay không
được tiến hành trước khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự cũng được coi
là nội dung của việc thực hành quyền công tố và được xác định là phạm vi
thực hành quyền công tố;
- Trong quá trình thực hành quyền công tố, cơ quan công tố/ Viện kiểm
sát nhân dân có quyền ra quyết định khởi tố vụ án, tiến hành các biện pháp
điều tra làm rõ tội phạm, áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhằm ngăn chặn
tội phạm hoặc bảo đảm điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá
trình giải quyết vụ án hình sự, truy tố người phạm tội và bảo vệ cáo trạng
trước tòa án.
1.2.2. Nội dung thực hành quyền công tố
Với phạm vi quyền công tố, như đã xác định ở phần trên thì nội dung
của hoạt động thực hành quyền công tố được hiểu là việc sử dụng tất cả
những quyền năng tố tụng nhằm đảm bảo phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm
minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt người, lọt tội, không làm oan người
vô tội. Theo đó nội dung quyền công tố bao gồm:
1.2.2.1. Những hoạt động phát động quyền công tố: khởi tố vụ án, khởi
tố bị can
Khi có tội phạm xảy ra, để có thể truy cứu TNHS đối với người phạm
tội cần phải phát động quyền công tố đối với sự việc phạm tội và đối với
người thực hiện tội phạm bằng các quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can
của cơ quan công tố hoặc cơ quan khác theo qui định của pháp luật.
Khởi tố vụ án: là việc nhà nước chính thức công khai trước toàn xã hội
có tội phạm xảy ra và bắt đầu triển khai các hoạt động thực hành quyền truy

19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×