Tải bản đầy đủ

LVTS 2015 các tội phạm tham nhũng trong luật hình sự việt nam

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN ĐÌNH TRIẾT

CÁC TỘI PHẠM THAM NHŨNG
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đăk lăk)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN ĐÌNH TRIẾT

CÁC TỘI PHẠM THAM NHŨNG
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

(trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đăk lăk)
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS. TRỊNH QUỐC TOẢN

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn

Nguyễn Đình Triết


MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI PHẠM
THAM NHŨNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ............... 8
1.1.

Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc quy định các tội phạm
tham nhũng trong LHS Việt Nam ..................................................... 8


1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của các tội phạm tham nhũng trong LHS Việt Nam...... 8
1.1.2. Ý nghĩa của việc quy định các tội phạm tham nhũng trong LHS
Việt Nam ............................................................................................. 17
1.2.

Khái quát lịch sử của các quy định về tội phạm tham nhũng
trong LHS Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945
đến khi ban hành BLHS năm 1999 ................................................. 19

1.2.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước khi
ban hành BLHS năm 1985 .................................................................. 19
1.2.2. Giai đoạn từ khi ban hành BLHS năm 1985 đến trước khi ban
hành BLHS Việt Nam năm 1999 ........................................................ 24
1.3.

Các tội phạm tham nhũng trong Công ước quốc tế về chống
tham nhũng và LHS một số nước..................................................... 27

1.3.1. Các tội phạm tham nhũng trong Công ước quốc tế về chống tham nhũng.... 27
1.3.2. Các tội phạm tham nhũng trong LHS một số nước ............................ 32
Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI PHẠM THAM NHŨNG
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VÀ
THỰC TIỄN XÉT XỬ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK ......... 37


2.1.

Các dấu hiệu pháp lí hình sự của các tội tham nhũng trong
BLHS Việt Nam hiện hành ............................................................... 37

2.1.1. Tội tham ô tài sản ................................................................................ 37
2.1.2. Tội nhận hối lộ .................................................................................... 40
2.1.3. Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản ......................... 45
2.1.4. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ ................ 47
2.1.5. Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ .......................................... 50
2.1.6. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác
để trục lợi............................................................................................. 53
2.1.7. Tội giả mạo trong công tác ................................................................. 55
2.2.

Hình phạt áp dụng đối với các tội phạm tham nhũng ................... 58

2.2.1. Hình phạt chính áp dụng với các tội phạm tham nhũng ..................... 62
2.1.2. Hình phạt bổ sung áp dụng với các tội phạm tham nhũng.................. 64
2.3.

Thực tiễn xét xử các tội phạm tham nhũng trên địa bàn tỉnh
Đắk Lắk .............................................................................................. 69

2.3.1. Khái quát tình hình chính trị - kinh tế - xã hội của địa bàn tỉnh
Đắk Lắk .............................................................................................. 69
2.3.2. Tình hình xét xử các tội phạm tham nhũng ........................................ 71
Chương 3: HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM

VỀ CÁC TỘI PHẠM THAM NHŨNG VÀ

NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG ............ 78
3.1.

Sự cần thiết của việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng
quy định của BLHS Việt Nam về các tội phạm tham nhũng ........ 78

3.1.1. Về mặt lý luận ..................................................................................... 78
3.1.2. Về mặt thực tiễn .................................................................................. 79
3.1.3. Về mặt lập pháp .................................................................................. 80
3.2.

Hoàn thiện quy định của BLHS Việt Nam về các tội phạm
tham nhũng ........................................................................................ 81


3.2.1. Nhận xét .............................................................................................. 81
3.2.2. Nội dung hoàn thiện ............................................................................ 81
3.3.

Những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của
BLHS Việt Nam về các tội phạm tham nhũng ............................... 86

3.3.1. Tăng cường năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho các Điều tra
viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ..................... 86
3.3.2. Tăng cường công tác xét xử nghiêm minh, kịp thời các tội phạm
tham nhũng .......................................................................................... 88
KẾT LUẬN .................................................................................................... 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 95


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS

BLHS

CTTP

Cấu thành tội phạm

KTXH

Kinh tế xã hội

LHQ

Liên hợp quốc

PCTN

Phòng, chống tham nhũng

TNHS

Trách nhiệm hình sự

TTCP

Thanh tra Chính phủ

TANDTC

Tòa án nhân dân tối cao

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1: Số vụ án sơ thẩm về từng tội phạm tham nhũng từ
năm 2010 đến 2014

72

Bảng 2.2: Số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về từng tội phạm tham
nhũng từ năm 2010 đến 2014

72

Bảng 2.3: Tỉ lệ các tội danh và bị cáo trong nhóm tội phạm về
tham nhũng đã xét xử trên địa bàn tỉnh ĐakLak từ
2010 – 2014

74

Bảng 2.4: Các hình thức TNHS được áp dụng đối với các tội về
tham nhũng đã xét xử sơ thẩm (từ 2010 đến 2014)

75

Bảng 2.5: Các hình thức TNHS được áp dụng đối với các tội về
tham nhũng đã xét xử phúc thẩm (từ 2010 đến 2014)

76


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo báo cáo của tổ chức Liêm chính toàn cầu năm 2014 “Tội phạm và
nạn tham nhũng cướp đi gần 1000 tỉ USD mỗi năm từ các quốc gia nghèo và
có thu nhập trung bình. Số tiền này nếu được đầu tư vào các doanh nghiệp
nhỏ, dịch vụ y tế, giáo dục và hạ tầng thì đủ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
tạo công ăn việc làm và tăng công quỹ”. Điều này có thể thấy tham nhũng có
hậu quả vô cùng lớn đối với kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và ngày nay nó
đang là vấn đề chung của toàn cầu.
Ở Việt Nam, tham nhũng cũng đã gây ra những tác hại to lớn cho đời
sống chính trị, kinh tế, làm xói mòn giá trị đạo đức, văn hoá, gia đình, xã hội,
đặc biệt, tham nhũng làm giảm sút niềm tin của nhân dân, làm sai lệch các
chủ trương, chính sách của đảng. Trước tình hình đó, tham nhũng đã trở thành
vấn đề được Đảng, Nhà nước và toàn thể xã hội quan tâm. Điều này được thể
hiện trong quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước trong công tác đấu tranh
phòng, chống tham nhũng (PCTN) đến năm 2020 [13].
Để ngăn chặn và đẩy lùi quốc nạn này, Nhà nước ta đã lập Cục phòng
chống tham nhũng thuộc Chính Phủ theo quyết định 1424 ngày 31/10/2006,
Quốc hội đã thông qua Luật PCTN ngày 29/11/2005 được sửa đổi, bổ sung
năm 2012, rất nhiều nghị định, quyết định, thông tư, chỉ thị để cụ thể hóa Luật
PCTN, trong đó có các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập; luân chuyển
cán bộ, công chức, viên chức; tiêu chuẩn, định mức trang thiết bị và phương
tiện làm việc của cơ quan và cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước; tặng
quà, nhận quà và nộp lại quà tặng; trả lương qua tài khoản đối với các đối
tượng hưởng lương từ ngân sách; danh mục người có nghĩa vụ kê khai tài sản,
thu nhập; chế độ phụ cấp trách nhiệm trong hoạt động PCTN; xử lý trách

1


nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xẩy ra tham nhũng; vai
trò, trách nhiệm của xã hội trong PCTN… Đặc biệt, các tội phạm về tham
nhũng đã được quy định tại BLHS năm 1999 [42].
Về đấu tranh PCTN, chúng ta đã có cơ sở pháp lý, có cơ chế kiểm tra,
giám sát, phát hiện nhưng thời gian qua, các vụ án tham nhũng lớn ở Việt
Nam ngày càng tăng về số lượng và mức độ tinh vi, nguy hiểm; Đảng,Nhà
nước và nhân dân quyết liệt giải quyết các vụ án tham nhũng, công bố kết quả
rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng củng cố niềm tin cho nhân
dân, như vụ án Huỳnh Thị Huyền Như, vụ Trần Văn Truyền....
Vì vậy, việc nghiên cứu toàn diện và làm rõ hơn các tội phạm về tham
nhũng có một ý nghĩa quan trọng không chỉ về mặt nhận thức mà còn giúp
các cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở pháp lý để phòng ngừa và đấu tranh
với các hành vi phạm tội do người có chức vụ thực hiện. Trên cơ sở đó, tác
giả chọn đề tài: “Các tội phạm tham nhũng trong LHS Việt Nam (Trên cơ sở
số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)”. Tuy nhiên với phạm vi luận văn thạc
sĩ, tác giả chỉ nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến các
tội phạm này trên cơ sở nghiên cứu số liệu thực tiễn xét xử từ năm 2008 đến
năm 2014 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Từ khi Bộ LHS (BLHS) năm 1999 có hiệu lực, các tội phạm thma
nhũng cũng đã được nhiều tài liệu, bài viết tạp chí đề cập đến và cũng đã
được các nhà nghiên cứu chọn làm đề tài luận văn, luận án. Các tác giả đã đi
sâu nghiên cứu thực trạng tham nhũng và các giải pháp PCTN cũng như đề
cập đến việc thực hiện pháp luật về PCTN và đưa ra các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả công tác PCTN.
Trước tiên phải kể đến sách chuyên khảo giáo trình của các cơ sở đào
tạo luật: 1) GS.TSKH. Lê Văn Cảm (Chủ biên), Giáo trình LHS Việt Nam

2


(Phần các tội phạm), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003 (Chương Các tội
phạm về chức vụ); 2) GS.TS. Võ Khánh Vinh (Chủ biên), Giáo trình LHS
Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2003
(Chương Các tội phạm về chức vụ); 3) GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên),
Giáo trình LHS Việt Nam, Tập II, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2010
(Chương Các tội phạm về chức vụ); 4) GS.TSKH. Phan Xuân Sơn, TS. Phạm
Thế Lực (Đồng chủ biên), Nhận diện tham nhũng và các giải pháp phòng,
chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2008; 5) Nguyễn Văn Kim, Nguyễn Huy Hoàng (Chủ biên), Pháp luật chống
tham nhũng của các nước trên thế giới, Nxb Văn hóa Dân tộc, 2003; 7) ThS.
Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học BLHS - Phần các tội phạm, Tập V - Các
tội phạm về chức vụ, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2006;...
Thứ hai, dưới góc độ luận văn thạc sĩ có đề tài “Đổi mới tư duy pháp lý
về đấu tranh phòng chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay” của Ngọ Duy
Hiểu nghiên cứu tham nhũng, đấu tranh PCTN và việc đổi mới tư duy trong
phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam. Luận văn Thạc sỹ
Luật học “Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện
nay” của Trần Anh Tuấn nghiên cứu cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp
luật về PCTN, quá trình phát triển của pháp luật phòng, chống tham nhũng và
thực trạng pháp luật về PCTN (đến năm 2006); đưa ra quan điểm, phương
hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật PCTN của Việt Nam. Luận văn Thạc
sĩ Luật học “Các tội phạm về hối lộ theo LHS Việt Nam và Công ước quốc tế
của Liên Hiệp quốc về chống tham nhũng” của tác giả Vũ Việt Tường năm
2014 tại Khoa Luật, ĐHQGHN; v.v...
Thứ ba, dưới góc độ luận án tiến sĩ có đề tài “Tình hình, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh phòng, chống các tội tham nhũng” của Nghiên
cứu sinh Trần Công Phàn nêu bật quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu

3


tranh chống tham nhũng, phân tích tình hình tội phạm tham nhũng ở nước ta
hiện nay và nguyên nhân của tình hình đó cùng các giải pháp đấu tranh phòng
chống các tội tham nhũng. Luận án tiến sỹ luật học “Tham nhũng trong Chính
phủ Việt Nam: biểu hiện và cách khắc phục” của Nghiên cứu sinh Lê Trung
Kiên nghiên cứu bản chất của tham nhũng, nguyên nhân, các hình thức, tính
năng và các biểu hiện của nó trong xã hội Việt Nam, trong tổ chức Chính phủ;
xác định các hướng đi, cách thức và phương tiện để khắc phục trong điều kiện
kinh tế và xã hội mới của nước ta. Luận án tiến sĩ luật học của Nghiên cứu
sinh Nguyễn Hải Phong “Hoạt động của Viện kiểm sát Nhân dân trong đấu
tranh phòng, chống tội phạm về tham nhũng ở Việt Nam” nghiên cứu cơ sở lý
luận, thực trạng tội phạm về tham nhũng, dự báo, phương hướng, yêu cầu và
giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát (VKS) trong đấu
tranh phòng, chống tội phạm về tham nhũng ở Việt Nam.
Thứ tư, dưới góc độ đề tài khoa học cấp Nhà nước có đề tài “Đấu tranh
PCTN ở nước ta” của Ban Nội chính Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
nghiên cứu thực trạng và nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng tham nhũng
ở Việt Nam, từ đó kiến nghị các giải pháp nhằm đấu tranh PCTN ở nước ta.
Đề tài“Luận cứ khoa học cho việc xây dựng chiến lược phòng ngừa và nâng
cao hiệu quả đấu tranh PCTN ở Việt Nam cho đến năm 2020” của tác giả Mai
Quốc Bình, Phó Tổng Thanh tra cùng tập thể tác giả thuộc Thanh tra Chính
phủ nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về tham nhũng và công tác đấu
tranh chống tham nhũng, thực trạng, hậu quả và nguyên nhân tham nhũng,
tình hình công tác đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam, yêu cầu xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN với nhiệm vụ PCTN, kinh nghiệm về
PCTN trên thế giới, các giải pháp phòng ngừa và nâng cao hiệu quả đấu tranh
chống tham nhũng và việc xây dựng Chiến lược PCTN ở Việt Nam.
Thứ năm, dưới góc độ đề tài khoa học cấp cơ sở nghiên cứu vấn đề

4


tham nhũng trên các phương diện khác nhau, có đề tài “Một số vấn đề về tham
nhũng trong khu vực tư và PCTN trong khu vực tư ở Việt Nam hiện nay” do
ThS. Nguyễn Vũ Quỳnh Lâm, Viện Khoa học Thanh tra, Thanh tra chính phủ
làm Chủ nhiệm nghiên cứu khái niệm, lý luận và thực tiễn tham nhũng trong
khu vực tư, đưa ra dự báo và giải pháp PCTN trong khu vực tư ở Việt Nam.
Đề tài khoa học cấp cơ sở “Vai trò của Hội người cao tuổi và Hội cựu chiến
binh tham gia PCTN ở cơ sở” do ThS Nguyễn Thế Huệ, Viện Nghiên cứu
Người cao tuổi Việt Nam làm Chủ nhiệm và Đề tài khoa học cấp cơ sở “Đoàn
thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh với công tác PCTN ở Việt Nam” do tác giả
Nguyễn Tuấn Anh, Viện Khoa học Thanh tra, Thanh tra chính phủ làm Chủ
nhiệm nghiên cứu vai trò của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đối với
công tác PCTN và đưa ra giải pháp hoàn thiện cơ chế hoạt động và nâng cao
hiệu quả hoạt động của các tổ chức nói trên trong công tác PCTN.
Ngoài ra còn có một số công trình khoa học, các bài viết nghiên cứu,
đánh giá pháp luật về PCTN, thực hiện pháp luật về PCTN để góp phần vào
việc hoàn thiện pháp luật về PCTN.
Mặc dù nhiều công trình nghiên cứu khoa học pháp lý đã góp phần
quan trọng vào việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về PCTN, nhưng PCTN là
vấn đề phức tạp, “nhạy cảm”, thực trạng tham nhũng ngày càng ở mức độ
nghiêm trọng. Hơn nữa, qua quá trình triển khai thực hiện pháp luật về PCTN
cho thấy bên cạnh những kết quả đạt được thì các quy định của pháp luật về
PCTN hiện nay vẫn còn có những bất cập, trong một số trường hợp pháp luật
chưa phù hợp với thực tiễn hoặc chưa đáp ứng được yêu cầu, gây khó khăn
cho việc phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng, đòi hỏi phải tiếp tục
nghiên cứu để hoàn thiện.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn đúng như tên gọi của nó - Các tội

5


phạm tham nhũng trong LHS Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn
tỉnh Đắk Lắk).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đánh giá thực trạng tham nhũng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong những
năm gần đây (2009-2014);
Nghiên cứu các nội dung cơ bản của pháp luật về PCTN được thể hiện
trong LHS Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thi hành về tội phạm tham
nhũng trong LHS Việt Nam;
Nghiên cứu khái niệm về tham nhũng, PCTN, pháp luật về PCTN, hoàn
thiện pháp luật về PCTN và các tiêu chí đưa ra để làm cơ sở đánh giá mức độ
hoàn thiện pháp luật về PCTN;
Phân tích pháp LHS Việt Nam và một số nước trên thế giới về tội phạm
tham nhũng để chỉ ra khái niệm, cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định
tội phạm này trong LHS Việt Nam;
Chỉ ra các chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước và các giải
pháp được đưa ra tập trung hoàn thiện các quy định của pháp luật về PCTN
hiện hành để góp phần tích cực vào việc phòng ngừa tham nhũng.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ
nghĩa duy vật biện chứng của Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Luận văn dựa trên cơ sở quan điểm, chủ trương, phương hướng nhiệm
vụ của Đảng hiện nay về PCTN, nhất là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ XI, Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương lần thứ 3 (Khoá X) về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, lãng phí.

6


4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp truyền thống: phân tích, so sánh,
chứng minh, hệ thống hoá, thống kê, tổng hợp...
5. Ý nghĩa của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng tham khảo
trong quá trình nghiên cứu tìm ra các cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn để xây
dựng, hoàn thiện các quy định của pháp luật về PCTN.
- Luận văn là tài liệu tham khảo cho cán bộ, công chức Nhà nước và
các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc nghiên cứu đề ra các giải pháp cụ
thể trong công tác PCTN hoặc trực tiếp tham gia vào công tác PCTN, nhất là
cán bộ, công chức thuộc khối nội chính.
6. Kết cấu của Luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về các tội phạm tham nhũng trong
LHS Việt Nam.
Chương 2: Các tội phạm tham nhũng trong BLHS Việt Nam hiện
hành và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
Chương 3: Hoàn thiện quy định của BLHS Việt Nam về các tội phạm
tham nhũng và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng.

7


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI PHẠM THAM NHŨNG
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc quy định các tội
phạm tham nhũng trong LHS Việt Nam
Tham nhũng là một hiện tượng xã hội tiêu cực mang tính lịch sử, nó
xuất hiện và tồn tại trong xã hội phân chia giai cấp và hình thành Nhà nước,
hậu quả mà nó gây ra hết sức nguy hại về mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã
hội, nó cản trở sự phát triển đi lên của xã hội, thậm chí có thể dẫn đến sự sụp
đổ của cả một thể chế và nó diễn ra ở tất cả các quốc gia trên thế giới, không
phân biệt chế độ chính trị, điều kiện và trình độ phát triển kinh tế - xã hội.
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của các tội phạm tham nhũng trong LHS
Việt Nam
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, tội tham nhũng cũng ngày càng
đa dạng nên yêu cầu về tội phạm hóa một số hành vi vi phạm pháp luật của
người có chức vụ, quyền hạn, nhu cầu pháp điển hoá PLHS, sửa đổi, bổ sung
cho phù hợp tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… là nhiệm vụ bức
thiết của Nhà nước.
Ngày 21/12/1999, Quốc hội đã thông qua BLHS, có hiệu lực thi hành
từ ngày 01/7/2000 thay thế cho BLHS năm 1985. Các tội phạm về tham
nhũng được quy định trong Mục A Chương XXI, gồm 7 tội danh: Tội tham ô
tài sản (Điều 278); Tội nhận hối lộ (Điều 279); Tội lạm dụng chức vụ, quyền
hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi
thi hành công vụ (Điều 281); Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều
282); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để
trục lợi (Điều 283); Tội giả mạo trong công tác (Điều 284) [42].

8


Đến ngày 19/6/2009, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của BLHS năm 1999 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010. Đối với các
tội phạm về tham nhũng trong Bộ luật này, về cơ bản không có sự thay đổi lớn,
ngoài nội dung sửa đổi liên quan đến vấn đề định lượng, đó là: không xử lý về
hình sự đối với người thực hiện hành vi tham ô tài sản (Điều 278) và hành vi
lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà tài sản bị chiếm đoạt có
giá trị dưới hai triệu đồng, trừ trường hợp có yếu tố định tội khác (Điều 280).
Tuy nhiên, trong các văn bản pháp LHS của Việt Nam từ trước đến nay
chưa có điều luật nào quy định khái niệm thế nào là tội phạm tham nhũng mà
mới chỉ quy định khái niệm về tội phạm về chức vụ nói chung tại Điều 277
BLHS năm 1999: “Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt
động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi
thực hiện công vụ” [42].
Thuật ngữ “tham nhũng” được các tổ chức, các quốc gia trên thế giới
sử dụng và định nghĩa. Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế tham nhũng là hành
vi "của người lạm dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc cố ý làm trái pháp luật để
phục vụ cho lợi ích cá nhân". Theo Ngân hàng Thế Giới, tham nhũng là sự
"lạm dụng quyền lực công cộng nhằm lợi ích cá nhân". Ban nghiên cứu thuộc
Hội đồng Châu Âu đã đưa ra khái niệm tham nhũng:
Tham nhũng bao gồm những hành vi hối lộ và bất kỳ một hành
vi nào khác của những người được giao thực hiện một trách nhiệm
nào đó trong khu vực Nhà nước hoặc tư nhân, nhưng đã vi phạm trách
nhiệm được giao để thu bất kỳ một thứ lợi ích bất hợp pháp nào cho
cá nhân hoặc cho người khác [78, tr. 42].
Ngân hàng Thế giới định nghĩa, tham nhũng là “lạm dụng công quyền
để tư lợi”. Điều này cho rằng căn nguyên của tham nhũng xuất phát từ công
quyền và lạm dụng công quyền, tham nhũng gắn liền với Nhà nước và các

9


hoạt động của Nhà nước, việc Nhà nước can thiệp vào thị trường và từ sự tồn
tại của khu vực công. Khái niệm này loại trừ khả năng tham nhũng xảy ra
trong khu vực tư nhân, chỉ tập trung duy nhất vào tình trạng tham nhũng trong
khu vực công.
Có thể nói Công ước của Liên Hợp Quốc (LHQ) về chống tham nhũng
là kết quả của nhiều nỗ lực đàm phán nhưng cũng không đưa ra định nghĩa về
tham nhũng, mà chỉ có một số điều khoản mô tả các loại hành vi tham nhũng,
đồng thời Công ước đặt ra nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên phải hình sự
hoá các hành vi: hối lộ công chức quốc gia; hối lộ công chức nước ngoài hoặc
của tổ chức quốc tế công; tham ô, biển thủ hoặc các dạng chiếm đoạt tài sản
khác bởi công chức; Lạm dụng ảnh hưởng để trục lợi; Lạm dụng chức năng;
Hối lộ trong khu vực tư; Biển thủ tài sản trong khu vực tư; Che dấu tài sản;
Cản trở hoạt động tư pháp; Hành vi làm giàu bất hợp pháp và hành vi tẩy rửa
tiền và tài sản do phạm tội mà có
Ở Việt Nam, thuật ngữ “tham nhũng” lần đầu tiên được sử dụng trong
văn bản pháp LHS là trong Luật số 57/L-CTN sửa đổi, bổ sung một số điều
của BLHS ngày 10 tháng 5 năm 1997. Theo Luật này, có 11 tội danh trong
BLHS được xác định là “tội phạm tham nhũng”. Trong BLHS năm 1999, các
tội phạm về tham nhũng được quy định thành mục riêng - Mục A, Chương
XXI của BLHS với 7 tội danh khác nhau [42].
Trong quá trình hướng dẫn áp dụng các quy định của pháp luật về đấu
tranh chống tham nhũng, các cơ quan có thẩm quyền như Toà án nhân dân tối
cao, VKS nhân dân tối cao… cũng có nhiều văn bản hướng dẫn việc xử lý các
hành vi tham nhũng, các tội phạm về tham nhũng.
Trong quá trình nghiên cứu, có nhiều tác giả đã đưa ra khái niệm về
“tham nhũng”: Theo GS.TS. Nguyễn Xuân Yêm, PGS.TS. Nguyễn Hòa
Bình, TS. Bùi Minh Thanh trong cuốn Phòng chống tham nhũng ở Việt

10


Nam và Thế giới” cho rằng: “Tham nhũng là hiện tượng xã hội tiêu cực có
tính lịch sử xuất hiện và tồn tại trong xã hội phân chia giai cấp và hình thành
Nhà nước, được thể hiện bằng hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi
cho cá nhân hoặc người khác dưới bất kỳ hình thức nào, gây thiệt hại tài sản
của Nhà nước, của tập thể, của công dân hoặc đe dọa gây thiệt hại cho hoạt
động đúng đắn của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội hoặc quyền, lợi ích hợp
pháp của công dân” [85, tr 26]. GS.TSKH. Phan Xuân Sơn và ThS. Hoàng
Thế Lực trong cuốn “Nhận diện tham nhũng và các giải pháp phòng, chống
tham nhũng ở Việt Nam hiện nay”, cho rằng: “Tham nhũng là một hiện tượng
xã hội, trong đó các tổ chức, tập đoàn, cá nhân… lợi dụng những ưu thế về
chức vụ, cương vị, uy tín, nghề nghiệp, hoàn cảnh của mình hoặc người khác,
lợi dụng những sơ hở của pháp luật để trục lợi bất chính” [91, tr .37].
Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật phòng, chống tham nhũng năm
2005, khái niệm “tham nhũng” được hiểu: “là hành vi của người có chức vụ,
quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” [47, tr .5].
Có thể thấy khái niệm tham nhũng đã được Luật phòng, chống tham
nhũng năm 2005 khái quát cao, không còn tình trạng việc mô tả, liệt kê những
hành vi tham nhũng cùng với những đặc điểm cụ thể của nó như trong Pháp lệnh
chống tham nhũng năm 1998 nữa vì tham nhũng hiện nay có biểu hiện rất đa
dạng dưới nhiều hình thức khác nhau, xuất hiện trong các lĩnh vực khác nhau.
Từ những quan điểm của các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như
của Việt Nam về tham nhũng, có thể thấy nổi lên hai nhóm quan điểm như
sau: Thứ nhất, coi tham nhũng là lạm dụng công quyền với mục đích tư lợi
cho bản thân mình hoặc cho người khác, chỉ xảy ra ở khu vực công, người
phạm tội với mục đích chiếm đoạt tài sản công và biến tài sản công thành tài
sản của riêng mình. Tham nhũng có lịch sử xuất hiện và tồn tại phát triển
trong xã hội phân chia giai cấp và hình thành Nhà nước. Tham nhũng gây

11


thiệt hại cho hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước; Thứ hai, coi tham
nhũng cũng là lạm dụng chức vụ để chiếm đoạt tài sản nhưng xảy ra ở cả
khu vực công và khu vực tư.
Căn cứ vào các quy định của pháp luật Việt Nam về hành vi tham
nhũng, trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm khoa học của thế giới và Việt
Nam về khái niệm tham nhũng, tác giả cho rằng tham nhũng là hiện tượng xã
hội trong đó chủ thể lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi trái pháp
luật nhằm trục lợi cá nhân.
Có nhiều hành vi được xem là hành vi tham nhũng, tuy nhiên không
phải hành vi tham nhũng nào cũng bị tội phạm hóa thành các tội phạm về
tham nhũng. Việc tội phạm hóa các hành vi tham nhũng có ý nghĩa quan trọng
trong công cuộc phòng, chống tham nhũng. Để phòng và chống tham nhũng
đòi hỏi phải có nhiều biện pháp mang tính đồng bộ, song pháp luật vẫn giữ
vai trò chủ đạo, tạo khuôn khổ pháp lý nhằm phòng ngừa và phát hiện các
hành vi tham nhũng và có các chế tài thích hợp đối với người có hành vi tham
nhũng. Vì thế để phòng ngừa và phát hiện các hành vi tham nhũng phải tiếp
tục hoàn thiện các văn bản, các qui định trực tiếp liên quan đến tội phạm tham
nhũng. Thông qua các dấu hiệu đặc trưng của hành vi tham nhũng để làm căn
cứ xác định một cách cụ thể, rõ ràng về loại tội phạm này.
Qua phân tích các quan điểm về tham nhũng và tội phạm về tham
nhũng ở Việt Nam cũng như trên thế giới [24]; [65]; [86], có thể đưa ra khái
niệm tội phạm tham nhũng như sau: Tội phạm tham nhũng là những hành vi
nguy hiểm cho xã hội xâm phạm uy tín và hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ
chức, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân do người
có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình thực hiện
trong khi thi hành công vụ nhằm mục đích vụ lợi.
Từ khái niệm tội phạm về tham nhũng nêu trên và trên cơ sở nghiên

12


cứu, phân tích, xem xét các tội phạm về tham nhũng được quy định trong
BLHS năm 1999, thì mỗi tội phạm về tham nhũng cụ thể đều có những dấu
hiệu, đặc điểm riêng biệt, song, tất cả các tội phạm đó đều có một số dấu hiệu,
đặc điểm chung sau đây:
Thứ nhất, các tội phạm về tham nhũng xâm hại đến uy tín và hoạt động
đúng đắn của các cơ quan, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp
pháp của công dân
Chủ thể bị loại tội phạm này xâm hại là các cơ quan, tổ chức, Nhà nước
và công dân bị người có chức vụ, quyền hạn hướng tới để trục lợi cá nhân.
Chính hành vi đó làm sai lệch hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức
và hạ thấp uy tín của chính cơ quan, tổ chức đó; ngoài ra đã xâm hại trực tiếp
đến lợi ích chính đáng của Nhà nước và công dân. Các quan hệ xã hội này là
những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, ở mỗi giai đoạn khác nhau,
PLHS quy định mức độ xâm hại đến các quan hệ xã hội của hành vi lợi dụng
chức vụ, quyền hạn của người có chức vụ, quyền hạn cũng khác nhau. PLHS chỉ
điều chỉnh các hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức
vụ, quyền hạn của mình để thực hiện hành vi trái với công vụ được giao nhằm
mục đích vụ lợi, và những lợi ích đó có giá trị vật chất đáng kể còn nếu là những
lợi ích vật chất nhỏ, hoặc ảnh hưởng không đáng kể đến các quan hệ xã hội được
PLHS bảo vệ thì hành vi đó không xác định là tội phạm về tham nhũng mà sẽ xử
lý như ci phạm phạm luật phi hình sự.
Thứ hai, chủ thể của các tội phạm về tham nhũng là người có chức vụ,
quyền hạn
Theo quy định tại Điều 277 BLHS năm 1999: “Người có chức vụ là
người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có
hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất
định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ”.

13


Theo đó, người có chức vụ, quyền hạn là người được giao thực hiện
một công vụ nhất định, có hưởng lương hoặc không hưởng lương và có quyền
hạn nhất định đối với công vụ đó. Chức vụ quyền hạn phải gắn với quyền
lực Nhà nước trong các lĩnh vực và các cơ quan khác nhau: cơ quan lập
pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp, trong các tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị, xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức kinh tế Nhà
nước hoặc lực lượng vũ trang từ trung ương đến địa phương. Những người
mà quyền hạn của họ có được do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do
một hình thức khác.
Đây là dấu hiệu phân biệt hành vi tham nhũng với những hành vi vi
phạm pháp luật khác tuy cũng có yếu tố vụ lợi nhưng không phải là tham
nhũng vì nó được thực hiện bởi những người không có chức vụ, quyền hạn
như hành vi trộm cắp, lừa đảo, buôn lậu… tuy nhiên, những người không phải
là người có chức vụ, quyền hạn hoặc không được giao nhiệm vụ nhưng đã có
hành vi tiếp tay cho người thực hiện hành vi tham nhũng (xúi dục, giúp sức,
tổ chức) thì được coi là đồng phạm tham nhũng.
Thứ ba, các hành vi của những người có chức vụ quyền hạn là hành vi
trái với công vụ
Hành vi trái với công vụ là dạng hành động hoặc không hành động trái
quy định mà người có chức vụ, quyền hạn phải làm để thực hiện nhiệm vụ
được giao. Nếu những mong muốn lợi ích vật chất mà người có chức vụ quyền
hạn mong muốn đạt được nhưng nó chỉ nằm trong tư tưởng của họ mà không
trở thành hành vi cụ thể thì sẽ không bị xác định là tội phạm tham nhũng. Hoặc
nếu những hành vi trái với công vụ nhưng không có mục đích vụ lợi thì cũng
không xác định hành vi đó có dấu hiệu tội phạm tham nhũng
Thứ tư, hành vi trái công vụ của người có chức vụ quyền hạn là hành vi
cố ý và có mục đích vụ lợi.
Khoản 5, Điều 2 Luật PCTN của Việt Nam năm 2005 quy định: Vụ lợi

14


là lợi ích vật chất, tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đạt được hoặc có
thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng. Như vậy, chỉ được xem là hành vi
tham nhũng khi người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn
được giao nhằm đạt được những lợi ích vật chất, tinh thần có tính chất cá nhân
(vụ lợi) [43]. Có thể hiểu là, người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng quyền
hạn có được từ chức vụ để thực hiện các hành vi không xuất phát từ nhu cầu
công việc mà vì những lợi ích của riêng của mình như nhận tiền hoặc tài sản
hoặc một lợi ích phi vật chất nào đó, thậm chí dùng ảnh hưởng của mình để
mang lại lợi ích cho những người thân thích. Đây cũng là một dấu hiệu đặc
trưng cơ bản, không thể thiếu của tội phạm tham nhũng.
Mục đích tham nhũng là kết quả hay giới hạn cuối cùng mà chủ thể
mong muốn đạt được. Thông thường mục đích mà các chủ thủ tham nhũng
muốn đạt được chủ yếu là những giá trị. Trong nhiều trường hợp rất khó xác
định bởi lợi ích vật chất được ẩn nấp dưới nhiều hình thức và có sự chuyển
hoá từ dạng này sang dạng khác. Do đó, nếu chỉ căn cứ vào những tài sản phát
hiện hoặc được thu hồi để đánh giá lợi ích vật chất mà kẻ tham nhũng đạt
được là không đầy đủ. Ngoài ra, trong một số trường hợp cụ thể các lợi ích
vật chất và lợi ích phi vật chất đan xen lẫn nhau, cho nên việc xác định mục
đích tham nhũng ở những lợi ích phi vật chất rất khó khăn.
Việc chứng minh được dấu hiệu mục đích vụ lợi nhằm truy cứu trách
nhiệm đối với người phạm tội luôn là vấn đề phức tạp trong các vụ việc có dấu
hiệu tham nhũng. Như vậy, dấu hiệu vụ lợi đối với các hành vi tham nhũng
được xác định, không chỉ riêng trường hợp người có chức vụ, quyền hạn đã đạt
được lợi ích nhìn thấy định lượng được cả lợi ích vật chất và tinh thần mà còn
bao gồm cả trường hợp người đó sẽ đạt được lợi ích trong tương lai.
Lợi ích vật chất có thể xác định được một cách rõ ràng và có các tiêu
chí cụ thể để xác định. Theo PLHS Việt Nam, thì lợi ích về vật chất đối với

15


các tội phạm về tham nhũng được xác định là có giá trị ở mức từ 2.000.000
đồng trở lên hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một số trường hợp nhất
định (gây hậu quả nghiêm trọng; đã bị xử lý về hành vi này mà còn vi phạm;
đã bị kết án về một số tội được quy định trong BLHS, chưa được xóa án tích
mà còn vi phạm v.v...) [42].
Lợi ích về tinh thần là một khái niệm chưa được xác định một cách rõ
ràng và khó có thể đưa ra tiêu chí chung để xác định. Tuy nhiên, có thể kể đến
một số danh hiệu như huân chương, huy chương, bằng khen, thậm chí là một
số danh hiệu cao quý như “Anh hùng lao động”, “Anh hùng lực lượng vũ
trang” hoặc một số hình thức khen thưởng khác cho những người không xứng
đáng được hưởng nhưng do họ đã đưa hối lộ cho người có chức vụ, quyền hạn
nên họ được khen tặng. Đặc biệt quyền lực có được do tham nhũng mà có
cũng là một dạng lợi ích về tinh thần. Trường hợp quan hệ tình cảm của một
người có chức vụ, quyền hạn trong việc giải quyết công việc cho một cá nhân,
cơ quan, tổ chức được đưa ra như một điều kiện để người có chức vụ, quyền
hạn giải quyết công việc, đó cũng có thể coi là lợi ích về mặt tinh thần.
Đối tượng thụ hưởng những lợi ích có được từ hành vi tham nhũng cơ
bản là chính bản thân người thực hiện hành vi tham nhũng nhưng cũng có thể
là những người thân, những người có liên quan hoặc cơ quan, tổ chức, địa
phương của người thực hiện hành vi tham nhũng.
Trong thực tiễn, việc xử lý các tội phạm về tham nhũng chủ yếu dựa
trên kết quả xác định lợi ích vật chất mà chủ thể đã đạt được để đánh giá tính
chất và mức độ nguy hiểm của hành vi tham nhũng. Theo quy định của BLHS
năm 1999, thì các tội phạm về tham nhũng được xác định trên cơ sở giá trị tài
sản tham nhũng, từ đó xác định tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi và
quyết định hình phạt, điều này chưa thực sự phù hợp với thực tiễn và cũng
không phù hợp với quy định của Luật PCTN, với tư cách là một đạo luật gốc

16


điều chỉnh các vấn đề về phòng ngừa và xử lý các hành vi tham nhũng. Trong
điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay, việc xác định lợi ích vật chất đối với hành
vi tham nhũng nói chung và tội phạm về tham nhũng nói riêng nếu chỉ căn cứ
vào giá trị tiền, tài sản phát hiện hoặc thu hồi được thì sẽ là không đầy đủ.
Thêm vào đó, sự đan xen giữa lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần cũng là một
yếu tố khó xác định và phân biệt.
1.1.2. Ý nghĩa của việc quy định các tội phạm tham nhũng trong LHS
Việt Nam
Pháp lệnh chống tham nhũng năm 1998 đã liệt kê 11 hành vi tham
nhũng được xây dựng trên cơ sở Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS
ngày 10/5/1997 về các tội tham nhũng bao gồm: tham ô tài sản XHCN; nhận
hối lộ; dùng tài sản XHCN làm của hối lộ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để
đưa hối lộ, môi giới hối lộ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt
tài sản XHCN, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN; lợi dụng chức
vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản XHCN; lợi dụng chức vụ, quyền hạn
chiếm đoạt tài sản của cá nhân; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành
nhiệm vụ, công vụ để vụ lợi; lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ
để vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để
trục lợi; lập quỹ trái phép; giả mạo trong công tác để vụ lợi [39, tr.25].
Tuy nhiên trong quá trình xây dựng BLHS năm 1999, Ban soạn thảo đã
xem xét lại, những hành vi đích thực là tham nhũng thì quy định trong Mục A
Chương XXI, còn lại các hành vi tuy có lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhưng
không được coi là tham nhũng thì đưa về các chương khác cho phù hợp với
tính chất của hành vi phạm tội.
Để phù hợp với quy định tại BLHS năm 1999, ngày 28/4/2000, Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của
Pháp lệnh PCTN, trong đó chỉ còn quy định bảy hành vi được coi là tham

17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×