Tải bản đầy đủ

Nâng cao ý thức pháp luật cho học viên trung tâm giáo dục nghề nghiệp giáo dục thường xuyên huyện mường la, tỉnh sơn la trong giai đoạn hiện nay

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

VỪ THỊ DI

NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN TRUNG TÂM
GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN
HUYỆN MƢỜNG LA, TỈNH SƠN LA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

VỪ THỊ DI

NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN TRUNG TÂM
GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN

HUYỆN MƢỜNG LA, TỈNH SƠN LA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: XH2b

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn: Th.S Đèo Thị Thủy

SƠN LA, NĂM 2017


LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới cô ThS. Đèo Thị Thủy - giảng viên
hướng dẫn đề tài, cô đã rất nhiệt tình giúp đỡ em, chỉ bảo tận tình chu đáo, hướng dẫn
em trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Trường Đại học Tây
Bắc, các thầy cô trong khoa Lý luận Chính trị và các phòng ban nhà trường đã tạo điều
kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài.
Em xin cảm ơn các thầy cô giáo trong Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục
Thường xuyên huyện Mường La, tỉnh Sơn La đã tạo điều kiện giúp đỡ em, cung cấp số
liệu và những thông tin cần thiết về đề tài trong quá trình nghiên cứu.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo chủ nhiệm Đỗ Huyền Trang và
các bạn sinh viên lớp K54 - ĐHGD Chính trị cùng gia đình đã động viên giúp đỡ em
hoàn thành đề tài này.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn hội đồng nghiệm thu đề tài.
Do những điều kiện khách quan và chủ quan nên bản thân đề tài này chắc chắn sẽ
còn nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô
giáo để đề tài được hoàn thiện hơn.
Sơn La, tháng 5 năm 2017
Ngƣời thực hiện đề tài

Vừ Thị Di


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
UBND: Uỷ ban nhân dân
TTGDNN - GDTX: Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục Thường xuyên
Nxb: Nhà xuất bản



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..........................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ..........................................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu ....................................................................................................2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận. ..........................................................3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. ...............................................................................4
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. ..................................................................4
6. Đóng góp của khóa luận. ..............................................................................................4
7. Kết cấu của khóa luận. ..................................................................................................4
CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO
HỌC VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY ..........................................................6
1.1. Khái niệm và đặc điểm của ý thức pháp luật ............................................................6
1.1.1. Khái niệm pháp luật và ý thức pháp luật ................................................................6
1.1.1.2. Khái niệm ý thức pháp luật .................................................................................6
1.1.2. Đặc điểm của ý thức pháp luật .............................................................................10
1.2. Kết cấu và vai trò của ý thức pháp luật ...................................................................13
1.2.1. Kết cấu của ý thức pháp luật ................................................................................13
1.2.2. Vai trò của ý thức pháp luật..................................................................................15
Tiểu kết chương 1 ...........................................................................................................18
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO
HỌC VIÊN TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC THƢỜNG
XUYÊN HUYỆN MƢỜNG LA, TỈNH SƠN LA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY ................................................................................................................................19
2.1. Khái quát chung về học viên Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục Thường
xuyên huyện Mường La, tỉnh Sơn La .............................................................................19
2.1.1. Sơ lược về Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục Thường xuyên huyện
Mường La, tỉnh Sơn La...................................................................................................19
2.1.2. Đặc điểm của học viên Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục Thường xuyên
huyện Mường La, tỉnh Sơn La ........................................................................................21
2.2. Thực trạng ý thức pháp luật của học viên Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo
dục Thường xuyên huyện Mường La, tỉnh Sơn La ........................................................24
2.3. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng ý thức pháp luật của học viên Trung tâm giáo
dục nghề nghiệp - giáo dục Thường xuyên huyện Mường La, tỉnh Sơn La ..................41


2.4. Ý nghĩa của việc nâng cao ý thức pháp luật cho học viên Trung tâm giáo dục nghề
nghiệp - giáo dục Thường xuyên huyện Mường La, tỉnh Sơn La .................................44
Tiểu kết chương 2 ...........................................................................................................46
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT
CHO HỌC VIÊN TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC
THƢỜNG XUYÊN HUYỆN MƢỜNG LA, TỈNH SƠN LA TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY .....................................................................................................................47
3.1. Một số giải pháp để nâng cao ý thức pháp luật cho học viên Trung tâm giáo dục
nghề nghiệp - giáo dục Thường xuyên huyện Mường La, tỉnh Sơn La ........................47
3.1.1. Tăng cường sự lãnh đạo đối với công tác nâng cao ý thức pháp luật cho học viên
Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục Thường xuyên huyện Mường La, tỉnh Sơn
La .....................................................................................................................................47
3.1.2. Kết hợp nâng cao ý thức pháp luật với giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức lối
sống cho học viên Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục Thường xuyên huyện
Mường La, tỉnh Sơn La...................................................................................................48
3.1.3. Đổi mới nội dung, chương trình giáo dục ý thức pháp luật cho học viên Trung
tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục Thường xuyên huyện Mường La, tỉnh Sơn La ..50
3.1.4. Đổi mới hình thức, phương pháp giáo dục, tuyên truyền ý thức pháp luật cho
học viên Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục Thường xuyên huyện Mường La,
tỉnh Sơn La ......................................................................................................................52
3.1.5. Tăng cường các nguồn lực hỗ trợ cho công tác tuyên truyền ý thức pháp luật cho
học viên Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục Thường xuyên huyện Mường La,
tỉnh Sơn La ......................................................................................................................54
3.1.6. Tăng cường giáo dục nâng cao ý thức pháp luật cho học viên Trung tâm giáo
dục nghề nghiệp - giáo dục Thường xuyên huyện Mường La, tỉnh Sơn La thông qua
gia đình, trung tâm và các tổ chức chính trị - xã hội ......................................................55
3.2. Kiến nghị ..................................................................................................................57
Tiểu kết chương 3 ...........................................................................................................60
KẾT LUẬN ....................................................................................................................61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Xếp loại hạnh kiểm và học lực của học viên năm học 2014 - 2017 .............21
Bảng 1.2: Số lượng học viên các dân tộc năm học 2016 - 2017....................................24
Bảng 2.1: Thái độ của học viên đối với pháp luật..........................................................26
Bảng 2.2: Thực trạng hiểu biết pháp luật của học viên ..................................................29
Bảng 2.3: Kết quả học tập môn giáo dục công dân của học viên ..................................31
Bảng 2.4: Ý kiến của học viên về các hành vi vi phạm pháp luật .................................34
Bảng 2.5: Thái độ và hành vi của học viên trước các tình huống pháp luật..................36
Biểu đồ 2.1: Thái độ của học viên khi tham gia các hoạt động ngoại khóa ..................39
Biểu đồ 2.2: Tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục ý thức pháp
luật cho học viên .............................................................................................................40
Biểu đồ 2.3: Đánh giá của học viên về biểu hiện ý thức pháp luật của học viên hiện
nay ...................................................................................................................................41


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, vấn đề chính quyền và việc xây
dựng, hoàn thiện một nhà nước kiểu mới, nhà nước của dân, do dân và vì dân luôn là
mối quan tâm hàng đầu, là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta. Đặc biệt là
sự phát triển đất nước trong giai đoạn đổi mới và vận hành theo nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa đang đặt ra yêu cầu xây dựng một nền dân chủ, đảm bảo
quyền tự do, bình đẳng của công dân, cũng như yêu cầu cải cách bộ máy nhà nước,
xây dựng hệ thống pháp luật càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Pháp luật đã góp
phần đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế, duy trì và tạo được một số chuyển biến về
mặt xã hội, góp phần không nhỏ vào việc củng cố tiềm lực quốc phòng, giữ vững an
ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo thế và lực đưa nước ta hội nhập thế giới.
Chúng ta cũng đang từng bước xây dựng, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống
pháp luật cho phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới. Nhiều văn bản pháp luật đã và
đang đi vào cuộc sống, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Điều đó càng khẳng định
pháp luật ngày càng hoàn thiện hơn, hoạt động tuyên truyền pháp luật được phổ biến
rộng rãi hơn thì ý thức pháp luật sẽ được nâng lên, sự định hướng hành vi cho mọi
công dân cũng sẽ tốt hơn.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, tại Hội nghị Trung ương toàn
quốc giữa nhiệm kì khóa VII, Đảng ta đã xác định: Tăng cường giáo dục ý thức pháp
luật, nâng cao hiểu biết và ý thức thực hiện pháp luật, sống và làm việc theo Hiến pháp
và pháp luật, đảm bảo cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm minh, thống nhất
và công bằng. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “Nhà nước
quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức và mọi công
dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật”. “Phát huy dân chủ đi đôi với giữ
vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên
truyền, giáo dục toàn dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật”. [3, tr. 135]
Sơn La là một tỉnh nằm ở miền Tây bắc của Tổ quốc, là nơi chưa có nhiều điều
kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, song Sơn La là một tỉnh luôn thực hiện tốt
mọi chủ chương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước để cùng với
cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tất cả vì mục tiêu
1


dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mường La là một trong những
huyện của Sơn La mà trong những năm gần đây đời sống của nhân dân ngày càng
được cải thiện. Tuy nhiên, trước sự mở rộng hội nhập của đất nước nói chung và
huyện Mường La nói riêng đã tác động rất nhiều đến lối sống, suy nghĩ của nhiều
người trong đó có học viên Trung Tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục Thường xuyên
huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
Hiện nay tội phạm, tệ nạn xã hội liên quan đến an toàn giao thông, trộm cắp, ma
túy trong độ tuổi thanh, thiếu niên có chiều hướng gia tăng. Phần lớn là số người vi
phạm trong độ tuổi thanh niên, học sinh, tỷ lệ thanh, thiếu niên mắc các tệ nạn xã hội
khá cao; học sinh, học viên vi phạm pháp luật có nhiều dấu hiệu phức tạp. Bên cạnh
tình trạng vi phạm pháp luật thì lối sống buông thả, thực dụng, hưởng thụ...đã xuất
hiện ở một bộ phận không nhỏ trong học sinh, học viên ở Mường La. Do đó, việc
nhanh chóng nâng cao ý thức pháp luật cho học sinh, học viên ở huyện Mường La, đặc
biệt là học viên Trung Tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục Thường xuyên huyện
Mường La, giúp cho các em có tri thức cần thiết và hành trang vững bước trong việc
xây dựng trường học lành mạnh, trật tự, kỷ cương; xây dựng huyện Mường La, tỉnh
Sơn La phát triển ngày càng giàu đẹp, góp phần xây dựng thành công sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là
một yêu cầu cần thiết trong tình hình hiện nay.
Xuất phát từ thực tế nêu trên, tôi đã chọn đề tài: “Nâng cao ý thức pháp luật
cho học viên Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục Thường xuyên huyện
Mường La, tỉnh Sơn La trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Việc nâng cao ý thức pháp luật cho người dân nói chung và học viên nói riêng có
ý nghĩa to lớn, tạo nên nội lực cho việc xây dựng thành công sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Do vậy, chủ đề này đã được nhiều công trình khoa học
nghiên cứu. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như: “Bàn về ý thức pháp
luật” của Hoàng Thị Kim Quế, Luật học, Trường Đại Học Luật Hà Nội, số 1/2003;
“Vấn đề nâng cao ý thức pháp luật cho học sinh các trường chuyện nghiệp ở tỉnh Yên
Bái hiện nay” - luận văn thạc sĩ của Lê Hoài Nam, người hướng dẫn: PGS.TS.Hồ
Trọng Hoài, Hà Nội, 2008; “Một số biện pháp nhằm nâng cao ý thức pháp luật phòng,
2


chống ma túy trong học sinh, sinh viên hiện nay” của Nguyễn Thị Hoàng Lan, Dân
chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, số 10/2009; “Ý thức pháp luật và xây dựng ý thức chấp
hành pháp luật về trật tự, an toàn giao thông” của Lê Thị Phương Nga, Dân chủ và
Pháp luật, Bộ Tư pháp, số 7/2009; “Ảnh hưởng của ý thức pháp luật đến việc thực
hiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay” - khóa luận tốt nghiệp của Đào Thị Tuyền,
TS.Nguyễn Văn Năm hướng dẫn, Hà Nội, 2012; “Ý thức pháp luật của thanh niên
trên địa bàn Thành Phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”, - khóa luận tốt nghiệp của
Phạm Thị Hân, người hướng dẫn: PGS.TS.Nguyễn Minh Đoan, Hà Nội, 2012; “Giáo
dục ý thức pháp luật cho học sinh trung học phổ thông ở tỉnh Yên Bái hiện nay” - luận
văn thạc sĩ Triết học của Nguyễn Thị Quỳnh Nga, người hướng dẫn: PGS.TS.Nguyễn
Đình Tường, Hà Nội, 2013... ngoài ra còn rất nhiều bài báo, bài viết về vấn đề này
được đăng trên các tạp chí, sách báo. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã làm rõ
tính cấp thiết và đề xuất những giải pháp thiết thực trong việc nâng cao ý thức pháp
luật cho nhân dân trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu
chuyên sâu về vấn đề này chưa nhiều và thời gian thực hiện cách đây đã lâu nên chưa
đáp ứng kịp thời với tình hình thực tiễn của đất nước.
Đối với vấn đề nâng cao ý thức pháp luật cho học sinh, học viên thì vẫn là một
khoảng trống để ngỏ rất ít công trình nghiên cứu, đề cập đến, đặc biệt đối với huyện
Mường La. Trong những năm gần đây tình hình kinh tế - xã hội có nhiều biến chuyển,
đời sống nhân dân không ngừng nâng cao. Bên cạnh mặt tích cực đó thì trên địa bàn
huyện cũng xuất hiện nhiều vấn đề về trật tự, an ninh, an toàn xã hội. Đặc biệt, tình
trạng phạm tội trong nhân dân không ngừng gia tăng, trong đó xuất hiện ngày càng
nhiều đối tượng phạm tội là học sinh, học viên. Trước những thực trạng đó đòi hỏi nhu
cầu bức thiết được giải đáp, định hướng về mặt lý luận những vấn đề nghiên cứu ý
thức pháp luật cho học viên ở Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục Thường
xuyên huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Điều này rất có ý nghĩa đối với học viên Trung
tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục Thường xuyên huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận
- Mục đích của khóa luận: Thông qua nghiên cứu, khảo sát, phân tích khóa luận
nghiên cứu đặc điểm, thực trạng ý thức pháp luật của học viên Trung tâm giáo dục
nghề nghiệp - giáo dục Thường xuyên huyện Mường La, tỉnh Sơn La để đánh giá sự
hiểu biết về pháp luật, ý thức pháp luật của học viên, từ đó đề xuất một số kiến nghị
3


nhằm giúp học viên nâng cao ý thức pháp luật, tránh xa các tệ nạn xã hội, không vi
phạm pháp luật.
- Nhiệm vụ của khóa luận:
+ Phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn có liên quan đến ý thức pháp luật và
vai trò của việc nâng cao ý thức pháp luật cho học viên hiện nay.
+ Phân tích thực trạng, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để nâng cao ý thức
pháp luật cho học viên Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục Thường xuyên
huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận: học viên Trung tâm giáo dục nghề nghiệp giáo dục Thường xuyên huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
- Phạm vi nghiên cứu của khóa luận:
+ Địa bàn nghiên cứu: Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục Thường xuyên
huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
+ Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 năm 2017 đến tháng 6 năm 2017
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Khóa luận dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về các vấn đề
có liên quan trong đề tài.
- Trên cơ sở phương pháp biện chứng duy vật và các phương pháp khác như:
Phân tích, tổng hợp, điều tra, khảo sát, thống kê, phỏng vấn.
6. Đóng góp của khóa luận
- Về mặt lý luận: Khóa luận góp phần làm rõ về vai trò của ý thức pháp luật và
vai trò của ý thức pháp luật cho học viên hiện nay.
- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của khóa luận nhằm tìm ra các biện pháp
tác động giúp học viên tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật hoặc được dùng
làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu cho sinh viên khoa Lý luận chính trị, Trường
Đại học Tây Bắc.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về nâng cao ý thức pháp luật cho học viên trong giai đoạn
hiện nay.

4


Chương 2: Thực trạng về nâng cao ý thức pháp luật cho học viên Trung tâm giáo
dục nghề nghiệp - giáo dục Thường xuyên huyện Mường La, tỉnh Sơn La trong giai
đoạn hiện nay.
Chương 3: Một số giải pháp để nâng cao ý thức pháp luật cho học viên Trung tâm
giáo dục nghề nghiệp - giáo dục Thường xuyên huyện Mường La, tỉnh Sơn La trong
giai đoạn hiện nay.

5


CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.1. Khái niệm và đặc điểm của ý thức pháp luật
1.1.1. Khái niệm pháp luật và ý thức pháp luật
1.1.1.1. Khái niệm pháp luật
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, thời kỳ cộng sản nguyên thủy là
thời kỳ không có Nhà nước và do vậy cũng không có pháp luật, hành vi con người và
các thành viên trong xã hội được điều chỉnh bởi các quy phạm đạo đức, phong tục, tập
quán, tín ngưỡng. Khi Nhà nước ra đời, pháp luật cũng xuất hiện và là công cụ của giai
cấp cầm quyền để quản lý xã hội.
Pháp luật là một hiện tượng xã hội có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống
chính trị của một xã hội có giai cấp. Pháp luật là công cụ sắc bén để thực hiện quyền
lực nhà nước, duy trì và bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền. Theo học thuyết Mác Lênin, pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp.
Cũng như Nhà nước, bản chất của pháp luật thể hiện rõ tính giai cấp và tính xã
hội, hai thuộc tính này có mối quan hệ mật thiết với nhau. Xét theo quan điểm hệ
thống, không có pháp luật chỉ thể hiện duy nhất tính giai cấp, ngược lại, cũng không
có pháp luật chỉ thể hiện tính xã hội.
Như vậy, hiểu pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành
hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp nắm quyền lãnh đạo và
là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo ra trật tự và ổn định trong xã hội.
Pháp luật Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hệ thống các văn bản
quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo một trình
tự thủ tục nhất định, thể hiện ý chí, nguyện vọng và lợi ích của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động, có tính chất bắt buộc chung đối với toàn xã hội nhằm điều chỉnh
các quan hệ trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
1.1.1.2. Khái niệm ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội trong xã hội có giai cấp; trong đó,
nó thể hiện tri thức và sự đánh giá về tính công bằng của những quy tắc được chấp
nhận trong một xã hội nhất định với tính cách là luật pháp, về quyền hạn và nghĩa vụ
6


các thành viên trong xã hội, về tính hợp pháp hay không hợp pháp của hành vi con
người, nó là một trong những vấn đề cơ bản, đa dạng, phức tạp của đời sống pháp luật.
Từ điển Bách khoa toàn thư của Việt Nam, định nghĩa về ý thức pháp luật được
đề cập như sau: Ý thức pháp luật là tổng hợp những quan điểm, tư tưởng học thuyết
thể hiện thái độ của con người, các nhóm xã hội, giai cấp... đối với pháp luật, pháp
chế cũng như quan điểm của họ về sự hợp pháp hay không hợp pháp trong những
hành vi của những cá nhân, tổ chức, xã hội; Ý thức pháp luật có nội dung chủ yếu:
1. Sự hiểu biết về pháp luật
2. Thái độ đối với pháp luật
3. Khả năng thực hiện, áp dụng pháp luật.
Triết học mác - xít cho rằng, ý thức pháp luật là một trong những hình thái ý thức
xã hội trong xã hội có giai cấp, nó cùng tồn tại khách quan với các hình thái ý thức xã
hội khác như đạo đức, chính trị, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học. Ý thức pháp luật tồn
tại phổ biến trong ý thức của mọi cá nhân và toàn xã hội, bản chất của nó là phản ánh
đời sống pháp luật của xã hội.
Đời sống pháp luật đó là nhu cầu cần phải điều chỉnh những hành vi có tính lặp
đi, lặp lại thường xuyên, phổ biến của con người trong đời sống xã hội nhằm bảo vệ
lợi ích của giai cấp nắm quyền lực và duy trì sự ổn định của cộng đồng xã hội. Nhu
cầu cần điều chỉnh đó được con người phản ánh một cách tích cực và sáng tạo hình
thành ý thức pháp luật.
Ý thức pháp luật hiểu theo nghĩa thông thường, theo nghĩa hẹp thì đó là ý thức
chấp hành những quy định pháp luật của con người. Quan niệm này thường được xem
như sự đánh giá chủ quan của một tập thể, cá nhân nào đó về mức độ hành vi chấp
hành của một đối tượng nhất định trong việc thực hiện pháp luật theo những quy định
trong văn bản pháp lý, đó là sự đánh giá mức độ ý thức pháp luật cao hay thấp, tốt hay
kém của họ. Cách quan niệm này vô hình chung đã đồng nhất ý thức pháp luật với một
hình thức biểu hiện cụ thể của nó. Như vậy, sẽ là quá hẹp, phiến diện vì nó chưa thể
hiện rõ được vai trò, chức năng, bản chất và kết cấu của ý thức pháp luật.
Trong lý luận khoa học, ý thức pháp luật được hiểu theo nghĩa rộng, có tính
khách quan toàn diện và khái quát cao. Tuy nhiên, do mục đích yêu cầu và phương
diện nghiên cứu khác nhau nên cho đến nay đã xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau
về ý thức pháp luật.
7


Quan niệm thứ nhất cho rằng: "Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội,
biểu thị mối quan hệ của con người đối với pháp luật" [18, tr. 130]. Đây là quan niệm
mang tính khái quát cao, nhưng lại quá chung, chưa thể đầy đủ kết cấu, nội dung và
nguồn gốc của ý thức pháp luật.
Quan niệm thứ hai: Nhấn mạnh mặt này hay mặt khác của ý thức pháp luật.
Chẳng hạn, có quan niệm tập trung nhấn mạnh cơ cấu ý thức pháp luật như: "Ý thức
pháp luật là tổng hợp những tư tưởng quan điểm pháp luật và tâm lý pháp luật. Hay
nói cụ thể hơn, là tổng hợp những nhận thức, những hiểu biết quan điểm pháp lý,
những tình cảm pháp luật cùng với sự tôn trọng và thói quen chấp hành nghiêm chỉnh
pháp luật" [23, tr. 233].
Nhấn mạnh yếu tố pháp lý của ý thức pháp luật, có quan niệm cho rằng: “Ý thức
pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những học thuyết, quan điểm, tư
tưởng, tình cảm của con người, thể hiện thái độ, sự đánh giá về tính công bằng hay
không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của pháp luật, về tính hợp pháp hay
không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người, trong các hoạt động của các cơ
quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và của các chủ thể khác” [7, tr. 326]. Có thể
nói, quan niệm này khá toàn diện nếu xét theo góc độ của người làm công tác quản lý
pháp luật. Tuy nhiên, "tính hợp pháp hay không hợp pháp" cần phải xem xét dưới giác
độ giai cấp, gắn với một thể chế Nhà nước nhất định và sự phục vụ cho giai cấp cầm
quyền nào trong xã hội. Mặt khác, quan niệm trên chỉ hàm ý áp dụng cho thể chế
chính trị xã hội chủ nghĩa, Nhà nước xã hội chủ nghĩa nó chưa phản ánh toàn diện kết
cấu nội dung ý thức pháp luật. Xét về mặt bản chất giai cấp, có quan niệm cho rằng: "Ý
thức pháp luật xã hội chủ nghĩa là tổng hòa những quan điểm quan niệm, tình cảm về mặt
pháp luật thể hiện thái độ của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động do giai cấp
công nhân lãnh đạo, đối với pháp luật, đối với những yêu cầu khác của pháp luật, đối với
các quyền và nghĩa vụ của công dân" [24, tr. 196].
Một số ý kiến khác lại thu hẹp cơ cấu của ý thức pháp luật, chỉ nhấn mạnh mặt
tri thức pháp luật như: “Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng,
quan điểm và quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ thông qua sự
hiểu biết của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật
cần phải có, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi

8


xử sự của con người cũng như trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước và tổ chức
xã hội” [1, tr. 229].
Có quan niệm chỉ tập trung nhấn mạnh ý thức của chủ thể pháp luật: "Ý thức
pháp luật là trình độ hiểu biết của các tầng lớp nhân dân về pháp luật... ý thức pháp
luật còn là thái độ đối với pháp luật, ý thức tôn trọng hay coi thường pháp luật, đó là
thái độ đối với hành vi vi phạm pháp luật và phạm tội" [20, tr. 19]. Đành rằng, ý thức
phải gắn với chủ thể với một đối tượng nhất định, song với quan niệm trên sẽ là chưa
hoàn chỉnh, bởi lẽ nó chưa đề cập đến yếu tố giáo dục, văn hóa pháp luật cũng như
chức năng quản lý xã hội của Nhà nước thông qua pháp luật. Quá nhấn mạnh khía
cạnh ngăn ngừa, răn đe trong việc thực hiện pháp luật sẽ gây tâm trạng bắt buộc và thụ
động bởi sự áp đặt của văn bản pháp luật, nó không thể hiện tính nhân đạo ưu việt của
pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Quan niệm thứ ba: Đề cập tới ý thức pháp luật một cách đầy đủ, toàn diện
hơn. Theo quan niệm này: “Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, là tổng
thể những quan điểm, khái niệm, học thuyết pháp lý, tình cảm của con người (cá
nhân, giai cấp, tầng lớp) thể hiện thái độ của họ đối với pháp luật hiện hành, trật tự
pháp luật, sự đánh giá về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không
đúng đắn của pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật trong tương lai, và
hành vi hợp pháp, hành vi không hợp pháp của cá nhân, các cơ quan Nhà nước, tổ
chức” [10, tr. 290]
Như vậy, có thể nói do mục đích nghiên cứu của các chủ thể, ý thức pháp luật
được xem xét theo những góc độ khác nhau nên nó cũng được hiểu một cách khác
nhau. Trên bình diện khoa học triết học, qua tham khảo các ý kiến nêu trên, theo mục
đích yêu cầu và nhiệm vụ đề tài, tôi tán thành với quan niệm thứ ba nêu trên. Vì quan
niệm trên không những chỉ ra được tính chất, cơ cấu và nội dung của ý thức pháp luật
mà còn đề cập đến cả nguồn gốc, mối liên hệ phổ biến, tất yếu của ý thức pháp luật đối
với đời sống xã hội.
Là một hình thái ý thức xã hội, ý thức pháp luật phản ánh sâu sắc đời sống pháp
luật, trước hết là sự phản ánh quá trình nhận thức về pháp luật, ý thức chấp hành pháp
luật của nhân dân và việc điều chỉnh hành vi của họ nhằm duy trì trật tự kỷ cương xã
hội theo pháp luật của Nhà nước. Bởi vậy, để đạt được mục tiêu "Dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" ở nước ta, đòi hỏi một mặt phải nâng cao
9


hiệu lực pháp luật xã hội chủ nghĩa, mặt khác phải đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến
giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân.
Với cách hiểu bao quát như trên, đã chỉ rõ bản chất của pháp luật là một hình thái
ý thức xã hội, có nguồn gốc xuất phát từ đời sống pháp luật của xã hội, có tính độc lập
tương đối và đồng thời cũng làm rõ nét hơn về cơ cấu và nội dung của ý thức pháp
luật. Nhận thức đúng về ý thức pháp luật có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng giúp cho
chúng ta hiểu được bản chất, vai trò to lớn của ý thức pháp luật trong đời sống xã hội
để có thái độ xử sự đúng đắn với sự tồn tại của nó.
1.1.2. Đặc điểm của ý thức pháp luật
Các đặc điểm của ý thức pháp được thể hiện như sau:
Thứ nhất, với tính cách là một hình thái ý thức xã hội - ý thức pháp luật chịu sự
quy định của tồn tại xã hội nhưng đồng thời nó cũng có tính độc lập tương đối.
Ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, do tồn tại xã hội quyết định. Công lao to
lớn của những nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác là đã phát triển chủ nghĩa duy vật lên
đến đỉnh cao, xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử và lần đầu tiên giải quyết một
cách khoa học vấn đề sự hình thành và phát triển của ý thức xã hội. C.Mác và Ph.
Ăngghen đã chứng minh rằng, đời sống tinh thần của xã hội hình thành và phát triển
trên cơ sở đời sống vật chất, rằng không thể tìm nguồn gốc của tư tưởng, tâm lý xã hội
trong bản thân nó nghĩa là không thể tìm trong đầu óc của con người mà phải tìm trong
hiện thực vật chất. Các ông cũng chỉ rõ, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức
xã hội là sự phản ánh của tồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội, những quan điểm
về chính trị, pháp luật, triết học, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật...sớm muộn cũng biến
đổi theo.
Ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức xã hội, là sự phản ánh tồn tại xã hội
từ góc độ pháp luật, thể hiện trình độ hiểu biết pháp luật và thái độ đối với pháp luật
của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân trong xã hội có giai cấp. Theo đó, ý thức pháp
luật và pháp luật là những bộ phận của kiến trúc thượng tầng, chịu sự quy định và bị
chi phối bởi các yếu tố trong cơ sở hạ tầng mà quan trọng nhất là các điều kiện kinh tế.
Vì thế, những nội dung của ý thức pháp luật và những quy định của pháp luật, xét đến
cùng, chính là phải chịu sự chi phối của các yêu cầu khách quan phát sinh trong các
quan hệ xã hội. Về điều này, C.Mác đã khẳng định: “Nhà lập pháp phải coi mình như
là nhà khoa học tự nhiên. Ông ta không làm ra pháp luật, ông ta không phát minh ra
10


chúng mà chỉ nêu chúng lên; ông ta biểu hiện những quy luật nội tại của những mối
quan hệ tinh thần thành những đạo luật thành văn có ý thức” [9, tr. 232].
Tuy nhiên, trong những điều kiện nhất định, nhiều tư tưởng pháp luật đặc biệt là
tư tưởng pháp luật khoa học có thể vượt lên trên sự quy định của tồn tại xã hội. Nếu đó
là tư tưởng pháp luật của giai cấp cầm quyền thì nó sẽ có cơ hội thuận lợi thể hiện
pháp luật và tạo ra những sự tiến bộ trong đời sống xã hội.
Ý thức pháp luật phản ánh tồn tại xã hội của một thời đại nào đó nhưng nó cũng
có tính kế thừa những yếu tố của ý thức pháp luật của thời đại trước đó.Tất nhiên
những yếu tố kế thừa có thể là tiến bộ hoặc không tiến bộ.
Thứ hai, ý thức pháp luật có mối quan hệ tác động qua lại với các hình thái ý thức xã
hội khác, nhất là đối với ý thức chính trị, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật.
Tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội thể hiện ở chỗ: Trong mỗi thời
đại lịch sử khác nhau, tùy thuộc vào bản chất của giai cấp cầm quyền mà vai trò của
các hình thái ý thức pháp luật trong đó có ý thức pháp luật khác nhau. Ý thức pháp luật
có thể chịu sự chi phối của các hình thái ý thức xã hội khác hoặc tác động chi phối
ngược lại đối với các hình thái ý thức xã hội khác. Chẳng hạn, trong xã hội phong kiến
ý thức pháp luật đóng vai trò chịu sự chi phối, trong xã hội tư sản ý thức pháp luật
đóng vai trò chi phối các hình thái ý thức xã hội khác.
Ý thức pháp luật và ý thức chính trị cùng ra đời và tồn tại trong những xã hội có
giai cấp, ý thức pháp luật vừa có tính độc lập tương đối vừa chịu sự chi phối của ý
thức chính trị. Nếu ý thức chính trị phản ánh những nguyên tắc trong mối quan hệ giữa
các tập đoàn người trong xã hội đối với quyền lực nhà nước thì ý thức pháp luật phản
ánh mối quan hệ của các cá nhân đối với nhà ý thức.
Trong mối quan hệ giữa ý thức pháp luật và ý thức đạo đức, sự giống nhau là cả
hai loại ý thức này đều phản ánh tồn tại xã hội nhưng sự khác nhau thể hiện ở phương
thức và kết quả phản ánh. Ý thức pháp luật phản ánh đời sống pháp luật của xã hội mà
kết quả phản ánh sẽ thể hiện ở quyền và nghĩa vụ mang tính bắt buộc chung để điều
chỉnh hành vi của con người. Ý thức đạo đức phản ánh tồn tại xã hội dưới dạng các
quy tắc điều chỉnh hành vi của con người bằng lương tâm và sự tự điều chỉnh, tự hoàn
thiện, tự đánh giá mang tính tự nguyện của bản thân. Mặt khác, nội dung ý thức đạo
đức không bao hàm quyền mà chỉ có nghĩa vụ, nghĩa vụ ở đây thể hiện khác với nghĩa
vụ trong ý thức pháp luật, đó là nghĩa vụ mang nhân tố chủ quan và sự tự giác của mỗi
11


người. Ý thức pháp luật và ý thức đạo đức cùng chịu sự tác động của tồn tại xã hội và
cùng tác động trở lại đối với tồn tại xã hội, chúng đều có vai trò tham gia điều chỉnh
hành vi của con người trong xã hội. Do đó, chúng có mối liên hệ, tác động qua lại với
nhau, hỗ trợ và làm tiền đề cho nhau trong sự hình thành và phát triển của nhau. Trong
đó, ý thức đạo đức có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự hình thành và nâng cao ý
thức pháp luật, nhất là đối với ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Sự khác nhau giữa ý thức pháp luật và ý thức tôn giáo thể hiện ở chỗ: Ý thức tôn
giáo là sự phản ánh hoang đường hư ảo về thế giới khách quan và gắn cho những hiện
tượng tự nhiên, xã hội trở nên thần bí, không phải do bị cưỡng chế hay ép buộc và ý
thức tôn giáo thường mang tính chủ quan của từng cá nhân trong xã hội. Bản chất của ý
thức pháp luật là sự nhận thức, đánh giá có sự điều chỉnh, có sự cưỡng chế, ép buộc của
các quy định chung mang tính khách quan trong xã hội mà bắt buộc mọi cá nhân đều
phải tuân thủ. Các Mác đã viết: Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con
người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã để lại đánh mất mình một lần nữa. Khác
với tôn giáo, ý thức pháp luật lại là sản phẩm của sự sàng lọc của con người về những
điều được coi là cần thiết, bắt buộc phải tuân theo trong mọi hoạt động, mọi ứng xử để
đảm bảo lợi ích của toàn xã hội, mà trước hết là lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Ý thức pháp luật khác với ý thức thẩm mỹ ở chỗ, ý thức thẩm mỹ là ý thức thỏa
mãn trước cái đẹp và điều này không mang tính bắt buộc chung đối với tất cả mọi
người. Trong xã hội, khó có một tiêu chuẩn chung về cái đẹp cho mọi người và nó
không mang tính cưỡng chế như ý thức pháp luật. Vì thế, ý thức thẩm mỹ cho phép
các cá nhân có sự lựa chọn rộng rãi - điều này khác với ý thức pháp luật. Nhà nước và
giai cấp cầm quyền luôn thông qua việc đặt ra quy phạm pháp luật làm chuẩn mực xử
sự cho hành vi của mỗi người trong xã hội, tức là áp đặt ý thức pháp luật cho xã hôi.
Việc không thừa nhận ý thức này có nghĩa là chống lại ý chí của Nhà nước và sẽ bị
cưỡng chế bằng các chế tài của pháp luật.
Thứ ba, ý thức pháp luật mang tính giai cấp
Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội mang tính giai cấp sâu sắc, phản
ánh đời sống pháp luật của xã hội, thông qua quan điểm, tư tưởng về pháp luật của giai
cấp cầm quyền. Nhà nước đại diện cho giai cấp cầm quyền, thể hiện ý chí của giai cấp
cầm quyền, ban hành những quy phạm pháp luật phù hợp với ý chí của giai cấp cầm
quyền, nhằm giữ gìn trật tự xã hội và bảo vệ hài hòa giữa lợi ích giai cấp và xã hội.
12


1.2. Kết cấu và vai trò của ý thức pháp luật
1.2.1. Kết cấu của ý thức pháp luật
Quá trình phân tích, làm rõ được kết cấu của ý thức pháp luật là tiền đề quan
trọng giúp chúng ta tìm ra những phương thức phù hợp tác động để nâng cao ý thức
pháp luật.
Kết cấu của ý thức pháp luật là cách thức tổ chức bên trong của ý thức pháp luật,
trong đó, giữa các nhân tố cấu thành của ý thức pháp luật vừa thống nhất với nhau vừa
tác động ảnh hưởng lẫn nhau và với các hiện tượng khác trong đời sống xã hội.
Ý thức pháp luật là hiện tượng xã hội phức tạp, theo các lát cắt khác nhau, có thể
chia ý thức pháp luật thành những yếu tố cấu thành khác nhau. Mỗi cách phân chia đều
có ý nghĩa nhất định trong việc tìm hiểu bản chất, đặc điểm và vai trò của ý thức pháp
luật. Xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ của đề tài chúng tôi theo cách tiếp cận kết cấu
ý thức pháp luật gồm hai bộ phận: Hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật.
Một là: Hệ tƣ tƣởng pháp luật
Nói đến hệ tư tưởng pháp luật là nói đến bản chất của pháp luật, nó thể hiện ý chí
của giai cấp thống trị trong xã hội có phân chia giai cấp. Hệ tư tưởng pháp luật đó là hệ
thống các quan điểm, tư tưởng của con người, phản ánh một cách sâu sắc đời sống pháp
luật theo ý chí của một giai cấp nhất định, nó được thể hiện thông qua hệ thống các
phạm trù, khái niệm, nguyên tắc...Hệ tư tưởng pháp luật là hệ thống các vấn đề mang
tính bản chất của pháp luật và quan hệ pháp luật, nó được khái quát ở tầm lý luận.
Hệ tư tưởng pháp luật bao gồm tổng thể các tư tưởng, quan điểm, học thuyết về
pháp luật. Chúng đề cập đến vai trò, bản chất giai cấp, các thuộc tính của pháp luật
cũng như mối quan hệ giữa pháp luật với dân chủ, tự do công bằng, quyền con người,
mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ pháp chế trong tổ chức và hoạt động của bộ máy
nhà nước, về nhận thức pháp luật và thực hiện pháp luật.
Trong một chế độ chính trị - xã hội ở mỗi quốc gia nhất định, hệ tư tưởng pháp
luật chính thống bao giờ cũng là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị (trong xã hội chiếm
hữu nô lệ thì giai cấp thống trị là chủ nô, xã hội phong kiến do giai cấp địa chủ thống
trị, xã hội tư bản chủ nghĩa giai cấp tư sản giữ địa vị thống trị, trong xã hội xã hội chủ
nghĩa giai cấp thống trị là giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản). Khi giai cấp cầm quyền là lực lượng tiến bộ của xã hội, có lợi ích
kinh tế - chính trị phù hợp với lợi ích căn bản của số đông các lực lượng khác trong xã
13


hội thì hệ tư tưởng pháp luật sẽ mang tính khoa học, tính cách mạng, tính dân chủ và
tính xã hội cao. Ngược lại, nó có thể trở nên lạc hậu, thậm chí phản động khi nó đối
lập với xã hội, nó sẽ là rào cản của phát triển xã hội. Tuy nhiên, hai khuynh hướng trên
nó luôn luôn chuyển hóa để trở thành ý thức pháp luật của toàn xã hội, suy cho cùng
nó phản ánh sâu sắc bản chất tồn tại xã hội do tồn tại xã hội quy định, mà đỉnh cao của
nó là lợi ích kinh tế - chính trị của giai cấp thống trị ở mỗi xã hội nhất định.
Hai là: Tâm lý pháp luật
Tâm lý pháp luật là sự phản ánh tâm trạng, cảm xúc, thái độ, tình cảm của con
người đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý.
Tâm lý pháp luật được hình thành một cách tự phát, dưới dạng tình cảm, tâm
trạng, thái độ, cảm xúc của con người đối với pháp luật. Sự tồn tại của tâm lý pháp luật
thường gắn với trạng thái tâm lý của con người, là sự phản ánh trực tiếp, những "cung
bậc" tình cảm của con người đối với các hiện tượng pháp lý cụ thể. Tâm lý pháp luật là
một bộ phận của ý thức pháp luật, so với hệ tư tưởng thì nó phong phú hơn, có tính
bền vững hơn và ít biến đổi và gắn bó chặt chẽ với thói quen, truyền thống, tập quán
của con người, của cộng đồng xã hội.
Nói đến tâm lý pháp luật là nói đến sự biểu đạt những cảm xúc, tâm trạng, thái độ
của con người đối với pháp luật, liên quan mật thiết với nhu cầu và lợi ích của con
người và mức độ biểu hiện của nó với pháp luật, mặt khác nó còn chịu sự ràng buộc
của những thói quen, truyền thống, tập quán sản xuất lao động, quan hệ kinh tế - xã
hội của con người. Bởi vậy, cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, tâm lý pháp
luật thường ít biến đổi, chậm thay đổi, nó mang tính bảo thủ, có tính bền vững cao so
với tư tưởng pháp luật. Do vậy, để xóa bỏ ý thức pháp luật lạc hậu, xây dựng ý thức
pháp luật xã hội chủ nghĩa thì không thể chủ quan tùy tiện áp đặt khiên cưỡng, ngược
lại phải kiên trì, linh hoạt, sáng tạo và cần có thời gian nhất định.
Tâm lý pháp luật đó là việc thể hiện thái độ và hành vi đối với pháp luật hiện
hành và việc chấp hành các quy định của pháp luật, đó là thái độ đồng tình hay
phản đối, thờ ơ hay trân trọng, xem thường hay tôn trọng pháp luật... Thông qua
thái độ ấy mà con người thể hiện thái độ, niềm tin, thực hiện hành vi ứng xử trước
pháp luật hiện hành.
Nói đến trạng thái của tâm lý pháp luật thì tình cảm pháp luật là nấc thang đầu
tiên, mang nặng tính cảm tính. Tuy nhiên, những giá trị và mức độ của những "cung bậc"
14


tình cảm pháp luật còn tùy thuộc vào nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích của con người trước
pháp luật, điều này được tình cảm pháp luật qua thái độ tiêu cực hay tích cực, ủng hộ hay
không ủng hộ của con người đối với pháp luật.
Tính kế thừa của truyền thống, hành vi ứng xử theo thói quen, tập quán, việc bồi
đắp và xây dựng niềm tin pháp luật là những nhân tố khá ổn định tính bền vững trong
nội dung của tâm lý pháp luật. Những yếu tố ấy được hình thành một cách lâu dài,
phức tạp và kiểm chứng qua thực tiễn, làm cơ sở cho hoạt động của con người tự tin,
kiên định và hiệu quả hơn. Vì vậy nó là những yếu tố quan trọng trong quá trình hình
thành ý thức pháp luật.
Cũng phải nói rằng, giữa tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật có mối quan
hệ qua lại khăng khít với nhau. Tâm lý pháp luật ra đời và phản ánh thái độ của con
người trước pháp luật một cách tự phát, chưa hoàn chỉnh và chịu sự chi phối của hệ tư
tưởng pháp luật. Ngược lại, sự phát triển của hệ tư tưởng pháp luật cũng chịu ảnh
hưởng của tâm lý pháp luật. Tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật là hai trình độ
phản ánh đời sống pháp luật nhưng có mối quan hệ tác động lẫn nhau trong sự hình
thành ý thức pháp luật; sự đan xen và mức độ tác động qua lại giữa hệ tư tưởng pháp
luật và tâm lý pháp luật lại còn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị xã hội của
mỗi quốc gia, dân tộc. Do vậy, để nâng cao ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa cho nhân
dân, bên cạnh việc đổi mới hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật, việc kiểm tra
giám sát thực hiện pháp luật cần phải tăng cường công tác phổ biến giáo dục pháp luật
hơn nữa cho thế hệ trẻ nhất là với đối tượng học sinh, học viên hiện nay.
1.2.2. Vai trò của ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật ra đời từ những điều kiện xã hội nhất định, phản ánh nhu cầu
điều chỉnh cũng như quá trình điều chỉnh bằng pháp luật đối với các quan hệ xã hội. Ý
thức pháp luật có tác động, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống xã hội. Tùy thuộc vào ý
thức pháp luật tiến bộ hay lạc hậu mà sự tác động của nó có vai trò tích cực hay ảnh
hưởng tiêu cực đến các mặt khác nhau của đời sống xã hội.
Ở đây, tôi tập trung phân tích vai trò của ý thức pháp luật đối với đời sống kinh
tế, chính trị, văn hóa - tư tưởng.
Thứ nhất, vai trò của ý thức pháp luật trong đời sống kinh tế. Đời sống kinh tế
của xã hội là tổng thể những mối quan hệ, tương tác lẫn nhau của con người liên quan

15


trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại sản phẩm và dịch vụ
nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người với một nguồn lực có giới hạn.
Ý thức pháp luật có thể góp phần thúc đẩy đời sống kinh tế phát triển, bởi lẽ ý
thức pháp luật là tiền đề trực tiếp để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhà
nước. Hệ thống pháp luật nhà nước nếu phản ánh đúng quy luật phát triển kinh tế,
phản ánh đúng nhu cầu và xu hướng phát triển của một chế độ kinh tế - xã hội trong
giai đoạn lịch sử nhất định thì mới có tác dụng thúc đẩy và tạo điều kiện cho các quan
hệ kinh tế - xã hội mới phát triển.
Do đó, Nhà nước với tư cách là người trực tiếp sáng tạo pháp luật trước hết phải
nhận thức được những đòi hỏi khách quan của đời sống kinh tế - xã hội thực tiễn,
những yêu cầu đặt ra trong quá trình phát triển của kinh tế - xã hội để phản ánh kịp
thời vào hệ thống pháp luật. Pháp luật là công cụ quản lý kinh tế của đất nước thông
qua việc thể chế hóa các chính sách, kế hoạch phát triển thành hệ thống các quy phạm
pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh tế đạt hiệu quả, nên việc nâng
cao ý thức pháp luật sẽ góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống luật pháp hiện hành
nhằm điều chỉnh phù hợp các quan hệ kinh tế. Nhờ hệ thống pháp luật, các chủ thể
kinh tế được đảm bảo quyền tự do và lợi ích hợp pháp, đồng thời họ cũng xác định
được nghĩa vụ và quyền hạn của mình trong sản xuất, phân phối, lưu thông và tiêu
dùng và do vậy, ý thức pháp luật của họ cũng được củng cố, nâng cao.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, sự
phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo đang diễn ra với khoảng cách ngày càng lớn,
cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt, các vấn đề kinh tế - xã hội trở nên phức
tạp và gay gắt hơn (sự cạnh tranh không lành mạnh, kinh tế phát triển mất cân đối,
phát sinh nhiều tiêu cực, hành vi tham nhũng, lãng phí và tệ nạn xã hội...). Điều này
càng cần đến sự điều chỉnh của pháp luật, đặc biệt là cần đến ý thức pháp luật tự giác,
tích cực của các chủ thể tham gia hoạt động trong nền kinh tế thị trường.
Thứ hai, vai trò của ý thức pháp luật trong đời sống chính trị. Trong điều kiện
của Nhà nước pháp quyền, pháp luật có vị trí tối thượng, ý thức pháp luật cũng giữ vị
trí quan trọng, là bộ phận ý thức xã hội chủ đạo trong hệ thống ý thức xã hội.
Ở nước ta hiện nay, ý thức pháp luật thích ứng với tính chất của Nhà nước kiểu
mới, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

16


Ý thức pháp luật giúp con người có khả năng nhận thức, đánh giá về đời sống
pháp luật với các vấn đề, như thực trạng của đời sống pháp luật hiện hành; các tài liệu,
ấn phẩm thông tin pháp lý; tình trạng pháp chế; công tác tổ chức, áp dụng và thi hành
luật pháp của các cơ quan Nhà nước; hoạt động thực hiện pháp luật của các tổ chức xã
hội, thái độ và hành vi của các tầng lớp nhân dân với pháp luật; tính hợp pháp hay
không hợp pháp trong hành vi của bản thân, của người khác; sự công bằng hay chưa
trong việc áp dụng pháp luật đối với hoạt động của các cơ quan, tổ chức xã hội; v.v...
Thứ ba, vai trò của ý thức pháp luật trong đời sống văn hóa - tư tưởng. Ý thức
pháp luật luôn có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các hình thái ý thức xã hội khác. Những
quan điểm, tư tưởng pháp luật khoa học, tiến bộ góp phần củng cố, phát huy những
nhân tố tích cực ở các hình thái ý thức xã hội khác; đồng thời khắc phục những quan
niệm không phù hợp, ảnh hưởng xấu đến lợi ích của các giai cấp, đến đời sống cộng
đồng và tiến bộ xã hội.
Ý thức pháp luật cao giúp khắc phục tình trạng xâm phạm quyền tự do dân chủ
của nhân dân. Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa đã góp phần vào cuộc đấu tranh
chung của nhân dân các dân tộc trên thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc và dân chủ,
kiên quyết chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa sôvanh
nước lớn.
Ý thức pháp luật quyết định hiệu quả của việc thực hiện pháp luật, đưa pháp luật
vào cuộc sống. Ý thức pháp luật cao là cơ sở cho những ứng xử có văn hóa của con
người khi con người có ý thức tôn trọng nhau thông qua việc nghiêm chỉnh chấp hành,
tuân thủ pháp luật.
Ý thức pháp luật được xem là điều kiện quan trọng, tiền đề tư tưởng trực tiếp
cho việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Ý thức pháp luật
cao là điều kiện để việc biên soạn, ban hành pháp luật được tiến hành nhanh chóng
và thuận lợi.
Như vậy từ những điều trình bày ở trên, có thể nói, ý thức pháp luật có vai trò to
lớn trong đời sống xã hội.

17


Tiểu kết chƣơng 1
Pháp luật là một hiện tượng xã hội có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống
chính trị của một xã hội có giai cấp. Pháp luật là công cụ sắc bén để thực hiện quyền
lực nhà nước, duy trì và bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền. Cũng như Nhà nước,
bản chất của pháp luật thể hiện rõ tính giai cấp và tính xã hội, hai thuộc tính này có
mối quan hệ mật thiết với nhau.
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa
nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp nắm quyền lãnh đạo và là nhân
tố điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo ra trật tự và ổn định trong xã hội.
Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội trong xã hội có giai cấp; trong đó,
nó thể hiện tri thức và sự đánh giá về tính công bằng của những quy tắc được chấp
nhận trong một xã hội nhất định với tính cách là luật pháp, về quyền hạn và nghĩa vụ
các thành viên trong xã hội, về tính hợp pháp hay không hợp pháp của hành vi con
người, nó là một trong những vấn đề cơ bản, đa dạng, phức tạp của đời sống pháp luật.
Ý thức pháp luật được hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng và 3 quan niệm khác
nhau. Nhận thức đúng về ý thức pháp luật có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng giúp cho
chúng ta hiểu được bản chất, vai trò to lớn của ý thức pháp luật trong đời sống xã hội
để có thái độ xử sự đúng đắn với sự tồn tại của nó.

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×