Tải bản đầy đủ

LVTS 2015 nguyên tắc hai cấp xét xử với việc bảo vệ quyền con người trong luật tố tụng hình sự việt nam

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN ANH TH

NGUYÊN TắC HAI CấP XéT Xử VớI VIệC BảO Vệ QUYềN CON NGƯờI
TRONG LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM

(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN ANH TH

NGUYÊN TắC HAI CấP XéT Xử VớI VIệC BảO Vệ QUYềN CON NGƯờI

TRONG LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM

(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)

Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. NG QUANG PHNG

H NI - 2015


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Anh Thư


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC HAI
CẤP XÉT XỬ TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT

NAM ĐỐI VỚI VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI ............... 7
1.1.

Khái niệm, đặc điểm và nội dung quyền con người ....................... 7

1.1.1. Khái niệm quyền con người ............................................................... 7
1.1.2. Các đặc điểm cơ bản của quyền con người ......................................... 8
1.1.3. Nội dung quyền con người ................................................................. 9
1.1.4. Pháp luật quốc tế về quyền con người .............................................. 13
1.2.

Khái niệm và nội dung của nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố
tụng hình sự .................................................................................... 17

1.2.1. Khái niệm nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự .............. 17
1.2.2. Lịch sử hình thành của Nguyên tắc hai cấp xét xử trong luật tố
tụng hình sự Việt Nam ..................................................................... 17
1.2.3. Nội dung nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự ................ 19
1.3.

Sự cần thiết, vai trò và ý nghĩa của việc thực hiện nguyên tắc
hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự đối với việc bảo vệ quyền
con người ........................................................................................ 20

1.3.1. Sự cần thiết, vai trò của việc thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử
trong tố tụng hình sự đối với việc bảo vệ quyền con người .............. 20


1.3.2. Ý nghĩa của nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự đối
với việc bảo vệ quyền con người ...................................................... 22
Chương 2: THỰC TIỄN THI HÀNH NGUYÊN TẮC HAI CẤP
XÉT XỬ TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
ĐỐI VỚI VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH ĐĂK LĂK ................................................................... 25
2.1.

Quy định của BLTTHS về cấp xét xử sơ thẩm và thực tiễn thi
hành đối với việc bảo vệ quyền con người trên địa bàn tỉnh
Đăk Lăk .......................................................................................... 25

2.1.1. Quy định của BLTTHS về cấp xét xử sơ thẩm ................................. 25
2.1.2. Thực tiễn thi hành các qui định của BLTTHS về cấp xét xử sơ
thẩm đối với việc bảo vệ quyền con người tại Tòa án cấp sơ thẩm
trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk ................................................................. 28
2.2.

Quy định của BLTTHS về cấp xét xử phúc thẩm và thực tiễn
thi hành đối với việc bảo vệ quyền con người trên địa bàn
tỉnh Đăk Lăk................................................................................... 52

2.2.1. Quy định của BLTTHS về cấp xét xử phúc thẩm ............................. 52
2.2.2. Thực tiễn thi hành các qui định của BLTTHS về cấp xét xử phúc
thẩm đối với việc bảo vệ quyền con người tại Tòa án cấp phúc
thẩm trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk ........................................................ 56
2.3.

Những vi phạm, sai lầm trong việc thực hiện nguyên tắc hai
cấp xét xử trong tố tụng hình sự đối với việc bảo vệ quyền
con người trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk ............................................ 68

2.3.1. Những vi phạm, sai lầm trong thực hiện các quyền .......................... 68
2.3.2. Những vi phạm, sai lầm trong thực hiện các nghĩa vụ ...................... 77
2.3.3. Nguyên nhân của những vi phạm, sai lầm trong thực hiện nguyên
tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự đối với việc bảo vệ
quyền con người trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk ...................................... 83


Chương 3: NHỮNG YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM
THỰC THI HIỆU QUẢ NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐỐI VỚI VIỆC
BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
ĐĂK LĂK ....................................................................................... 87
3.1.

Những yêu cầu của việc thực thi hiệu quả nguyên tắc hai cấp
xét xử trong tố tụng hình sự đối với việc bảo vệ quyền con
người trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk................................................... 87

3.2.

Các giải pháp nhằm thực thi hiệu quả nguyên tắc hai cấp xét
xử trong tố tụng hình sự đối với việc bảo vệ quyền con người
trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk ............................................................. 89

3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật ......................................................... 89
3.2.2. Giải pháp tăng cường công tác giải thích, hướng dẫn áp dụng
pháp luật .......................................................................................... 97
3.2.3. Giải pháp nâng cao năng lực người tiến hành tố tụng và người
bào chữa ........................................................................................... 98
3.2.4. Các giải pháp khác ......................................................................... 103
KẾT LUẬN ............................................................................................... 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................. 108


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS:

Bộ luật hình sự

BLTTHS:

Bộ luật tố tụng hình sự

CQĐT:

Cơ quan điều tra

CQTHTT:

Cơ quan tiến hành tố tụng

NN:

Nhà nước

NQ:

Nghị Quyết

PL:

Pháp luật

TAND:

Tòa án nhân dân

TANDTC:

Tòa án nhân dân tối cao

TTHS:

Tố tụng hình sự

VAHS:

Vụ án hình sự

VKSND:

Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC:

Viện kiểm sát nhân dân tối cao

XHCN:

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1: Số lượng các vụ án hình sự và số bị cáo đã được Tòa
án nhân dân cấp sơ thẩm tại tỉnh Đăk Lăk giải quyết
từ năm 2009 đến 2013

30

Bảng 2.2: Số liệu các vụ án hình sự và số bị cáo đã được xét xử
sơ thẩm từ năm 2009 đến năm 2013 của TAND hai
cấp tại tỉnh Đăk Lăk

36

Bảng 2.3: Số liệu các vụ án và các bị cáo, Tóa án trả hồ sơ điều
tra bổ sung từ năm 2009 đến năm 2013 của Tòa án
nhân dân cấp sơ thẩm tại tỉnh Đăk Lăk

38

Bảng 2.4: Số liệu các vụ án hình sự và các bị cáo đã được đình
chỉ vụ án từ năm 2009 đến năm 2013 của Tòa án
nhân dân cấp sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk

40

Bảng 2.5: Số lượng các vụ án hình sự và các bị cáo đã được
Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm tại tỉnh Đăk Lăk thụ
lý ­ giải quyết từ năm 2009 đến 2013

57

Bảng 2.6: Số liệu thống kê – Phân tích các vụ án hình sự và các
bị cáo đã được giải quyết ở Tòa án cấp phúc thẩm tại
tỉnh Đăk Lăk từ năm 2009 đến năm 2013

59


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là giá trị nhân văn cao quý, là khát vọng và thành quả
đấu tranh qua các giai đoạn phát triển trở thành tài sản chung vô giá của nhân
loại và mỗi quốc gia. Bảo đảm quyền con người là bảo đảm dân chủ, hiệu
quả, hiệu lực nhà nước cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Do
vậy, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là nghĩa vụ chung của xã hội, là sứ
mệnh cao cả của mỗi quốc gia. Cần khẳng định việc tôn trọng và bảo đảm
quyền con người là mục tiêu xuyên suốt mà Đảng và Nhà nước ta luôn hướng
tới. Việc bảo đảm các quyền con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: kinh
tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng,...Tuy nhiên, công cụ hiệu quả nhất cho việc
bảo vệ quyền con người chính là hệ thống pháp luật. Chỉ thông qua việc nhà
nước bảo đảm về mặt pháp lý, các cơ quan tố tụng bảo đảm thực thi pháp luật
có hiệu quả là vấn đề cực kỳ quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người.
Việt Nam đang trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, đó là nhà nước của dân, do dân, vì dân, Nhà nước có kỷ cương, kỷ luật,
có nền pháp chế cao và nền dân chủ mở rộng, Nhà nước quản lý xã hội bằng
pháp luật và theo pháp luật... Do đó vấn đề bảo vệ quyền con người càng
được quan tâm, coi trọng.
Xét xử vụ án hình sự là hoạt động Nhà nước đặc biệt và chuyên biệt của
Tòa án nhân dân giải quyết quan hệ giữa Nhà nước và người thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội, nhằm xác định trách nhiệm hình sự đối với người
đó. Hoạt động xét xử các vụ án này có thể dẫn tới một hậu quả pháp lý bất lợi
cho người bị xét xử cũng như những người khác có liên quan. Vì vậy, bản án,
quyết định của Tòa án khi xét xử phải chính xác, công minh, đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

1


Để thực hiện được điều đó, đòi hỏi hoạt động xét xử các vụ án hình sự phải
tuân thủ nhiều nguyên tắc cơ bản, những phương châm, kim chỉ nam của luật
Tố tụng hình sự [29].
Nguyên tắc hai cấp xét xử là một nguyên tắc mới được quy định trong
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và là một trong những nguyên tắc cơ bản
của pháp luật trong tố tụng hình sự thể hiện sự thận trọng của Tòa án trong
việc xét xử, đảm bảo cho việc xét xử chính xác, công bằng thể hiện sự nghiêm
minh của pháp luật. Việc quy định nguyên tắc này trong xét xử các vụ án hình
sự là một tất yếu khách quan của thực tiễn xét xử để hoạt động này có thể
thực hiện đúng được chức năng của nó và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp
của các chủ thể có liên quan trong từng vụ án cụ thể. Thông qua đó, nguyên
tắc này đảm bảo tính tương đối trong việc bảo vệ quyền con người. Việc quy
định hai cấp xét xử trong vụ án hình sự là cơ chế bảo vệ quyền con người
trong TTHS. Quyền đó có được bảo vệ hay không, phản ánh bản chất của Nhà
nước, bản chất của pháp luật và con người trong xã hội đó. Việc xét xử một
vụ án hình sự theo hai cấp: Xét xử lần đầu ở cấp sơ thẩm (cấp xét xử thứ nhất)
và được tiếp tục xét xử ở cấp phúc thẩm (cấp xét xử thứ hai) nếu có kháng
cáo, kháng nghị. Còn nếu không, bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật và
được thi hành sau khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Có như vậy thì
những vụ án được Tòa án giải quyết đã có hiệu lực pháp luật (đã qua giải
quyết xét xử ở cấp phúc thẩm) phải được thi hành, tránh khiếu nại kéo dài.
Song trên thực tế, xét xử vụ án hình sự không phải bao giờ cũng đúng
đắn đem lại sự công bằng, bảo vệ được các quyền và lợi ích bị xâm phạm
cũng như bảo vệ quyền con người. Trong bối cảnh nước ta đang xây dựng nền
Kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, bên cạnh những tác động tích cực của việc đem lại về sự tăng trưởng,
phát triển vượt bậc về kinh tế thì những tác động tiêu cực, những mâu thuẫn,

2


những mặt trái của xã hội cũng nảy sinh, những loại tội phạm mới, tệ nạn xã
hội gia tăng trong xã hội ngày càng nhiều và các vụ án hình sự Tòa án xét xử
cũng trở nên phức tạp. Dù đạt được những thành tựu đáng khích lệ, hệ thống
pháp luật Việt Nam đã gần hơn với thông lệ quốc tế, nhưng nhìn chung trình
độ và kỹ năng lập pháp vẫn còn hạn chế, nhiều quy định chưa phù hợp, còn
chồng chéo, mâu thuẫn nhau, chưa theo kịp thực tiễn. Đâu đó, việc áp dụng
pháp luật chưa tốt ảnh hưởng đến sự thụ hưởng các quyền cơ bản của con
người. Theo pháp luật TTHS hiện hành, việc xét xử vụ án hình sự được tiến
hành qua 2 cấp sơ thẩm và phúc thẩm, bên cạnh đó còn có thủ tục đặc biệt là
giám đốc thẩm và tái thẩm. Trên thực tế, có những vụ án hình sự sơ thẩm đã
xét xử 3­4 phiên tòa, có nhiều nguyên nhân đã khiến vụ án phải kéo dài và
phải xét xử nhiều lần, không những gây tốn kém cho nhân dân mà còn thiệt
hại tới quyền lợi công dân và làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào pháp
luật và cơ quan xét xử. Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh
Đăk Lăk cũng không phải là ngoại lệ.
Xuất phát từ những nguyên nhân trên cho thấy cần nghiên cứu thêm về
nguyên tắc thực hiện hai cấp xét xử của Tòa án trong TTHS là vấn đề cần
thiết khi ưu tiên bảo đảm quyền con người trong tình hình hiện nay. Do đó,
tôi chọn đề tài: “Nguyên tắc hai cấp xét xử với việc bảo vệ quyền con người
trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam –Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn
tỉnh Đăk Lăk”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS là một vấn đề khoa học và thực
tiễn, nó phản ánh bản chất của pháp luật cũng như tính nhân văn trong cơ chế
bảo vệ quyền con người. Vì vậy đã có nhiều công trình, nhiều đề tài nghiên
cứu, như: "Nguyên tắc hai cấp xét xử và việc áp dụng nguyên tắc đó vào việc
tổ chức Tòa án các cấp" của PGS.TS Trần Văn Độ ­ Toà án quân sự Trung

3


ương; "Một số vấn đề về phiên tòa sơ thẩm" của ThS. Nguyễn Thị Thu Hà;
Trần Văn Độ "Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân" năm
2003; Đặc biệt Luận án tiến sĩ Luật học “Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố
tụng hình sự” của Vũ Gia Lâm 2008 Trường Đại học Luật Hà Nội; Luận văn
thạc sĩ “Thẩm quyền xét xử theo thủ tục sơ thẩm theo pháp luật Việt Nam”
của Lê Hoài Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội là những công trình nghiên
cứu trực tiếp về hai cấp xét xử trong TTHS.
Trên đây là những công trình nghiên cứu khái quát các góc độ về nguyên
tắc hai cấp xét xử trong TTHS. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này
chưa nghiên cứu vấn đề dưới góc độ áp dụng nguyên tắc xét xử hai cấp trong
Luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành để bảo vệ quyền con người.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
­ Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận về
bảo vệ quyền con người thông qua nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng
hình sự, nội dung và hình thức, phạm vi bảo đảm quyền con người trong
nguyên tắc này theo quy định của pháp luật hiện hành từ thực tiễn tỉnh Đăk
Lăk, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con
người thông qua việc thực hiện nguyên tắc này trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk.
Để đạt được mục đích trên, việc nghiên cứu tập trung vào những nhiệm
vụ sau:
­ Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về quyền con người, phân tích
các quyền con người được bảo vệ thông qua việc thực hiện nguyên tắc hai cấp
xét xử trong Luật TTHS Việt Nam.
­ Khảo sát thực tiễn việc thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong Luật
TTHS Việt Nam tại địa bàn tỉnh Đăk Lăk. Từ đó đánh giá có tính khách quan,
hệ thống về quá trình thực thi về mặt pháp lý trong việc bảo đảm quyền con
người, đánh giá thực trạng hoạt động bảo đảm quyền con người thông qua

4


việc thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS trên địa bàn tỉnh Đăk
Lăk hiện nay.
­ Phát hiện những vướng mắc, bất cập của các quy định về nguyên tắc
hai cấp xét xử trong Luật TTHS Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Đăk Lăk và đưa ra
các quan điểm, tìm các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện về mặt pháp lý, nâng
cao vai trò của nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS, đảm bảo cơ quan tố
tụng thực thi pháp luật từ đó nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là các vấn đề lý luận và các quy định
của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về nguyên tắc hai cấp xét xử, thực
tiễn xét xử và tổ chức xét xử ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm trong những năm gần
đây từ thực tiễn tỉnh Đăk Lăk để đánh giá tổng quan về thực trạng bảo vệ
quyền con người thông qua nguyên tắc hai cấp xét xử.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung chủ yếu vào những vấn đề sau:
­ Các quan điểm lý luận khác nhau về quyền con người, về nguyên tắc
hai cấp xét xử trong TTHS.
­ Các quy định của pháp luật hiện hành về bảo đảm quyền con người, vai
trò của nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS Việt Nam trong việc bảo vệ
quyền con người như: các quy định về thẩm quyền, quyền hạn của Tòa án cấp
sơ thẩm, phúc thẩm và hiệu lực của bản án sơ thẩm, phúc thẩm từ thực tiễn
tỉnh Đăk Lăk.
­ Thực tiễn thực hiện việc bảo vệ quyền con người thông qua nguyên tắc
hai cấp xét xử trong TTHS Việt Nam những năm gần đây từ thực tiễn tỉnh
Đăk Lăk.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác – Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của

5


Đảng về Nhà nước và pháp luật, về xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách
tư pháp ở nước ta.
Quá trình nghiên cứu đề tài tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu
khoa học như phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so
sánh, phương pháp thống kê.
6. Ý nghĩa khoa học của luận văn
­ Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về quyền con người; Thông qua
việc thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử của hai cấp Tòa án tỉnh Đăk Lăk
trong Luật TTHS Việt Nam như khái niệm, ý nghĩa, cơ sở của nguyên tắc,…
­ Phân tích, đánh giá việc bảo vệ quyền con người thông qua các quy
định của pháp luật hiện hành về nguyên tắc hai cấp xét xử trong Luật TTHS
Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Đăk Lăk, phát hiện được những vướng mắc, hạn
chế của các quy định về nguyên tắc hai cấp xét xử và thực tiễn thực hiện.
Đồng thời tìm ra các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử để đáp ứng được yêu cầu cải
cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong nhà nước pháp
quyền trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nguyên tắc hai cấp xét xử trong
Luật Tố tụng hình sự Việt Nam đối với việc bảo vệ quyền con người.
Chương 2: Thực tiễn thi hành nguyên tắc hai cấp xét xử trong Luật Tố tụng
hình sự Việt Nam đối với việc bảo vệ quyền con người trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk.
Chương 3: Những yêu cầu và các giải pháp nhằm thực thi hiệu quả
nguyên tắc hai cấp xét xử trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam đối với việc
bảo vệ quyền con người trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk.

6


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐỐI VỚI
VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI
1.1. Khái niệm, đặc điểm và nội dung quyền con người
1.1.1. Khái niệm quyền con người
Quyền con người là một vấn đề khá phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh
vực như đạo đức, chính trị, pháp lý... Chính vì vậy, hiện nay có rất nhiều định
nghĩa về quyền con người, mỗi định nghĩa tiếp cận quyền con người theo
những góc độ khác nhau. Một định nghĩa rất phổ biến thường được trích dẫn
bởi các học giả theo học thuyết quyền tự nhiên là: “Quyền con người là những
quyền cơ bản, không thể tước bỏ mà một người vốn được thừa hưởng đơn giản
vì họ là con người” [53]. Ở góc độ khái quát nhất, theo khái niệm của Liên hợp
quốc có thể hiểu là: “Những gì bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không
được bảo đảm thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người” [54].
Ở Việt Nam, bên cạnh thuật ngữ “Quyền con người”, còn có thuật ngữ
“Nhân quyền”. Cả hai thuật ngữ này đều bắt nguồn từ thuật ngữ tiếng Anh
“Human rights”, mà nếu dịch trực tiếp sang tiếng Việt là quyền con người;
còn nếu dịch qua Hán ­ Việt là nhân quyền. Xét về mặt ngôn ngữ học, theo
Đại Từ điển tiếng Việt, quyền con người và nhân quyền là hai từ đồng nghĩa
[52]. Một số định nghĩa về quyền con người do một số chuyên gia, cơ quan
nghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung,
quyền con người thường được hiểu là: “Những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn
có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật
quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế”.
Như vậy, dù ở góc độ nào hay cấp độ nào thì quyền con người cũng
được xác định như là chuẩn mực được kết tinh từ những giá trị nhân văn của

7


toàn nhân loại, áp dụng cho tất cả mọi người. Thuật ngữ quyền con người
theo Học thuyết Mác – Lênin là một chỉnh thể thống nhất thể hiện những tư
tưởng nhân văn chân chính nhất của loài người, là sự kế thừa một cách biện
chứng những giá trị tinh hoa của con người. C.Mác đã xuất phát từ con người
là một thực thể thống nhất, một “Sinh vật – Xã hội”. Do đó, quyền con người
là sự thống nhất biện chứng giữa “Quyền tự nhiên” là một đặc quyền vốn có
và chỉ con người mới có và “Quyền xã hội” là sự chế định bằng các quy chế
pháp lý nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội [1].
1.1.2. Các đặc điểm cơ bản của quyền con người
Quyền con người có một số đặc điểm cơ bản, các đặc điểm này thể hiện
tính phổ biến của nó ở mọi quốc gia không phụ thuộc vào chế độ chính trị ­
kinh tế của họ. Trong khoa học pháp lý và các văn kiện pháp lý quốc tế về
quyền con người, người ta thường nói tới các đặc điểm cơ bản sau về quyền
con người, cụ thể như sau:
Một là, tính không thể tước đoạt. Quyền con người không thể bị tước
đoạt một cách tùy tiện trừ trường hợp sự tước đoạt đó nhằm bảo vệ các quyền
con người của người khác do hành vi vi phạm pháp luật của người bị tước đoạt.
Hai là, tính không thể phân chia của quyền con người. Quyền con
người là tổng thể các quyền và tự do của con người, gắn bó với nhau, trong đó
không có quyền nào quan trọng hơn quyền nào. Vấn đề bảo vệ quyền con
người ở đây là nếu chúng ta quan tâm thích đáng đến một nhóm đối tượng
riêng biệt (Phụ nữ, trẻ em…) vì các đối tượng này thường là nạn nhân của sự
vi phạm quyền con người vì các yếu tố khách quan như truyền thống văn hóa
hoặc các yếu tố sức khỏe.
Ba là, tính liên hệ và phụ thuộc. Tính chất này thể hiện ở chỗ các quyền
con người không tồn tại một cách biệt lập mà tồn tại trong tổng thể và trong
đó các quyền này là điều kiện để đảm bảo các quyền khác và ngược lại. Chính

8


vì vậy, việc đảm bảo các quyền con người phải được tiến hành một cách tổng
thể, không thể chỉ chú ý đến quyền này mà bỏ các quyền khác. Bởi lẽ, các
quyền con người đều rất cần thiết cho sự phát triển toàn diện của con người
và việc bảo đảm các quyền này hỗ trợ cho việc bảo đảm các quyền khác [15].
Ngoài các đặc điểm cơ bản kể trên, quyền con người còn có một số đặc
điểm khác như: Quyền con người được xây dựng trên cơ sở tôn trọng nhân
phẩm và giá trị của mỗi cá nhân; Quyền con người đặt ra nghĩa vụ của các
chủ thể khác và buộc tất cả phải tôn trọng; Quyền con người không chỉ được
bảo vệ bằng pháp luật quốc gia mà còn được bảo vệ bằng pháp luật quốc tế.
1.1.3. Nội dung quyền con người
Trong Nhà nước pháp quyền, các quyền con người được pháp luật bảo
đảm thực hiện và được bảo vệ không bị xâm phạm. Bảo đảm quyền con người
không chỉ là nội dung, bản chất mà còn trở thành mục tiêu cao nhất trong xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Với mục tiêu của sự
nghiệp cách mạng là giải phóng con người, vì vậy, quan điểm nhất quán,
xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam là bảo vệ quyền con người, giải
phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, bất công, đem lại cuộc sống tự do, ấm
no, hạnh phúc cho mỗi người. Sau đây là một số nội dung chính thể hiện quan
điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về quyền con người.
Quyền con người là giá trị chung của toàn nhân loại. Trong Chỉ thị số
12­CT/TW ngày 12 tháng 7 năm 1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã
khẳng định: “Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua
các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới, và
cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên;
qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại” [2].
Trong xã hội có phân chia giai cấp, quyền con người mang tính giai cấp
sâu sắc. Mặc dù xét về bản chất, quyền con người là những giá trị chung của

9


toàn nhân loại, là kết tinh của quá trình lịch sử lâu dài, nhưng trên thực tế, đây
là một vấn đề mang tính chính trị và bị chính trị hóa. Do đó, việc giải thích và
áp dụng quyền con người thường thể hiện sự khác biệt về ý thức hệ. Về vấn đề
này, Chỉ thị số 41/2004/CT­TTg ngày 02/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ
khẳng định: “… Cuộc đấu tranh trên vấn đề quyền con người là cuộc đấu
tranh mang tính giai cấp sâu sắc, sẽ diễn ra liên tục, lâu dài và quyết liệt” [42].
Quyền con người thống nhất với quyền dân tộc cơ bản. Từ thực tiễn đấu
tranh giữ gìn độc lập đất nước, Đảng rút ra bài học kinh nghiệm rằng sự nghiệp
giải phóng con người có mối liên hệ chặt chẽ với sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Một khi đất nước bị mất độc lập thì quyền con người không bao giờ được thực
thi và bảo đảm. Trong Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ VIII (từ
ngày 10 đến ngày 19/5/1941) về tổ chức Việt Minh, Nguyễn Ái Quốc viết:
Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt
dưới sự sinh tử tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này
nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi
được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể
quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ
phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được [40].
Quyền con người vừa có tính phổ biến, vừa có tính đặc thù,
phụ thuộc vào truyền thống, đặc điểm và trình độ phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia. Về vấn đề này, Các Mác từng
viết: “Quyền không bao giờ có thể ở mức cao hơn chế độ kinh tế và
sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế quyết định [28].
Theo Chỉ thị số 12­CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, quyền
con người luôn luôn gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào
trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước. Do vậy, không thể áp đặt
hoặc sao chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho các nước

10


khác. Sách trắng Thành tựu bảo vệ và phát triển quyền con người ở Việt
Nam cũng khẳng định:
Quyền con người vừa mang tính phổ biến, thể hiện khát vọng
chung của nhân loại, được ghi trong Hiến chương của Liên hợp
quốc, vừa có tính đặc thù đối với từng xã hội và cộng đồng…”. Do
đó, “Khi tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người cần kết hợp hài
hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với
những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế ­ xã hội, các
giá trị văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán của mỗi
quốc gia và khu vực. Không một nước nào có quyền áp đặt mô hình
chính trị, kinh tế, văn hóa của mình cho một quốc gia khác [2].
Quyền con người thể hiện trong quyền công dân và được pháp luật bảo
hộ. Quyền con người muốn được hiện thực hóa phải được quy định cụ thể
trong pháp luật, nếu không, nó chỉ mang ý nghĩa hô hào, không có ý nghĩa
thực tế. Pháp luật là phương tiện để ghi nhận và hiện thực hóa các quyền con
người. Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ
nghĩa xã hội năm 1991, Đảng xác định: “Nhà nước định ra các đạo luật nhằm
xác định các quyền công dân và quyền con người…”. Trong Hiến pháp năm
2013, Nhà nước Việt Nam đã ghi nhận một cách một cách đầy đủ và trang
trọng các quyền con người, phù hợp với các chuẩn mực của luật pháp quốc tế.
Quyền không tách rời nghĩa vụ. Trong “Điều lệ tạm thời của Hội liên
hiệp công nhân quốc tế năm 1864”, Các Mác đã chỉ rõ mối liên hệ giữa quyền
và nghĩa vụ: “Không có quyền lợi nào mà không có nghĩa vụ, không có nghĩa
vụ nào mà không có quyền lợi”. Trong Tuyên ngôn quốc tế về quyền con
người, tại khoản 2 Điều 29 cũng nêu rõ rằng:
Khi hưởng thụ các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ
phải tuân thủ những hạn chế do luật định, nhằm mục đích bảo đảm

11


sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do
của người khác cũng như nhằm đáp ứng những yêu cầu chính đáng
về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội
dân chủ [25].
Về mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ, Đảng ta nhận định:
Quyền dân chủ, tự do của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ
và trách nhiệm công dân. Dân chủ phải đi đôi với kỷ cương, pháp
luật. Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ
của nhân dân, đồng thời thực hiện chuyên chính với mọi hành động
xâm phạm lợi ích Tổ quốc, của nhân dân [2].
Tất cả các quyền con người cần được tôn trọng và bảo đảm một cách
bình đẳng, tất cả các quyền của con người đều có ý nghĩa quan trọng như
nhau và không có quyền nào được coi là vượt trội hơn quyền nào. Việc thực
hiện hay không thực hiện một quyền sẽ có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến
các quyền khác. Về vấn đề này, Nhà nước Việt Nam luôn xác định một
phương hướng:
… Cần tiếp cận một cách toàn diện tất cả các quyền con người
về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa trong một tổng thể hài
hòa, không được xem nhẹ bất cứ quyền nào. Đồng thời, các quyền
và tự do của mỗi cá nhân chỉ có thể được bảo đảm và phát huy trên
cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích chung của dân tộc và cộng đồng…
Việc chỉ ưu tiên hoặc tuyệt đối hóa các quyền dân sự, chính trị và
một số quyền tự do cá nhân, không quan tâm thích đáng đến quyền
phát triển, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của cả cộng đồng là
cách đề cập phiến diện, không phản ánh đầy đủ bức tranh toàn cảnh
về quyền con người [16].
Mở rộng đối thoại và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền con người.

12


Đảng ta chủ trương thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền con người
trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ,
không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Trong Chỉ thị số 12­CT/TW,
Đảng ta khẳng định:
Quyền con người là vấn đề đang được đặt ra trong các mối
quan hệ quốc tế. Cần làm tốt công tác đối ngoại, giữ vững độc lập,
chủ quyền của nước ta, sẵn sàng tỏ thiện chí hợp tác trong quan hệ
quốc tế vì quyền con người, đồng thời đấu tranh với những âm mưu
lợi dụng vấn đề này để chống phá ta [2].
1.1.4. Pháp luật quốc tế về quyền con người
Từ góc độ pháp lý, pháp luật quốc tế có thể hiểu đây là một hệ thống các
quy tắc, tiêu chuẩn và tập quán pháp lý quốc tế xác lập, bảo vệ và thúc đẩy
các quyền và tự do cơ bản cho mọi thành viên của cộng đồng nhân loại. Mặc
dù vẫn còn những tranh cãi nhất định, song quan niệm chung của pháp luật
quốc tế về quyền con người nói chung bao gồm: Các điều ước quốc tế (Công
ước, Nghị định thư có hiệu lực toàn cầu hay khu vực) về quyền con người do
các quốc gia thành viên Liên hợp quốc và thành viên của các tổ chức liên
chính phủ khác thông qua có hiệu lực ràng buộc với các quốc gia đã tham gia;
Các Nghị quyết có liên quan đến vấn đề quyền con người do các cơ quan
chính và cơ quan giúp việc của Liên hợp quốc thông qua và chỉ có các nghị
quyết của Hội đồng Bảo an là có hiệu lực pháp lý bắt buộc; Các văn kiện
quốc tế khác về quyền con người (Các tuyên bố, tuyên ngôn, khuyến nghị,
nguyên tắc, hướng dẫn…) do Liên hợp quốc và các tổ chức liên Chính phủ
khác thông qua; Những bình luận, khuyến nghị chung (với mọi quốc gia) và
những kết luận khuyến nghị (với những quốc gia cụ thể) do Ủy ban giám sát
các công ước quốc tế về quyền con người đưa ra trong quá trình xem xét báo
cáo của các quốc gia về việc thực hiện những công ước này; Các phán quyết
của Tòa án Công lý Quốc tế và một số tòa án khu vực về quyền con người.

13


Hiến chương Liên hợp quốc là văn kiện nền tảng cho pháp luật quốc tế
về quyền con người bởi Hiến chương đã khẳng định việc thúc đẩy và bảo vệ
quyền con người là một trong những mục tiêu hoạt động của Liên hợp quốc –
tổ chức liên chính phủ lớn và có quyền lực nhất trên thế giới. Một trong
những mục tiêu cơ bản của Liên hợp quốc là hướng trực tiếp vào vấn đề
quyền con người:
Tăng cường sự hợp tác quốc tế trong giải quyết các vấn đề
quốc tế về kinh tế xã hội, văn hoá hoặc các vấn đề nhân đạo, thúc
đẩy và khuyến khích sự tôn trọng các quyền con người và tự do cơ
bản cho tất cả mọi người mà không có sự phân biệt đối xử nào về
chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hoặc tôn giáo.
Bên cạnh đó, Bộ luật nhân quyền quốc tế (The International Bill of
Human Rights) cũng được xem là xương sống của pháp luật quốc tế về quyền
con người. Đó là thuật ngữ chỉ sự tập hợp của ba văn kiện quốc tế cơ bản trên
lĩnh vực này, đó là Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948
(UDHR) và hai Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) và
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (ICESCR). Ngoài ra,
theo một số tài liệu, các Nghị định thư bổ sung của hai công ước cơ bản về
quyền con người năm 1966 cũng là những bộ phận cấu thành của Bộ luật này.
Sau Bộ luật nhân quyền quốc tế, nhiều điều ước và văn kiện quốc tế khác
về vấn đề này đã được thông qua bởi Liên hợp quốc. Hệ thống các văn kiện
này đề cập đến các quyền và tự do cơ bản (ICCPR và ICESCR) của mọi cá
nhân, các quyền đặc thù của một số nhóm xã hội dễ bị tổn thương (Phụ nữ,
trẻ em, người khuyết tật, người tị nạn, người không quốc tịch, người lao động
di trú, người thiểu số...) và một loạt vấn đề khác có liên quan như xoá bỏ sự
phân biệt đối xử về chủng tộc, xoá bỏ chế độ nô lệ và các thực trạng như nô
lệ, xóa bỏ hình phạt tử hình, xoá bỏ tra tấn, xoá bỏ lao động cưỡng bức, ngăn
chặn việc đưa đi mất tích...

14


Mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về quyền con
người: về cơ bản đây cũng là mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế nói chung
với pháp luật quốc gia. Pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hệ thống
khác nhau nhưng không đối lập mà có mối quan hệ, tác động qua lại, thúc đẩy
lẫn nhau cùng phát triển. Pháp luật quốc tế có thể tác động, thúc đẩy sự phát
triển tiến bộ của pháp luật quốc gia trong khi pháp luật quốc gia đóng vai trò
là phương tiện truyền tải và điều kiện bảo đảm cho pháp luật quốc tế được
thực hiện trên thực tế. Sự tương tác đó thể hiện ở những điểm sau: Thứ nhất,
pháp luật quốc gia là nền tảng thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển của
pháp luật nhân quyền quốc tế. Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con
người đã chịu ảnh hưởng rất nhiều từ những văn bản pháp luật quốc gia nổi
tiếng thế giới như Hiến chương Magna Carta của nước Anh, Tuyên ngôn độc
lập của nước Mỹ, Tuyên ngôn về quyền con người và dân quyền của nước
Pháp…vì bản thân nó chứa đựng những quy phạm nhân quyền rất tiến bộ,
được cộng đồng quốc tế thừa nhận như là những giá trị phổ biến, chung cho
toàn nhân loại như: Nguyên tắc về bình đẳng, tự do, suy đoán vô tội, xét xử
công bằng; quyền dân tộc tự quyết…; Thứ hai, pháp luật quốc tế về quyền
con người sẽ tác động, thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của pháp luật quốc gia về
quyền con người. Sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật của hầu
hết các quốc gia trên thế giới đều đã được sửa đổi, bổ sung một cách đáng kể
theo hướng làm hài hòa với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người; Thứ
ba, pháp luật quốc gia là phương tiện truyền tải luật nhân quyền quốc tế, là
điều kiện đảm bảo cho luật nhân quyền quốc tế được thực hiện. Thông
thường, pháp luật quốc tế không được áp dụng trực tiếp bởi tòa án của các
quốc gia. Để pháp luật quốc tế được thực thi trong phạm vi lãnh thổ quốc gia,
các nhà nước phải “Nội luật hoá” các quy phạm pháp luật quốc tế vào hệ
thống pháp luật nước mình, tức là sửa đổi hoặc bổ sung hệ thống pháp luật

15


nước mình để làm hài hòa với pháp luật quốc tế. Trong trường hợp pháp luật
quốc gia chưa hài hòa với một điều ước quốc tế về quyền con người mà nước
mình là thành viên thì hầu hết các quốc gia đặt sự ưu tiên áp dụng với điều
ước quốc tế.
Chính sách của Đảng Cộng sản và pháp luật của Nhà nước Việt Nam về
quyền con người: Việt Nam đã và đang xây dựng và thực hiện những chính
sách nhằm trực tiếp và gián tiếp bảo vệ thúc đẩy các quyền con người, có thể
khái quát như sau:
Chính sách đối nội: Tăng cường và mở rộng dân chủ phát huy hơn nữa
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; Phát huy nhân tố con người, đẩy mạnh phát
triển kinh tế, giải quyết tốt các vấn đề xã hội và ưu tiên, chăm lo các gia đình
chính sách xã hội; Bảo đảm sự bình đẳng giữa các dân tộc, hoàn thiện khuôn
khổ pháp lý về quyền con người, quyền công dân; Ngăn ngừa và trừng trị
những hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân, đồng thời, chống
khuynh hướng dân chủ cực đoan, quá khích, lợi dụng vấn đề quyền con người
để chống phá chế độ; Tăng cường hoạt động giáo dục, phổ biến về quyền con
người, quyền công dân cho cán bộ, nhân viên nhà nước và nhân dân.
Chính sách đối ngoại: chỉ đạo việc giải quyết các vấn đề quyền con
người cần thông qua đối thoại hòa bình và trên nguyên tắc bình đẳng, tôn
trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không áp đặt và can thiệp vào
công việc nội bộ của nhau. Phương châm hành động mà Đảng Cộng sản và
Nhà nước Việt Nam đề ra trên lĩnh vực này là chủ động, tích cực trong các
hoạt động hợp tác quốc tế và mở rộng đối thoại trong lĩnh vực quyền con
người. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã khẳng định, cần:
“Chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người. Sẵn sàng đối
thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề
nhân quyền”.

16


1.2. Khái niệm và nội dung của nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố
tụng hình sự
1.2.1. Khái niệm nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự
Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự là tư tưởng chủ đạo, có
tính bắt buộc chung, thể hiện quan điểm có tính định hướng của Nhà nước
trong việc tổ chức tố tụng để xét xử các vụ án hình sự, được quy định trong
pháp luật tố tụng hình sự. Theo đó, việc xét xử vụ án hình sự phải được thực
hiện ở hai cấp xét xử là xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm; bản án, quyết
định sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Trong
trường hợp bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì tòa án
cấp phúc thẩm phải tiến hành xét xử lại vụ án; Nếu không bị kháng cáo,
kháng nghị thì bản án, quyết định sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật [29].
Nguyên tắc hai cấp xét xử là nguyên tắc được xác định trong tố tụng hiện
đại. Nguyên tắc này được ghi nhận trong các công ước quốc tế, đặc biệt là
Công ước về quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc, Quy chế về Toà án
hình sự quốc tế. Nguyên tắc này cũng được ghi nhận trong pháp luật quốc gia
của các nước thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau…[17]. Để bảo đảm tính
chính xác, khách quan trong phán quyết của Tòa án, bảo vệ các quyền con
người, các quốc gia có nền tố tụng hiện đại đều áp dụng nguyên tắc vụ án có
thể được tổ chức xét xử nhiều lần và tổ chức hệ thống Tòa án để thực hiện
nguyên tắc đó trong thực tế.
1.2.2. Lịch sử hình thành của Nguyên tắc hai cấp xét xử trong luật tố
tụng hình sự Việt Nam
Có thể nói, một trong các nguyên tắc được thừa nhận sớm nhất khi thực
hiện chức năng xét xử của Toà án đó là nguyên tắc “Chế độ hai cấp xét xử”.
Nguyên tắc này đều được thừa nhận trong từng giai đoạn khác nhau của lịch
sử lập pháp đã định hướng và thể hiện ở tất cả các quy định của luật TTHS

17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×