Tải bản đầy đủ

LVTS 2015 tội phá hoại chính sách đoàn kết trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn ở tây nguyên)

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐỖ VĂN DŨNG

TéI PH¸ HO¹I CHÝNH S¸CH §OµN KÕT
TRONG LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
(Trªn c¬ së sè liÖu thùc tiÔn ë T©y Nguyªn)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐỖ VĂN DŨNG

TéI PH¸ HO¹I CHÝNH S¸CH §OµN KÕT
TRONG LUËT H×NH Sù VIÖT NAM

(Trªn c¬ së sè liÖu thùc tiÔn ë T©y Nguyªn)

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN VĂN LUYỆN

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi. Những kết luận khoa học của luận văn chưa được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ, trích dẫn
trong luận văn bảo đảm tính chính xác, trung thực, tin cậy. Tôi đã
hoàn thành tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa
Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết lời cam đoan đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có
thể bảo vệ luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn

Đỗ Văn Dũng


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI PHÁ HOẠI CHÍNH
SÁCH ĐOÀN KẾT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM .............. 8
1.1.


Khái niệm tội phá hoại chính sách đoàn kết và ý nghĩa của việc
quy định tội phá hoại chính sách trong luật hình sự Việt Nam ........ 8

1.1.1. Khái niệm tội phá hoại chính sách đoàn kết ........................................ 8
1.1.2. Ý nghĩa của việc quy định tội phá hoại chính sách đoàn kết trong
Luật hình sự Việt Nam ......................................................................... 9
1.2.

Khái quát lịch sử Luật hình sự Việt Nam quy định tội phá
hoại chính sách đoàn kết từ sau Cách mạng tháng Tám năm
1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 ............. 12

1.2.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi
ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 ................................................... 12
1.2.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước
khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 ............................................. 17
1.3.

Tội phá hoại chính sách đoàn kết trong Bộ luật hình sự của
một số nước ....................................................................................... 18

1.3.1. Bộ luật hình sự Vương quốc Thụy Điển ............................................ 18
1.3.2. Bộ luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa........................ 20
1.3.3. Bộ luật hình sự Liên bang Nga .......................................................... 22
Kết luận Chương 1 ........................................................................................ 24


Chương 2: TỘI PHÁ HOẠI CHÍNH SÁCH ĐOÀN KẾT THEO BỘ
LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TRÊN ĐỊA BÀN TÂY NGUYÊN ................................................... 26
2.1.

Tội phá hoại chính sách đoàn kết trong Bộ luật hình sự năm 1999 ... 26

2.1.1. Khách thể của tội phạm ...................................................................... 26
2.1.2. Mặt khách quan của tội phạm ............................................................ 27
2.1.3. Chủ thể của tội phạm.......................................................................... 33
2.1.4. Mặt chủ quan của tội phạm ................................................................ 35
2.1.5. Hình phạt ............................................................................................ 39
2.2.

Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm
1999 trong điều tra, truy tố, xét xử tội phá hoại chính sách
đoàn kết ở Tây Nguyên trong giai đoạn 2004 - 2014 .................... 40

2.2.1. Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về
tội phá hoại chính sách đoàn kết của Cơ quan điều tra – Công an
các tỉnh Tây Nguyên từ đầu năm 2004 đến cuối năm 2014 ............... 41
2.2.2. Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về
tội phá hoại chính sách đoàn kết của Viện kiểm sát nhân dân các
tỉnh Tây Nguyên từ đầu năm 2004 đến cuối năm 2014 ..................... 42
2.2.3. Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về
tội phá hoại chính sách đoàn kết của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk từ đầu năm 2004 đến cuối năm 2014 .......................................... 44
2.3.

Một số tồn tại, hạn chế trong áp dụng các quy định của Bộ
luật hình sự năm 1999 về tội phá hoại chính sách đoàn kết
trên địa bàn Tây Nguyên từ năm 2004 - 2014 ............................... 54

2.3.1. Một số tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các quy định của
Bộ luật hình sự năm 1999 về tội phá hoại chính sách đoàn kết ở
Tây Nguyên, trong giai đoạn 2004 - 2014 ......................................... 54
2.3.2. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng
các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tội phá hoại chính
sách đoàn kết ở Tây Nguyên, trong giai đoạn 2004 - 2014 ............... 56
Kết luận Chương 2 ........................................................................................ 58


Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI PHÁ HOẠI CHÍNH SÁCH
ĐOÀN KẾT TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG .............................................. 59
3.1.

Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả áp dụng những quy định về tội phá hoại chính sách đoàn
kết trong Bộ luật hình sự Việt Nam................................................ 59

3.2.

Kiến nghị hoàn thiện quy định về tội phá hoại chính sách
đoàn kết trong Bộ luật hình sự năm 1999 ...................................... 62

3.3.

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về tội
phá hoại chính sách đoàn kết trong Bộ luật hình sự Việt Nam ... 63

3.3.1. Tăng cường công tác hướng dẫn, giải thích những quy định của
Bộ luật hình sự Việt Nam về tội phá hoại chính sách đoàn kết và
các tội phạm khác có liên quan .......................................................... 63
3.3.2. Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về tội phá hoại chính
sách đoàn kết ...................................................................................... 65
3.3.3. Phòng ngừa, xử lý kịp thời, nghiêm minh người phạm tội phá
hoại chính sách đoàn kết .................................................................... 67
3.3.4. Nâng cao trình độ nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề
nghiệp cho cán bộ tư pháp.................................................................. 75
3.3.5. Một số biện pháp phòng, chống đấu tranh tư tưởng, lý luận ............. 76
Kết luận chương 3 ......................................................................................... 78
KẾT LUẬN .................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 82


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Từ đầy đủ

BLHS

Bộ luật hình sự

BLTTHS

Bộ luật tố tụng hình sự

ĐHQGHN

Đại học quốc gia Hà Nội

HĐXX

Hội đồng xét xử

TANDTC

Tòa án nhân dân Tối cao

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

TNHS

Trách nhiệm hình sự

VKSNDTC

Viện kiểm sát nhân dân Tối cao


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1: Báo cáo thống kê thụ lý giải quyết tin báo của Công
an các tỉnh Tây Nguyên từ đầu năm 2004 đến cuối
năm 2014

41

Bảng 2.2: Số vụ án, số bị cáo bị khởi tố về tội phá hoại chính
sách đoàn kết ở Tây Nguyên từ đầu năm 2004 đến
cuối năm 2014

42

Bảng 2.3: Báo cáo thống kê thụ lý kiểm sát điều tra án của
Ngành kiểm sát nhân dân các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai,
Kon Tum, Lâm Đồng và Đắk Nông từ đầu năm
2004 đến cuối năm 2014

43


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu
biểu đồ

Tên biểu đồ

Trang

Biểu đồ 2.1: Số vụ án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia từ
đầu năm 2004 đến cuối năm 2014, ở Đắk Lắk

45

Biểu đồ 2.2: Số bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia từ
đầu năm 2004 đến cuối năm 2014, ở Đắk Lắk

45


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự năm 1999 đã có 1 chương
quy định về các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Trong đó, có tội phá hoại
chính sách đoàn kết.
Từ khi có Bộ luật hình sự đến nay, Bộ luật hình sự đã trở thành công cụ
hữu hiệu trong việc tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật, đấu tranh
phòng, chống tội phạm nói chung và phòng chống tội phạm phá hoại chính
sách đoàn kết nói riêng. Đặc biệt là loại tội này ở Tây Nguyên.
Trên cơ sở quy định của pháp luật, trung bình hàng năm các cơ quan
chức năng ở Tây Nguyên đã tiến hành xử lý trên, dưới 25 vụ, 30 đối tượng về
nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia. Trong đó, tội phá hoại chính sách đoàn
kết có 13 vụ, 15 đối tượng, chiếm 52% số vụ và chiếm khoảng 50% số đối
tượng. Việc làm đó đã góp phần vào việc đảm bảo an ninh, chính trị, trật tự an
toàn xã hội ở Tây Nguyên và của cả nước. Đồng thời góp phần vào việc gìn
giữ hòa bình thế giới.
Mặc dù pháp luật đã có những quy định cụ thể và các cơ quan chức
năng đã có nhiều cố gắng, song tội phá hoại chính sách đoàn kết ở Tây
Nguyên ngày một diễn ra theo chiều hướng gia tăng, mang tính phức tạp với
những thủ đoạn rất tinh vi và xảo quyệt, hậu quả do tội phạm gây ra ngày một
nghiêm trọng, làm ảnh hưởng rất lớn đến tình hình chính trị, quốc phòng, an
ninh, trật tự trị an xã hội ở Tây Nguyên.
Trong công tác xử lý, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng gặp không ít khó khăn, vướng mắc trong việc định tội danh, quyết định
hình phạt, áp dụng pháp luật, xử lý các đối tượng có hành vi phá hoại chính
sách đoàn kết. Trong khi đó pháp luật mới chỉ quy định tội danh với những

1


hành vi được mô tả trong điều luật nhưng chưa bao quát hết tất cả các hành vi
diễn ra trên thực tế. Mặt khác, tội phá hoại chính sách đoàn kết quy định một
số hành vi tương đối giống với một số tội khác, dễ gây nhầm lẫn, khó xác
định giữa tội này với tội khác… Hiện nay, đối với tội phá hoại chính sách
đoàn kết, chưa có các văn bản hướng dẫn cụ thể.
Xuất phát từ nhu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 48 –
NQ/TW và số 49 – NQ/TW của Bộ chính trị, để bảo đảm an ninh quốc gia,
thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên,
đồng thời tìm ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật, đấu tranh phòng ngừa
tội phá hoại chính sách đoàn kết nói chung và đấu tranh phòng ngừa loại tội
này ở Tây Nguyên nói riêng một cách có hiệu quả nên tác giả quyết định chọn
đề tài: “Tội phá hoại chính sách đoàn kết trong Luật hình sự Việt Nam (trên
cơ sở số liệu thực tiễn ở Tây Nguyên)” để làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trên cơ sở quy định của pháp luật về tội phá hoại chính sách đoàn kết,
đã có không ít những công trình nghiên cứu khoa học về lập pháp hình sự và
cũng có không ít các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu về vấn đề này.
Nhưng thực tế mới chỉ dừng lại ở góc độ viết bài mang tính tham khảo, chia
sẻ, bình luận, chưa chuyên sâu.
Hiện nay, ở nước ta, đặc biệt là ở Tây Nguyên, chưa có một công trình
nghiên cứu khoa học pháp lý nào về tội phá hoại chính sách đoàn kết, mà chỉ
có một số nghiên cứu có liên quan đến đề tài, như:
- PGS.TS. Kiều Đình Thụ: “Các tội xâm phạm an ninh quốc gia, lịch
sử, thực trạng và phương hướng hoàn thiện”, Tạp chí Thông tin khoa học
pháp lý, Bộ Tư pháp, năm 1994;
- “Về các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia” Tạp chí
khoa học Công an, năm 1995;

2


- Luận án tiến sĩ của tác giả Bạch Thành Định: “Các tội xâm phạm
an ninh quốc gia trong luật hình sự Việt Nam”, Trường đại học luật Hà
Nội, năm 2001;
- GS.TSKH. Lê Văn Cảm (Chủ biên) “Bảo vệ an ninh quốc gia, an
ninh quốc tế và các quyền con người bằng pháp luật hình sự trong xây dựng
nhà nước pháp quyền”, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, 2007;
- GS.TSKH. Lê Văn Cảm: “Những vấn đề lý luận về bảo vệ an ninh
quốc gia bằng pháp luật hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp
quyền”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7, năm 2007;
- GS.TSKH. Lê Văn Cảm: “Nhà nước pháp quyền trong việc bảo vệ an
ninh quốc gia, an ninh quốc tế và các quyền con người bằng pháp luật hình
sự”, Tạp chí Kiểm sát, năm 2008;
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Khánh Toàn: “Tội phá hoại
chính sách đoàn kết trong luật hình sự Việt Nam”, Khoa luật - Đại học Quốc
gia Hà Nội, năm 2010.
Ngoài ra còn có một số giáo trình, tạp chí, bài báo của tập thể tác giả
của Khoa Luật – Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Luật Hà
Nội, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Luật – Trường Đại
học Đà Lạt do nhà trường biên soạn làm tài liệu cho công tác giảng dạy,
nghiên cứu, có liên quan đến tội Phá hoại chính sách đoàn kết như:
- “Bình luận các tội phạm cụ thể của Bộ luật hình sự năm 1999”, do TS.
Uông Chu Lưu chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2003;
- “Giáo trình luật hình sự Việt Nam” tập 1, do GS.TS. Nguyễn Ngọc
Hòa chủ biên, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2006.
Tuy đã có nghiên cứu, nhưng những công trình nghiên cứu nói trên còn
mang tính tản mạn, chưa sâu, chưa sát, chưa mang tính phổ quát, mới chỉ
nghiên cứu ở khía cạnh dấu hiệu cấu thành các tội phạm xâm phạm về an ninh

3


quốc gia, còn rất nhiều lĩnh vực khác chưa được đề cập tới. Mặc dù tác giả
Phạm Thị Khánh Toàn đã có công trình nghiên cứu về tội này nhưng mang
tính bao quát của cả nước, chưa đi sâu, đi sát thực tiễn ở Tây Nguyên. Trong
khi đó, Tây Nguyên là một trong những điểm nóng của cả nước về an ninh,
chính trị và cũng là nơi xẩy ra loại tội phá hoại chính sách đoàn kết cao so với
cả nước. Chính vì vậy, tác giả tiến hành nghiên cứu tội phá hoại chính sách
đoàn kết trong pháp luật hình sự Việt Nam trên hai phương diện, đó là
phương diện lý luận và phương diện thực tiễn số liệu ở Tây Nguyên.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Luận văn nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề lý luận pháp lý về tội phá
hoại chính sách đoàn kết; thực tiễn áp dụng tội phạm này ở Tây Nguyên, từ
đó chỉ ra những bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tội phá hoại
chính sách đoàn kết, đồng thời đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả áp
dụng pháp luật về tội này.
3.2. Nhiệm vụ
Từ những mục đích nêu trên của luận văn, nhiệm vụ đề ra của tác giả
bao gồm:
Một là: Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về tội phá hoại chính sách đoàn
kết, như khái niệm, vai trò, vị trí của tội này trong Luật hình sự Việt Nam.
Hai là: Nghiên cứu ý nghĩa của việc quy định tội phá hoại chính sách
đoàn kết trong luật hình sự Việt Nam.
Ba là: Nghiên cứu quá trình lập pháp hình sự Việt Nam từ năm 1945
cho đến nay về tội phá hoại chính sách đoàn kết.
Bốn là: Nghiên cứu tội phá hoại chính sách đoàn kết của một số nước
trên thế giới như: Vương quốc Thụy Điển, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa,
Liên bang Nga.

4


Năm là: Nghiên cứu tội phá hoại chính sách đoàn kết ở Tây Nguyên
trong giai đoạn từ đầu năm 2004 đến cuối năm 2014 để rút ra những nguyên
nhân, phương thức, thủ đoạn hoạt động của tội phạm cũng như kinh nghiệm
thực tiễn xét xử, hoạt động phòng ngừa loại tội này của Tòa án nhân dân một
số tỉnh khu vực Tây Nguyên.
Sáu là: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự về tội phá hoại chính
sách đoàn kết. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về
tội này để trên cơ sở đó đấu tranh phòng ngừa một cách có hiệu quả.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu tội phá hoại chính sách đoàn kết trong luật
hình sự Việt Nam, nghiên cứu tình hình tội phá hoại chính sách đoàn kết ở
Tây Nguyên, thực tiễn công tác xét xử, đấu tranh phòng, chống tội phá hoại
chính sách đoàn kết của Tòa án nhân dân các tỉnh Tây Nguyên trong giai đoạn
từ đầu năm 2004 đến cuối năm 2014.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nội hàm nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu tội phá hoại chính sách
đoàn kết dưới góc độ pháp luật hình sự Việt Nam.
- Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng về tội phá hoại chính
sách đoàn kết ở Tây Nguyên.
- Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn từ đầu năm 2004 đến cuối năm 2014.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp
thống kê hình sự; phương pháp so sánh; phương pháp phân tích; phương pháp
tổng hợp; phương pháp chuyên gia; phương pháp lịch sử.
Để thực hiện được nhiệm vụ, mục đích đặt ra, ngoài các phương pháp
nêu trên, tác giả tiến hành kết hợp nghiên cứu: Luật hình sự; tố tụng hình sự

5


với các văn bản khác có liên quan; kết hợp nghiên cứu số liệu thực tế được
thống kê hàng năm trong các báo cáo của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát
nhân dân hai cấp ở Tây Nguyên. Đồng thời nghiên cứu một số hồ sơ vụ án
điển hình; kết hợp khảo sát thực tế, trao đổi với các cán bộ có nhiều kinh
nghiệm trong công tác quản lý, xét xử loại tội này.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả tiến hành vận dụng các phương
pháp này đan xen, không tách rời nhau nhằm tạo điều kiện hỗ trợ thúc đẩy, tác
động qua lại lẫn nhau để đạt hiệu quả nghiên cứu.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa về mặt khoa học
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện
những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội phá hoại chính sách đoàn kết ở cấp độ
là một luận văn thạc sĩ luật học.
Luận văn đã cung cấp luận cứ khoa học nhằm hoàn thiện các quy định
về tội phá hoại chính sách đoàn kết;
Luận văn còn là tài liệu tham khảo trong công tác đào tạo và nghiên
cứu khoa học pháp lý hình sự sau này.
6.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Từ những khó khăn, vướng mắc mà thực tiễn áp dụng pháp luật về tội
phá hoại chính sách đoàn kết đang gặp phải ở Tây Nguyên, những giải pháp,
những đề xuất được nêu trong luận văn sẽ:
Một là: Là cơ sở cho việc hoạch định và thực thi nhiệm vụ đấu tranh
phòng, chống tội phá hoại chính sách đoàn kết. Đặc biệt là cơ sở hoạch định
đường lối cho việc xét xử đối với tội này ở Tây Nguyên;
Hai là: Góp phần vào việc nâng cao hiệu quả của công cuộc đấu tranh,
phòng, chống tội phá hoại chính sách đoàn kết và đưa ra các kiến nghị, giải
pháp hoàn thiện pháp luật về tội này ở khía cạnh lập pháp cũng như trên thực
tiễn áp dụng;
6


Ba là: Là tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu pháp luật hình
sự và những vấn đề khác có liên quan;
Bốn là: Là tài liệu chuyên khảo cho nhà trường, cho các trung tâm, đơn
vị bồi dưỡng kiến thức pháp luật;
Năm là: Là tài liệu cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng, người tham gia tố tụng hay những người làm công tác pháp luật;
7. Kết cấu luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, kết
cấu của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1. Một số vấn đề chung về tội phá hoại chính sách đoàn kết
trong Luật hình sự Việt Nam.
Chương 2. Tội phá hoại chính sách đoàn kết trong Bộ luật hình sự năm
1999 và thực tiễn áp dụng ở Tây Nguyên.
Chương 3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng
cao hiệu quả áp dụng quy định về tội phá hoại chính sách đoàn kết theo Bộ
luật hình sự năm 1999

7


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI PHÁ HOẠI
CHÍNH SÁCH ĐOÀN KẾT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm tội phá hoại chính sách đoàn kết và ý nghĩa của việc
quy định tội phá hoại chính sách trong luật hình sự Việt Nam
1.1.1. Khái niệm tội phá hoại chính sách đoàn kết
Vi phạm các quy định về chính sách đoàn kết, đoàn kết toàn dân, đoàn
kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, đoàn kết quốc tế được hiểu là việc cá nhân, tập
thể có những hành vi đi ngược, làm trái với các chủ trương, đường lối của
Đảng, làm trái với những quy định của pháp luật về chính sách đoàn kết.
Để kịp thời ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật nêu trên
và để đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, Bộ luật hình sự của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có hẳn một điều luật quy định
về tội phá hoại chính sách đoàn kết.
Muốn hiểu khái niệm về tội phá hoại chính sách đoàn kết, trước tiên
chúng ta đi tìm hiểu khái niệm tội phạm một cách chung nhất, khái quát nhất
dưới góc độ pháp lý.
Tại Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về tội phạm như sau:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định
trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự
thực hiện một cách cố ý hay vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm đến chế độ chính
trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng an ninh, trật tự an toàn
xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng,
sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp
pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự
pháp luật xã hội chủ nghĩa…[30, Điều 8].
8


Từ khái niệm chung và những đặc trưng trên về tội phạm, dưới góc độ
khoa học pháp lý, trên cơ sở quy định của Bộ luật hình sự, thì khái niệm tội
phá hoại chính sách đoàn kết được hiểu như sau:
Tội phá hoại chính sách đoàn kết là những hành vi tuyên
truyền, kích động hoặc bằng thủ đoạn khác chia rẽ sự đoàn kết thống
nhất toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, đoàn kết quốc tế
do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý trực
tiếp nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân [37, tr. 351].
1.1.2. Ý nghĩa của việc quy định tội phá hoại chính sách đoàn kết
trong Luật hình sự Việt Nam
Việc quy định tội phá hoại chính sách đoàn kết trong luật hình sự Việt
Nam có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giữ gìn khối đại đoàn kết toàn
dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, đoàn kết quốc tế và giữ vững an
ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội. Thực tiễn nghiên cứu cho thấy việc quy
định tội phá hoại chính sách đoàn kết trong luật hình sự Việt Nam có một số ý
nghĩa sau:
Một là: Việc quy định tội phá hoại chính sách đoàn kết trong luật hình
sự Việt Nam đã tạo ra cơ sở, hành lang pháp lý quan trọng cho cuộc đấu tranh
phòng và chống tội phạm nói chung, đối với tội phá hoại chính sách đoàn kết
nói riêng [45, tr.15]. Đây cũng là hồi chuông cảnh báo cho các đối tượng đang
có ý định thực hiện hành vi chia rẽ sự đoàn kết thống nhất toàn dân, đoàn kết
dân tộc, đoàn kết tôn giáo và đoàn kết quốc tế, để các đối tượng này thấy
được rằng mọi hành vi vi phạm pháp luật nhằm chống chính quyền nhân dân
sẽ bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật với những chế tài thật nghiêm khắc
trong hệ thống pháp luật Việt Nam đó là bằng chế tài hình sự.
Cuộc đấu tranh phòng, chống tội phá hoại chính sách đoàn kết là một
bộ phận không thể tách rời trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội

9


phạm. Mục đích của công cuộc đấu tranh này là nhằm bảo vệ sự tồn tại và
vững mạnh của Nhà nước ta. Để làm thất bại mọi âm mưu chống phá sự
nghiệp xây dựng nước nhà của các thế lực thù địch, bên cạnh những nhiệm vụ
kinh tế, mở rộng dân chủ, tăng cường tiềm lực, quốc phòng an ninh của đất
nước, còn phải thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, phát huy vai trò làm
chủ của nhân dân.
Từ những quy định của pháp luật hình sự về tội phá hoại chính sách
đoàn kết, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, căn cứ vào
đó để xử lý những chủ thể đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nói chung
và hành vi vi phạm việc thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn
giáo và đoàn kết quốc tế [45, tr.16].
Hai là: Việc quy định tội phá hoại chính sách đoàn kết trong luật hình
sự Việt Nam còn có ý nghĩa cho việc tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp
luật trong toàn dân, toàn xã hội và quốc tế; đấu tranh phòng, chống những
hành vi vi phạm pháp luật về việc thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc, đoàn
kết tôn giáo và đoàn kết quốc tế. Từ việc xử lý các chủ thể phạm tội phá hoại
chính sách đoàn kết, ngoài việc trừng trị, trấn áp tội phạm, còn hướng tới mục
đích cải tạo, giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật làm cho họ từ bỏ ý
định phạm tội, giúp họ có ý thức tôn trọng pháp luật.
Ba là: Việc quy định đó đã thể hiện quan điểm, đường lối của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách đoàn kết
toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo và đoàn kết quốc tế. Các thế lực
thù địch trong và ngoài nước thường xuyên lợi dụng vấn đề tôn giáo, đoàn kết
tôn giáo và các vấn đề về dân tộc để nhằm chống phá nước ta, phá hoại khối
đại đoàn kết. Do đó, việc quy định tội này trong luật hình sự sẽ giúp cho nhân
dân ta nhận thức được bộ mặt thật của bọn cướp nước và bè lũ tay sai để từ đó
đoàn kết lại với nhau, đồng sức, đồng lòng đập tan âm mưu và phương thức,
thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch [45, tr.16].
10


Bốn là: Việc quy định đó còn góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật
hình sự Việt Nam, tiến tới mục tiêu chung là xây dựng Nhà nước Việt Nam
trở thành Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
Song song với việc chuyển đổi nền kinh tế quan liêu bao cấp sang nền
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và xu thế hội nhập quốc
tế, đa phương hóa, toàn cầu hóa, thì tội phạm ở nước ta cũng có nhiều diễn
biến phức tạp. Nó không chỉ gia tăng về số vụ, số đối tượng mà tính chất, mức
độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi vi phạm ngày càng nghiêm trọng,
làm ảnh hưởng không nhỏ đến vai trò, vị thế của nước ta trên trường quốc tế.
Bên cạnh đó các thế lực thù địch trong và ngoài nước luôn ráo riết đẩy mạnh
âm mưu diễn biến hòa bình, bạo loạn nhằm chống chính quyền nhân dân, xóa
bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta.
Các đối tượng phạm tội thường lợi dụng những địa bàn trọng yếu như vùng
có nhiều người dân tộc thiểu số sinh sống, những nơi có nhiều giáo dân, tín đồ
tôn giáo, chúng lợi dụng mặt trái của nền kinh tế thị trường và những sơ hở
trong việc quản lý của Đảng và Nhà nước ta, để từ đó loan tin, bịa đặt, bôi
nhọ, nói xấu, xuyên tạc đường lối của Đảng, đồng thời lôi kéo nhiều người
tham gia biểu tình, gây rối. Trước những diễn biễn của tình hình trên, Đảng và
Nhà nước ta đã chủ động, đi tắt đón đầu xây dựng triển khai các chính sách có
hiệu quả, để ngăn chặn đẩy lùi tội phạm, ổn định xã hội, phát triển kinh tế,
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, thì việc quy
định tội phá hoại chính sách đoàn kết trong luật hình sự hiện nay đã đáp ứng
được một phần yêu cầu nào đó về việc xây dựng Nhà nước pháp quyền.
Năm là: Ngoài ra việc quy định tội phá hoại chính sách đoàn kết trong
luật hình sự Việt Nam còn mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc.
Những thành tựu to lớn mà Đảng và Nhà nước ta đã đạt được trong
những năm vừa qua đã tạo cơ sở và niềm tin cho các thế hệ đi theo con đường

11


xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn. Việc quy định
này có khách thể đặc biệt quan trọng được pháp luật hình sự bảo vệ đã khẳng
định quyết tâm bảo vệ thành quả đã đạt được trong những năm vừa qua của
Đảng và Nhà nước [45, tr.17].
1.2. Khái quát lịch sử Luật hình sự Việt Nam quy định tội phá hoại
chính sách đoàn kết từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước
khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
1.2.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước
khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
* Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền non trẻ, quân và dân
ta phải đối phó với nhiều khó khăn, thử thách. Ở miền Bắc, nhân dân ta vừa
phải chống chọi với hậu quả của nạn đói, hậu quả của lụt lội gây ra vừa phải
đối phó với 20 vạn quân Tưởng và bè lũ tay sai lợi dụng danh nghĩa đồng
minh hòng thực hiện âm mưu thủ tiêu chính quyền cách mạng thì ở miền
Nam, thực dân Anh và quân đội Pháp kéo đến đánh chiếm Nam Bộ, mưu toan
dùng địa bàn này làm bàn đạp chiếm lại toàn bộ nước ta. Trước âm mưu thâm
độc của kẻ thù, nhiệm vụ hàng đầu của toàn dân ta là sử dụng mọi lực lượng,
biện pháp và hình thức đấu tranh để bảo vệ chính quyền cách mạng, chống lại
những âm mưu đen tối của kẻ thù bên trong và những thế lực đế quốc, đẩy
mạnh công cuộc kháng chiến dành độc lập thống nhất dân tộc. Tuy chưa đưa
ra những quy phạm, những định nghĩa về tội phá hoại chính sách đoàn kết,
nhưng các văn bản pháp luật ban hành đã đề cập đến hành vi làm phương hại
đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chính là hành vi cấu
thành tội phá hoại chính sách đoàn kết như cách hiểu trong luật hình sự Việt
Nam hiện nay.
Năm 1953, tình hình và nhiệm vụ cụ thể của cách mạng có những thay
đổi nhất định, trên cơ sở tổng kết, rút kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh chống

12


bọn phản cách mạng, nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh số 133 ngày 20 tháng
01 năm 1953 nhằm trừng trị bọn Việt gian, phản động và xét xử những âm
mưu hành động phản quốc [45, tr.22].
Sắc lệnh quy định:
Kẻ nào vì mục đích phản quốc, gây hiềm khích để phá hoại
sự đoàn kết kháng chiến của các dân tộc trong nước, các tầng lớp
nhân dân, các tôn giáo, các đảng phái và đoàn thể dân chủ, chia rẽ
nhân dân với chính phủ, chia rẽ nhân dân Việt Nam với nhân dân
các nước bạn Miên, Lào, phá hoại tình hữu nghị giữa nhân dân Việt
Nam với nhân dân Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ khác,
sẽ bị phạt tù từ 10 năm trở xuống. Nếu tội trạng nặng sẽ bị phạt tù
từ 10 năm đến chung thân hoặc sẽ bị xử tử hình [7, Điều 12].
Điểm mới của Sắc lệnh thể hiện ở chỗ đề cao nguyên tắc trừng trị có
phân hóa, nghiêm trị bọn chủ mưu, cầm đầu, bọn ngoan cố, khoan hồng đối
với những người bị lừa phỉnh, ép buộc lầm đường.
Lần đầu tiên tội phá hoại chính sách đoàn kết kháng chiến của các dân
tộc được quy định tại một điều luật cụ thể trong một văn bản pháp luật. Điều
này thể hiện một bước tiến vượt bậc trong kỹ thuật lập pháp hình sự của Nhà
nước ta. Như vậy, tội phá hoại sự đoàn kết kháng chiến của các dân tộc là một
trong những tội uy hiếp sự vững mạnh của chính quyền nhân dân. Hành vi
khách quan có đặc điểm giống với các hành vi cấu thành của một số tội phạm
khác, vì vậy để phân biệt với chúng, các nhà làm luật đã nêu ra dấu hiệu, mục
đích trong cấu thành tội phạm. Từ khi có Sắc lệnh 133/SL, trong giai đoạn từ
sau Cách mạng tháng Tám đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985,
còn có hàng loạt văn bản pháp luật hình sự khác được ban hành nhằm đáp ứng
đòi hỏi khách quan của cách mạng Việt Nam, đồng thời thể hiện thái độ của
Nhà nước ta kiên quyết trừng trị những hành vi phản cách mạng. Có thể liệt kê

13


một số văn bản pháp luật hình sự tiêu biểu giai đoạn này như: Ngày 14 tháng
06 năm 1955, Nhà nước ta ban hành Sắc lệnh số 234 về chính sách tôn giáo.
Tại Điều 7 của Sắc lệnh quy định:
Pháp luật sẽ trừng trị những kẻ mượn danh nghĩa tôn giáo để
phá hoại hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ, tuyên truyền chiến
tranh, phá hoại đoàn kết, ngăn trở tín đồ làm nghĩa vụ công dân,
xâm phạm đến tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của người khác
hoặc làm những việc khác trái pháp luật.
Qua nghiên cứu thực tiễn các văn bản, các quy phạm pháp luật hình sự
giai đoạn này, chúng ta có thể thấy rằng: Pháp luật hình sự trong giai đoạn
này mang tính chất thời chiến, nhưng lần đầu tiên cũng đã có quy định về tội
phá hoại đoàn kết kháng chiến của các dân tộc trong nước, các tầng lớp nhân
dân, các tôn giáo, các đảng phái và đoàn thể dân chủ, chia rẽ… Đây cũng là
một bước tiến vượt bậc của pháp luật hình sự Việt Nam [45, tr. 22 – 24].
* Sau những thắng lợi của thời kỳ khôi phục và cải tạo nền kinh tế, miền
Bắc bắt tay vào việc xây dựng những cơ sở kinh tế và kỹ thuật đầu tiên của chủ
nghĩa xã hội, tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần để chi viện cho cách mạng
miền Nam. Còn ở miền Nam sau những vụ đàn áp tàn khốc của Mỹ - Ngụy,
nhân dân ta tiến hành những cuộc khởi nghĩa từng phần, kết hợp đấu tranh
chính trị với đấu tranh vũ trang, đồng thời từng bước chuyển sang chiến tranh
cách mạng, cuối cùng dành chính quyền toàn miền Nam [45, tr. 24].
Trước yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng
mới, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã
được Đảng và Nhà nước ta quan tâm. Vào thời điểm quyết liệt của kháng
chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành
Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng và Hồ Chí Minh đã ký lệnh công
bố ngày 30 tháng 10 năm 1967. Sự ra đời của Pháp lệnh này có ý nghĩa vô

14


cùng quan trọng trong đời sống pháp luật nước ta, dân tộc ta. Căn cứ vào
khách thể trực tiếp bị xâm phạm, tội phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc được
quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh.
Tại Điều 12 của Pháp lệnh quy định:
Tội phá hoại khối đoàn kết toàn dân là hành vi vì mục đích
phản cách mạng mà gây hiềm khích, chia rẽ trong nhân dân, trong các
lực lượng vũ trang, chia rẽ Mặt trận tổ quốc Việt Nam, chia rẽ nhân
dân với chính quyền, chia rẽ lực lượng vũ trang nhân dân với các cơ
quan nhà nước; gây thù hằn, xích mích giữa các dân tộc; gây chia rẽ
giữa các tôn giáo, chia rẽ giữa các tín đồ tôn giáo với chính quyền.
Nghiên cứu văn bản quy phạm pháp luật hình sự được ban hành giai
đoạn này có thể thấy tội phá hoại khối đoàn kết toàn dân được quy định đầy
đủ trong một văn bản quy phạm pháp luật hình sự có giá trị pháp lý cao là
Pháp lệnh. Hơn nữa, kỹ thuật lập pháp hình sự ở giai đoạn này đã có sự tiến
bộ lớn so với giai đoạn trước. Lần đầu tiên khái niệm phá hoại đoàn kết toàn
dân đã được quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh. Tội phạm này đã có tiêu đề
về tội danh với các khung hình phạt tương ứng và được mô tả rõ ràng, chặt
chẽ. Chính sách hình sự đối với tội phạm này được quy định trong Pháp lệnh
rõ ràng, toàn diện hơn so với các văn bản quy phạm pháp luật hình sự trước
đó [45, tr. 24 – 25].
* Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, Việt Nam bắt đầu bước vào một kỷ
nguyên mới – kỷ nguyên cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Pháp luật hình sự cũng
có những thay đổi mới về nhiệm vụ để phù hợp với tình hình mới. Nhằm bảo
vệ chính quyền cách mạng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội
ở nửa đất nước mới được giải phóng, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa
miền Nam, Việt Nam đã ban hành Sắc luật số 03/SL/76 quy định các tội phạm
và hình phạt để trấn áp bọn phản cách mạng. Các tội phản cách mạng đều được

15


ghi nhận trong 5 khoản Điều 3 của Sắc Luật. Tinh thần và nội dung của Sắc
luật đã được thông tư số 03/BTP/TT của Bộ Tư pháp, Chính phủ cách mạng
lâm thời Cộng hòa miền Nam, Việt Nam hướng dẫn cụ thể. Theo Thông tư thì
Sắc luật số 03/SL/76 đã chia các tội phản cách mạng thành bốn nhóm tội.
Trong đó tội phá hoại thuộc nhóm 03, gồm nhiều loại tội phạm khác nhau (Phá
hoại khối đoàn kết và thống nhất dân tộc, phá hoại quốc phòng, phá hoại trật tự
an ninh). Qua nghiên cứu Sắc luật 03/SL/76 có thể thấy rằng Sắc luật này là sự
kế thừa kỹ thuật lập pháp hình sự trong Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách
mạng năm 1967, nhưng đã có sự sáng tạo cho phù hợp với điều kiện và hoàn
cảnh của các vùng mới giải phóng. Ngoài ra do tính chất cấp bách của cuộc đấu
tranh chống bọn phản cách mạng, quy định trong Sắc luật mang tính chất khái
quát cao, còn thông tư hướng dẫn cụ thể, dễ áp dụng hơn. Tên gọi của tội phá
hoại khối đoàn kết được đổi thành tội phá hoại khối đoàn kết và thống nhất dân
tộc. Từ đó cho đến khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985, cơ sở pháp lý đấu
tranh phòng, chống tội phá hoại khối đoàn kết chủ yếu dựa trên Pháp lệnh
trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30 tháng 10 năm 1967.
Qua phân tích lịch sử lập pháp hình sự quy định tội phá hoại chính sách
đoàn kết từ năm 1945 đến năm 1985 cho thấy pháp luật hình sự Việt Nam
không ngừng phát triển và đã từng bước được hoàn thiện, bám sát và phục vụ
các nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam. Các bước bổ sung, sửa đổi tội phá
hoại chính sách đoàn kết luôn phản ánh sự phát triển trong chính sách hình sự
của Đảng và Nhà nước ta. Lịch sử lập pháp hình sự ở nước ta đã chỉ ra rằng ở
các giai đoạn cách mạng khác nhau, tên tội phá hoại chính sách đoàn kết có
sự thay đổi, nhưng tính chất các tội đó không có gì thay đổi và theo đó chính
sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội
phạm này luôn luôn mang tính nhất quán và thích ứng với nhiệm vụ của từng
giai đoạn cách mạng [45, tr. 25 – 26].

16


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×