Tải bản đầy đủ

LVTS 2015 quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự việt nam

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
----------------

NGUYỄN THỊ LIÊN HƢƠNG

QUYỀN ĐƢỢC XÉT XỬ CÔNG BẰNG
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
----------------

NGUYỄN THỊ LIÊN HƢƠNG

QUYỀN ĐƢỢC XÉT XỬ CÔNG BẰNG

TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành

: Luật hình sự

Mã ngành

: 60 38 01 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí

Hà Nội - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Quyền được xét xử công bằng trong tố tụng
hình sự Việt Nam là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu
trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số
liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và
trung thực.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƢỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Liên Hƣơng


Mở ĐầU ......................................................................................................................1
CHƢƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN ĐƢỢC XÉT XỬ
CÔNG BẰNG ............................................................................................................5
1.1. KHÁI NIệM QUYềN ĐƢợC XÉT Xử CÔNG BằNG TRONG Tố TụNG HÌNH Sự. ............5
1.1.1. Quyền được xét xử công bằng là quyền con người cơ bản. ..........................5
1.1.2. Đối tượng của quyền được xét xử công bằng ...............................................6
1.1.3. Các quan điểm và định nghĩa quyền được xét xử công bằng trong TTHS ...8
1.2 QUYềN ĐƢợC XÉT Xử CÔNG BằNG TRONG PHÁP LUậT QUốC Tế ..........................11
1.2.1. Quyền được xét xử công bằng theo các tiêu chí quốc tế về quyền con người
...................................................................................................................................11

1.2.2. Các nội dung căn bản của quyền được xét xử công bằng ...........................16
1.3. CƠ CHế BảO ĐảM QUYềN ĐƢợC XÉT Xử CÔNG BằNG TRONG Tố TụNG HÌNH Sự ..20
1.3.1. Các tiêu chí quyền pháp luật quốc tế về quyền được xét xử công bằng được
nội luật hóa trong TTHS Việt Nam ...........................................................................21
1.3.2. Kiểm soát việc thực thi quyền được xét xử công bằng ...............................23
1.3.3. Thực thi việc bảo đảm quyền được xét xử công bằng ................................27
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG QUYỀN ĐƢỢC XÉT XỬ CÔNG BẰNG
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM .........................................................31
2.1. THựC TRạNG PHÁP LUậT Tố TụNG HÌNH Sự VIệT NAM Từ 1945 – TRƢớC NĂM
2003 ...........................................................................................................................31
2.1.1. Giai đoạn từ 1945 – 1988 ............................................................................31
2.1.2. Theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 ....................................................33
2.2. PHÁP LUậT Tố TụNG HÌNH Sự 2003 Về QUYềN ĐƢợC XÉT Xử CÔNG BằNG ..........37
2.2.1. Quy định về các nguyên tắc tố tụng ............................................................38
2.2.2. Quy định về địa vị của người tiến hành tố tụng ..........................................45
2.2.3. Các quy định về thủ tục các hoạt động tố tụng ...........................................51
2.2.4. Các quy định về khiếu nại, tố cáo, trong tố tụng hình sự............................54
2.3. THựC TRạNG HOạT ĐộNG Tố TụNG HÌNH Sự VIệT NAM ......................................55


2.3.1. Bảo đảm quyền được xét xử công bằng trong điều tra, truy tố, xét xử vụ án
hình sự .......................................................................................................................55
2.3.2. Bảo đảm quyền được xét xử công bằng trong giải quyết khiếu nại tố cáo .........64
CHƢƠNG III. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUYỀN ĐƢỢC
XÉT XỬ CÔNG BẰNG TRONG TTHS VIỆT NAM .........................................68
3.1. CƠ Sở, YÊU CầU CủA VIệC NÂNG CAO HIệU QUả QUYềN ĐƢợC XÉT Xử CÔNG
BằNG TRONG TTHS VIệT NAM .................................................................................68

3.2. CÁC GIảI PHÁP NÂNG CAO HIệU QUả BảO Vệ QUYềN ĐƢợC XÉT Xử CÔNG BằNG
TRONG Tố TụNG HÌNH Sự ...........................................................................................79

3.2.1 Nâng cao hiệu quả bảo vệ được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự trên
cơ sở tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa ............................................................79
3.2.2. Tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Pháp luật TTHS ..........................80
3.2.3. Hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự ...........................................82
3.2.4. Bảo đảm cho Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật ............88
KẾT LUẬN ..............................................................................................................95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................96


Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền được xét xử công bằng ngày nay không chỉ là xu hướng chung trong
thế giới đương đại mà còn là điều kiện cho tăng trưởng kinh tế, là tiêu chí, thước đo
đánh giá mức độ phát triển bền vững của một xã hội, là biểu tượng cho việc theo
đuổi biểu tượng văn minh và tiến bộ xã hội. Chủ đề quyền được xét xử công bằng
từ lâu đã được các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam đặc biệt coi trọng,
nhưng chưa bao giờ thu hút được sự quan tâm như ngày nay. Nó đang là một trong
những vấn đề được cả cộng đồng nhân loại nói chung và mỗi quốc gia nói riêng
nghiên cứu.
Trong luật nhân quyền quốc tế, quyền được xét xử công bằng đầu tiên được
đề cập trong các Điều 10 và 11 UDHR. Theo Điều 10, mọi người đều bình đẳng về
quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập và khách quan,
để xác định các quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối
với họ, Điều 11 bổ sung thêm một số khía cạnh cụ thể. Hệ thống văn bản pháp luật
Việt Nam về quyền được xét xử công bằng gồm Hiến pháp quy định những quyền
cơ bản trong đó cũng có đề cập đến xét xử công bằng như: Nguyên tắc suy đoán vô
tội, quyền bào chữa, quyền không ai có thể bị bắt nếu không có quyết định của Tòa
án, Viện kiểm sát hoặc sự phê chuẩn của Viện kiểm sát. Trên cơ sở những quyền cơ
bản này, Luật tố tụng hình sự quy định các quyền công bằng ở từng lĩnh vực cụ thể
của hoạt động Tố tụng hình sự.
Vấn đề quyền được xét xử công bằng mặc dù đã được Nhà nước ta rất quan
tâm, cụ thể là nhà nước đã ban hành rất nhiều các văn bản pháp luật nhằm bảo vệ có
hiệu quả các quyền được xét xử công bằng. Tuy nhiên, việc nhận thức về bản chất
vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ quyền được xét xử công bằng còn những
biểu hiện đơn giản, còn thiếu, chưa hình thành đậm nét các quan điểm, nguyên tắc
chỉ đạo quá trình xây dựng bảo đảm pháp lý thực hiện quyền được xét xử công bằng
trong hệ thống pháp luật. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 tuy đã quy định điều

1


luật nâng cao quyền được xét xử công bằng, nhưng vẫn còn những hạn chế trong
việc đấu tranh phòng và chống tội phạm cũng như bảo vệ quyền con người trong
vấn đề này. Bảo vệ quyền được xét xử công bằng như thế nào một cách có hiệu quả
trong xã hội hiện nay ở nước ta là một vấn đề cấp thiết. Vì vậy, tôi chọn đề tài “
Quyền được xét xử công bằng trong Tố tụng hình sự Việt Nam” với mong muốn tìm
ra được những tiêu chí có cơ sở khoa học, có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn trong
giai đoạn hiện nay. Cùng với các công trình nghiên cứu khác, luận văn sẽ góp phần
đưa pháp luật tố tụng hình sự vào cuộc sống, phát huy tác dụng vào công cuộc bảo
vệ quyền được xét xử công bằng trong Tố tụng hình sự Việt Nam
2. Tình hình nghiên cứu.
Vấn đề Quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự Việt Nam là vấn
đề thu hút sự quan tâm của toàn ngành Tư pháp và toàn xã hội. Đặc biệt kể từ khi có
nghị quyết 08 – NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị, xác định đảm bảo
quyền được xét xử công bằng, dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người
tham gia tố tụng khác, cũng như trong nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của
Bộ chính trị nhấn mạnh nâng cao chất lượng tranh tụng của các phiên tòa xét xử, coi
đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp, thì nội dung về quyền được xét xử công
bằng lại càng được quan tâm nghiên cứu.
Các tác giả làm luận văn tiến sĩ, luận văn thạc sĩ liên quan đến quyền được
xét xử công bằng trong tố tụng hình sự như tác giả Hoàng Thị Sơn với đề tài: Thực
hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự, NXB Công an Nhân

dân, Hà Nội, 2000; tác giả Nguyễn Duy Phương với đề tài: Vai trò của luật sư
trong việc bảo vệ quyền con người, Khoa Luật – Đại học Huế, 2005; tác giả Nguyễn
Thị Vân Hằng với đề tài: Vai trò của luật sư góp phần bảo đảm dân chủ trong hoạt
động tố tụng dân sự ở Việt Nam hiện nay, luận án thạc sỹ trường Đại học cảnh sát
nhân dân 2006 ; Tác giả Nguyễn Mạnh Hùng với đề tài: Chức năng trong tố tụng
hình sự Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn, Học viện khoa học xã hội, 2012
; Lại Văn Trình, đề tài: Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo trong TTHS Việt Nam, luận án tiến sỹ luật học, trường Đại học Luật TP Hồ Chí

2


Minh, 2011; tác giả Trần Văn Bảy với đề tài: Người bào chữa trong tố tụng hình sự
Việt Nam, thạc sỹ khoa luật hành chính – Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, 2013; Tác
giả Đỗ Đình Nghĩa với đề tài: Địa vị pháp lý của người bào chữa trong tố tụng hình
sự Việt Nam, luận văn thạc sỹ luật học, Đại học luật Hà Nội, 2004; Tác giả Nguyễn
Ngọc Khánh với đề tài: Nâng cao vị thế của người bào chữa tại phiên tòa hình sự,
luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2009.
Tuy nhiên, với những công trình nghiên cứu ở trên thì quyền được xét xử
công bằng vẫn chưa được đề cập một cách hệ thống. Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề
này vẫn còn rất cần thiết để tiếp tục hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự, đảm bảo
góp phần xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đồng thời đảm bảo quyền và
lợi ích hợp pháp của người phạm tội
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong khuôn khổ luận văn cao học, học viên giới hạn nghiên cứu của mình
về các vấn đề sau:
- Khái niệm về quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự.
- Khái quát về lịch sử hình thành và phát triển của chế định Bảo vệ quyền
được xét xử công bằng trong Tố tụng hình sự từ sau 1945 đến nay.
-Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự về quyền
được xét xử công bằng ở Việt Nam trong những năm gần đây.
-Những hạn chế bất cập; nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong việc
bảo đảm quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự.
-Ý nghĩa của việc bảo đảm quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình
sự .
- Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật
về quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài.
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng ta về Nhà

3


nước và pháp luật, về mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân với tư cách là những
căn cứ lý luận để giải quyết các vấn đề do đề tài đặt ra.
Luận văn đặc biệt coi trọng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
để nghiên cứu quyền được xét xử công bằng trong Tố tụng hình sự. Sử dụng
phương pháp phân tích, tổng hợp trên lập trường duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử, để đánh giá thực trạng vấn đề; kết hợp phương pháp hệ thống với phương pháp
logic – lịch sử, phương pháp so sánh, nhằm phân tích luận chứng một cách khoa
học khi xác định các giải pháp bảo đảm thực hiện Quyền được xét xử công bằng
trong Tố tụng hình sự.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
Về mặt lý luận: Đề tài nghiên cứu lý luận đánh giá thực trạng về bảo đảm
quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự, từ đó đề ra phương hướng, các
giải pháp đề xuất sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn chi tiết các quy định của pháp luật về
quyền con người, quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự, nhằm nâng
cao hiệu quả áp dụng chế định này trên thực tế. Với kết quả nghiên cứu như vậy, đề
tài góp phần làm phong phú thêm lý luận về quyền được xét xử công bằng trong tố
tụng hình sự Việt Nam
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần đánh giá đúng thực
trạng áp dụng pháp luật về bảo đảm quyền được xét xử công bằng, dân chủ; qua đó
khắc phục những thiếu sót, bất cập trong hoạt động này. Các đề xuất, kiến nghị
trong đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu, hướng dẫn,
sửa đổi, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến vấn đề này
6. Kết cấu của luận văn.
Luận văn gồm phần mở đầu, 3 chương và kết luận, mục lục và danh mục tài liệu
tham khảo.
Chƣơng I: Một số vấn đề lý luận về quyền được xét xử công bằng
Chƣơng II: Thực trạng quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự Việt
Nam

4


Chƣơng III: Các giải pháp nâng cao hiệu quả quyền được xét xử công bằng trong
TTHS Việt Nam

Chƣơng I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN ĐƢỢC XÉT XỬ
CÔNG BẰNG
1.1. Khái niệm quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự.
1.1.1. Quyền được xét xử công bằng là quyền con người cơ bản.
Quyền được xét xử công bằng là nhân quyền cơ bản và có tính phổ quát cao,
tồn tại trong cả các vụ án hình sự và phi hình sự. Pháp luật nhiều quốc gia quy định
quyền này với quan niệm rằng nó là quyền quan trọng của mọi quốc gia pháp trị. Ở
bình diện khái quát nhất, quyền được xét xử công bằng trong Tố tụng hình sự thể
hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, việc trừng trị người phạm tội gây ra những thiệt hại
cho các quyền và lợi ích hợp pháp của con người, của các cơ quan tố tụng, góp phần
bảo vệ quyền con người của cơ quan tiến hành tố tụng đã góp phần bảo vệ quyền
con người. Khi tội phạm xảy ra, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của con
người thì các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền phải có trách nhiệm phát
hiện, ngăn chặn, xử lý, đồng thời phải áp dụng chế tài thích đáng, phù hợp với quy
định của pháp luật trừng trị người phạm tội. Đấu tranh chống và phòng ngừa tội
phạm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khỏi sự xâm phạm của hành
vi phạm tội là một trong những chức năng của nhà nước và trách nhiệm quan trọng
của cơ quan tiến hành tố tụng. Thứ hai, khi tiến hành tố tụng giải quyết vụ án các cơ
quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm tôn trọng và bảo đảm quyền được xét xử công
bằng của con người. Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không
được lợi dụng quyền tiến hành giải quyết vụ án xâm phạm đến quyền của con người
[2]. Pháp luật tố tụng hình sự có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền của
người bị tình nghi, bị can, bị cáo và những người tham gia vụ án thông qua biện
pháp trấn áp kịp thời, xử lý công minh theo đúng pháp luật đối với mọi hành vi

5


phạm tội xâm phạm tới các quyền của công dân, đảm bảo tất cả mọi tội phạm đều bị
phát hiện và xử lý. Đồng thời pháp luật tố tụng hình sự còn quy định chặt chẽ các
trình tự, thủ tục trong quá trình giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng nhằm tôn trọng quyền được xét xử công bằng, tránh sự lợi
dụng của người và cơ quan có thẩm quyền khi tiến hành tố tụng. Đây là hai định
hướng, hai lĩnh vực của pháp luật tố tụng hình sự trong việc bảo vệ quyền được xét
xử công bằng bên cạnh nhiệm vụ bảo vệ chế độ bảo vệ lợi ích của nhà nước và trật
tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy mà Điều 1 Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003 quy định: “ trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố xét xử và thi hành án hình
sự, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố
tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người tiến hành tố tụng; quyền và
nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng của cơ quan, tổ chức và công dân; hợp
tác quốc tế trong tố tụng hình sự, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm,
phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm
tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Bộ luật tố tụng hình sự góp
phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời
giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội
phạm”.
1.1.2. Đối tượng của quyền được xét xử công bằng
Đối tượng quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự là quyền của
nhóm những người dễ bị tổn thương trong xã hội, đó là: người bị bắt, người bị giam
giữ, bị can, bị cáo người phải chấp hành hình phạt. Những người này khi tham gia
vào các hoạt động tố tụng hình sự, dù với tư cách là người bị buộc tội hay là người
bị hại, người tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự thì họ vẫn được pháp luật bảo
vệ và tôn trọng những quyền cơ bản thiết thân của con người. Mặc dù họ là những
đối tượng bị hoặc có khả năng bị áp dụng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất là
trách nhiệm hình sự nhưng vẫn có những quyền cơ bản, thiết thân như những quyền

6


tư pháp để được xét xử công bằng, để được điều tra khách quan trong quá trình tố
tụng. Tuy nhiên so với người khác quyền của nhóm người này bị hạn chế do họ bị
tình nghi phạm tội, bị kết án hoặc buộc phải tham gia tố tụng do có quyền, lợi ích
liên quan đến sự việc phạm tội. Đây là điểm khác biệt của xã hội văn minh so với
những xã hội khác, mà ở đó việc tra tấn người bị tình nghi tội phạm là phương pháp
cơ bản của việc thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm hoặc đối xử với người
phạm tội như những súc vật, không có bất cứ điều gì kể cả những quyền thân thiết
nhất của con người. Như vậy, đối tượng của quyền được xét xử công bằng bao gồm
những loại người sau:
Người bị tình nghi phạm tội đang trong quá trình giải quyết vụ án, đang bị
các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự nhằm
xác nhận sự thật khách quan của vụ án. Những người này có thể là người bị bắt,
người bị giam giữ, bị can, bị cáo theo quy định của pháp luật, họ chưa bị coi là
người phạm tội mà mới chỉ là người bị tình nghi phạm tội.
Người phạm tội bị kết án và phải chấp hành hình phạt do Tòa án tuyên. Khác
với người tình nghi phạm tội, đây là người được các cơ quan tiến hành tố tụng
chứng minh và phán quyết là có tội, bị tuyên áp dụng hình phạt tương xứng với tính
chất mức độ phạm tội của họ phù hợp với quy định của pháp luật và được phán
quyết bởi thủ tục tố tụng hình sự công bằng khách quan
Nhóm người tham gia tố tụng do có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án:
nguyên đơn dân sư, người bị hại, bị đơn dân sự người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan, người bào chữa… Những người này ngoài việc tham gia tố tụng để bảo vệ
quyền lợi của mình, còn góp phần làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án và góp phần
bảo đảm sự công bằng trong quá trình giải quyết vụ án.
Như vậy, đối tượng quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự là
người bị buộc tội, bị áp dụng hình phạt phải được chứng minh khách quan và được
xét xử công bằng, đồng thời trong quá trình đó nhân phẩm danh dự, sức khỏe của họ
phải được tôn trọng. Đối tượng quyền con người trong tố tụng hình sự chỉ là những

7


con người dễ bị tổn thương do các hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng áp
dụng mà đại diện là những người tiến hành tố tụng.
1.1.3. Các quan điểm và định nghĩa quyền được xét xử công bằng trong TTHS
“Xét xử” là hoạt động của Tòa án, một hoạt động đặc trưng của việc thực
hiện chức năng Tư pháp của Nhà nước. Hoạt động này được tiến hành theo cách
thức (thủ tục) nhất định dựa trên nguyên tắc tố tụng hết sức nghiêm ngặt. Bởi lẽ kết
quả của nó ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan,
tổ chức có liên quan Theo từ điển tiếng Việt “ công bằng” được hiểu là “đúng lẽ
phải, không thiên vị”. Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành quy định xét xử công
bằng có thể được hiểu là việc tuân thủ quá trình tố tụng tôn trọng những giá trị đúng
đắn, những quy tắc chuẩn mực chung hoặc cách thức hành động phù hợp được luật
pháp thừa nhận
Theo PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí xây dựng khái niệm “ Quyền được xét xử
công bằng là quyền cơ bản của người bị buộc tội trong vụ án hình sự và của các
bên trong các vụ án phi hình sự trước cơ quan tư pháp ( công an, công tố và tòa án)
được pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia ghi nhận và bảo vệ, bao gồm nhiều
quyền cụ thể như ( được bảo đảm quyền bào chữa, được xét xử nhanh chóng, công
khai bởi tòa án độc lập không thiên vị …) nhằm bảo đảm việc xét xử được công
bằng cũng như các quyền và lợi ích của mọi cá nhân [1, tr 42]
Theo THS Lã Khánh Tùng “Quyền được xét xử công bằng” là một nhân
quyền cơ bản có tính phổ quát cao, tồn tại trong cả các vụ án hình sự và phi hình sự.
Pháp luật nhiều quốc gia quy định quyền này với quan niệm rằng nó là quyền thiết
yếu trong mọi quốc gia pháp trị. Việc đối xử với một người khi họ bị buộc tội phản
ánh rõ nhà nước tôn trọng nhân quyền đến mức nào, bởi vậy, quyền được xét xử
công bằng đã được coi là một hòn đá tảng của các xã hội dân chủ. Giống như đặc
tính của mọi nhân quyền là phụ thuộc lẫn nhau, quyền được xét xử công bằng với
các quyền khác có mối quan hệ hai chiều. Một phiên toà công bằng là yếu tố thiết
yếu để bảo đảm các quyền cơ bản khác của con người như quyền sống, quyền được
an toàn về thân thể, tự do ngôn luận... Ngược lại, trong một xã hội không dân chủ,

8


các quyền cơ bản của con người không được tôn trọng thì khó có thể có chuyện mọi
người đều được xét xử công bằng. Quan hệ chặt chẽ giữa quyền được xét xử công
bằng với pháp trị và dân chủ cũng đã được khẳng định chính thức trong Tuyên ngôn
Dakar về quyền được xét xử công bằng tại châu Phi. [33, tr 2010]
Phạm vi của quyền được xét xử công bằng được hiểu tương đối khác nhau
trong lập pháp và trong nhiều tài liệu nghiên cứu, hướng dẫn áp dụng. Nếu dịch sát
nghĩa “right to a fair trial” được hiểu là quyền đối với (quyền có một) phiên xử công
bằng. Tức là không phải bị xét xử bởi một phiên toà không công bằng (unfair trial),
dù là hình sự hay phi hình sự. Về mặt lập pháp, ngoài hệ thông pháp luật của các
quốc gia, quyền được xét xử công bằng được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế
và khu vực. Trước hết phải kể đến Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính
trị (ICCPR), đã được đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 16 tháng 12 năm
1966. Tuy nhiên, theo nhiều quan điểm thì quyền được xét xử công bằng không chỉ
gồm các quy định liên quan đến giai đoạn xét xử, được quy định tại Điều 14 mà cả
ở nhiều điều luật khác (Điều 7, 9, 15...) của ICCPR. Về thời điểm phát sinh, nhiều
luật gia cho rằng ngay từ khi một cá nhân bị bắt họ đã có quyền này. Bởi lẽ các
quyền trước, trong và sau khi xét xử đều có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Việc đối xử với một người khi họ bị buộc tội phản ánh rõ nhà nước tôn trọng
nhân quyền đến mức nào, bởi vậy quyền được xét xử công bằng được coi là một
hòn đá tảng của các xã hội dân chủ. Giống như đặc tính của mọi nhân quyền là phụ
thuộc lẫn nhau, quyền được xét xử công bằng với các quyền khác có mối quan hệ
hai chiều. Một phiên tòa công bằng là yếu tố thiết yếu để bảo đảm các quyền cơ bản
khác của con người như quyền sống, quyền được an toàn về thân thể, tự do ngôn
luận…Ngượi lại, trong một xã hội không dân chủ các quyền cơ bản của con người
không được tôn trọng thì khó có thể có chuyện mọi người đều được xét xử công
bằng. Quan hệ chặt chẽ giữa quyền được xét xử công bằng với pháp trị và dân chủ
cũng đã được khẳng định chính thức trong tuyên ngôn Dakar về quyền được xét xử
công bằng tại Châu Phi.

9


Trong tuyên ngôn Dakar “ Quyền được xét xử công bằng là một quyền tổng
hợp gồm những quyền cụ thể sau: Quyền bình đẳng trước tòa án và được xét xử bởi
tòa án độc lập, không thiên vị, công khai; Quyền bào chữa; Quyền được xét xử theo
thủ tục riêng của người chưa thành niên; Quyền kháng cáo; Quyền được bồi
thương khi bị kết án oan; Quyền không bị xét xử hai lần về cùng một tội danh;
Không bị truy cứu hình sự vì lý do không thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng; Không
bị coi là có tội nếu hành vi không cấu thành tội phạm theo pháp luật vào thời điểm
thực hiện hành vi; Không áp dụng hồi tố cũng như nghiên cứu khi đề cập đến quyền
được xét xử công bằng”
Từ những phân tích ở trên, khái niệm quyền được xét xử công bằng trong tố
tụng hình sự có thể được định nghĩa như sau: Quyền được xét xử công bằng trong tố
tụng hình sự là tổng thể những nhóm quyền cụ thể như ( được bảo đảm quyền bào
chữa, được xét xử nhanh chóng, công khai bởi tòa án độc lập không thiên vị …)
được chủ yếu là luật tố tụng hình sự thừa nhận hay quy định cho các chủ thể khi
tham gia vào các quan hệ pháp luật tố tụng hình sự với những địa vị pháp lý khác
nhau. Là những giá trị gắn liền với một nhà nước nhất định và được nhà nước đó
bảo vệ, thể hiện mối quan hệ pháp lý cơ bản giữa các chủ thể trong mối quan hệ
pháp luật tố tụng hình sự với một nhà nước nhất định.
Như vậy, Bảo vệ quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự là các
biện pháp, công cụ chống lại sự xâm phạm quyền được xét xử công bằng trong tố
tụng hình sự đã được pháp luật, pháp luật tố tụng hình sự của các quốc gia ghi nhận
hay quy định cho các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật Tố tụng hình sự không
bị xâm phạm, có tính khả thi trong thực tế và phải được tôn trọng trong suốt quá
trình Tố tụng hình sự
Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự
nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác nhanh chóng
và xử lý công minh kịp thời mọi hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm không làm
oan người vô tội

10


1.2 Quyền được xét xử công bằng trong pháp luật quốc tế
1.2.1. Quyền được xét xử công bằng theo các tiêu chí quốc tế về quyền con người
Quyền được xét xử công bằng đầu tiên được đề cập trong các Điều 10 và
Điều 11 UDHR. Theo Điều 10, mọi người đều bình đẳng về quyền được xét xử
công bằng và công khai bởi một tòa án độc lập và khách quan để xác định các
quyền và nghĩa vụ của họ cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ. Điều 11 bổ
sung thêm một số khía cạnh cụ thể, tại một phiên toà đó mọi người bị cáo buộc về
hình sự đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội
theo pháp luật tại một phiên tòa được xét xử công khai nơi người đó được bảo đảm
những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình. Không ai bị cáo buộc là phạm tội
vì bất cứ hành vi hoặc sự tắc trách nào mà không cấu thành một tội phạm hình sự
theo pháp luật quốc gia hay pháp luật quốc tế vào thời điểm thực hiện hành vi hay
có sự tắc trách đó. Cũng không ai bị tuyên phạt nặng hơn mức hình phạt được quy
định vào thời điểm hành vi phạm tội được thực hiện
Các quy định kể trên sau đó được tái khẳng định và cụ thể hóa trong các điều
14, 15 và 11 ICCPR [17, tr 174 – 175]
Liên quan đến Điều 14, bên cạnh những khía cạnh đã được nêu cụ thể như
trên, trong Bình luận chung số 13 thông qua tại Phiên họp lần thứ 21 năm 1984,
HRC đã làm rõ thêm một số khía cạnh khác mà có thể tóm tắt như sau:
Thứ nhất, Điều 14 có nội dung đa dạng nhưng tất cả đều hướng vào mục đích
nhằm bảo đảm sự chính xác và công bằng trong hoạt động tư pháp. Nội dung của
Điều này cần được sử dụng như là cơ sở không chỉ trong hoạt động truy tố và xét xử
tội phạm, mà còn trong việc xác định các quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo, cụ
thể như các quyền bình đẳng trước tòa án và trước thẩm phán, quyền được bào
chữa, được xét xử công khai bởi một tòa án có đủ thẩm quyền, độc lập và vô tư,
được thành lập theo pháp luật
Thứ hai, Điều 14 áp dụng cho tất cả các dạng tòa án và thẩm phán, bất kể tòa
án thông thường, tòa án quân sự hay tòa án đặc biệt. Và mặc dù ICCPR không cấm

11


việc thành lập các tòa án quân sự hay tòa án đặc biệt nhưng việc sử dụng các tòa án
đó để xét xử các vụ việc dân sự là sự đe dọa nghiêm trọng đến tính công bằng, độc
lập và vô tư của các tòa án và thẩm phán.
Thứ ba, những quy định trong Khoản 3 Điều 14 chỉ là những bảo đảm tối
thiểu để thực hiện yêu cầu về xét xử công bằng.
Thứ tư, yêu cầu về việc được thông báo không chậm trễ và chi tiết bằng một
ngôn ngữ mà người đó hiểu về bản chất và lý do buộc tội mình là bảo đảm tối thiểu
đầu tiên mà bị can, bị cáo được hưởng trong tiến trình tố tụng. Quy định này áp
dụng cho tất cả mọi trường hợp bị cáo buộc phạm tội, kể cả những người không bị
tạm giữ, tạm giam. Yêu cầu về việc thông báo không chậm trễ đòi hỏi việc này phải
được thực hiện ngay sau khi có sự buộc tội bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền
dưới dạng thông báo nói hay văn bản, nhưng phải chỉ ra những chứng cứ và quy
định pháp luật được viện dẫn để buộc tội.
Thứ năm, việc xác định thời gian thích hợp để người bị buộc tội có thể chuẩn
bị bào chữa và liên hệ với luật sư phụ thuộc vào hoàn cảnh của mỗi vụ án, còn việc
dành cho họ điều kiện thuận lợi trong vấn đề này thì liên quan đến các yếu tố như:
hoạt động thu thập tài liệu và bằng chứng cần cho việc bào chữa, cơ hội thuê và tiếp
xúc với luật sư.
Thứ sáu, yêu cầu được xét xử mà không bị trì hoãn một cách vô lý không chỉ
liên quan đến khoảng thời gian từ khi bị cáo buộc đến khi mở phiên tòa, mà còn đến
thời gian xét xử tại tòa và thời gian giữa hai phiên xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, tất
cả đều không được trì hoãn quá lâu.
Thứ bảy, yêu cầu được có phiên dịch miễn phí nếu không hiểu hoặc không
nói được ngôn ngữ sử dụng trong phiên toà phải được đáp ứng mà không phụ thuộc
vào kết quả của hoạt động tố tụng, và phải được áp dụng cả với người nước ngoài
cũng như với công dân của nước mình nếu cần thiết.
Thứ tám, để thực hiện được bảo đảm không bị buộc phải đưa ra lời khai
chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội cần phải thực hiện các
quyền quy định trong các Điều 7 và Khoản 1 Điều 10 ICCPR. Thêm vào đó, luật

12


pháp quốc gia cần có quy định chứng cứ thu được từ việc sử dụng các biện pháp tra
tấn, đối xử tàn bạo,vô nhân đạo hay từ bất cứ hình thức ép buộc nào khác trong hoạt
động tố tụng là vô giá trị.
Thứ chín, để thực hiện các bảo đảm nêu ở các Khoản 1 và 3 Điều 14 ICCPR,
các thẩm phán cần được trao quyền giải quyết những khiếu nại, tố cáo về việc vi
phạm các quyền của bị can, bị cáo trong bất kỳ giai đoạn tố tụng nào.
Thứ mười, người chưa thành niên làm trái pháp luật phải được hưởng những
bảo đảm tố tụng ít nhất cũng ngang bằng với những bảo đảm áp dụng với những
người đã thành niên. Việc thi hành tố tụng với những người chưa thành niên làm
trái pháp luật cần tính đến độ tuổi của các em và mục đích khuyến khích các em
hoàn lương, mà thể hiện qua các khía cạnh như: xác định độ tuổi tối thiểu phải chịu
trách nhiệm hình sự và độ tuổi tối đa một người có thể được coi là chưa thành niên;
xây dựng các tòa án, luật và thủ tục tố tụng đặc biệt áp dụng với người chưa thành
niên và bảo đảm rằng những luật và thủ tục đặc biệt đó đã tính đến mục đích
khuyến khích các em hoàn lương.
Thứ mười một, quy định bất kỳ người nào bị kết án đều có quyền yêu cầu toà
án cấp cao hơn xem xét lại bản án và hình phạt đối với mình theo quy định của pháp
luật cần được áp dụng với mọi trường hợp phạm tội chứ không chỉ với những
trường hợp phạm tội nghiêm trọng. [ 12, tr 169 - 172]
Quyền được xét xử công bằng như đã đề cập, được ghi nhận trong nhiều điều
ước quốc tế và khu vực. Trước hết phải kể đến Công ước quốc tế về các quyền dân
sự và chính trị (ICCPR), mà Việt Nam đã gia nhập từ năm 1982, là văn kiện quốc tế
có giá trị cao trong hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người. Trong Công ước
này, quyền được xét xử công bằng được ghi nhận một cách trang trọng tại Điều 14
và một số điều luật khác. Mặc dù Điều 14 không gọi trực tiếp bằng tên “quyền được
xét xử công bằng” nhưng quyền này đã được Uỷ ban Nhân quyền (Human rights
Committee), cơ quan được thiết lập nhằm giám sát việc thi hành ICCPR, sử dụng
khi phân tích các nội dung của điều luật. Đồng thời, nội hàm của Điều 14 cũng
trùng với các quy định về “quyền được xét xử công bằng” trong nhiều điều ước

13


quốc tế về nhân quyền. Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (1948) (Tuyên ngôn) cũng
đã bảo vệ quyền này khi khẳng định tại Điều 10 rằng mọi người đều được hưởng
quyền bình đẳng hoàn toàn trong việc xem xét công khai và công bằng bởi một tòa
án “có năng lực, độc lập và không thiên vị”.
Trong ICCPR, bên cạnh quyền được sống, tự do thân thể, tự do ngôn luận...
quyền được xét xử công bằng là một trong các quyền dân sự cơ bản của con người
được đề cao bởi cộng đồng quốc tế và được quy định tập trung nhất tại Điều 14.
Cạnh đó, các quyền không bị tra tấn, đối xử tàn bạo (Điều 7), quyền được bảo đảm
an toàn về thân thể (Điều 9, Điều 10), nguyên tắc không áp dụng hồi tố (Điều 15)
cũng được coi là hướng tới đảm bảo quyền được xét xử công bằng. Điều 14 có
phạm vi tương đối rộng và nhiều nội dung, bao gồm 7 khoản. Các nội dung cơ bản
của điều luật khẳng định các quyền: 1) bình đẳng trước tòa án, được xét xử bởi tòa
án độc lập, không thiên vị và việc xét xử công khai trừ các trường hợp đặc biệt; 2)
được suy đoán vô tội; 3) được bảo đảm tối thiểu liên quan đến quyền được biết lý
do buộc tội, quyền bào chữa, được trợ giúp pháp lý, được xét xử nhanh chóng, được
đối chất với người làm chứng; 4) đối với người chưa thành niên được áp dụng thủ
tục áp dụng riêng; 5) được xét xử phúc thẩm; 6) được bồi thường khi bị kết án oan;
7) không bị xét xử hai lần về cùng một tội danh. Liên quan đến Điều 14, Uỷ ban
Nhân quyền đã có một Bình luận chung(General Comment) số 13 ra đời năm 1984.
Bình luận chung nêu một số hướng dẫn cho các quốc gia trong việc thực thi các
nghĩa vụ liên quan đến điều luật này. Ngoài ra, các bản án của Uỷ ban Nhân quyền
cũng được coi là nguồn “án lệ” (case law) quan trọng, dựa trên các án lệ này mà Uỷ
ban hệ thống hoá lại thành các Bình luận chung.
Đối chiếu với quy định về quyền này trong ICCPR với Công ước về nhân
quyền của một số khu vực (châu Âu, châu Mỹ, châu Phi) cũng thấy rất nhiều điểm
tương đồng. Công ước châu Âu về bảo vệ nhân quyền và tự do căn bản (ECHR)
năm 1950 tại Điều 6, cũng như Công ước châu Mỹ về nhân quyền (1969) tại Điều 8,
đều quy định với tiêu đề “quyền được xét xử công bằng” (Right to a fair trial),
khẳng định quyền được xét xử bởi “toà án độc lập và không thiên vị, được thiết lập

14


theo luật pháp” trong các vụ việc dân sự hay hình sự, quyền được suy đoán vô tội và
các quyền tối thiểu liên quan đến việc bị buộc tội. Tại các điều ước khu vực khác,
có thể không gọi trực tiếp tên quyền này, như Điều 7 của Hiến chương châu Phi về
nhân quyền và quyền của các dân tộc, nhưng cũng quy định về một số quyền như
được kháng cáo, được suy đoán vô tội, được bào chữa, được xét xử bởi “một toà án
không thiên vị”. Cũng cần lưu ý là châu Phi đã có riêng một văn kiện về quyền
được xét xử công bằng là Tuyên ngôn Dakar về quyền được xét xử công bằng tại
châu Phi (2000), như đã nhắc đến ở trên. Hiến chương nhân quyền Ả-rập (1994), dù
không có điều nào đề cập trực tiếp đến toà án, nhưng cũng có quy định về quyền
được suy đoán vô tội (Điều 7), quyền không bị xét xử hai lần, được bồi thường nếu
bị giam giữ oan (Điều 16). Các điều ước khu vực hiển nhiên chỉ có giá trị bắt buộc
đối với các quốc gia tham gia điều ước, nhưng rõ ràng quyền được xét xử công
bằng mang tính phổ quát cao và được quan tâm bảo vệ trên khắp thế giới.
Bên cạnh các văn kiện mang tính ràng buộc pháp lý (công ước, điều ước),
nhiều văn kiện không mang tính ràng buộc pháp lý như Hướng dẫn, Nguyên tắc,
Quy tắc có liên quan đến bảo vệ quyền được xét xử công bằng. Chẳng hạn như liên
quan đến người tiến hành tố tụng và các nghĩa vụ của họ có Các nguyên tắc cơ bản
về tính độc lập của Tòa án (1985), Quy ước đạo đức của quan chức thi hành pháp
luật (1979), Hướng dẫn về vai trò của công tố viên (1990) … Liên quan đến người
tham gia tố tụng có Các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay tù
dưới bất kỳ hình thức nào (1988), Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về
tư pháp người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh) (1985), Quy tắc của Liên hợp
quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do (1990), Các nguyên tắc
cơ bản về vai trò của luật sư (1990)… Những văn kiện này dù không mang tính
ràng buộc về mặt pháp lý, nhưng lại là những tiêu chuẩn chung đã được cộng đồng
quốc tế nhất trí nhằm hướng đến bảo vệ nhân quyền và nhân phẩm của con người –
những giá trị mang tính phổ quát. Bên cạnh giá trị đạo đức và chính trị, các văn kiện
này đã và đang được nghiên cứu và nội luật hoá bởi nhiều quốc gia.

15


Tập hợp các văn kiện văn kiện mang tính ràng buộc và không mang tính ràng
buộc pháp lý nêu trên tạo nên một hệ thống các chuẩn mực quốc tế về quyền được
xét xử công bằng. Hệ thống chuẩn mực này có thể dùng làm thước đo mức độ tuân
thủ của các quốc gia trên khía cạnh pháp luật thực định và thực tiễn thi hành pháp
luật.
1.2.2. Các nội dung căn bản của quyền được xét xử công bằng
Như trên đã đề cập nội dung của quyền được xét xử công bằng tương đối
rộng, bao trùm nhiều quyền cụ thể. Nói cách khác, quyền được xét xử công bằng là
một quyền tổng hợp. Các quyền cụ thể đó và một số chuẩn mực quốc tế liên quan.
Một số quyền trong giai đoạn trước xét xử
Mặc dù quyền được xét xử công bằng liên quan nhiều nhất đến hoạt động xét
xử của toà án, nhưng giai đoạn tiền xét xử lại có quan hệ chặt chẽ, làm tiền đề cho
giai đoạn xét xử. Các nhân quyền cơ bản nếu bị xâm hại từ giai đoạn đầu này sẽ ảnh
hưởng đến các quyền ở giai đoạn sau. Chẳng hạn quyền không bị tra tấn, bức cung
hay nhục hình nếu bị xâm hại, rất dễ dẫn đến những lời khai không khách quan, từ
đó nội dung vụ án bị sai lệch. Mặt khác, toà án trong giai đoạn này đã có vai trò
xem xét về tính hợp pháp của việc bắt giữ người.
Quyền bình đẳng trước tòa án và được xét xử bởi tòa án độc lập, không thiên
vị, công khai
Trước hết, bình đẳng thể hiện ở sự ngang bằng về quyền giữa các bên trong
tố tụng. Các buộc tội với bên gỡ tội có quyền như nhau trong việc đưa ra chứng cứ,
quan điểm, yêu cầu là những đòi hỏi đầu tiên của công bằng trong xét xử. Đây cũng
là yêu cầu của Điều 7 Tuyên ngôn rằng mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và
có quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng.
Thứ hai, tòa án cần phải độc lập, không thiên vị cũng là nội dung quan trọng
đảm bảo công bằng. Toà án là cơ quan có thẩm quyền đưa ra phán quyết về việc
một người có tội hay không và trách nhiệm hình sự mà người đó phải ghánh chịu.
Tại Các nguyên tắc cơ bản về tính độc lập của Tòa án (Basic Principles on the
Independence of the Judiciary) do Hội nghị Liên hợp quốc về phòng chống tội

16


phạm và xử lý người phạm tội thông qua và được Đại hội đồng Liên hợp quốc chấp
thuận cùng trong năm 1985, tính độc lập của toà án đã được cụ thể hoá từ nhiều góc
độ như cần có sự bảo đảm của nhà nước, bảo đảm của hiến pháp, toà án không bị
ảnh hưởng bởi dụ dỗ, sức ép, can thiệp sai trái... Bên cạnh sự độc lập của tòa án và
các thẩm phán, sự độc lập của cảnh sát và công tố viên cũng ảnh hưởng đáng kể đến
tính độc lập của hệ thống tư pháp. Hướng dẫn về vai trò của công tố viên (được Hội
nghị Liên hợp quốc thông qua năm 1990) đã khẳng định trách nhiệm của nhà nước
trong bảo đảm cho công tố viên thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn mà không bị
đe doạ, ngăn cản, can thiệp (Khoản 4) và văn phòng công tố viên phải triệt để tách
khỏi chức năng xét xử (Khoản 10)... Trong Quy ước đạo đức của quan chức thi
hành pháp luật (được Đại hội đồng LHQ thông qua năm 1979), một số khía cạnh
liên quan đến tính độc lập như các quan chức thi hành pháp luật (thực thi quyền lực
cảnh sát) không được tham nhũng (Điều 7).
Công khai và minh bạch là những đòi hỏi thiết yếu của công bằng. Toà án
xét xử công khai là một yêu cầu trong Điều 14/1 ICCPR. Tuy nhiên, việc xét xử
công khai có thể bị hạn chế vì lý do an ninh quốc gia hoặc để giữ kín đời tư của các
bên. Trong Công ước Châu Âu về nhân quyền (ECHR), tính công khai của việc xét
xử (Điều 6) cũng như việc đảm bảo quyền thông tin của công chúng được đề cao
(Điều 10). Gần đây, Hội đồng châu Âu nêu lên kiến nghị liên quan đến tính minh
bạch và khuyến cáo các quốc gia bảo đảm quyền của công chúng trong việc nhận
các thông tin về hoạt động của cơ quan tư pháp, công an thông qua các phương tiện
truyền thông, đồng thời, các phóng viên phải được tự do viết, bình luận về hệ thống
tư pháp. Năm 2005, Hội đồng tư vấn Thẩm phán châu Âu (the Consultative Council
of European Judges) cũng đã đề cao mối quan hệ giữa toà án với các phương tiện
truyền thông đại chúng.
Quyền được suy đoán vô tội
Nguyên tắc suy đoán vô tội được hình thành tương đối sớm trong nhiều nền
tư pháp trên thế giới. Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp (1789) đã
khẳng định mọi người đều được coi là vô tội cho đến khi bị tuyên bố phạm tội

17


(Điều 9). Trong Hiến pháp Mỹ, dù không trực tiếp đề cập đến nhưng có thể được
suy ra từ các tu chính án 4, 5 và 14. Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (1948) tại Điều
11 và ECHR tại khoản 2 Điều 6 cũng khẳng định quyền này.
Điều 14/2 ICCPR đã ghi nhận quyền được suy đoán vô tội của bị can, bị cáo,
cạnh đó, Khoản 7 của Bình luận chung số 13 nhấn mạnh mối quan hệ của quyền
này với nghĩa vụ chứng minh của bên công tố, bên công tố có nghĩa vụ chứng minh
trong suốt quá trình xét xử. Quy định về suy đoán vô tội có quan hệ chặt chẽ với
quy định về toà án không thiên vị. Các cơ quan tiến hành tố tụng, các thẩm phán,
công tố viên có nghĩa vụ không được có định kiến trước về kết quả của việc xét xử.
Cụ thể, việc tiến hành phiên toà phải được dựa trên việc giả định suy đoán là vôi tội.
Liên quan đến suy đoán vô tội, các yếu tố có thể tạo nên định kiến cũng cần phải
tránh như việc yêu cầu bị can, bị cáo đeo còng tay, mặc đồng phục trại giam hoặc
buộc phải cạo trọc đầu.
Quyền bào chữa
Quyền bào chữa có vai trò đặc biệt là quyền bảo vệ các quyền khác. Điều
14/3 ICCPR khẳng định trong quá trình xét xử hình sự, mọi người phải được các
bảo đảm tối thiểu liên quan đến quyền bào chữa. Các quyền đó bao gồm quyền
được biết lý do buộc tội, quyền bào chữa, được trợ giúp pháp lý, được xét xử nhanh
chóng, được đối chất với người làm chứng...
Trước hết, để có thể thực hiện việc bào chữa, người bị buộc tội phải được
thông báo về lý do buộc tội (Điều 14/3/a). Nguyên tắc 10 trong Các nguyên tắc về
bảo vệ tất cả những người bị giam giữ hay tù dưới bất kỳ hình thức nào (1988) cũng
nhấn mạnh quyền được thông báo này của người bị bắt giữ. Bên cạnh quyền có đủ
thời gian để chuẩn bị cho việc bào chữa (Điều 14/3/b), bị cáo lại có quyền được xét
xử nhanh chóng (Điều 14/3/c).
Để đảm bảo quyền bào chữa còn có các quy định liên quan đến chứng minh,
người làm chứng. Cá nhân có quyền thẩm vấn và yêu cầu thẩm vấn những nhân
chứng buộc tội mình, được mời người làm chứng gỡ tội cho mình tới phiên toà
(Điều 14/3/e). Về nghĩa vụ chứng minh, bị can, bị cáo không phải đưa ra lời khai

18


chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội (Điều 14/3/g) và nghĩa vụ
chứng minh trong vụ án hình sự thuộc về phía công tố.
Quyền được xét xử theo thủ tục riêng của người chưa thành niên
Do đặc điểm của người chưa thành niên có nhiều hạn chế về thể chất, tâm
sinh lý, cộng đồng quốc tế đã giành nhiều quan tâm để bảo vệ người chưa thành
niên về mặt pháp lý. Điều 14/4 ICCPR quy định thủ tục áp dụng đối với người chưa
thành niên phải xem xét đến độ tuổi và khuyến khích sự phục hồi của trẻ. Công ước
về quyền trẻ em (1989) tại Điều 40/2/b cũng đã khẳng định các quyền của trẻ em
được các đảm bảo khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu
của Liên hợp quốc về tư pháp người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh)(1985) đã
dành rất nhiều ưu đãi đặc biệt cho người chưa thanh niên. Ngoài ra Quy tắc của
Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do (1990), bên
cạnh việc quy định rất nhiều bảo đảm đối với người chưa thành niên, cũng nhấn
mạnh quyền có luật sư bào chữa và được yêu cầu trợ giúp pháp lý không phải trả
tiền trong giai đoạn chờ xét xử của họ (Khoản 18, phần III).
Quyền kháng cáo
Điều 14/5 ICCPR quy định quyền kháng cáo quyền được xét xử phúc thẩm.
Người nào bị kết án đều có quyền yêu cầu toà án cấp cao hơn xem xét lại bản án và
hình phạt đối với họ mà toà án cấp dưới đã tuyên. Quyền này nhằm hạn chế những
sai lầm của các cơ quan tiên hành tố tụng cấp dưới có thể gây thiệt hại đến quyền
lợi chính đáng của các đương sự. Trong Khoản 7 của Bình luận chung số 13 về
quyền kháng cáo đã nhấn mạnh rằng, trong các vụ án hình sự, quyền này không chỉ
áp dụng đối với những tội phạm nghiêm trọng mà áp dụng đối với tất cả các loại tội
phạm.
Một số quyền khác
Điều 14 ICCPR còn quy định về quyền được bồi thường khi bị kết án oan,
quyền không bị xét xử hai lần về cùng một tội danh. Khi một cá nhân bị kết tội, kèm
theo đó bị tuyên một hình phạt, nhân phẩm và danh dự của họ đã bị ảnh hưởng.
Điều 14/6 ICCPR quy định quyền được yêu cầu bồi thường khi bị kết án oan. Điều

19


luật quy định cụ thể nếu bản án có hiệu lực chung thẩm bị huỷ bỏ hoặc tuyên vô tội
trên cơ sở tình tiết mới cho thấy việc xét xử là oan, người bị kết án oan có quyền
yêu cầu bồi thường. Điều 14/7 ICCPR còn quy định quyền không bị xét xử hay phải
chịu hình phạt hai lần về cùng một tội danh.
Trong ICCPR, ngoài các nội dung quy định tại Điều 14 nêu trên, các nội
dung quy định trong Điều 11 về không bị truy cứu hình sự vì lý do không thực hiện
được nghĩa vụ hợp đồng và Điều 15 về không bị coi là có tội nếu hành vi không cấu
thành tội phạm theo pháp luật vào thời điểm thực hiện hành vi, không áp dụng hồi
tố cũng được nghiên cứu khi đề cập đến quyền được xét xử công bằng.
Trên đây là những nội dung cơ bản của các quy phạm pháp luật quốc tế về
quyền được xét xử công bằng. Mức độ tuân thủ của các quốc gia, trên khía cạnh
pháp luật thực định và thực tiễn thi hành pháp luật, lại là một vấn đề lớn và phức tạp
hơn nhiều.
1.3. Cơ chế bảo đảm quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự
Lịch sử nhân loài đã chứng minh ở mỗi thời đại, mỗi chế độ chính trị - xã hội
nhất định lòng khát khao được bình đẳng về công lý và công bằng xã hội luôn là sức
mạnh vô tận trong nhu cầu được bảo vệ một nhu cầu hết sức tự nhiên của con
người. Do vậy, vai trò của pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói
riêng hơn bao giờ hết cần phải có những quy định cụ thể tạo nên cơ chế bảo vệ thích
đáng xuất phát từ yêu cầu khách quan của đời sống pháp luật, đặc biệt là hoạt động
có tính chất nhạy cảm, phức tạp như trong hoạt động tố tụng hình sự. Quyền được
xét xử công bằng là một quá trình mà nó phụ thuộc nhiều vào biện pháp khác nhau
trong đó pháp luật cũng như các cơ quan trong bộ máy nhà nước có vị trí, vai trò và
tầm quan trọng hàng đầu của các biện pháp bảo vệ quyền được xét xử công bằng
trong tố tụng hình sự

20


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×