Tải bản đầy đủ

Khảo sát chế tạo màng mỏng zno bằng phương pháp sol gel định hướng ứng dụng trong bộ nhớ sắt điện

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ

TRẦN VĂN DŨNG

KHẢO SÁT VÀ CHẾ TẠO
MÀNG MỎNG NANO ZNO
BẰNG PHƯƠNG PHÁP SOL-GEL
ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
TRONG BỘ NHỚ SẮT ĐIỆN

Chuyên ngành: Vật liệu và linh kiện nano
Mã số: Đào tạo thí điểm

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
VẬT LIỆU VÀ LINH KIỆN NANO

HÀ NỘI - 2016


LỜI NÓI ĐẦU

Gần đây, màng mỏng Zinc oxít (ZnO) đã thu hút được
rất nhiều sự quan tâm, nghiên cứu. Cụ thể theo tìm kiếm của
Google Scholar, có hơn 675 nghìn công bố liên quan về màng
mỏng ZnO. Sở dĩ chũng được quan tâm đáng kể như vậy do
những tính chất quang và điện độc đáo cũng như vật liệu chế
tạo không ảnh hưởng tới môi trường, chúng có tiềm năng ứng
dụng đa dạng.
ZnO là một loại vật liệu dẫn cho ánh sáng truyền qua, là
một loại hợp chất oxit chất bán dẫn II-VI (II-VI compound
semiconductor) với năng lượng vùng cấm trực tiếp rộng và
năng lượng liên kết kích thích lớn (60 meV) ở nhiệt độ phòng.
Có hai phương pháp chính để chế tạo màng mỏng ZnO là
phương pháp vật lý và phương pháp hóa học.
Ở nghiên cứu này, phương pháp dung dịch được lựa
chọn để chế tạo màng mỏng. Đây là một phương pháp đơn
giản, dễ dàng thao tác, chi phí thấp, phù hợp với điều kiện
nghiên cứu ở Việt Nam. Các màng mỏng ZnO sau khi chế tạo
sẽ được khảo sát cấu trúc tinh thể, hình thái học bề mặt, tính
chất điện, độ truyền qua, bởi các thiết bị của Phòng thí nghiệm
micro-nano, trường Đại học Công nghệ và trường Đại học
Khoa học Tự nhiên như là nhiễu xạ tia X, kính hiển vi điện tử
quét (SEM), kính hiển vi lực nguyên tử (AFM), hệ UV-VIS.
Kết quả cho thấy chúng tôi đã khảo sát, làm chủ công
nghệ và chế tạo thành công dung dịch tiền chất Zinc oxide
dùng để chế tạo màng mỏng ZnO từ các chất hóa học thông
dụng, sẵn có và giá thành rẻ như muối kẽm nitorat, axit citric.
Chúng tôi đã chế tạo thành công màng mỏng ZnO bằng
phương pháp dung dịch. Kết quả chỉ ra rằng các màng mỏng
ZnO kết tinh tốt, độ truyền qua cao….Kết quả bước đầu rất
khả quan để thử nghiệm làm kênh dẫn cho bộ nhớ sắt điện.
Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục khảo sát trong
thời gian tiếp theo.
1


Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Các dòng bộ nhớ phổ thông
1.1.1 Bộ nhớ không ổn định
Dựa trên sự tồn tại của dữ liệu lưu trữ sau khi ngắt

nguồn nuôi, người ta có thể chia bộ nhớ thành hai dòng chính
là bộ nhớ ổn định và bộ nhớ không ổn định. Bộ nhớ không ổn
định là bộ nhớ mà dữ liệu sẽ bị mất đi khi ngắt nguồn nuôi.
1.1.2. Bộ nhớ ổn định
Các bộ nhớ ổn định, dữ liệu vẫn duy trì khi tắt nguồn
nuôi, có thể kể đến như bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên chuyển
pha PCRAM, bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên từ MRAM, bộ nhớ
truy cập ngẫu nhiên trở RRAM, bộ nhớ sắt điện FeRAM.
1.2. Bộ nhớ sắt điện FeRAM
1.2.1. Cấu trúc bộ nhớ sắt điện FeRAM
Hình dưới đây là cấu trúc của một đơn vị nhớ FeRAM.

Hình 1.1 Nguyên lý hoạt động của bộ nhớ sắt điện FeFET.
1.2.2. Các vật liệu tiềm năng ứng dụng FeRAM
a. Vật liệu sắt điện BLT
Vật liệu sắt điện tiêu biểu có cấu trúc perovskite được
sử dụng làm lớp cổng sắt điện là Bi3.25La0.75Ti3O12 (BLT).
Chúng đều có những tính chất sắt điện nổi trội như là độ phân
cực dư lớn, độ già hóa chậm(BLT 1012 cycles), lực kháng điện
thấp độ già hóa chậm.
b. Lớp kênh dẫn của bộ nhớ FeRAM
2


Gần đây màng mỏng ZnO được quan tâm nghiên cứu để
thay thế kênh dẫn ITO và đã cho những kết quả rất tốt. Cụ thể
nhóm của tác giả Yukihiro Kaneko đã chế tạo một transitor
màng mỏng sắt điện hiệu ứng trường với kênh là màng mỏng
ZnO được chế tạo bằng phương pháp bốc bay bằng lazer xung
(PLD). Kết quả cho thấy bộ nhớ có tỉ số đóng mở lớn hơn 105
(Ion/Ioff) độ linh động cao 26 cm2 V-1 s-1 và từ các thông số
khác cho thấy thời gian lưu trữ dữ liệu là hơn 10 năm.
1.3. Tính chất vật liệu sắt điện BLT
1.3.1. Cấu trúc tinh thể

Hình 1.2: Cấu trúc mạng tinh thể của Bismuth titanate pha tạp
Lanthanum
Trên hình 1.2 là cấu trúc mạng tinh thể của perovskite layer
Bismuth titanate pha tạp Lanthanum.
1.3.2. Tính chất điện
BLT là vật liệu sắt điện chồng lớp được nghiên cứu
rộng rãi vì những tính chất tốt của nó như là tốc độ chuyển
mạch nhanh, fatigue risistance lớn với điện cực kim loại, sự ổn
định tốt, nhiệt độ Curie cao (675oC) có tiềm năng ứng dụng
nhiệt lớn.
1.3.3. Tình hình nghiên cứu

3


Màng mỏng sắt điện đã thu hút được sự chú ý đáng kể
vì khả năng của chúng trong các ứng dụng thiết bị cảm biến,
MEM, và bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên ổn định, tụ điện 3D làm
đơn vị nhớ của bộ nhớ mật độ cao.
1.4. Kênh dẫn trong bộ nhớ sắt điện, màng mỏng ZnO
1.4.1. Cấu trúc tinh thể màng mỏng ZnO
Cấu trúc tinh thể của ZnO chia làm ba dạng là cấu trúc
Rocksalt, cấu trúc Zinc Blende, cấu trúc Wurtzite. Do các ion
điện tích bề mặt trái dấu tạo điện tích dương Zn (0001) và điện
tích âm O (0001-), dẫn đến hai mặt phẳng tinh thể có cực trái
dấu và năng lượng khác nhau, dẫn đến mô men lưỡng cực và
phân cực tự phát dọc theo trục c, tốc độ phát triển theo trục c
cao hơn do đó chúng hình thành các cấu trúc chính là wurtzite.

Hình 1.5: Các dạng cấu trúc của ZnO:
a) Cấu trúc Rocksalt, b) Cấu trúc Zinc Blende, c) Cấu trúc
Wurtzite
1.4.2. Tính chất điện
Mạng tinh thể ZnO tạo bởi sự liên kết của ion Zn2+ và
O2- trong tinh thể hoàn hảo không xuất hiện các hạt tải tự do.
Trong thực tế mạng tinh thể không hoàn hảo, mạng tinh thể có
những sai hỏng do do nút khuyết hay nguyên tử tạp, hỏng biên
hay bề mặt do lệch mạng hay khuyết tật bọc. Chính vì thế ZnO
thường là bán dẫn loại n do khuyết nút O. Nồng độ hạt tải nhỏ.

4


1.4.3.Tiềm năng ứng dụng của màng mỏng ZnO và tình hình
nghiên cứu
Trong những năm gần đây, các màng mỏng ZnO đã
được nghiên cứu một cách rộng rãi do tiềm năng ứng dụng đa
dạng của chúng, như máy biến năng áp điện, ống dẫn sóng
quang học, phương tiện truyền thông quang âm, các thiết bị
sóng âm bề mặt, các cảm biến dẫn khí, các điện cực dẫn trong
suốt, các ứng dụng trong pin mặt trời hay đi-ốt phát quang.
1.5. Các phương pháp chế tạo màng mỏng BLT và màng
mỏng ZnO
Có nhiều phương pháp vật lý và phương pháp hóa học
để chế tạo màng mỏng sắt điện BLT và ZnO. Các phương
pháp vật lý như là phương pháp lắng đọng pha hơi vật lý
(PVD), laser xung (PLD). Phương pháp vật lý như là phương
pháp dung dịch (sol-gel).
1.5.1. Phương pháp lắng đọng laser xung (PLD)
1.5.2. Phương pháp phún xạ RF
Các phương pháp vật lý kể trên đều có những ưu nhược
điểm riêng, song nghiên cứu này chúng tôi chọn phương pháp
hóa để chế tạo cả hai màng mỏng BLT và ZnO. Nguyên lý chế
tạo được trình bày chi tiết trong chương 2 của luận văn này.
1.6. Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn thạc sỹ
Trong luận văn này chúng tôi bắt đầu từ những hóa chất
dễ kiếm và rẻ như Kẽm nitrat Zn(NO3)2 và các dung môi khác
như axit citric, cồn…Từ phương pháp hóa học chúng tôi tiến
hành chế tạo thành công dung dịch tiền chất để chế tạo màng
mỏng Zinc oxit (ZnO) bằng phương pháp dung dịch định
hướng thử nghiệm bộ nhớ sắt điện. Như vậy, chúng tôi đã chủ
động hoàn toàn trong việc chế tạo dung dịch tiền chất và chế
tạo thành công màng mỏng ZnO tại Việt Nam bằng phương
pháp dung dịch.

5


Chương 2
PHƯƠNG PHÁP CHẾ TẠO VÀ KHẢO SÁT
2.1. Chế tạo tiền chất ZnO
2.1.1. Dụng cụ và hóa chất
2.1.2. Quy trình chế tạo tiền chất
Bước 1: Cân khối lượng muối kẽm nitrat và axit citric theo
tính toán tỉ lệ.
Bước 2: Khuấy tan bằng máy khuấy từ trong năm phút tại
nhiệt độ phòng.
Bước 3: Sấy tại nhiệt độ 80oC trong thời gian sáu giờ.
Bước 4: Bù thêm nước cất cho dung dịch bằng thể tích ban
đầu.
Bước 5: Khuấy từ tại nhiệt độ phòng trong 5 phút.
2.2. Chế tạo màng mỏng bằng phương pháp dung dịch
2.2.1. Nguyên lý chế tạo của phương pháp dung dịch
2.2.2. Chế tạo màng mỏng ZnO bằng phương pháp dung dịch
a. Chuẩn bị
b. Quy trình chế tạo
2.2.3. Chế tạo màng mỏng BLT bằng phương pháp dung dịch
a. Chuẩn bị
b. Quy trình chế tạo
2.3. Chế tạo điện cực Pt bằng phương pháp phún xạ
2.3.1. Nguyên lý chế tạo
2.3.2. Điều kiện chế tạo
2.4. Thiết bị khảo sát tính chất của tiền chất ZnO và của các
màng mỏng
2.4.1. Hệ khảo sát phân tích nhiệt quét vi sai của tiền chất
ZnO: DSC
2.4.2. Hệ khảo sát kích thước hạt của dung dịch ZnO: LB 550
2.4.3. Hệ khảo sát cấu trúc tinh thể: X-ray
2.4.4. Hệ khảo sát hình thái bề mặt: SEM
2.4.5. Hệ khảo sát tính chất quang của màng mỏng ZnO: UV
VIS
6


2.4.6. Hệ khảo sát tính chất điện của màng mỏng ZnO: 4 mũi
dò.
2.4.7. Hệ khảo sát tính chất điện của màng mỏng sắt điện
BLT: Radian Precicion
Chương 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Dung dịch tiền chất ZnO
Như chúng ta đã biết phương pháp dung dịch để chế tạo
màng mỏng dựa trên cơ sở tổng hợp các hạt dạng huyền phù
trong chất lỏng dạng keo thành một mạng lưới các phân tử bao
gồm phân tử tự do và chuỗi polymer. Phương pháp này sử
dụng tiền chất thường có giá thành cao, yêu cầu về độ nhớt, độ
bám dính cũng như hạn chế độ co rút của vật liệu khi có tác
nhân nhiệt, tránh xảy ra hiện tượng nứt gãy bề mặt màng mỏng
khi sấy hay ủ nhiệt. Trong nghiên cứu này, dung dịch để chế
tạo màng mỏng zinc oxit (ZnO) sau đây gọi tắt là tiền chất
ZnO. Bằng phương pháp hóa học chúng tôi đã pha chế thành
công tiền chất này từ các hóa chất dễ mua, rẻ tiền như muối
kẽm nitrat và axit citric. Kết quả ban đầu cho thấy tiền chất
ZnO đã chế tạo được màng mỏng ZnO và cho một số kết quả
tốt.
3.1.1 Tối ưu quy trình chế tạo dung dịch tiền chất ZnO
Chúng tôi chọn axit citric làm dung môi để tạo mạng
liên kết của kẽm trong dung dịch. Axit citric (CA) được cho là
có thể lên kết với Zn2+, Ba2+ tạo nên hệ mạng liên kết gần giúp
cho việc dễ tạo vật liệu hợp chất tương ứng của chúng. Trong
đó tỉ lệ CA trên kim loại hóa trị II cũng được nghiên cứu.
Bằng mô phỏng tính toán, Ferreira và các cộng sự cho thấy
được tỷ lệ CA:Ba là 3:1 là hợp lý nhất cho liên kết mạng đa
chiều. Hình 3.1 thể hiện chi tiết kết luận này

7


Hình 3.1 Cấu trúc tối ưu hóa cho hệ phức gồm 1 nguyên tử Ba
và a) 1; b) 2; c) 3 phân tử axit citric.
Tham khảo kết luận của một số nhóm nghiên cứu khác,
chúng tôi xây dựng quy trình tạo tiền chất như sau: sau khi
khuấy tan, dung dịch được đem sấy ở 80oC trong 6 giờ. Hình
3.4 cho thấy dung dịch tiền chất với tỉ lệ mol muối và axít 1:2
(M1:2) sau khi sấy 6 tiếng có dạng trong suốt, trạng thái sánh
keo.

Hình 3.4: Trạng thái tiền chất M1:2 sau sấy 6 tiếng.
Kết quả sử dụng tiền chất M1:2 quay phủ tạo màng cho
độ bám dính khá tốt trên đế lamen (Hình 3.5). Bề mặt mẫu mịn
và bám khá đều, kết quả Xray cho thấy mẫu đã kết tinh, xuất
hiện các đỉnh của ZnO-kết quả này chúng tôi sẽ trình bày chi
tiết ở phần sau.
8


Hình 3.5: Bề mặt của mẫu trên đế lamen a) sau khi quay phủ;
b) sau khi sấy 70oC trong 3 phút.
Như vậy cho thấy tiền chất ZnO được chế tạo bằng cách
sấy trong 6 tiếng cho kết quả ban đầu tốt. Chính vì thế, tiếp tục
theo cách chế tạo tiền chất này, chúng tôi thay đổi tỉ lệ mol
giữa muối kẽm và axít theo các tỉ lệ khá nhau từ 1:1; 1:2; 1:3;
1:4; 1:5 và 1:6.

Hình 3.6: Bề mặt mẫu sau khi sấy 70oC, a) M1:1; b) M1:2; c)
M1:3; d) M1:4; e) M1:5; f) M1:6.
Trên hình 3.6 là hình ảnh kính hiển vi quang học (5x) bề
mặt các mẫu ZnO trên đế lamen được chế tạo từ các tiền chất
M1:1 đến M1:6. Kết quả cho thấy tiền chất M1:1 sau khi quay
phủ không bám trên đế, còn các mẫu từ M1:2 đến M1:6 đều
bám tốt và cho thấy bề mặt mịn, bám khá đều. Điều này cho
thấy tỉ lệ nổng độ axit citric có ảnh hưởng tới sự bám dính của
tiền chất ZnO.

9


Hình 3.7: Bề mặt mẫu sau khi ủ 400oC, a) M1:1; b) M1:2; c)
M1:3; d) M1:4; e) M1:5; f) M1:6.
Trên hình 3.7 là ảnh kính hiển vi quang học (5x) bề mặt
các mẫu ủ tại 400oC. Kết quả cho thấy các mẫu từ M1:3 đến
M1:6 xuất hiện các đốm trấu, bề mặt màng co dần lại theo
chiều tăng của nồng độ axít citric. Riêng mẫu M1:2 cho thấy
tồn tại màng trên đế, bề mặt màng khá mịn, không nứt gãy.
Kết quả Xray cho thấy cấu trúc tinh thể các mẫu từ M1:2 đến
M1:6 đều xuất hiện các đỉnh đặc trưng của ZnO cho thấy các
mẫu này đã kết tinh. Trên hình 3.8 là phổ nhiễu xạ tia X của
mẫu M1:2 với các đỉnh đặc trưng ZnO như là (110); (002);
(101). Kết quả này rất phù hợp với báo cáo của nhóm tác giả
Hua Chi Cheng. Kết quả chi tiết phần này chúng tôi sẽ trình
bày chi tiết ở phần sau.

Hình 3.8: Phổ nhiễu xạ tia X mẫu M1:2
Vì vậy chúng tôi kết luận nồng độ axit citric ảnh hướng
rất lớn tới khả năng bám dính của dung dịch tiền chất ZnO
10


cũng như khả năng hình thành màng mỏng. Tuy nhiên ngoài
dụng dịch tiền chất thì quá trình chế tạo màng mỏng của ảnh
hưởng lớn tới chất lượng màng, dựa trên Hình 3.7 chúng tôi
chọn mẫu dung dịch M1:2 tiến hành khảo sát phổ phân tích
nhiệt quét vi sai (DSC) để có đươc quy trình chế tạo phù hợp.
3.1.2. Phổ phân tích nhiệt quét vi sai
Figure:

Experiment:Dung Sol ZnO

Crucible:PT 100 µl

Atmosphere:Air

17/03/2016 Procedure: RT ----> 800C (5 C.min-1) (Zone 2)

Labsys TG

Mass (mg): 8.020001

TG/%
70

dTG/% /min

HeatFlow/µV
Exo

60

Peak :349.06 °C

10

50

-5

40
0

30
Peak :85.09 °C

20

-10

10

-10

0
-15

-10

-20

-20
Mass variation: -66.13 %

-30

-20
-40

-30

-50
-60

-25

-40

-70
Mass variation: -15.81 %

-80
0

100

200

300

400

500

600

700

Furnace temperature /°C

Hình 3.9: Phổ phân tích nhiệt quét vi sai DSC mẫu M1:2.
Phổ phân tích nhiệt quét vi sai trên hình 3.9 cho thấy hai
đỉnh chuyển pha của mẫu M1:2 là đỉnh 85oC và đỉnh 350oC.
Đỉnh đầu tiên ở vị trí 85oC là đỉnh hấp thụ nhiệt, mẫu chuyển
pha từ trạng thái keo sang dạng polyme Giá trị nhiệt hấp thụ
này là cao hơn so với giá trị mà J Lee đã báo cáo. Điều này có
thể giải thích là do dung môi sử dụng để pha tiền chất khác
nhau, ở đây chúng tôi sử dụng axít citric có nhiệt độ bay hơi
cao hơn. Đỉnh thứ hai tại 350oC cho thấy đây là nhiệt độ mẫu
ZnO chuyển pha từ vô định hình sang dạng kết tinh. Có nghĩa
là mẫu ZnO được ủ từ khoảng giá trị 350oC trở lên thì bắt đầu
kết tinh. Giá trị nhiệt chuyển trạng thái này là nhỏ hơn so với
báo cáo của Mulayam và các cộng sự. Điều này cho thấy tại
nhiệt độ thấp hơn thông thường màng mỏng ZnO dễ kết tinh
hơn sẽ tiết kiệm được năng lượng nhiệt cung cấp. Vì vậy dựa
vào phổ DSC chúng tôi sẽ khảo sát kỹ hơn quá trình chế tạo
màng ZnO như nhiệt độ sấy ban đầu, nhiệt độ ủ... sẽ được
trình bày ở phần 3.2.
11


Ngoài phổ DSC phần tiếp theo chúng tôi còn khảo sát
kích thước hạt của các dung dịch tiền chất ZnO
3.1.3. Kích thước hạt của dung dịch tiền chất

a

b

c

d

e

Hình 3.10: Phổ kích thước hạt của dung dịch tiền chất ZnO, a)
M1:2; b) M1:3; c) M1:4; d) M1:5; e) M1:6
Trên hình 3.10 là các phổ phân bố kích thước hạt của
các dung dịch tiền chất ZnO từ M1:2 đến M1:6. Kết quả cho
thấy các mẫu có phổ phân bố kích thước hạt khá tương đồng
và chủ yếu ở dải từ 300 đến 500 nm.
3.2. Màng mỏng ZnO
3.2.1. Cấu trúc tinh thể và diện tích bám phủ của màng mỏng
ZnO
a. Theo tỉ lệ muối và axit citric
Thành công trong việc chế tạo tiền chất ZnO, chúng tôi
tiếp tục chế tạo và khảo sát cấu trúc của mảng mỏng ZnO theo
12


tỉ lệ mol muối và axít thay đổi tử 1:1; 1:2; 1:3; 1:4; 1:5 và 1:6.
Các mẫu này đều đươc sấy ban đầu ở nhiệt độ 70oC và ủ lên
tới 450oC. Kết quả trên hình 3.11 chỉ ra rằng tất cả các mẫu từ
M1:2 đến M1:6 đều đã xuất hiện các đỉnh đặc trưng của vật
liệu ZnO như là (110); (002); (101). Các đỉnh nhiễu xạ còn
rộng, cường độ các đỉnh còn thấp nhưng đã cho thấy có sự kết
tinh của vật liệu ZnO. Từ phổ nhiễu xạ có thể thấy cường độ
các đỉnh tăng dần theo chiều tăng của nồng độ axit citric từ
mẫu M1:2 đến M1:5.

Hình 3.11: Phổ nhiễu xạ tia X của các mẫu theo tỉ lệ mol muối
và axit khác nhau tử M1:1 đến M1:6

13


Hình 3.12: Bề mặt màng mỏng ZnO trên đế lamen theo các tỉ
lệ muối: axit khác nhau

(10
0)

Trên hình 3.12 thể hiện độ bao phủ của màng mỏng
ZnO trên đế lamen. Dễ nhận thấy trong các mẫu M1:1 đến
M1:6 thì mẫu M1:2 có màng mỏng bao phủ là lớn nhất. Tiếp
tục chia nhỏ tỉ lệ cận 1:2 của mẫu M1:2, chúng tôi tiến hành
chế tạo hai mẫu M1:1,5 và M1:2,5. Kết quả nhiễu xạ và độ
bao phủ màng thể hiện trên hình 3.11 và 3.12 cho thấy mẫu
M1:2 là mẫu cho độ bao phủ mảng và kết quả kết tinh tốt nhất.
b. Theo nhiệt độ sấy đệm
Dựa vào phổ DSC khảo sát cho tiền chất mẫu M1:2,
chúng tôi tiến hành khảo sát đỉnh hấp thụ nhiệt đầu tiên của
ZnO. Cụ thể, với tỉ lệ muối kẽm: axit citric là 1:2, chúng tôi
khảo sát nhiệt độ sấy ban đầu xoay quanh đỉnh 85oC, cụ thể từ
70oC đến 110oC với bước nhảy là 10oC. Các mẫu đều được
sấy ban đầu và nhiệt độ ủ là giống nhau.

Hình 3.13: Phổ nhiễu xạ của các mẫu M1:2-70; M1:2-80;
M1:2-90; M1:2-100; M1:2-110
Kết quả phổ nhiễu xạ trên hình 3.13 chỉ ra rằng các mẫu
sấy ban đầu ở 70oC đến 110oC đều cho kết tinh tốt, thể hiện
các đỉnh đặc trưng của mảng mỏng ZnO. Với cường độ đỉnh
14


lớn hơn và hẹp hơn cho thấy mẫu được sấy ở 90oC (M1:2-90)
là kết tinh tốt hơn cả. So sánh với kết quả của Ilican, Culity thì
ba đỉnh đặc trưng mà chúng tôi thu được có cường độ đều
nhau hơn, cường độ lớn hơn cho thấy màng mỏng ZnO kết
tinh đều cả ba hướng như trên.

Hình 3.14: Độ bao phủ bề mặt của mảng mỏng ZnO sau khi ủ
theo nhiệt độ sấy ban đầu khác nhau
Hình 3.14 thể hiện sự bao phủ của màng mỏng ZnO trên
đế lamen với nhiệt độ sấy thay đổi. Các mẫu đều xảy ra hiện
tượng bề mặt màng bị co lại khi bị tác dụng nhiệt, với đỉnh hấp
thụ nhiệt ban đầu DSC cho thấy đây là khoảng nhiệt độ vật
liệu bay hơi dung môi, chuyển từ dạng keo sang mạng
polymer. Nếu điểm nhiệt cao quá sẽ gây cho bề mặt mẫu bay
hơi dung môi quá nhanh làm cho màng bị co nhiều như mẫu
M1:2-110 hay điểm nhiệt thấp quá thì tốc độ bay hơi dung môi
chậm, khiến lượng dung môi còn lại trong keo còn lớn gây cho
màng không đồng đều và còn bị ướt ảnh hưởng tới quá trình ủ.
Chính vì vậy kết quả cho thấy tại nhiệt độ sấy 90oC là điểm
nhiệt phù hợp nhất cho độ ổn định của màng cũng như độ bao
phủ là tốt nhất. Kết quả này phù hợp với cấu trúc tinh thể của
mẫu được chỉ ra trên hình 3.13. Đến đây có thể kết luận rằng
mẫu có tỉ lệ muối : axit là 1:2 và sấy ở 90oC (M1:2-90) cho
diện tích bề mặt màng là lớn nhất và kết tinh tốt.
Đạt được kết quả này, chúng tôi tiếp tục khảo sát nhiệt
độ ủ, đánh giá sự ảnh hưởng lên quá trình hình thành màng
mỏng ZnO.
c. Theo nhiệt độ ủ
Để độ bám phủ của màng tốt hơn và cải thiện độ sạch
của đế, chúng tôi tiến hành xử lý thêm bề mặt đế lamen bằng
15


dung dịch axit flohydric (HF) loãng. HF là axit được biết đến
có khả năng hòa tan kính theo phương trình phản ứng sau:
SiO2 + 4HF → SiF4 + 2H2O
Rồi silic tetraflorua (SiF4) tác dụng với HF dư tạọ axit
hexaflosilixic H2SiF6 tan trong nước
SiF4 + 6HF → H2[SiF6] + 2H2O
Trên hình 3.14 là bề mặt màng ZnO chế tạo trên đế
lamen đã được xử lý bằng dung dịch HF loãng từ 1% đến 5%
trong thời gian 30 giây.

Hình 3.15: Bề mặt màng mỏng ZnO trên đế lamen được xử lý
HF tỉ lệ loãng từ 1 đến 5%
Kết quả hình thái bề mặt cho thấy mẫu được xử lý đế
bởi HF cho màng bám tốt hơn và đều hơn và ổn định hơn so
với mẫu không xử lý HF. Kết quả cho thấy xử lý đế bằng
HF2% cải thiện chất lượng màng về độ bám phủ và đồng đều
là tốt nhất.
Chính vì vậy, các mẫu khảo sát tiếp theo đều được xử lý
bằng HF2% như trên. Cùng với đó chúng tôi khảo sát nhiệt độ
ủ tới chất lượng của màng mỏng. Mẫu sau khi được sấy ở
90oC trong 3 phút được đem ủ ở 350oC 400; 450; 500; 550 và
600oC.

Hình 3.16: Hình ảnh bề mặt (5x) các mẫu được ủ nhiệt độ
350oC 400; 450; 500; 550 và 600oC
16


Trên hình 3.16 là hình ảnh bề mặt các mẫu màng mỏng
ZnO 2 lớp được ủ ở các nhiệt độ khác nhau từ 350 đến 500oC
trên đế lamen và 550oC và 600oC trên đế Silicon trong điều
kiện khí O2 0.2l/min trong 30 phút. Kết quả cho thấy theo
chiều tăng của nhiệt độ ủ các mẫu đều cho bề mặt đều, mịn và
kết tinh. Riêng hai mẫu ủ nhiệt độ cao trên đế Si, bề mặt màng
xảy ra hiện tượng nứt gãy, bong màng. Điều này có thể là do
nhiệt độ quá cao dẫn đến độ co dãn của màng và đế chênh lệch
lớn dẫn đến bong. Tại nhiệt độ 500oC theo quan sát chúng tôi
thấy bề mặt màng là tốt nhất. Do đó chúng tôi tiếp tục tăng độ
dày lên4 lớp và 8 lớp ZnO ủ ở nhiệt độ và điều kiện tương tự.
Kết quả cấu trúc tinh thể được chỉ ra trên hình 3.17.

Hình 3.17: Phổ nhiễu xạ tia X của các mẫu ZnO 2 lớp,4 lớp, 8
lớp ủ tại 500oC
17


Từ phổ nhiễu xạ của các mẫu ủ tại 500oC với độ dày
thay đổi từ 2 đến 8 lớp trên hình 3.17 cho thấy theo chiều tăng
của độ dày màng mỏng ZnO, các đỉnh đặc trưng có cường độ
tăng như là (110) (002) (101), điều này cho thấy các mẫu đã
kết tinh tốt theo độ dày tại 500oC.
3.2.2. Hình thái bề mặt của màng mỏng ZnO

Hình 3.18: Hình ảnh màng mỏng ZnO M1:2-90 2 lớp ủ tại
500oC

Hình 3.19: Ảnh kính hiển vi điện tử quét mẫu M1:2-90 2 lớp ủ
tại 500oC
Sau khi khảo sát cấu trúc tinh thể của các mẫu cho kết
quả kết tinh tốt, chúng tôi tiến hành khảo sát hình thái bề mặt
của mẫu. Trên hình 3.18 và 3.19 là hình thái bề mặt của mẫu
tốt nhất M1:2-90 2 lớp ủ tại 500oC. Trên hình 3.18a cho thấy
ngay ở độ phân giải 10µm bề mặt màng mỏng khá mịn và
đồng đều, không nứt gãy. Tuy nhiên, với độ phân giải sâu hơn
18


nữa ở 500 nm (hình 3.19b) kết quả kính hiển vi điện tử quét
cho thấy mẫu ZnO có kích thước hạt khoảng 15-20 nm, kết
quả này khá tương đồng với kết quả của Zunke và các cộng sự
(Germany). Màng ZnO có cấu trúc xốp, các hạt ZnO liên kết
với nhau theo dạng chuỗi. Đây cũng chính là lý do khiến cho
màng ZnO chưa dẫn. Để cải thiện khả năng liên kết của các
hạt ZnO, chúng tôi đã thay đổi dung môi nước của tiền chất
ZnO ban đầu bằng dung môi cồn, một chất dễ bay hơi nhằm
tạo cho các gel ZnO gần nhau. Kết quả ảnh SEM trên hình
3.20a cho thấy do cồn bay hơi nhanh dẫn đến màng xuất hiện
các vệt nứt rất rõ. Hình 3.20b cho thấy cấu trúc màng ZnO vẫn
dạng xốp và không cái thiện đáng kể độ xốp của màng.

Hình 3.20: Ảnh kính hiển vi điện tử quét mẫu M1:2-90 2 lớp,
dung môi cồn ủ tại 500oC
3.2.3. Tính chất quang của màng mỏng ZnO
Zinc oxit được biết đến là chất bán dẫn có năng lượng
vùng cấm rộng Eg= 3.37 eV. Vì thế trong nghiên cứu này,
ngoài cấu trúc tinh thể, hình thái bề mặt chúng tôi tiến hành
khảo sát độ hấp thụ của màng mỏng ZnO. Từ kết quả đo phổ
hấp thụ UV-VIS chúng tôi biểu diễn sự phụ thuộc của (αhυ)2
theo hυ, trong đó hυ là năng lượng photon, α là hệ số hấp thụ.
Bằng việc gán hàm (linear fit) tới trục hoành (trục năng lượng
hυ ) ta thu được năng lượng Eg. Như trên hình 3.21 là đồ thị
phụ thuộc của (αhυ)2 theo hυ của mẫu M1:2, kết quả gán hàm
(linear fit) tính toán cho thấy mẫu M1:2 có năng lượng vùng
19


cấm Eg = 3.28 ± 0.05 eV. Kết quả này khá tương đồng với kết
quả của nhóm Zunke về màng ZnO được chế tạo bằng phương
pháp hóa có Eg từ 3.2 đến 3.34 eV. So sánh với báo cáo của
Nanda và các cộng sự là Eg= 3.216eV thì kết quả của chúng tôi
khá sát với giá trị này

Hình 3.21: Đồ thị phụ thuộc của (αhυ)2 theo hυ của mẫu M1:2
Trên hình 3.22 là phổ hấp thụ của các mẫu theo sự thay
đổi tỉ lệ giữa muối kẽm và axit citric từ tỉ lệ 1:1; 1:1,5; 1:2;
1:2,5; 1:3; 1:4; 1:5; 1:6. Có thể theo chiều tăng của nồng độ
axít citric từ 1 dến 6 thì cường độ hấp thụ của màng ZnO tăng
dần rồi sau đó lại giàm dần. Với ba tỉ lệ 1:1,5; 1:2; 1:2,5 có
cường độ hấp thụ lớn nhất. Bằng việc vẽ đồ thị phụ thuộc và
tính toàn như trên, chúng tôi thu được năng lượng vùng cấm
Eg của các mẫu như bảng sau:
Bảng 3.1 Giá trị năng lượng Eg của các mẫu
Mẫu
M1:1
M1:1,5
M1:2
Eg (eV)
3.62
3.28
3.28

M1:2,5
3.27

Mẫu

M1:3

M1:4

M1:5

M1:6

Eg (eV)

3.26

3.2

3.12

3.1

20


Hình 3.22: Phổ hấp thụ của các mẫu M1:1; M1:2; M1:2.4;
M1:3; M1:4; M1:5; M1:6
3.2.4. Tính chất điện của màng mỏng ZnO
Khả năng dẫn điện của màng mỏng ZnO là một tham số
rất quan trọng cần có. Tuy nhiên hiện tại nghiên cứu của
chúng tôi màng mỏng ZnO thu được chưa dẫn. Điều có thể
giải thích như sau: kết quả cấu trúc tinh thể cho thấy mẫu tốt
nhất M1:2 đã kết tinh tốt, tuy nhiên hình thái học bề mặt hình
3.19 lại cho thấy màng có cấu trúc dạng xốp liên kết dạng
chuỗi rời rạc nên khả năng dẫn rất thấp. Cùng với đó phương
pháp đo cũng ảnh hưởng lớn tới độ dẫn nếu như tiếp xúc với
bề mặt màng là không tốt, đặc biệt ZnO lại là một chất bán
dẫn. Về khả năng dẫn điện của màng mỏng ZnO chúng tôi sẽ
tiếp tục nghiên cứu trong thời gian tới.

21


KẾT LUẬN
Chúng tôi đã khảo sát và làm chủ công nghệ chế tạo thành
công dung dịch tiền chất zinc oxide dùng để chế tạo màng
mỏng ZnO từ các chất hóa học thông dụng, sẵn có và giá thành
rẻ như muối kẽm nitơrat, axit citric…Đây là một kết quả hoàn
toàn mới ở Việt Nam theo như tìm hiểu mà chúng tôi có được.
Chúng tôi đã nghiên cứu và làm chủ quy trình chế tạo
màng mỏng ZnO từ dung dịch tiền chất trên.
Chúng tôi đã chế tạo thành công màng mỏng ZnO bằng
phương pháp dung dịch. Kết quả cho thấy các màng mỏng
ZnO kết tinh tốt ở nhiệt độ thấp, có các đỉnh đặc trưng như là
(100), (002), (101), độ truyền qua cao, năng lượng vùng cấm
Eg của mẫu M1:2 là 3.28eV.
Chế tạo màng mỏng bằng phương pháp dung dịch là một
hướng mới mẻ tại Việt Nam mà chúng tôi là những người tiên
phong. Thêm nữa việc chúng tôi đã làm chủ được dung dịch
tiền chất để chế tạo màng mỏng ZnO là một bước thành công
vượt bậc của nhóm nói riêng và ở Việt Nam nói chung.
Trong thời gian ngắn hạn, các kết quả mà luận văn thu
được còn khiêm tốn và còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu thêm
trong tương lai.

22


DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
1. Tran Van Dung, Hoang Ha, Hoang Thi Thanh Tam, Vu
Thi Dung, Nguyen Van Dung, Do Hong Minh, Vu Thi Huyen
Trang, Nguyen Quang Hoa, Bui Nguyen Quoc Trinh,
Investigation structural and Ferroelctric Properties of
Bi3.25La0.75Ti3O12 Thin films, Journal of Science and
Techlology 54(1A) 2016 80-87.
2. Nguyen Quang Hoa, Nguyen Thi Xuyen, Vuong Quoc Viet,
Vu Thi Huyen Trang, Hoang Ha, Hoang Thi Thanh Tam, Vu
Thi Dung, Tran Van Dung, Bui Nguyen Quoc Trinh, Study
on ITO Thin films Prepared by multi-Annealing Technique,
Journal of Science and Techlology 54(1A) 2016 136-142.
3. Trần Văn Dũng, Vũ Thị Huyền Trang, Vũ Thị Dung,
Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Thanh
thủy, Nguyễn Quang Hòa, Đõ Hồng Minh, Bùi Nguyên Quốc
Trình, Khảo sát chế tạo màng mỏng nano LaNiO3 trên lá Al
thay thế đế Si trong tích hợp tụ điện sắt điện, Advances in
Applied and Engineering Physics IV-Publishing house for
Science and Technology 2016.
4. Hoàng Hà, Hoàng Thị Thanh Tâm, Trần Văn Dũng,
Nguyễn Quang Hòa, Nguyễn Thị Thu Thủy, Nguyễn Ngọc
Đỉnh, Bùi Nguyên Quốc Trình, Thiết kế chế tạo hệ AP Plasma
lạnh sử dụng khí nitơ định hướng ứng dụng trong bảo quản
hoa quả, Advances in Applied and Engineering Physics IVPublishing house for Science and Technology 2016.

23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×