Tải bản đầy đủ

LVTS 2015 nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo luật tố tụng hình sự việt nam

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

PHAN B BY

NGUYÊN TắC THẩM PHáN
Và HộI THẩM XéT Xử ĐộC LậP Và CHỉ TUÂN THEO PHáP LUậT
THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

PHAN B BY

NGUYÊN TắC THẩM PHáN

Và HộI THẩM XéT Xử ĐộC LậP Và CHỉ TUÂN THEO PHáP LUậT
THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. NGUYN VN TUN

H NI - 2015


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực. Những
kết luận khoa học của luận văn chƣa từng đƣợc ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phan Bá Bảy


MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC THẨM
PHÁN VÀ HỘI THẨM XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN
THEO PHÁP LUẬT THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM.................................................................................................7
1.1.

Khái niệm nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc

lập và chỉ tuân theo pháp luật .......................................................... 7

1.2.

Nội dung nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật ........................................................ 13

1.2.1.

Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập ............................................ 14

1.2.2.

Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật ............. 21

1.2.3.

Mối quan hệ giữa độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt
động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm ......................................... 25

1.3.

Ý nghĩa của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật ........................................................ 28

1.4.

Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật trong mối liên hệ với các nguyên tắc
khác trong luật tố tụng hình sự ...................................................... 30

1.4.1.

Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật trong mối liên hệ với nguyên tắc bảo đảm sự vô
tƣ của những ngƣời tiến hành hoặc ngƣời tham gia tố tụng ............. 30


1.4.2.

Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật trong mối liên hệ với nguyên tắc suy đoán vô tội ..... 32

1.4.3.

Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật trong mối liên hệ với nguyên tắc xác định sự thật
của vụ án ............................................................................................ 33

1.4.4.

Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật trong mối liên hệ với nguyên tắc bảo đảm quyền bình
đẳng trƣớc Toà án ............................................................................... 34

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 35
Chương 2: NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM XÉT XỬ
ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT THEO QUY
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI
ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK ..................................................................... 36
2.1.

Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật theo quy định pháp luật ............................... 36

2.2.

Thực tiễn áp dụng nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk ...... 47

2.2.1.

Tình hình xét xử trong những năm gần đây (2009 – 2014) .............. 47

2.2.2.

Những hạn chế trong việc tuân thủ nguyên tắc Thẩm phán và
Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật tại Đắk Lắk ...... 48

2.2.3.

Nguyên nhân của những hạn chế trong việc tuân thủ nguyên tắc
Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật tại Đắk Lắk ................................................................................. 61

KẾT LUẬN CHƢƠNG 2................................................................................ 74
Chương 3: NHỮNG YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM
XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT...................... 75


3.1.

Những yêu cầu cải cách tư pháp về nguyên tắc Thẩm phán,
Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật .................... 75

3.2.

Những giải pháp để nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc
Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật ........................................................................................... 83

3.2.1.

Triển khai thực hiện Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Tòa
án nhân dân năm 2014 ....................................................................... 83

3.2.2.

Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về đảm bảo hiệu quả áp
dụng nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật ............................................................................ 89

3.2.3.

Nâng cao trình độ chuyên môn của Thẩm phán, Hội thẩm nhân
dân để đảm bảo hiệu quả nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm
xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật .......................................... 96

3.2.4.

Giải pháp trau dồi đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán và Hội thẩm .. 100

3.2.5.

Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân .................................... 102

3.2.6.

Các giải pháp khác .......................................................................... 104

KẾT LUẬN CHƢƠNG 3.............................................................................. 107
KẾT LUẬN .................................................................................................. 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 111


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS:

Bộ luật hình sự

BLTTHS:

Bộ luật Tố tụng hình sự

HĐXX:

Hội đồng xét xử

PLHS:

Pháp luật hình sự

TAND:

Tòa án nhân dân

TTHS:

Tố tụng hình sự

VKSND:

Viện kiểm sát nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1: Số vụ án hình sự đƣợc thụ lý và số bị cáo

47

Bảng 2.2: Số lƣợng vụ án hình sự đƣợc giải quyết

47

Bảng 2.3: Số lƣợng bị cáo đƣợc đƣa ra xét xử

47


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Xét xử là hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án, trong hệ thống cơ quan
Nhà nƣớc thì chỉ có Tòa án có quyền xét xử và quyết định một ngƣời có tội hay
không có tội. Việc xét xử của Tòa án phải dựa trên cơ sở pháp luật mới đảm bảo
tính khách quan, vô tƣ không bị phụ thuộc bởi bất kỳ tác động khách quan hay chủ
quan của cơ quan, tổ chức nào.
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật là một trong những nguyên tắc cơ bản để Tòa án thực hiện nhiệm vụ xét xử.
Thẩm phán và Hội thẩm có quyền đƣa ra phán quyết dựa trên cơ sở quy định của
pháp luật để giải quyết vụ án một cách khách quan chính xác mà không phải phụ
thuộc vào bất cứ một tác động nào khác. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật là một nguyên tắc hiến định, có lịch sử hình thành và phát
triển lâu dài. Nó đã đƣợc quy định từ Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959,
Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013; Các luật tổ
chức TAND năm 1960, 1981, 1992, 2002, 2014 và tại Điều 16 BLTTHS. Mặc dù
đã đƣợc quy định trong Hiến pháp và nhiều văn bản pháp luật khác nhƣng trên thực
tế việc áp dụng nguyên tắc này vẫn còn nhiều bất cập, chƣa thực sự đem lại hiệu
quả thiết thực trong quá trình Tòa án xét xử các vụ án hình sự. Để đáp ứng yêu cầu
đổi mới trong hoạt động xét xử, Đảng và Nhà nƣớc ta rất quan tâm và ban hành
nhiều chính sách, pháp luật, đề ra phƣơng hƣớng, mục tiêu và quy định cụ thể về
hoạt động xét xử của Tòa án. Cụ thể: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002
của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tƣ pháp trong thời
gian tới đã xác định:
Khi xét xử, các Tòa án phải đảm bảo cho mọi công dân đều bình
đẳng trƣớc pháp luật, thực sự dân chủ khách quan; Thẩm phán và Hội
thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Việc phán quyết của Tòa án phải
căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét
đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của ngƣời bào
chữa, của bị cáo, nguyên đơn, bị đơn [3].

1


Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lƣợc cải
cách tƣ pháp đến năm 2020 đã chỉ rõ:
Hoạt động tƣ pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử đƣợc tiến
hành có hiệu quả và hiệu lực cao và đề ra yêu cầu: Đổi mới việc tổ chức
phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của
ngƣời tiến hành tố tụng và ngƣời tham gia tố tụng theo hƣớng bảo đảm
tính công khai, dân chủ, nghiêm minh, nâng cao chất lƣợng tranh tụng tại
phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tƣ pháp [4].
Với lý do nêu trên, trƣớc yêu cầu của Đảng, Nhà nƣớc và thực tiễn trong việc
xét xử của Tòa án đảm bảo tính khách quan, độc lập, đúng pháp luật, tác giả luận
văn nhận thấy cần phải nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống những vấn đề về
lý luận và thực tiễn áp dụng đối với nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Để có điều kiện nghiên cứu, phân tích sâu và đƣa ra những yêu cầu, giải
pháp nhằm hoàn thiện về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật, tác giả luận văn chọn đề tài: Nguyên tắc Thẩm phán và
Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo luật TTHS Việt Nam
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk) làm đề tài nghiên cứu luận
văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật với tƣ cách là một nguyên tắc Hiến định, có thời gian tồn tại lâu dài trong suốt
thời gian 69 năm (từ Hiến pháp năm 1946). Từ đó đến nay, ở trong nƣớc đã có khá
nhiều nghiên cứu về nguyên tắc này nhƣ:
1. Nguyễn Thanh Sơn (1991), “Độc lập xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân”. Tạp chí Tòa án nhân dân.
2. Trần Ba (1996), “Nguyên tắc Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân
dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, Luận văn thạc sỹ luật học.
3. Hoàng Thị Sơn (1996), Tìm hiểu nguyên tắc khi xét xử, Thẩm phán và
Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” Tạp chí Luật học

2


4. Nguyễn Văn Hiện (1999), “Vấn đề giới hạn xét xử của TAND”, Tạp chí TAND.
5. Trần Văn Độ (2003), “Đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND”, Tạp chí
dân chủ và pháp luật.
6. GS.TS. Nguyễn Đăng Dung, “Những bảo đảm cho nguyên tắc Tòa án
độc lập xét xử có hiệu lực thực tế”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp (2007).
7. PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí, “Một số yếu tố ảnh hưởng đến nguyên tắc
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, Tạp
chí Nhà nƣớc và pháp luật số 2/2009.
8. TS.Nguyễn Đức Mai (2008), Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS
hiện hành nhằm nâng cao chất lƣợng tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, Tạp chí Luật
học số 7/2008.
9. Từ Thị Hải Dƣơng (2009), Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Luật Hà Nội.
10. TS. Nguyễn Văn Tuân, “Bảo đảm sự độc lập của Thẩm phán trong hoạt
động xét xử”, Tạp chí dân chủ và pháp luật số chuyên đề tháng 01/2011.
11. Lƣu Tiến Dũng (2011), Những vấn đề về độc lập xét xử trong quá trình
xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện khoa
học xã hội, Viện khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội.
12. Lâm Thị Thanh Nhàn (2014), Hoàn thiện pháp luật về quy định nhiệm vụ,
quyền hạn của Thẩm phán nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự trước
yêu cầu cải cách tư pháp, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học quốc gia Hà Nội.
Trên cơ sở tiếp thu tổng hợp những công trình nghiên cứu khoa học, các đề
tài và các bài viết cùng với sự nghiên cứu, tìm hiểu của mình, tác giả luận văn đi sâu
vào phân tích nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật theo Luật TTHS Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tế địa bàn tỉnh Đắk
Lắk) để thấy rằng việc áp dụng nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật theo Luật TTHS Việt nam trên thực tế vẫn còn có nhiều
bất cập, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu đổi mới của Đảng và Nhà nƣớc về hoạt động
xét xử của Tòa án theo tinh thần cải cách tƣ pháp hiện nay mà Đảng và Nhà nƣớc đã

3


nêu rõ trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị. Từ đó đƣa ra những yêu cầu, giải pháp
phù hợp để góp phần xây dụng nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật theo luật TTHS Việt nam đƣợc thực hiện, áp dụng thống
nhất có hiệu quả cao hơn. Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài này cũng nhằm mục đích
khẳng định đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc ta trong quá trình cải cách
tƣ pháp là đúng đắn, kịp thời và cần phải thống nhất thực hiện.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài luận văn có mục đích phân tích làm sáng tỏ về mặt lý luận đối với
nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
theo Luật TTHS Việt nam và việc áp dụng nguyên tắc này vào thực tiễn trên địa
bàn tỉnh Đắk Lắk, từ đó đƣa ra những yêu cầu, giải pháp nhằm hoàn thiện
nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
theo Luật TTHS Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ khái niệm, nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc Thẩm phán và Hội
thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo Luật TTHS Việt nam.
- Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng
nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo
Luật TTHS Việt nam trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong hoạt động xét xử của Tòa án.
Từ đó đƣa ra một số yêu cầu, giải pháp nhằm hoàn thiện về mặt lý luận và thực tiễn
áp dụng đối với nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật theo Luật TTHS Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu những vấn đề về lý luận và thực tiễn áp dụng
nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo
Luật TTHS Việt Nam trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong hoạt động xét xử của Tòa án.

4


4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài có phạm vi nghiên cứu về
những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đối với nguyên
tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo Luật
TTHS Việt Nam trong hoạt động xét xử của Tòa án.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh về Nhà nƣớc và pháp luật, đƣờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc
đối với hoạt động xét xử của Tòa án và cụ thể là tính độc lập xét xử của Thẩm
phán và Hội thẩm.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận
của triết học Mác – Lênin mà cụ thể là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
đồng thời sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu khoa học nhƣ: Phân tích, tổng
hợp, logic biện chứng, hệ thống.
6. Những điểm mới về khoa học của luận văn
- Về mặt lý luận:
Luận văn làm rõ đƣợc khái niệm, nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc
Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo Luật
TTHS Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn:
Luận văn đi sâu phân tích một cách toàn diện, có hệ thống về các quy định
của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm
xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo Luật TTHS Việt Nam trên địa bàn
tỉnh Đắk Lắk, trong hoạt động xét xử của Tòa án. Trên cơ sở đó đề ra một số yêu
cầu, giải pháp nhằm hoàn thiện về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng đối với nguyên
tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo Luật
TTHS Việt Nam, góp phần vào quá trình cải cách tƣ pháp trong thời gian tới mà
Đảng và Nhà nƣớc ta đang đặt ra.

5


7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa về lý luận: Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, có tính hệ
thống và toàn diện về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật theo Luật TTHS Việt Nam. Đề tài luận văn làm sáng tỏ vai trò quan
trọng của độc lập xét xử và tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm để từ
đó có thể đánh giá đƣợc thực trạng của các cơ sở hiến định và pháp luật về độc lập
xét xử nhìn từ góc độ tổ chức và thực hiện quyền lực Nhà nƣớc và thực tiễn thi hành
các quy định đó.
- Ý nghĩa về thực tiễn: Từ kết quả nghiên cứu của luận văn để các cơ quan
ban ngành, cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng và đặc biệt là Thẩm
phán và Hội thẩm xác định đúng đắn, thống nhất khi áp dụng nguyên tắc Thẩm
phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo Luật TTHS Việt
Nam. Từ đó, đƣa ra những yêu cầu, giải pháp nhằm hoàn thiện những điểm còn bất
cập khi áp dụng nguyên tắc này. Ngoài ra, luận văn còn có thể làm tài liệu tham
khảo trong công tác giảng dạy và nghiên cứu đối với môn học Luật TTHS và kết
quả nghiên cứu này cũng có thể đƣợc vận dụng trong công tác lập pháp sửa đổi, bổ
sung BLTTHS và thực tiễn áp dụng BLTTHS đối với nguyên tắc Thẩm phán và Hội
thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo luật TTHS Việt Nam.
8. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm có 3 chƣơng:
Chương 1:

Những vấn đề chung về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo Luật TTHS Việt Nam.

Chương 2:

Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật theo quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng
tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk.

Chương 3:

Những yêu cầu và giải pháp để nâng cao hiệu quả áp dụng
nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật.

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN
VÀ HỘI THẨM XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT
THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật
Nguyên tắc “khi xét xử Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”
đƣợc qui định trong các bản Hiến pháp của Việt Nam kể từ Hiến pháp 1946.
Lịch sử phát triển của Nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã trải qua nhiều
giai đoạn với 5 bản Hiến pháp đƣợc ban hành tại những thời điểm lịch sử khác
nhau. Nguyên tắc này khẳng định trong hoạt động xét xử, Thẩm phán không phụ
thuộc vào bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào khi đƣa ra các nhận định đánh giá và
phán quyết của mình về vụ án. Mọi cá nhân, tổ chức không đƣợc can thiệp vào
các hoạt động xét xử của Tòa án.
Ở Việt Nam, tổ chức bộ máy Nhà nƣớc hiện nay theo nguyên tắc quyền lực
Nhà nƣớc là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực
hiện quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp. Tòa án là cơ quan thực hiện hoạt động
tƣ pháp - hoạt động nhân danh công lý và dựa vào công lý thì Tòa án phải xét xử
nhƣ một ngƣời đứng giữa, trung lập, không phụ thuộc vào bên nào, chỉ xét xử độc
lập và tuân theo pháp luật thì Tòa án mới tồn tại đúng với bản chất của mình là một
cơ quan bảo vệ công lý. Mặt khác, nguyên tắc này hình thành còn xuất phát từ chế
độ dân chủ nhân dân ở nƣớc ta. Việc xét xử của Tòa án có Hội thẩm nhân dân tham
gia đã đƣợc hiến pháp và pháp luật quy định, đó là một trong những nguyên tắc thể
hiện rõ tƣ tƣởng “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” và chế độ dân chủ xã hội
chủ nghĩa. Pháp luật giao trọng trách cho Hội thẩm nhân dân thay mặt nhân dân
tham gia xét xử, giám sát, chế ƣớc, hạn chế tiêu cực trong hoạt động của Tòa án,
bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Giúp cho việc xét xử của Tòa án
đƣợc rõ ràng, chính xác, phù hợp với tình hình thực tế và đáp ứng đƣợc nguyện
vọng chính đáng của nhân dân.

7


Nguyên tắc này khẳng định trong hoạt động xét xử, Thẩm phán không phụ
thuộc vào bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào khi đƣa ra các nhận định đánh giá và phán
quyết của mình về vụ án. Mọi cá nhân, tổ chức không đƣợc can thiệp vào các hoạt
động xét xử của Tòa án.
Theo từ điển Tiếng Việt, “nguyên tắc” với nghĩa chung nhất đƣợc hiểu là
“điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loại việc làm”[56]. Nhƣ
vậy, nguyên tắc là điều không thể thiếu trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của
con ngƣời, đảm bảo cho những hoạt động đó đi đúng hƣớng và đạt hiệu quả cao.
Hiện nay đang có những quan niệm khác nhau về nguyên tắc cơ bản của
Luật TTHS, nhƣ định nghĩa, tiêu chí, cách phân loại cũng nhƣ xác định giá trị các
nguyên tắc cơ bản trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Tuy nhiên quan niệm
chung nguyên tắc của TTHS là “những tư tưởng chỉ đạo đối với toàn bộ hoạt động
TTHS hoặc đối với một loại hoạt động nhất định”[57]; “là những quan điểm, tư
tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ các chế định pháp luật, các quy phạm pháp luật
cụ thể về TTHS” [43]; hoặc đó là “những phương châm, định hướng chi phối toàn
bộ hoạt động TTHS và được các văn bản pháp luật TTHS ghi nhận” [43].
Tuy nhiên, những quan niệm trên đây đều nhấn mạnh tính chỉ đạo của các
nguyên tắc mà chƣa nhấn mạnh một tính chất khác của nguyên tắc – đó là tính đòi
hỏi khách quan là yêu cầu khách quan đảm bảo cho hoạt động TTHS đạt đƣợc mục
đích, đƣợc phản ánh trong pháp luật, trở thành những bảo đảm pháp lý. Nếu không
nhấn mạnh tính đòi hỏi khách quan này của nguyên tắc thì việc xây dựng pháp luật
TTHS không thể đảm bảo tính khoa học và những đổi mới sẽ ít nhiều dễ bị tùy tiện,
chủ quan, duy ý chí.
Các quan điểm đƣợc thừa nhận rộng rãi cho rằng nguyên tắc cơ bản của luật
TTHS bao gồm: Thứ nhất, đây là những quan điểm, tƣ tƣởng chỉ đạo xuyên suốt toàn
bộ các chế định pháp luật, các quy phạm pháp luật cụ thể về TTHS; Thứ hai, nguyên
tắc TTHS đƣợc phản ánh trên ba lĩnh vực: trong luật thực định, trong việc giải thích,
trong thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật TTHS trừu tƣợng; Thứ ba, các nguyên
tắc này luôn đƣợc các nhà làm luật ghi nhận trong các quy phạm pháp luật [5].

8


Giáo trình luật TTHS Việt Nam của Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội đã
đƣa ra các đặc điểm của nguyên tắc cơ bản của luật TTHS. Thứ nhất, các nguyên tắc
cơ bản của luật TTHS là những tƣ tƣởng, định hƣớng của hoạt động TTHS; Thứ hai,
các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS chi phối toàn bộ quá trình khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử, thi hành án hoặc chi phối một số giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án
hình sự; Thứ ba, các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS đƣợc ghi nhận trong các văn
bản pháp luật của Nhà nƣớc nhƣ Hiến pháp, Bộ luật TTHS…; Thứ tư, các nguyên tắc
cơ bản của luật TTHS phản ảnh những nguyên lý cơ bản nhất trong quá trình giải
quyết vụ án hình sự; Thứ năm, luật TTHS có các nhóm nguyên tắc cơ bản sau: các
nguyên tắc đảm bảo pháp chế XHCN trong hoạt động TTHS; các nguyên tắc đảm
bảo tính dân chủ trong hoạt động TTHS; các nguyên tắc đảm bảo quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân. Trên cơ sở các đặc trƣng này, giáo trình đã đƣa ra định nghĩa
về các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS: “Nguyên tắc cơ bản của luật TTHS là
những phương châm, định hướng chi phối toàn bộ hay một số giai đoạn của hoạt
động TTHS trong quá trình xây dựng và áp dụng luật tố tụng hình sự”[13].
Trong quá trình xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án
hình sự những nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS cần đƣợc quán triệt và thực hiện
nghiêm chỉnh mà đặc trƣng nhất đó là nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Những nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS nói
chung và nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật” nói riêng thể hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nƣớc ta là đảm bảo mọi
tội phạm đều đƣợc phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp
luật, không bỏ lọt tội phạm và làm oan ngƣời vô tội. Theo tinh thần và nội dung của
chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020 của Đảng ta, cần phải có sự nhận thức rõ
hơn vị trí, vai trò của Toà án trong bộ máy Nhà nƣớc và những nguyên tắc hoạt động
cơ bản của Toà án, trong đó có nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật”. Để làm rõ nội dung nguyên tắc này trƣớc những yêu cầu
của cải cách tƣ pháp, trƣớc hết cần xuất phát từ vị trí xã hội và những giá trị xã hội
của Toà án - với tƣ cách là cơ quan đƣợc Nhà nƣớc trao quyền, nhân danh Nhà nƣớc

9


thực hiện quyền tƣ pháp. Có thể thấy, sự thừa nhận về mặt pháp lý đối với độc lập tƣ
pháp cần đảm bảo triệt để các yếu tố: thứ nhất, Tòa án phải đƣợc trao thẩm quyền
giải quyết mọi vấn đề mang tính chất tƣ pháp; thứ hai, Tòa án phải là cơ quan duy
nhất có quyền quyết định trong việc xác định vụ việc đang yêu cầu giải quyết có
thuộc thẩm quyền xét xử của mình hay không, dựa trên các quy định pháp luật về
TTHS; thứ ba, quyết định cuối cùng Tòa án đƣa ra không phải chịu bất kì sự chi phối
hoặc áp đặt về mặt ý chí của bất kỳ cơ quan quyền lực nào [8].
Là cơ quan trong hệ thống tƣ pháp, Tòa án có những đặc thù so với các cơ
quan khác trong hệ thống này, đó là:
- Tòa án, ngƣời đại diện của quyền lực tƣ pháp khác với cơ quan lập pháp và
hành pháp ở chỗ không giải quyết các vấn đề ở tầm vĩ mô, không hoạch định chính
sách kinh tế - xã hội mà có chức năng giải quyết các vấn đề rất cụ thể, từng tình
huống, từng sự kiện cụ thể trong đời sống xã hội. Vì vậy, cách thức tổ chức và hoạt
động khác với cơ quan lập pháp và hành pháp. Nói cách khác, so với hai cơ quan
nói trên, Tòa án "thụ động" hơn, phải "chờ" có việc thì mới xét xử. Toà án chủ yếu
đóng vai trò là một bộ máy “quyền lực” chứ không sản sinh ra “công lực” mới, nó
thực hiện việc áp dụng pháp luật, đƣa việc thực hiện quyền lực tƣ pháp vào cuộc
sống. Bởi vì thông qua quyền lực tƣ pháp mà pháp luật tác động đến những quan hệ
xã hội. Đây không phải là phƣơng tiện duy nhất nhƣng là phƣơng tiện chủ yếu trong
việc giải quyết các trƣờng hợp xung đột giữa các quan hệ pháp luật.
- Những ngƣời làm công tác xét xử phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
pháp lý rất cao, đủ khả năng để giải quyết các vấn đề rất phức tạp nhƣ xác định tội
phạm, ngƣời phạm tội và áp dụng hình phạt, phán quyết các tranh chấp, các sự kiện
liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức.
- Lao động xét xử là lao động sáng tạo trong áp dụng pháp luật, đòi hỏi tƣ
duy ở trình độ cao của ngƣời Thẩm phán. Họ phải tiếp cận với một hệ thống đồ sộ
các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, kể cả pháp luật của các quốc gia khác
khi có liên quan và cả pháp luật quốc tế.
- Lao động xét xử luôn luôn bị giới hạn bởi những quy định khắt khe của
pháp luật tố tụng về chứng cứ, về thời hạn, về độ chính xác của bản án, quyết định.

10


- Việc xét xử phải tuân theo các nguyên tắc Hiến định cũng nhƣ nguyên tắc
tố tụng. Các Tòa án về nguyên lý không tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống
nhất mà tổ chức thành từng cấp, độc lập với nhau khi xét xử. Trong số các nguyên
tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Toà án thì nguyên tắc Thẩm phán và Hội
thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật chiếm vị trí đặc biệt và là nguyên tắc
rất đặc trƣng.
Trong Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vị trí, vai trò của Toà án lại
càng đƣợc khẳng định. Vì Toà án chính là cơ quan thực thi quyền tƣ pháp trong bộ
máy Nhà nƣớc và việc thực thi quyền này lại ảnh hƣởng trực tiếp tới mục tiêu và
các giá trị của công cuộc xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền ở Việt Nam; Toà án là nơi
thể hiện sâu sắc nhất bản chất của Nhà nƣớc và nền công lý của chế độ, đồng thời
thể hiện chất lƣợng hoạt động và uy tín của cả hệ thống tƣ pháp trong Nhà nƣớc
pháp quyền xã hội chủ nghĩa [24].
Theo nghĩa rộng, xét xử là sự tổng hợp một chuỗi hoạt động của Tòa án kể
từ thời điểm thụ lý vụ án cho đến khi ra bản án hoặc quyết định nhằm giải quyết vụ
án. Nhƣ vậy xét xử là xem xét và giải quyết vụ án.
Theo nghĩa hẹp thì xét xử là hoạt động của Thẩm phán và Hội thẩm tại phiên
tòa mà kết quả là ra bản án hoặc quyết định để giải quyết vụ án. “Độc lập xét xử là
một nguyên tắc có tính đặc thù, chỉ có thể được áp dụng đối với Thẩm phán và Hội
thẩm trong khi xét xử” [44].
Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nghĩa là phải tự mình đƣa ra kết luật giải
quyết vấn đề trên cơ sở quy định của pháp luật mà không phụ thuộc vào bất cứ yếu
tố nào khác. Đó là những tƣ tƣởng chủ đạo, định hƣớng trở thành xử sự bắt buộc
chung đối với Thẩm phán và Hội thẩm khi đƣợc phân công xét xử vụ án. Theo Từ
điển Tiếng Việt thì “xét xử” là “xem xét và xử các vụ án” và “độc lập” là tự mình
tồn tại, hoạt động, không nƣơng tựa hoặc phụ thuộc vào ai. Nhƣ vậy, độc lập xét xử
là xem xét các vụ án không phụ thuộc và nƣơng tựa vào ai [56]. Nguyên tắc Thẩm
phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là một trong những
nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Việt Nam; là những tƣ tƣởng chủ đạo xuyên

11


suốt toàn bộ hoạt động xây dựng, thực thi, kiểm soát pháp luật tố tụng hình sự; trở
thành xử sự bắt buộc chung đối với Thẩm phán và Hội thẩm khi đƣợc phân công xét
xử vụ án; là hƣớng tới mục đích giải quyết vụ án khách quan, dân chủ đảm bảo
công bằng, công lý trong giải quyết vụ án hình sự. Dù là Nhà nƣớc tƣ sản hay Nhà
nƣớc xã hội chủ nghĩa thì vấn đề độc lập xét xử của Tòa án cũng đều đƣợc thừa
nhận nhƣ một nguyên tắc cơ bản trong Hiến pháp và pháp luật.
Khái niệm “khi xét xử” phải đƣợc hiểu là bao gồm tất cả các giai đoạn mà
Thẩm phán thực hiện chức năng tố tụng và ra các quyết định thuộc thẩm quyền tố
tụng nhƣ quyết định về thụ lý hồ sơ, về triệu tập nhân chứng, thu thập chứng cứ….
Bởi kết quả của các hoạt động là tiền đề để thực hiện các hoạt động tố tụng khác
đƣợc thực hiện tại phiên tòa, nhƣ vậy cần phải đảm bảo các giai đoạn đƣợc thực
hiện khách quan và độc lập. Theo tác giả luận văn, độc lập xét xử phải đƣợc hiểu
với nghĩa là khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm phải có chính kiến, quan điểm của
mình trong việc đánh giá chứng cứ, xác định tội danh, mức hình phạt và giải quyết
các vấn đề khác dựa trên quy định của pháp luật, đảm bảo việc xét xử công bằng,
khách quan. Hay nói cách khác là Thẩm phán và Hội thẩm cần phải độc lập đƣa ra
các quyết định của mình “khi xét xử bất kỳ vụ án gì, ở bất cứ cấp xét xử nào và tại
bất cứ giai đoạn xét xử nào”[20].
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Việt Nam; là những tƣ
tƣởng chủ đạo xuyên suốt toàn bộ hoạt động xây dựng, thực thi, kiểm soát pháp luật
tố tụng hình sự; trở thành xử sự bắt buộc chung đối với Thẩm phán và Hội thẩm khi
đƣợc phân công xét xử vụ án; là hƣớng tới mục đích giải quyết vụ án khách quan, dân
chủ đảm bảo công bằng, công lý trong giải quyết vụ án hình sự. Từ sự phân tích và
thừa nhận những quan điểm của những ngƣời nghiên cứu trƣớc đó về khái niệm
nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, tác
giả luận văn đƣa ra khái niệm về nguyên tắc này nhƣ sau: Với vị trí là một trong
những nguyên tắc cơ bản của luật TTHS, nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật đòi hỏi trong hoạt động xét xử Thẩm phán và Hội

12


thẩm phải sáng suốt tự mình đưa ra quyết định để giải quyết vụ án, không lệ thuộc
vào bất cứ yếu tố nào khác. Hoạt động xét xử phải đảm bảo đúng pháp luật về trình
tự thủ tục cũng như các quyết định đưa ra phải chính xác, có căn cứ pháp lý. Không
một cá nhân, cơ quan, tổ chức nào được phép can thiệp vào hoạt động xét xử.
1.2. Nội dung nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật
Điều 130 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội
thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” [34]. Tại khoản 2 Điều 103 Hiến pháp
năm 2013 tiếp tục khẳng định mạnh mẽ hơn “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào
việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” [40]. Khái niệm độc lập xét xử theo quy
định của Hiến pháp Việt Nam có thể hiểu là việc xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền
của Tòa án không phụ thuộc vào bất kỳ ai ngoài những ngƣời có thẩm quyền xét xử.
Bản chất chế định Hội thẩm nhân dân là sự thể hiện tƣ tƣởng “lấy dân làm
gốc”, bảo đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử
của Tòa án. Hội thẩm bằng sự tham gia của mình vào HĐXX để thực hiện quyền tƣ
pháp, đồng thời thông qua đó để nhân dân tham gia một cách có hiệu quả vào công
tác quản lý Nhà nƣớc nói chung và hoạt động của Tòa án nói riêng. Luật Tổ chức
TAND năm 2002, tại Điều 5 quy định: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Tại khoản 1 Điều 9 Luật Tổ chức TAND tiếp tục
quy định mạnh mẽ hơn “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm
phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào”. Nghĩa là khi tham gia xét xử một vụ án
cụ thể, Hội thẩm nhân dân phải nghiên cứu và nắm vững hồ sơ, thu thập thông tin
và quá trình diễn biến tại phiên tòa, độc lập suy xét, chí công vô tƣ, không vì nể
hoặc vì áp lực của bất cứ cá nhân hoặc tổ chức nào. Thẩm phán và Hội thẩm đƣa ra
phán quyết trên cơ sở quy định của pháp luật để giải quyết vụ án một cách khách
quan, chính xác [11].
Hội thẩm có địa vị pháp lý và vai trò rất quan trọng trong công tác xét xử bởi

13


chiếm đa số thành viên trong HĐXX và ngang quyền với Thẩm phán khi đƣa ra các
phán quyết về vụ án. Khi xét xử, nếu ý kiến biểu quyết của các Hội thẩm giống
nhau nhƣng khác ý kiến của Thẩm phán thì quyết định của HĐXX phải theo ý kiến
của các Hội thẩm. Thẩm phán chỉ có quyền bảo lƣu ý kiến và đề nghị Tòa án cấp
trên xem xét. Bản án, quyết định của HĐXX chứa đựng trách nhiệm không chỉ của
cá nhân Thẩm phán mà cả trách nhiệm của xã hội.
Để tìm hiểu rõ hơn về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật, cần xem xét lần lƣợt nội dung cụ thể sau:
1.2.1. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập
Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định Tòa án là cơ quan xét xử, thực hiện
quyền tƣ pháp.
Độc lập xét xử đƣợc xuất hiện từ tƣ tƣởng phân chia quyền lực nhà nƣớc
thành quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tƣ pháp của Montesquieu. Ông cho
rằng “không có gì là tự do nếu quyền tư pháp không được tách khỏi quyền lập pháp
và quyền hành pháp” [26], độc lập xét xử là một thuộc tính không thể thiếu trong
bất kỳ quốc gia nào. Quyền tƣ pháp thực hiện sự phán quyết về những vấn đề mang
tính tƣ pháp, thông thƣờng và chủ yếu là do Tòa án thực hiện.
Độc lập xét xử bao gồm các thành tố cơ bản sau: Độc lập của quyền tƣ pháp,
độc lập của thiết chế thực hiện quyền tƣ pháp, độc lập của những ngƣời thực hiện
quyền lực tƣ pháp. Hay nói một cách khác, độc lập của quyền tƣ pháp với các quyền
lực Nhà nƣớc khác, độc lập của cơ quan Tòa án với các cơ quan quyền lực khác
cũng nhƣ giữa các cơ quan Tòa án với nhau, độc lập của Thẩm phán. Xuất phát từ
bản chất của hoạt động tƣ pháp mà Tòa án là trung tâm của việc thực hiện và xét xử
là hoạt động trọng tâm, đòi hỏi việc xét xử phải bảo đảm tính độc lập. Chính vì vậy,
nguyên tắc độc lập xét xử đƣợc coi là tiền đề, nền tảng của hoạt động tƣ pháp trong
Nhà nƣớc pháp quyền, bảo đảm quan trọng cho việc xét xử đƣợc bình đẳng, dân
chủ, khách quan. Theo tác giả luận văn, nếu lấy chủ thể của hoạt động xét xử để
nghiên cứu thì sự độc lập đƣợc biểu hiện trên hai khía cạnh, đó là: Độc lập với các
yếu tố khách quan và độc lập với các yếu tố chủ quan.

14


Thứ nhất: Độc lập với các yếu tố khách quan.
- Độc lập với sự chỉ đạo của cấp ủy Đảng.
Điều 4 Hiến pháp năm 2013 quy định:
Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công
nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc
Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân
lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh làm nền tảng tƣ tƣởng, là lực lƣợng lãnh đạo Nhà nƣớc và xã
hội [40, Điều 4].
Vai trò lãnh đạo của Đảng thông qua các nghị quyết, Đảng lãnh đạo về chủ
trƣơng và đƣờng lối đối với hoạt động xét xử là cần thiết, nhằm góp phần nâng cao chất
lƣợng và hiệu quả của hoạt động xét xử, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của xã hội. Đảng chỉ
đạo hoặc cho ý kiến về nguyên tắc chung trên cơ sở quy định của pháp luật trong việc
giải quyết, xử lý tội phạm liên quan đến cán bộ, đảng viên, các vụ án nghiêm trọng,
phức tạp về chính trị, kinh tế, xã hội, các vụ án tham nhũng có liên quan đến cán bộ
thuộc diện quản lý của các cấp ủy đảng, các vụ án có liên quan đến quan hệ đối
ngoại… và trực tiếp quản lý công tác cán bộ, trong đó có việc xem xét, quyết định nhân
sự cán bộ lãnh đạo và Thẩm phán Tòa án các cấp. Ở Việt Nam, quyền lực Nhà nƣớc
tập trung và không phân lập nên Quốc hội và Tòa án chỉ là hai bộ phận của hệ thống cơ
quan Nhà nƣớc, không có sự phân quyền nhƣ một số nƣớc khác.
Trong hoạt động của mình Tòa án phải đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng,
nhƣng Nhà nƣớc ta là Nhà nƣớc pháp quyền hoạt động theo nguyên tắc pháp chế và
mọi hoạt động của Đảng, kể cả hoạt động lãnh đạo, cũng phải nằm trong khuôn khổ
pháp luật. Vì lẽ đó, trong hoạt động xét xử, Tòa án chỉ căn cứ vào pháp luật và làm
đúng theo các quy định của pháp luật; nghĩa là, Tòa án luôn độc lập với các cơ quan
khác. Nghị quyết 08-NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tƣ pháp
trong thời gian tới đã chỉ rõ:
Đảng lãnh đạo các cơ quan tƣ pháp chặt chẽ về chính trị, tổ chức
và cán bộ, đảm bảo hoạt động tƣ pháp theo đúng quan điểm của Đảng,

15


pháp luật Nhà nƣớc. Tiếp tục hoàn thiện nội dung và phƣơng thức lãnh
đạo của Đảng đối với công tác tƣ pháp, khắc phục tình trạng cấp ủy
buông lỏng lãnh đạo hoặc cấp ủy viên can thiệp không đúng lúc vào hoạt
động tƣ pháp [3].
Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ chính trị ngày 02/06/2005 về chiến lƣợc cải
cách tƣ pháp đến năm 2020 tiếp tục nhấn mạnh đến sự lãnh đạo của Đảng đối với cơ
quan tƣ pháp, trong đó xác định:
... Xây dựng và thực hiện cơ chế lãnh đạo của cấp ủy Đảng trong
việc chỉ đạo giải quyết những vụ việc quan trọng, phức tạp; Cơ chế phối
hợp làm việc giữa tổ chức Đảng với các cơ quan tƣ pháp và các ban
ngành liên quan theo hƣớng cấp ủy định kỳ nghe báo cáo và cho ý kiến
định hƣớng về công tác tƣ pháp…[4].
Giữa tổ chức Đảng và Thẩm phán còn có mối quan hệ giữa đảng viên và tổ
chức Đảng qua thủ tục bổ nhiệm Thẩm phán. Theo chế độ Đảng lãnh đạo Nhà nƣớc,
trong đó có cơ quan, đơn vị, vị trí cấp ủy đảng trong việc tuyển chọn bổ nhiệm
Thẩm phán rõ ràng sẽ ảnh hƣởng đến độc lập của Thẩm phán khi có sự tác động từ
cấp ủy đảng. Về Hội thẩm, đây là những ngƣời đƣợc Hội đồng nhân dân cùng cấp
bầu theo sự giới thiệu của Ủy ban mặt trận Tổ quốc cùng cấp và Hội đồng nhân dân
cùng cấp bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chánh án TAND cùng
cấp sau khi thống nhất với Ủy ban mặt trận Tổ quốc cùng cấp.
- Độc lập với các cơ quan Nhà nƣớc khác.
Các cơ quan quản lý không đƣợc can thiệp vào việc xét xử của Tòa án vì
công tác xét xử đã đƣợc Nhà nƣớc giao cho Tòa án, sự ràng buộc của Tòa án với
các cơ quan quản lý là sự ràng buộc về quản lý hành chính nhà nƣớc. Sự độc lập
này đƣợc xác định đƣơng nhiên theo nguyên tắc chung tổ chức cơ quan nhà nƣớc,
bảo đảm cho các cơ quan nhà nƣớc trong hoạt động thực hiện chức năng của mình
có sự độc lập tƣơng đối, có thể gọi là độc lập về nghiệp vụ. Mà HĐXX lại đƣợc cử
theo từng vụ án cụ thể, hoạt động có tính độc lập quyết định các vấn đề của vụ án,
lại càng không thể phụ thuộc vào các cơ quan quản lý về mặt xét xử vụ án.

16


Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án đều là công cụ của Nhà nƣớc, bảo vệ
lợi ích của Nhà nƣớc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và bảo vệ quyền lợi của ngƣời
lao động. Tuy nhiên mỗi cơ quan đều có chức năng nhiệm vụ riêng khi tham gia vào
quá trình tố tụng. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đƣa ra chính kiến của mình nhƣng
không buộc HĐXX phải thực hiện theo. Tòa án không lệ thuộc vào ý kiến của Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát. Nếu qua phiên tòa xét thấy cần phải xử lý khác với ý
kiến của các cơ quan trên thì HĐXX phải căn cứ vào pháp luật để xử lý.
Khoản 1 Điều 17 Luật tổ chức TAND năm 2002 quy định: “Tòa án nhân dân
tối cao quản lý các Tòa án nhân dân địa phương về tổ chức có sự phối hợp chặt chẽ
với Hội đồng nhân dân địa phương” [37]. Luật tổ chức TAND năm 2014, tại khoản
1 Điều 18 quy định “Tòa án nhân dân tối cao quản lý các Tòa án nhân dân về tổ
chức”. Việc quy định trên là để các cơ quan tƣ pháp quản lý Tòa án về mặt tổ chức
chứ không có quyền can thiệp vào hoạt động xét xử, làm mất đi tính độc lập của
Thẩm phán và Hội thẩm.
- Sự độc lập của Tòa án với yêu cầu của bị can, bị cáo, ngƣời bào chữa và
những ngƣời tham gia tố tụng khác.
Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm không chỉ độc lập với các cơ quan nhà
nƣớc mà còn độc lập với yêu cầu của bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác,
độc lập với ngƣời bào chữa. Phán quyết của Tòa án bao giờ cũng làm xuất hiện
những nhóm mâu thuẫn về lợi ích, đó là mâu thuẫn lợi ích giữa bị cáo và ngƣời bị
hại, giữa nguyên đơn dân sự và bị đơn dân sự…Ai cũng có nhu cầu kết quả xét xử
phải đƣa lại quyền lợi tối ƣu nhất cho họ hoặc chỉ ít ra cũng tƣớc bỏ tối thiểu quyền
và lợi ích của họ. Sau phán quyết của Tòa án có rất nhiều bình luận từ dƣ luận quần
chúng nhân dân, từ cơ quan báo chí, rằng xử đúng, xử sai, công bằng hay không
công bằng, nặng hay nhẹ. Đặc biệt là đối với các vụ án bị cấp trên hủy xử lại và
những vụ án xử lƣu động. Những vấn đề này đều tác động khá mạnh đến tâm lý của
Thẩm phán và Hội thẩm khi thực hiện nhiệm vụ xét xử. Xử theo đúng pháp luật hay
là xử theo dƣ luận, báo chí, hay xử vì lợi ích của ngƣời bị hại? Xử đúng chƣa chắc
dƣ luận đã đồng tình, lại có thể không theo yêu cầu của một số ngƣời tham gia tố

17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×