Tải bản đầy đủ

LVTS 2015 vai trò nhân thân người phạm tội dấu hiệu quy định trách nhiệm hình sự

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

CHU THỊ QUỲNH

VAI TRß NH¢N TH¢N NG¦êI PH¹M TéI DÊU HIÖU QUY §ÞNH TR¸CH NHIÖM H×NH Sù

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

CHU THỊ QUỲNH

VAI TRß NH¢N TH¢N NG¦êI PH¹M TéI DÊU HIÖU QUY §ÞNH TR¸CH NHIÖM H×NH Sù
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04


LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN NGỌC CHÍ

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ
công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn
đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất
cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo
qui định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN

Chu Thị Quỳnh


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƢỜI
PHẠM TỘI ..................................................................................................... 8
1.1.

Khái niệm ............................................................................................ 8

1.1.1. Khái niệm nhân thân con người ........................................................... 8
1.1.2. Khái niệm nhân thân người phạm tội ................................................. 10
1.2.


Trách nhiệm hình sự và ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân
thân ngƣời phạm tội đến việc quy định trách nhiệm hình sự ...... 16

1.2.1. Trách nhiệm hình sự ........................................................................... 16
1.2.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội đến việc
quy định trách nhiệm hình sự ............................................................. 20
1.3.

Đặc điểm và các dấu hiệu nhân thân ngƣời phạm tội ảnh
hƣởng đến việc quy định trách nhiệm hình sự .............................. 25

1.3.1. Đặc điểm và các dấu hiệu nhân thân người phạm tội ........................ 25
1.3.2.

Các đặc điểm nhân thân người phạm tội mang tính chất sinh học.......... 26

1.3.3. Các đặc điểm nhân thân người phạm tội mang tính chất xã hội ........ 29
1.3.4. Các đặc điểm nhân thân người phạm tội mang tính pháp lý hình sự ...... 31
Chƣơng 2: NHÂN THÂN NGƢỜI PHẠM TỘI VỚI VIỆC QUY
ĐỊNH TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM ................................................................................. 35


2.1.

Một số đặc điểm thuộc nhân thân ngƣời phạm là tình tiết
định tội ............................................................................................... 35

2.2.

Một số đặc điểm thuộc nhân thân ngƣời phạm là tình tiết
định khung......................................................................................... 44

2.3.

Một số đặc điểm thuộc nhân thân ngƣời phạm tội là tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự......................................................... 46

2.4.

Một số đặc điểm thuộc nhân thân ngƣời phạm tội là tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự ....................................................... 54

2.5.

Nhân thân ngƣời phạm tội với việc quyết định hình phạt ........... 56

2.6.

Nhân thân ngƣời phạm tội với việc qui định án treo: .................. 58

Chƣơng 3: THỰC TIỄN VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ ÁP DỤNG DẤU HIỆU NHÂN THÂN TRONG XỬ LÝ
TỘI PHẠM CỦA CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG ..........66
3.1.

Thực tiễn áp dụng dấu hiệu nhân thân trong việc xử lý tội
phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng ....................................... 66

3.2.

Một số giải pháp liên quan đến nhân thân ngƣời phạm tội
nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm........ 81

3.2.1. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng dấu hiệu nhân thân
trong xử lý tội phạm ........................................................................... 81
3.2.2. Các giải pháp khác nâng cao hiệu quả áp dụng dấu hiệu nhân
thân người phạm tội trong xử lý tội phạm ......................................... 89
KẾT LUẬN .................................................................................................... 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 98


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS:

Bộ luật hình sự

BLTTHS:

Bộ luật tố tụng hình sự

TNHS:

Trách nhiệm hình sự


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Nhân thân là một trong những đề tài được nhiều ngành khoa học quan
tâm nghiên cứu như: y học; tâm lý học; sinh học, luật học... Trong lĩnh vực
pháp luật việc nghiên cứu nhân thân không chỉ có ý nghĩa trong việc đề ra
biện pháp phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm có hiệu quả mà còn làm căn
cứ cho việc qui định mức độ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Trong luật hình sự Việt Nam, nhân thân người phạm tội là một trong
những căn cứ của việc quy định về việc chịu trách nhiệm hình sự (qui định
chung về trách nhiệm hình sự, qui định về giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách
nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự...). Thực tiễn giải quyết vụ án cho
thấy, việc áp dụng các qui định pháp luật hình sự liên quan đến nhân thân
người phạm tội có ý nghĩa xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội có hay
không phải chịu trách nhiệm hình sự, chịu trách nhiệm hình sự ở mức độ nào
trên cơ sở đó tòa án áp dụng loại, mức hình phạt tương xứng với tính chất,
mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Đồng thời, dấu hiệu nhân
thân người phạm tội còn là căn cứ để các cơ quan tiến hành tố tụng đưa ra các
biện pháp phòng ngừa đối với bản thân người phạm tội và đối với xã hội.
Bộ luật hình sự năm 1999, qui định dấu hiệu nhân thân người phạm tội
ở những cấp độ khác nhau: có thể là một dấu hiệu trong cấu thành tội phạm;
hoặc có thể là dấu hiệu định khung tăng nặng, giảm nhẹ; hay là dấu hiệu xác
định mức độ tăng năng nặng giảm nhẹ TNHS của người phạm tội. Những qui
định này đã tạo ra cơ sở pháp lý để xác định trách nhiệm hình sự cho các cơ
quan tiến tố tụng giải quyết vấn đề TNHS đối với người phạm tội trong quá
trình giải quyết vụ án. Vì vậy, nó đã góp phần tích cực trong việc đấu tranh,
xử lý tội phạm những năm qua. Tuy nhiên, thực tiễn cũng chỉ ra những bất

1


cập khi áp dụng dấu hiệu nhân thân đối với người phạm tội của các cơ quan
tiến hành tố tụng, thể hiện hiện ở những khía cạnh sau: a. Do nhận thức chưa
đúng về nội dung, vị trí pháp lý của các dấu hiệu nhân thân người phạm tội
nên đã áp dụng sai theo hai chiều hướng, hoặc làm giảm nhẹ mức độ trách
nhiệm hoặc làm tăng nặng mức độ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội.
Cả hai xu hướng này đều dẫn đến những hậu quả đáng tiếc trong việc xử lý
tội phạm; b. Do những qui định về dấu hiệu nhân thân người phạm tội trong
luật hình sự chưa phù hợp với thực tiễn đấu tranh, xử lý tội phạm nên ảnh
hưởng đến nguyên tắc công bằng và các nguyên tắc cơ bản khác của luật hình
sự, do đó dẫn đến làm sai lệch những định hướng tốt đẹp của chính sách hình
sự của nhà nước ta; c. Những qui định về dấu hiệu nhân thân người phạm tội
còn bị lạm dụng trong quá trình xử lý tội phạm của các cơ quan tiến hành tố
tụng dẫn đến việc xử lý, áp dụng hình phạt không phù hợp với tính chất, mức
độ nguy hiểm của tội phạm. Vì vậy, nghiên cứu nhân thân người phạm tội là
cần thiết không những góp phần làm sáng tỏ lý luận về nhân thân người phạm
tội, mà còn góp phần xây dựng chính sách hình sự, hoàn thiện pháp luật hình
sự cũng như áp dụng đúng đắn quy định của pháp luật hình sự về nhân thân
người phạm tội trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó, tôi chọn đề tài: Vai
trò nhân thân người phạm tội - dấu hiệu quy định trách nhiệm hình sự làm
luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, nghiên cứu nhân thân người phạm tội đã được một số nhà
khoa học quan tâm hoặc đã được đề cập đến trong một số sách, báo, tài liệu:
GS.TSKH Đào Trí Úc – Nghiên cứu và phòng ngừa tội phạm ở những người
chưa thành niên ở Việt Nam, luận án Phó tiến sỹ (Tiến sỹ) M.1981: Tội phạm
học Việt Nam (phần 1), Nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2000; Luật hình
sự Việt Nam, Giáo trình Tội phạm học (chương VI) - Trường Đại học Luật

2


năm 1994, GS.TS Đỗ Ngọc Quang; Giáo trình Tội phạm học (chương V) Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1995; Tội phạm học; Luật hình sự và Luật tố
tụng hình sự (chương IX) - Viện Nhà nước và pháp luật..., ngoài ra vấn đề
nhân thân người phạm tội còn được nhiều tác giả nghiên cứu trong một số bài
viết, chuyên khảo chung về tội phạm học, luật hình sự đăng trong các tạp chí
chuyên ngành như: GS.TSKH Lê Cảm, Nhân thân người phạm tội một số vần
đề cơ bản; BLHS 1999 với việc qui định đặc điểm về nhân thân là dấu hiệu
định tội của tác giả Nguyễn Ngọc Hòa, tạp chí Luật học số 06/2001… Ngoài
ra vấn đề nhân thân người phạm tội còn được nhiều tác giả nghiên cứu trong
một số bài viết, chuyên khảo chung về tội phạm học, luật hình sự đăng trong
các tạp chí chuyên ngành.
Nhìn chung các công trình, chuyên khảo đề cập đến vấn đề nhân thân
người phạm tội mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu khái quát nội dung của vấn
đề xem xét nhân thân người phạm tội (ở các cấp độ khác nhau) trong tội phạm
học và trong luật hình sự nói chung hoặc các khía cạnh khác nhau trong một
nhóm chủ thể nhất định như người chưa thành niên phạm tội, người phạm tội
là nữ giới… Tuy nhiên, trong khoa học luật hình sự Việt Nam, vấn đề nhân
thân người phạm tội vẫn chưa được quan tâm, nghiên cứu một cách sâu sắc,
đầy đủ, toàn diện và có hệ thống. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn
nữa những vấn đề lý luận về "vai trò nhân thân người phạm tội - dấu hiệu quy
định trách nhiệm hình sự" và sự thể hiện chúng trong các quy định của Bộ
luật Hình sự năm 1999, đồng thời đánh giá việc áp dụng vấn đề "nhân thân
người phạm tội" trong thực tiễn để đưa ra kiến nghị và các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả áp dụng các quy phạm về vấn đề này trong việc xử lý tội
phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng.

3


3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
- Mục đích của luận văn là nhằm nghiên cứu và giải quyết có hệ thống
lý luận chung về nhân thân người phạm tội, nhân thân người phạm tội với
việc xem xét trách nhiệm hình sự, phân tích thực tiễn áp dụng các qui định
pháp luật liên quan đến nhân thân người phạm tội trong luật hình sự Việt
Nam, để từ đó có những kiến nghị làm cơ sở lý luận và thực tiễn trong xây
dựng pháp luật, hướng dẫn áp dụng pháp luật, góp phần hiệu quả trong đấu
tranh phòng, chống tội phạm.
- Nhiệm vụ của luận văn:
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề chung về nhân thân người phạm tội
như: nghiên cứu để làm rõ khái niệm nhân thân người phạm tội, các đặc điểm
nhân thân người phạm tội, các vần đề xem xét trách nhiệm hình sự căn cứ vào
nhân thân người phạm tội.
Thứ hai, làm rõ tầm quan trọng của nhân thân người phạm tội trong
việc quy định trách nhiệm hình sự.
Thứ ba, từ kết quả nghiên cứu trên đây đưa ra một số giải pháp liên
quan đến nhân thân người phạm tội nhằm đấu tranh phòng, chống tội phạm.
- Phạm vi nghiên cứu: luận văn chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu nhân
thân người phạm tội trong quy định trách nhiệm hình sự (đi từ việc giải quyết
về mặt lý luận chung để tập trung trọng tâm vào việc nghiên cứu các đặc điểm
của nhân thân người phạm tội trong việc quy định trách nhiệm hình sự), bởi vì
nhân thân người phạm tội là một vấn đề lớn, phức tạp và còn chưa được quan
tâm nghiên cứu đúng mức, nhiều khía cạnh của vấn đề còn đang đòi hỏi phải
có sự tranh luận và phải có sự đào sâu nghiên cứu một cách toàn diện và triệt
để cả trong lý luận và thực tiễn mà trong một luận văn thạc sĩ luật học chưa
thể đáp ứng được một cách đầy đủ. Vì vậy, phạm vi nghiên cứu của luận văn
là việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội trong việc quy định trách nhiệm

4


hình sự và thực tiễn truy cứu trách nhiệm hình sự, những bất cập trong các
quy định của pháp luật hiện hành, những khó khăn, vướng mắc, thiếu sót
trong thực tiễn áp dụng pháp luật để từ đó đưa ra một số giải pháp liên quan
đến nhân thân người phạm tội có cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm góp phần
nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm.
4. Cơ sở lý luận và các phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng
và chống tội phạm, cũng như thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp
lý như: lịch sử pháp luật, lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, xã hội học
pháp luật, luật hình sự, tội phạm học, luật tố tụng hình sự và triết học.
Luận văn sử dụng một số phương pháp tiếp cận để làm sáng tỏ về mặt
khoa học từng vấn đề tương ứng, đó là các phương pháp nghiên cứu như: lịch
sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê; v.v...
5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Luận văn hoàn thành sẽ là chuyên khảo nghiên cứu một cách toàn
diện, có hệ thống và đồng bộ những vấn đề lý luận và thực tiễn về nhân thân
người phạm tội trong luật hình sự Việt Nam. Trong luận văn này, tác giải đã
giải quyết về mặt lý luận những vấn đề sau:
- Phân tích một cách có hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận về
nhân thân người phạm tội như: (1) Một số vấn đề chung về nhân thân người
phạm tội bao gồm: khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân
thân người phạm tội trong luật hình sự Việt Nam; (2) Nhân thân người phạm
tội với việc qui định trách nhiệm hình sự; một số đặc điểm nhân thân là tình
tiết định tội, một số đặc điểm nhân thân là tình tiết định khung; một số đặc
điểm nhân thân là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, là
căn cứ quyết định hình phạt và là một trong những căn cứ cho việc xem xét áp

5


dụng án treo. Qua thực truy cứu trách nhiệm hình sự, tìm ra những bất cập
trong các qui định của pháp luật hiện hành liên quan đến nhân thân người
phạm tội, từ đó đưa ra được những nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân
khách quan của thực tiễn áp dụng nhằm đề ra một số kiến nghị nhằm hoàn
thiện pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả áp dụng dấu hiệu nhân thân người phạm tội trong xử lý tội
phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1.Ý nghĩa lý luận
Đây là đề tài nghiên cứu chuyên khảo đề cập một cách có hệ thống và
trong luật hình sự Việt Nam ở cấp độ luận văn thạc sỹ luật học. Trong quá trình
nghiên cứu vấn đề này, tác giả đã đưa ra những kết quả nghiên cứu trong các
tạp chí khoa học pháp lý, kết quả nghiên cứu của một số nhà khoa học pháp lý
trong một số sách chuyên khảo, giáo trình của các trường Đại học luật…
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Qua việc nghiên cứu thực tiễn xử lý người phạm tội của các cơ quan
tiến hành tố tụng, cũng như đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy phạm của
chế định nhân thân người phạm tội trong luật hình sự Việt Nam trong lĩnh vực
lập pháp, cũng như việc áp dụng chúng trong thực tiễn; góp phần cá thể hóa
trách nhiệm hình sự và hình phạt. Luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham
khảo trong lĩnh vực pháp luật, cùng với một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự có giá trị thực tiễn trong công
tác lập pháp và hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nói riêng và pháp luật nói
chung, góp phần hiệu quả trong công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm,
cũng như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội ở nước ta hiện nay.
Trong giới hạn nhất định của luận văn thạc sỹ, có thể khẳng định,
đây là nghiên cứu chyên khảo đồng bộ đầu tiên về nhân thân người phạm

6


tội trong luật hình sự. Đồng thời tác giả luận văn còn chỉ ra những vướng
mắc, tồn tại trong thực thực tiễn áp dụng chế định này, trên cở đó đưa ra
một số kiến giải nhằm hoàn thiện chế định nhân thân người phạm tội trong
luật hình sự Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nhân thân người phạm tội.
Chương 2: Nhân thân người phạm tội với việc qui định trách nhiệm
hình sự trong luật hình sự Việt Nam.
Chương 3: Thực tiễn và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng dấu
hiệu nhân thân trong xử lý tội phạm của các cơ quan tiến
hành tố tụng.

7


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ NHÂN THÂN NGƢỜI PHẠM TỘI
1.1. Khái niệm
1.1.1. Khái niệm nhân thân con người
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin thì “con người là sản phẩm tự nhiên và
xã hội. Con người được tự nhiên sinh ra cho nên trước tiên mang các đặc
tính của sinh vật. Cái sinh học trong con người quy định sự hình thành
những hiện tượng và quá trình tâm lý trong con người” [34, tr.255]. Bất kỳ
con người nào, ngay từ khi sinh ra đã mang các đặc tính, nhu cầu sinh học
đó là các nhu cầu phục vụ cho việc tồn tại và sinh trưởng của con người.
Song con người không là sinh vật thuần tuý, con người không thể tồn tại như
một thực thể độc lập, mọi hoạt động của con người đều là những hoạt động
có ý thức, có khả năng sáng tạo. Thông qua các hoạt động của mình, con
người tác động vào thế giới xung quanh, và tham gia vào các quan hệ xã hội,
Điều đó không chỉ giúp cho con người tồn tại mà còn đưa con người trở
thành cá nhân trong xã hội, là chủ thể của các mối quan hệ đa dạng của xã
hội. Những mối quan hệ đó không chỉ là các mối quan hệ hiện tại mà đó còn
là tổng hoà các mối quan hệ trong quá khứ. Chính các mối quan hệ này đã
hình thành nên những đặc điểm tâm lý, đạo đức xã hội. Và con người chính
là sự tổng hoà các mối quan hệ xã hội.
Khái niệm “nhân thân” được sử dụng khi người ta muốn nhấn mạnh
đến các tính chất xã hội của con người, còn khái niệm “con người” được sử
dụng với một nghĩa rộng hơn, bao gồm cả tính chất xã hội và tính chất tự
nhiên của con người. Nhân thân cũng như mối quan hệ giữa nó với xã hội và
Nhà nước, nói cho cùng là do tính chất của xã hội quyết định.

8


Theo khái niệm chung của xã hội học Mác - Lênin về nhân thân con
người thì: “nhân thân đó là bản chất xã hội của con người được thể hiện
thông qua vị trí của con người trong hệ thống quan hệ xã hội”. Nhân thân con
người là một phạm trù mang tính xã hội - lịch sử.
Với tư cách là chủ thể của các quan hệ xã hội, được đặc trưng bởi
những đặc tính và phẩm chất cá nhân đa dạng, mỗi cá nhân cụ thể có một
nhân thân tương ứng. Khái niệm nhân thân đồng thời cũng bao hàm cả con
người với tư cách là một thành viên của xã hội, là một công dân, là đại diện
của các giai cấp, các nhóm lợi ích xã hội nhất định…, là người mang trong
mình một số đặc điểm điển hình.
Nếu khái niệm “con người” như đã phân tích ở trên thì “nhân thân con
người” chính là những đặc trưng cụ thể hơn của con người, đó là những đặc
điểm, tính chất nhất định của con người được đúc kết khi con người tồn tại
trong một môi trường xã hội cụ thể với tư cách là một thành viên của xã hội,
có một vị trí nhất định trongi phạm, là căn
cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Như vậy, để khởi tố bị can đúng, tránh
tình trạng oan sai thì việc điều tra, xác minh làm rõ một số vấn đề nhân thân
người phạm tội trong quyết định khởi tố bị can chưa được quy định đầy đủ.
Để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt việc kiểm sát điều tra và việc xem
xét phê chuẩn việc khởi tố được kịp thời, đảm bảo đúng pháp luật, tôi cho
rằng thông tin về nhân thân người phạm tội cần được thể hiện đầy đủ rõ ràng
trong quyết định khởi tố. Do vậy, tôi đề nghị sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều
126 Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
Khởi tố bị can.
1…
2. Quyết định khởi tố bị can ghi rõ: thời gian, địa điểm ra quyết định,
họ tên, chức vụ người ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nghề
nghiệp của bị can; các tình tiết thuộc về nhân thân của bị can có ý nghĩa với
việc khởi tố bị can và hoàn cảnh gia đình của bị can.
* Về tiền án, tiền sự của bị can, bị cáo:
Trong Bộ luật tố tụng hình sự, nhiều điều luật qui định trách nhiệm của
các cơ quan tiến hành tố tụng phải điều tra, xác minh làm rõ tiền án, tiền sự
của bị can, bị cáo. Theo qui định tại Điều 224 Bộ luật hình sự thì trong bản án

88


của Tòa án cần phải ghi rõ tiền án, tiền sự của bị cáo. Trong thực tiễn xét xử
của Tòa án cho thấy, việc xác định thế nào là tiền án, tiền sự cũng chưa có sự
nhận thức thống nhất. Mặc dù, đã bị kết án là trường hợp thuộc về nhân thân
người phạm tội, nhưng với diều kiện nào thì mới coi là tiền án? Cũng tương
tự như vậy “đã bị xử phạt hành chính” là thuộc về nhân thân người phạm tội,
nhưng với điều kiện nào thì được coi là tiền sự? Cả hai vấn đề này đều chưa
có qui định cụ thể. Để đảm bảo đúng pháp luật, đánh giá đúng nhân thân
người phạm tội và trong một số trường hợp, để truy cứu trách nhiệm hình sự
đúng, theo tôi nên sửa đổi, bổ sung vào Bộ luật tố tụng hình sự một Điều luật
riêng qui định về tiền án, tiền sự như sau:
Tiền án đối với người phạm tội là trước khi thực hiện hành vi phạm tội,
người phạm tội đã bị kết án, nhưng chưa được xóa án tích theo qui định tại
các Điều từ Điều 64 đến Điều 67 Bộ luật hình sự.
Tiền sự đối với người phạm tội là trước khi thực hiện hành vi phạm tội,
người phạm tội đã bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật theo quy định
của pháp luật, Điều lệnh, Điều lệ, nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa
bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật”.
3.2.2. Các giải pháp khác nâng cao hiệu quả áp dụng dấu hiệu nhân
thân người phạm tội trong xử lý tội phạm
3.2.2.1. Tăng cường công tác hướng dẫn thi hành pháp luật, tổng kết
công tác thực tiễn Điều tra, truy tố, xét xử
Công tác lập pháp của Nhà nước ta ngày càng được nâng cao về số
lượng và chất lượng. Tuy nhiên, không phải mọi đạo luật đều qui định cụ thể
và đầy đủ các mối quan hệ xã hội mà đạo luật đó điều chỉnh trong thực tiễn
cuộc sống ngày càng phát triển thì phát sinh mối quan hệ, tình huống mới cần
được pháp luật điều chỉnh hoặc giải thích, hướng dẫn mối quan hệ xã hội đó,
tình huống đó thuộc phạm vi điều chỉnh của đạo luật nào, của điều luật cụ thể

89


nào. Kinh nghiệm thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng cho thấy, việc
hướng dẫn thi hành của các cơ quan có thẩm quyền là rất quan trọng. Từ
những thiếu sót trong thực tiễn, có nguyên nhân do chưa được các cơ quan có
thẩm quyền hướng dẫn thi hành pháp luật liên quan. Kết quả khảo sát thực tế
của tôi, cho thấy công tác hướng dẫn thi hành pháp luật chưa đáp ứng được
đòi hỏi của thực tiễn.
Bên cạnh công tác hướng dẫn thi hành pháp luật chưa được quan tâm
đúng mức, thì công việc tổng kết kinh nghiệm công tác của các cơ quan tiến
hành tố tụng nói chung và của Viện kiểm sát nhân dân nói riêng cũng chưa
được thực hiện thường xuyên. Để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh
phòng, chống tội phạm thì cần phải tăng cường công tác hướng dẫn thi hành
pháp luật và tổng kết công tác thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử nói chung, và
hướng dẫn thi hành pháp luật liên quan đến nhân thân người phạm tội và tổng
kết thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử để rút ra kinh nghiệm, tìm ra nguyên
nhân và giải pháp khắc phục những tồn tại, thiếu sót có liên quan đến nhân
thân người phạm tội nói riêng là hết sức cần thiết.
Từ sự phân tích trên, tôi xin kiến nghị một số giải pháp sau:
Thứ nhất, cần phân công cụ thể trách nhiệm của mỗi cơ quan tiến hành
tố tụng trong việc nghiên cứu, tổng hợp các ý kiến vướng mắc của các cơ
quan tiến hành tố tụng ở địa phương để soạn thảo văn bản hướng dẫn thi hành
pháp luật có liên quan đến nhân thân người phạm tội.
Thứ hai, là cần tiến hành tổng kết công tác thực tiễn thường xuyên,
trong đó có tổng kết công tác thực tiễn về từng chuyên đề. Ví dụ: tổng kết
thực tiễn áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp hay tái phạm
hay tái phạm nguy hiểm… Để có cơ sở thực tiễn hướng dẫn thi hành pháp luật
cũng như bảo đảm việc xét xử được thống nhất.

90


3.2.2.2. Tăng cường công tác nghiên cứu tội phạm học, thống kê hình sự
Việc nghiên cứu vấn đề nhân thân người phạm tội dưới góc độ tội
phạm học, thống kê hình sự về bị can, bị cáo hiện nay đã được quan tâm hơn,
nhằm đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn. Tôi đề nghị cần nghiên cứu và
thống kê một cách đầy đủ các thông tin về nhân thân người phạm tội. Sẽ là có
tác dụng và mang lại hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội
phạm, nếu chúng ta nghiên cứu, phân tích về nhân thân của người phạm tội
của mỗi loại tội phạm từ đó tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội để từ đó
kiến nghị các biện pháp phòng ngừa qua án.
3.2.2.3. Về công tác cán bộ
Nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ thực thi pháp luật là giải pháp
nằm trong định hướng phát triển xã hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Thực thi pháp luật là một hoạt động nghề nghiệp đặc biệt, GS.TS Đào
Trí Úc đã nhận xét “xét về tính chất hoạt động, lao động của các nhà luật là
lao động sáng tạo (làm luật, áp dụng pháp luật). Đó là đội ngũ tri thức đặc
biệt” [47, tr.669]. Năng lực nghề nghiệp của cán bộ thực thi pháp luật chịu
ảnh hưởng của nhiều yếu tố trình độ được đào tạo, Điều kiện về bằng cấp, kỹ
năng, trình độ nghiệp vụ; trình độ lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức nghề
nghiệp, năng lực phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng khác. Do vậy,
cần quan tâm đến đặc thù về chương trình và chất lượng đào tạo đội ngũ lao
động đặc biệt này. Với một khối lượng kiến thức lớn cần được trang bị kiến
thức cơ bản và đào tạo kỹ năng nghề nghiệp ở nhiều cấp độ khác nhau, nhằm
trang bị kiến thức cơ bản về pháp luật cùng với kỹ năng nghề nghiệp, bồi
dưỡng định kỳ về nghiệp vụ theo chuyên đề.
Nghị quyết 08 - NQ/ TW của Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương
Đảng đề ra ngày 02/1/2002 “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp
trong thời gian tới” đã chỉ ra một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong cải

91


cách tư pháp là “xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch và vững mạnh”.
Để thực hiện nhiệm vụ trên, tại Chỉ thị số 10/ 2002/ CT - TTG, Chính phủ đã
đưa ra kế hoạch triển khai thực hiện một số đề án. Đề án tăng cường năng lực
của đội ngũ cán bộ tư pháp, xây dựng phương án nâng cao chất lượng đào tạo và
sử dụng cử nhân luật, đề án xây dựng tiêu chuẩn cho các chức danh tư pháp.
Bên cạnh năng lực chuyên môn, một trong những nhân tố quan trọng
ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động áp dụng pháp luật nói chung, áp dụng vấn
đề liên quan đến nhân thân người phạm tội với quy định trách nhiệm hình sự
nói riêng, chính là vấn đề ý thức pháp luật, đạo đức nghề nghiệp. Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã chỉ rõ ảnh hưởng của đạo đức đến chất lượng công tác “Có đức
mà không có tài, làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức là người vô
dụng”. Áp dụng vấn đề nhân thân người phạm tội để giải quyết vấn đề trách
nhiệm hình sự là hoạt động chuyên môn liên quan trực tiếp đến biện pháp xử
lý người phạm tội.
Thực tiễn chứng minh rằng nếu công tác nhận xét, đánh giá về trách
nhiệm, phẩm chất đạo đức, năng lực, trình độ của cán bộ được làm thường
xuyên, đúng mục đích, thì chất lượng cán bộ được nâng cao. Nếu thực hiện
được công tác này sẽ khắc phục được những cán bộ thoái hóa, biến chất, kém
năng lực. Nhận xét đánh giá đúng mức cán bộ sẽ tìm ra được những nguyên
nhân chủ quan của những sai sót trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử nói
chung, trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự liên quan đến nhân thân người
phạm tội nói riêng.

92


KẾT LUẬN
1. Nghiên cứu nhân thân người phạm tội có ý nghĩa rất quan trọng
trong việc đề ra chính sách hình sự, quy định trách nhiệm hình sự, trong việc
tìm ra nguyên nhân phạm tội và đưa ra các biện pháp phòng, chống tội phạm
có hiệu quả. Nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc điểm, dấu hiệu,
các đặc tính quan trọng thể hiện bản chất xã hội của con người khi vi phạm
pháp luật hình sự, mà trong sự kết hợp với các điều kiện bên ngoài đã ảnh
hưởng đến việc thực hiện hành vi phạm tội của người đó.
Khi nghiên cứu nhân thân người phạm tội cần thiết phải hiểu biết và xem
xét các dấu hiệu, đặc điểm cá biệt nào của nhân thân mà trong sự tác động qua
lại với các điều kiện nhất định sẽ dẫn đến một kết quả nguy hại cho xã hội;
nguyên nhân và điều kiện làm xuất hiện các đặc điểm đó, chiều hướng phát
triển và tác động như thế nào đến xã hội. Chỉ dựa trên cơ sở nghiên cứu như
vậy mới đảm bảo được, thứ nhất là sự hình thành đạo đức cần thiết cho con
người khi nghiên cứu đặc điểm cá biệt của họ và thứ hai là đấu tranh chống và
phòng ngừa có hiệu quả các biểu hiện tiêu cực gây nguy hiểm cho xã hội.
2. Cấu trúc của nhân thân người phạm tội không phải là một tập hợp
các đặc điểm, dấu hiệu một cách đơn giản mà là một hệ thống các đặc điểm,
dấu hiệu đặc trưng, tạo thành một thể thống nhất, không tách rời giữa chúng
có sự phụ thuộc, có mối quan hệ nhất định, bổ sung, hỗ trợ và tác động qua lại
với nhau. Dưới góc độ tội phạm học và luật hình sự, khi nghiên cứu cấu trúc
của nhân thân người phạm tội đã có nhiều quan điểm khác nhau nhưng có cơ
sở hơn cả là việc đưa ra một hệ thống các đặc điểm, dấu hiệu đặc trưng cho
nhân thân người phạm tội một cách chung nhất. Thứ hai, trong các đặc điểm,
dấu hiệu đặc trưng đó được chia làm ba nhóm:
- Nhóm các đặc điểm, dấu hiệu về nhân khẩu học - xã hội bao gồm:

93


giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, địa vị xã hội, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia
đình, thành phần xuất thân trong xã hội và một số dấu hiệu khác về đời sống
vật chất, diều kiện nhà ở...
- Nhóm các đặc điểm, dấu hiệu theo pháp lý hình sự bao gồm động cơ,
mục đích thực hiện tội phạm, tái phạm, tái phạm nguy hiểm…
- Nhóm các đặc điểm, dấu hiệu về tâm lý, đạo đức.
3. Vần đề nhân thân người phạm tội có ảnh hưởng lớn đến việc đề ra
chính sách hình sự của mỗi Nhà nước, tức là đề ra sách lược, kế hoạch của
Nhà nước trong việc xây dựng pháp luật hình sự, quy định tội phạm và hình
phạt, nguyên tắc xử lý trách nhiệm hình sự, trong việc áp dụng pháp luật
hình sự trong thực tiễn, trong việc tổ chức đấu tranh phòng ngừa và chống
tội phạm của mỗi cá nhân, cơ quan, tổ chức, phù hợp với đường lối chính
sách chung của Nhà nước đó và tình hình thực tế trong từng giai đoạn cụ thể
của đất nước đó. Có thể kết luận rằng, nhân thân người phạm tội là một
trong những cơ sở đề ra được một chính sách hình sự đúng, có hiệu quả
trong từng giai đoạn phát triển của mỗi quốc gia, phù hợp với đường lối
chính trị của quốc gia đó.
4. Một số đặc điểm, dấu hiệu của nhân thân người phạm tội là một trong
những cơ sở của việc qui định giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc tăng nặng
trách nhiệm hình sự. Một số đặc điểm, dấu hiệu nhân thân người phạm tội là
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bao gồm: phạm tội lần đầu và thuộc
trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội do lạc hậu, người phạm tội là phụ nữ có
thai; người phạm tội là người già; người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế
khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; người phạm
tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập và công
tác… Ngược lại, một số đặc điểm, dấu hiệu nhân thân người phạm tội là tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bao gồm: phạm tội có tính chất chuyên

94


nghiệp; phạm tội có tính chất côn đồ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;
có tình thực hiện tội phạm đến cùng; phạm tội nhiều lần, tái phạm hoặc tái
phạm nguy hiểm.
5. Vấn đề nhân thân người phạm tội đã được các nhà làm luật xem xét
trong việc quy định trách nhiệm hình sự của Bộ luật hình sự nước ta. Tuy
nhiên, thực tiễn truy cứu trách nhiệm hình sự, thì vấn đề nhân thân người
phạm tội đã có ảnh hưởng khác nhau đến những người thực thi pháp luật. Sự
ảnh hưởng khác nhau tới nhận thức, trình độ và kể cả do ý chí của người thực
thi pháp luật.
Để áp dụng đúng các qui định của pháp luật có liên quan đến nhân thân
người phạm tội trong thực tiễn truy cứu trách nhiệm hình sự, thì đòi hỏi những
người thực thi pháp luật phải hiểu đúng bản chất các qui định của pháp luật,
tầm quan trọng của vấn đề nhân thân người phạm tội. Trong thực tiễn, sự ảnh
hưởng của vấn đề nhân thân người phạm tội có thể được thể hiện theo các ảnh
hưởng khác nhau. Thể hiện rõ nét nhất qua các chiều hướng sau đây:
Thứ nhất, có nhận thức đúng đắn các quy định của pháp luật liên quan
đến nhân thân người phạm tội trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì
vậy, việc diều tra, truy tố, xét xử đảm bảo đúng pháp luật.
Thứ hai, quá nhấn mạnh đến nhân thân người phạm tội. Hậu quả của
chiều hướng này dẫn đến sai lầm trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự,
mặc dù có thể là có lợi cho người phạm tội, nhưng cũng không ít trường hợp
gây bất lợi cho người phạm tội.
Thứ ba, không xem xét hoặc đánh giá thấp yếu tố nhân thân người
phạm tội.
6. Thực tiễn thi hành các qui định của pháp luật liên quan đến nhân
thân người phạm tội trong điều tra, truy tố, xét xử cho thấy, nhìn chung các cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thi hành nghiêm chỉnh. Tuy

95


nhiên, trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự còn có những sai lầm đặc biệt
là truy cứu trách nhiệm hình sự oan người thực hiện hành vi trái pháp luật,
nhưng chưa đến mức phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nguyên nhân của những sai phạm, thiếu sót bao gồm cả những nguyên
nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Nhưng theo tôi nguyên nhân chủ
quan là chính. Đó là các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
chưa cao chưa thực sự làm hết trách nhiệm của mình, chưa thực hiện đầy đủ,
thi hành đúng các qui định của pháp luật liên quan đến nhân thân người phạm
tội. Bên cạnh đó, còn một số cán bộ còn yếu về năng lực công tác và trình độ
chuyên môn nghiệp vụ chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Công tác
bồi dưỡng nghiệp vụ, tổng kết rút kinh nghiệm đối với những sai lầm, thiếu
sót chưa được tổ chức kịp thời, chưa có chế tài xử lý tương ứng đối với những
người tiến hành tố tụng có sai lầm, thiếu sót.
7. Để góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng ngừa,
chống tội phạm nói chung thì chúng ta phải có các giải pháp đồng bộ. Liên
quan đến vấn đề nhân thân người phạm tội cũng cần phải có các giải pháp cụ
thể. Tôi xin kiến nghị một số giải pháp sau: hoàn thiện pháp luật hình sự và tố
tụng hình sự nhằm đảm bảo các quy định của pháp luật cụ thể, rõ ràng hơn,
tăng cường công tác hướng dẫn thi hành pháp luật và tổng kết công tác thực
tiễn trong điều tra, truy tố, xét xử; tăng cường công tác nghiên cứu tội phạm
học liên quan đến nhân thân người phạm tội; nâng cao chất lượng cán bộ,
năng lực nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ thục thi pháp
luật lấy con người làm trung tâm và coi đây là khâu đột phá.
Trong luận văn này, tác giả đã nêu ra một số hạn chế, thiếu sót của
pháp luật hình sự hiện hành trong việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự
liên quan đến nhân thân người phạm tội và đề xuất một số giải pháp để hoàn
thiện. Hy vọng những kiến nghị này đóng góp phần nào để khắc phục những

96


tồn tại, hạn chế của pháp luật hình sự hiện hành, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi
cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Mặc dù trong khuôn khổ giới hạn về mặt thời gian và nhận thức của
tác giả nên không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế nhất định rất mong
được sự đóng góp ý kiến quý báu để trong thời gian tới tôi xin tiếp tục hoàn
thiện luận văn này.

97


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Bộ Tư pháp (1999), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, Nxb Từ điển Bách
khoa, Hà Nội.

2.

Bộ Tư pháp (2000), “Số chuyên đề về Bộ luật hình sự”, Tạp chí Dân chủ
và pháp luật, Hà Nội.

3.

Lê Cảm (2002), “Nhân thân người phạm tội: một số vấn đề lý luận cơ
bản”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (01), Hà Nội.

4.

Lê Cảm (Chủ biên) (2003), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần
chung), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

5.

Lê Cảm (chủ biên) (2005), Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm
hình sự, Nxb Tư Pháp, Hà Nội.

6.

Lê Cảm, Trịnh Tiến Việt (2002), “Nhân Thân người phạm tội: Một số
vấn đề lý luận cơ bản”, Tòa án nhân dân, (1).

7.

Đại học Quốc gia Hà Nội (2002), Chính sách hình sự trong giai đoạn nhà
nước pháp quyền, tài liệu Hội thảo khoa học của Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội.

8.

Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại biểu đại hội toàn quốc
lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội.

9.

Đảng cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày
02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư
pháp trong thời gian tới, Hà Nội.

10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005
của Bộ Chính trị về Chiến lược cải tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.
11. Vũ Thế Đoàn (1992), “Khi nào áp dụng tình tiết phạm tội lần đầu”, Tạp
chí Tòa án nhân dân, (2), Hà Nội.
12. Phạm Hồng Hải (2001), “Một vài ý kiến về chế định tái phạm và tái
phạm nguy hiểm theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999”, Tạp chí
Tòa án nhân dân, (04), Hà Nội.

98


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×