Tải bản đầy đủ

Luận văn thạc sĩ thực hiện kế toán trách nhiệm quản lý tại công ty kiểm toán và tư vấn a c

-1-

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua gần 20 năm đổi mới và hội nhập với kinh tế thế giới, kinh tế
đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa
sang nền kinh tế thò trường có sự điều tiết của Nhà Nước, các doanh nghiệp
đã và đang đối mặt với những cơ hội cũng như thách thức cho sự tồn tại của
mình.
Muốn tồn tại trong nền kinh tế có sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay,
các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao nội lực, khả năng cạnh tranh
của chính mình. Để đạt được điều đó, các nhà quản trò doanh nghiệp phải
thực hiện các phương thức quản lý sao cho các bộ phận, các thành viên trong
tổ chức của mình hoạt động nhòp nhàng, hiệu quả theo một mục tiêu chung.
Để thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của thò trường hiện nay, các
nhà quản trò cần đưa ra những quyết đònh quản lý một cách chính xác, nhanh
chóng và phù hợp với thực tế, vì vậy, phương thức quản lý theo mệnh lệnh,
giấy tờ không còn phù hợp. Thay vào đó, các doanh nghiệp phải xây dựng
trong tổ chức của mình một phương thức quản lý linh hoạt. Một tổ chức tốt là
tổ chức mà ở đó các thành viên phối hợp hoạt động một cách nhòp nhàng để
đạt được mục tiêu chung của tổ chức. Muốn vậy, các nhà quản trò trong tổ

chức cần được đánh giá đúng đắn hành vi quản lý của họ, từ đó phát huy
những yếu tố tích cực và ngăn ngừa những hạn chế trong việc đưa tổ chức
hoàn thành mục tiêu chung. Để quản lý, điều hành thành công một tổ chức
trong việc hướng đến mục tiêu chung đã đề ra, ban quản lý cấp cao phải biết
phối hợp hoạt động của các bộ phận khác nhau trong tổ chức của mình một
cách tốt nhất, cung cấp cho các nhà quản trò các bộ phận những động cơ tích
cực để họ hoạt động trong lợi ích bao trùm của tổ chức. Muốn vậy, cần phải


-2-

có những công cụ hiệu quả, kế toán trách nhiệm là một trong những công cụ
quan trọng giúp đáp ứng được yêu cầu này.
Với mong muốn nâng cao hiệu quả quản lý doanh nghiệp, cũng như
áp dụng những lý luận của khoa học kế toán vào thực tế ở một doanh nghiệp,
tác giả thực hiện đề tài : “Thực hiện kế toán trách nhiệm quản lý tại Công
ty kiểm toán và tư vấn A&C” cho luận văn tốt nghiệp sau khi hoàn tất
chương trình cao học.
Do lượng thời gian cũng như kiến thức còn hạn chế nên khi thực hiện
đề tài này, chắc chắn em không tránh khỏi sai sót. Kính mong quý thầy cô
nhận xét và góp ý để em có thể mở rộng tầm hiểu biết của mình và thực hiện
tốt hơn ở những lần nghiên cứu sau này.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu các lý luận về khoa
học kế toán, thực trạng công tác kế toán trách nhiệm quản lý của một doanh
nghiệp cụ thể, nhằm:
− Hệ thống lại những lý luận liên quan đến kế toán trách nhiệm quản lý,
như khái niệm về các trung tâm trách nhiệm, các phương pháp đánh
giá trách nhiệm quản lý và các công cụ để đánh giá thành quả quản lý
của các trung tâm trách nhiệm;…
− Tìm hiểu thực trạng tổ chức công tác kế toán trách nhiệm tại Công ty
kiểm toán và tư vấn A&C, trên cơ sở đó nhận diện ra những ưu điểm
và tồn tại về hệ thống kế toán trách nhiệm tại Công ty.
− Thiết lập một mô hình kế toán trách nhiệm thích hợp nhằm giúp cho
nhà quản trò nâng cao hiệu quả quản lý của mình. Bao gồm việc xây
dựng các trung tâm trách nhiệm quản lý, xây dựng mẫu chứng từ hạch
toán, mã hóa các bộ phận và xây dựng các mẫu báo cáo để phục vụ


-3-


cho kế toán trách nhiệm quản lý; từ đó nhà quản trò sẽ có nhiều thời
gian hơn trong việc nâng cao năng lực, mở rộng các loại hình dòch vụ
để thỏa mãn nhu cầu của thò trường.
3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ giới hạn vào việc tập trung nghiên cứu những vấn đề lý
luận về kế toán trách nhiệm quản lý kết hợp với tìm hiểu thực trạng của một
doanh nghiệp cụ thể, một bộ máy kế toán cụ thể. Từ đó, đưa ra những giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác kế toán, giúp cho các nhà quản
trò đánh giá được thành quả quản lý của mình trong việc thực hiện mục tiêu
chung.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận của chủ nghóa
duy vật biện chứng kết hợp với phương pháp lôgich, phương pháp thống kê,
phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp phỏng vấn,
phương pháp quan sát…để hệ thống hóa những vấn đề lý luận và đánh giá
thực tiễn. Thông qua đó đề xuất những giải pháp đáp ứng được mục tiêu
nghiên cứu.
5. Bố cục của luận văn
Luận văn được thực hiện bao gồm 74 trang, ngoài phần mở đầu, kết
luận bao gồm 3 chương:
Chương 1 - Những vấn đề lý luận chung về kế toán trách nhiệm quản lý
Chương 2 - Thực trạng tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm quản lý tại
Công ty kiểm toán và tư vấn A&C
Chương 3 - Một số ý kiến về xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm quản lý
tại Công ty kiểm toán và tư vấn A&C


-4-

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ
1. Mục tiêu của tổ chức và nhu cầu thông tin kế toán
1.1.Mục tiêu của tổ chức
Tổ chức có thể được khái niệm như một nhóm người cụ thể cùng liên kết
với nhau để thực hiện một hay nhiều mục tiêu chung nào đó. Một tổ chức được
thiết lập vì tập hợp một nhóm cá nhân để thực hiện một mục tiêu chung thì
thường tốt hơn là để cá nhân đó thực hiện mục tiêu của mình một cách riêng rẽ.
Mục tiêu của một tổ chức phản ảnh mối quan tâm của các thành phần liên quan
của tổ chức. Các thành phần liên quan bao gồm các chủ nợ, nhân viên, khách
hàng, các chủ phần hùn.
Các tổ chức thường được chia thành ba nhóm chính:
ƒ Tổ chức kinh tế mà mục tiêu chính là kinh doanh có lãi, như các doanh
nghiệp.
ƒ Tổ chức phi chính phủ với mục tiêu chung là hoạt động xã hội, như các
đoàn thể.
ƒ Tổ chức chính phủ có mục tiêu là phục vụ cộng đồng, phục vụ nhà nước
theo sự phân công của pháp luật như các bộ, sở…
Mỗi tổ chức đều có cấu trúc riêng dựa trên mục tiêu riêng có của mình.
Các tổ chức khi hình thành, hoạt động đều có những điểm chung sau:
ƒ Có các mục tiêu hoạt động
ƒ Có chiến lược và điều kiện để đạt các mục tiêu đó
ƒ Có người đứng đầu để điều hành sự hoạt động của tổ chức


-5-

ƒ Có cấu trúc của tổ chức để liên kết các phạm vi trách nhiệm trong nội bộ
của tổ chức đó.
ƒ Có nhu cầu về thông tin, nhất là thông tin kế toán để tồn tại và phát triển.
1.2.Nhu cầu thông tin kế toán nói chung và thông tin kế toán trách nhiệm
quản lý nói riêng đối với hoạt động của một tổ chức
1.2.1. Thông tin kế toán đối với hoạt động của một tổ chức
Thông tin là những dữ liệu đã được xử lý nhằm mang lại lợi ích cho người
nhận và sử dụng nó trong việc nâng cao hiệu quả cho việc ra quyết đònh của
mình. Bản chất của thông tin kế toán là phản ánh chi phí đã bỏ ra trong quá trình
hoạt động ở một tổ chức để đạt được các mục tiêu chung. Thông tin kế toán được
biểu hiện dưới hình thái giá trò. Để thông tin đưa ra dưới dạng hữu ích, thông tin
được tổng hợp thành các báo cáo kế toán đáp ứng cho những nhu cầu của người
sử dụng thông tin.
Bất kỳ một tổ chức nào cũng cần thông tin kế toán để tồn tại và phát
triển. Tổ chức kinh tế cần thông tin kế toán để xác đònh kết quả kinh doanh trong
kỳ hoạt động của mình. Tổ chức phi chính phủ cần thông tin kế toán để xác đònh
mức độ phục vụ của mình đối với cộng đồng, xã hội... Tóm lại, thông tin kế toán
có vai trò quan trọng trong một tổ chức.
Thông tin kế toán không những cần thiết cho người ra quyết đònh quản lý
bên trong doanh nghiệp mà còn cần cho cả những người bên ngoài doanh nghiệp
như các chủ nợ, các cơ quan, tổ chức quan tâm đến hoạt động của doanh nghiệp
nhằm phục vụ cho việc ra các quyết đònh kinh tế của họ.
1.2.2. Nhu cầu thông tin kế toán trách nhiệm quản lý đối với hoạt động của
một tổ chức


-6-

Đối với hệ thống kế toán trách nhiệm quản lý, thông tin của nó thể hiện
hành vi quản lý của các cấp quản trò khác nhau trong tổ chức. Thông qua các
dòng thông tin này các nhà quản trò ở cấp cao có thể đánh giá đúng đắn thành
quả quản lý của các nhà quản trò cấp thấp hơn trong việc thực hiện các mục tiêu
chung. Từ đó, các nhà quản trò có thể đưa ra những quyết đònh thích hợp để phát
huy những mặt tích cực và ngăn ngừa những hạn chế để đạt được những mục
tiêu chung.
Việc đánh giá trách nhiệm quản lý của các nhà quản trò các cấp có chính
xác hay không đều phải dựa trên chất lượng thông tin mà kế toán trách nhiệm
quản lý mang lại. Giá trò của thông tin được đo lường bằng kết quả từ các hoạt
động theo yêu cầu của người ra quyết đònh.
Những thông tin có chất lượng tốt là những thông tin có giá trò đối với
người sử dụng nó. Đối với thông tin do kế toán trách nhiệm quản lý cung cấp, nó
cần thể hiện rõ nguyên nhân và kết quả hoạt động của các bộ phận. Một thông
tin có chất lượng tốt cơ bản cần thỏa mãn những yêu cầu sau:
-

Tính đầy đủ

-

Tính thích hợp

-

Kòp thời

-

Đúng đắn theo yêu cầu

-

Dễ hiểu

-

Trọng yếu

-

Có liên quan tới những người có thẩm quyền

-

Thông tin chỉ có ích khi chi phí mang lại thông tin này thấp hơn giá trò sử
dụng nó.


-7-

2. Sự phân cấp trong tổ chức
Việc phân cấp, phân chia trách nhiệm trong cơ cấu của một tổ chức là xác
đònh trách nhiệm của các thành viên trong tổ chức, xác đònh quyền ra quyết đònh
của mỗi cấp bậc quản trò trong tổ chức. Sự phân cấp trong một tổ chức không chỉ
liên quan đến một số ít các nhà quản trò cao cấp mà còn liên quan đến các nhà
quản trò khác trong tổ chức.
Việc phân cấp trong một tổ chức có những ưu điểm và hạn chế như sau
+ Ưu điểm:
-

Các nhà quản trò cấp cao giảm bớt được việc giải quyết những công
việc hàng ngày để họ tập trung hơn trong việc phát triển chiến lược, ra
các quyết đònh ở mức cao hơn và phối hợp các hoạt động của tổ chức
dễ dàng hơn.

-

Việc phân cấp sẽ tạo cho nhà quản trò cấp thấp thêm kinh nghiệm
trong việc ra quyết đònh, nếu không có nhiều kinh nghiệm thực tế họ
sẽ bò hạn chế trong việc đưa ra những quyết đònh khi họ được đề bạt
lên mức cao hơn.

-

Thêm trách nhiệm và sự ủy quyền trong việc ra quyết đònh thông
thường sẽ làm gia tăng sự quan tâm trong công việc. Nó làm công việc
ngày càng thích thú và khuyến khích mọi người nỗ lực nhiều hơn trong
hoạt động.

-

Các nhà quản trò cấp thấp nói chung sẽ có nhiều chi tiết và những
thông tin hàng ngày về tình trạng hoạt động trong phạm vi trách nhiệm
của mình hơn là các nhà quản trò cấp cao. Do đó, những quyết đònh của
nhà quản trò cấp thấp thông thường dựa trên những thông tin gắn liền
với thực tế hơn.


-8-

-

Phân cấp quản lý gắn liền với xác đònh nhiệm vụ và quyền hạn ở các
cấp quản lý nên có cơ sở để đánh giá thành quả của các cấp quản lý.

+ Hạn chế:
-

Các nhà quản trò cấp thấp sẽ ra những quyết đònh mà chưa có sự am
hiểu đầy đủ về phạm vi chung. Trong khi đó, các nhà quản trò cao cấp
có ít những thông tin chi tiết về hoạt động hơn là các nhà quản trò cấp
thấp. Để tránh xảy ra việc này, tất cả các thông tin ở các cấp khác
nhau cần phải chuyển cho giám đốc điều hành và các nhà quản trò cao
cấp khác để họ có những điều chỉnh thích hợp khi cần thiết.

-

Trong một tổ chức có sự phân cấp rõ rệt có thể xuất hiện tình trạng
thiếu cộng tác giữa các nhà quản trò được phân cấp với nhau. Để tránh
tình trạng này, cần phải xác đònh rõ ràng chiến lược và phổ biến cho
toàn tổ chức.

-

Ở những nơi có sự phân cấp mạnh mẽ, các ý kiến về sự đổi mới sẽ khó
khăn hơn khi phổ biến trên toàn tổ chức. Nhiều bộ phận trong tổ chức
có thể có những ý tưởng xuất sắc nhưng nếu không có sự điều hành
mạnh mẽ ở trung tâm nó sẽ không thể chia sẻ kinh nghiệm với các bộ
phận khác.

Tổ chức cần phải thúc đẩy các cá nhân thực hiện công việc của mình phù
hợp với mục tiêu của tổ chức. Mỗi cá nhân đều có mục tiêu riêng của mình, mục
tiêu của họ không nhất thiết phải phù hợp với mục tiêu chung của tổ chức. Để
thúc đẩy các cá nhân trong tổ chức, tổ chức cần có hệ thống đánh giá công việc
của các cá nhân và thoả mãn các nhu cầu cho họ tương xứng với công sức mà họ
đã thể hiện.
3. Sự thay đổi trong môi trường kinh doanh


-9-

Ngày nay, cùng với sự thay đổi mạnh mẽ trong môi trường kinh doanh,
việc cạnh tranh ở nhiều lónh vực khác nhau đã mang tính toàn cầu thì sự thúc đẩy
công cuộc cải cách về sản xuất và chất lượng dòch vụ ngày càng trở nên cấp
bách. Song song với việc nâng cao chất lượng sản phẩm, để chiếm lónh thò
trường là sự cải cách về các phương thức quản trò một tổ chức. Việc thay đổi
mạnh mẽ này đã ảnh hưởng sâu sắc đến việc thực hành kế toán. Việc cần thiết
đầu tiên là các tổ chức cần có sự đánh giá đúng đắn về những sự thay đổi các
phương thức quản trò. Trong thập niên tám mươi của thế kỷ trước, nhiều công ty
đã thực hiện mạnh mẽ việc cách tân, bắt đầu từ môi trường quản lý“ Hệ thống
hàng tồn kho kòp thời”(Just in time inventory systems -JIT) chuyển qua môi
trường “Quản lý chất lượng toàn diện”(TQM), quá trình tái lập công ty và nhiều
chương trình quản trò khác. Khi thực hiện đúng đắn các chương trình này có thể
làm tăng chất lượng, giảm chi phí, tăng doanh số bán, nâng cao trách nhiệm với
khách hàng và gia tăng lợi nhuận.
4. Kế toán trách nhiệm quản lý
Các nhà quản trò cần có công cụ để đánh giá và khuyến khích mọi người
trong tổ chức thực hiện công việc nhằm hướng đến mục tiêu, chiến lược chung
của tổ chức. Kế toán trách nhiệm quản lý sẽ chỉ ra những khái niệm và công cụ
khác nhau được sử dụng để đánh giá, khuyến khích mọi người thực hiện công
việc của mình để hướng đến mục tiêu chung.
4.1.Vai trò của kế toán trách nhiệm quản lý trong hoạt động của doanh
nghiệp
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh việc đề ra và thực hiện các quyết
đònh quản lý một cách chính xác, kòp thời và hiệu quả là một đòi hỏi quan trọng
đối với các nhà quản trò. Do đó, việc cần nhận biết được những thông tin kinh tế


-10-

cần thiết về tình hình hoạt động kinh tế tài chính một cách đầy đủ, chính xác, và
trung thực là một yêu cầu cấp thiết.
Muốn điều hành quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được hiệu quả,
nhà quản trò cần xác lập mục tiêu, xây dựng kế hoạch và triển khai việc thực
hiện mục tiêu của mình. Trong quá trình hoạt động, nhà quản trò phải không
ngừng kiểm tra, đôn đốc và đánh giá việc thực hiện mục tiêu chung của các cấp
thừa hành thông qua việc phân tích, tính toán hiệu quả của từng hoạt động, từng
khâu, từng sản phẩm ,vv…
Kế toán trách nhiệm quản lý là một công cụ để các nhà quản trò cấp cao
đo lường và đánh giá thành quả của các nhà quản trò từng bộ phận trong việc
thực hiện mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp.
4.2.Các trung tâm trách nhiệm
Cơ sở của hệ thống kế toán trách nhiệm là sự thiết lập cho mỗi bộ phận
trong tổ chức như một trung tâm trách nhiệm riêng biệt.
Trung tâm trách nhiệm là một bộ phận trong một tổ chức mà ở đó các nhà
quản trò có quyền và trách nhiệm đối với thành quả hoạt động của trung tâm. Có
3 loại trung tâm trách nhiệm phổ biến.
Trung tâm chi phí
Là trung tâm trách nhiệm mà ở đó, người đứng đầu trung tâm này chỉ có
trách nhiệm về kiểm soát chi phí trong phạm vi quản lý của mình mà không có
quyền đối với việc tiêu thụ sản phẩm.
Trung tâm lợi nhuận
Là trung tâm trách nhiệm mà ở đó nhà quản trò trung tâm này phải chòu
trách nhiệm về lợi nhuận đạt được trong đơn vò mình. Lợi nhuận bao gồm doanh


-11-

thu trừ chi phí, do đó họ có trách nhiệm về kiểm soát doanh thu cũng như chi phí
trong phạm vi của mình.
Trung tâm đầu tư
Là trung tâm trách nhiệm mà ở đó nhà quản trò chòu trách nhiệm đối với
lợi nhuận và vốn đầu tư của đơn vò đó.
4.3. Các phương pháp nghiệp vụ cơ sở sử dụng trong kế toán trách nhiệm
quản lý
4.3.1. Lập kế hoạch
Kế hoạch là những tính toán dự kiến, cách thức huy động, sử dụng nguồn
lực tài chính và các nguồn lực khác trong một thời gian nhất đònh. Lập kế hoạch
là quá trình tập hợp thông tin để đưa ra một dự báo trong tương lai. Quá trình lập
kế hoạch là một công việc quan trọng trong hoạt động quản lý của các nhà quản
trò.
a) Lợi ích của kế hoạch
Mục tiêu của các tổ chức kinh tế là tối đa hóa lợi nhuận. Kế hoạch giúp
cho việc hoạch đònh và kiểm soát hoạt động của công ty, thông qua hai chức
năng này, nhà quản trò thực hiện mục tiêu lợi nhuận của mình.
Kế hoạch mang lại những lợi ích sau
+ Kế hoạch cung cấp những dự kiến của nhà quản trò trong một tổ chức.
+ Kế hoạch thúc đẩy các nhà quản trò phải hướng về tương lai. Chẳng
hạn, thay vì chờ đợi việc bán hàng xảy ra, người quản lý phải biết
trước vấn đề, giải quyết vấn đề trước khi chúng bế tắc.


-12-

+

Quá trình lập kế hoạch cũng thể hiện cách thức về việc phân bố các
nguồn lực cho những bộ phận, những nơi có thể sử dụng hiệu quả các
nguồn lực này.

+ Kế hoạch xác đònh mục tiêu và chiến lược, nó có thể xem như tôn chỉ
cho việc đánh giá việc thực hiện chúng.
b) Trách nhiệm và trình tự lập kế hoạch
Mỗi cấp quản trò đều có trách nhiệm đối với phạm vi kiểm soát của mình.
Họ phải có những cam kết và kiểm soát việc thực hiện chúng.Vì vậy, trách
nhiệm lập kế hoạch ở cấp nào thì nhà quản trò ở cấp đó phải thực hiện. Quá trình
này được thể hiện qua sơ đồ sau
Sơ đồ1:
Quá trình lập kế hoạch
Ban quản trò cao cấp

Nhà quản trò cấp
trung gian

Nhà quản trò cấp
cơ sở

Nhà quản trò cấp
cơ sở

Nhà quản trò cấp
trung gian

Nhà quản trò cấp
cơ sở

Nhà quản trò cấp
cơ sở

Kế hoạch được thực hiện từ cấp có trách nhiệm thấp nhất đến cấp có
trách nhiệm cao nhất. Kế hoạch cấp nào do chính nhà quản trò ở cấp đó thực
hiện rồi đệ trình lên cấp cao hơn. Khi chính những nhà quản trò ở mỗi cấp lập kế
hoạch cho cấp của mình, tức là lập kế hoạch cho chính họ, nó sẽ có những ích lợi
như:


-13-

-

Các quan điểm và ý kiến của những người quản trò các cấp đều có giá
trò với nhà quản trò cấp cao.

-

Những người trực tiếp liên quan đến hoạt động của bộ phận nào thì lập
kế hoạch cho hoạt động đó. Vì vậy, kế hoạch sẽ sâu sát với thực tế
hơn.

-

Các nhà quản trò sẽ phải có trách nhiệm hoàn thành một kế hoạch do
chính họ thiết lập hơn là thực hiện những kế hoạch của người khác.

-

Tất cả các kế hoạch các cấp đều được cấp quản lý cao hơn xem xét,
trước khi chấp thuận.

Như vậy, tất cả các cấp đều phải được tham gia quá trình lập kế hoạch.
Mỗi cấp đều góp phần cho việc lập kế hoạch thống nhất. Các nhà quản trò cao
cấp sẽ dựa trên những kế hoạch chi tiết bên dưới để quyết đònh những chính
sách lớn hơn, đồng thời giúp ích cho việc lập kế hoạch cho tổng thể toàn Công
ty.
4.3.2. Phân loại chi phí và Phân bổ chi phí
a) Phân loại chi phí
Chi phí tồn tại trong tất cả các dạng tổ chức. Đối với những nhà quản trò
thì chi phí là mối quan tâm hàng đầu, bởi vì lợi nhuận thu được nhiều hay ít chòu
ảnh hưởng trực tiếp của những chi phí phát sinh. Do đó, vấn đề đặt ra là làm sao
kiểm soát được các khoản chi phí. Nhận diện, phân tích các hoạt động sinh ra
chi phí để có thể quản lý chúng, từ đó mới có thể đưa ra những quyết đònh đúng
đắn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để phục vụ cho hệ
thống kế toán trách nhiệm quản lý, chi phí được phân loại như sau:
• Phân loại chi phí theo cách ứng xử chi phí


-14-

Nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết
đònh của nhà quản trò. Phân loại chi phí theo cách ứng xử của nó nghóa là xem
xét việc biến động chi phí khi mức độ hoạt động thay đổi. Khi mức hoạt động
kinh doanh thay đổi, các nhà quản trò cần phải thấy trước chi phí sẽ biến động tốt
hay xấu và biến động bao nhiêu tương ứng với mức hoạt động.
Theo mục đích này, chi phí được chia thành biến phí, đònh phí và chi phí
hỗn hợp.
Biến phí là những khoản mục chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với biến động
về mức độ hoạt động. Biến phí khi tính cho một đơn vò thì nó ổn đònh, không
thay đổi. Khi không hoạt động thì nó không phát sinh.
Đònh phí là những khoản chi phí không biến đổi khi mức độ hoạt động
thay đổi nhưng khi tính cho một đơn vò hoạt động căn cứ thì đònh phí hoạt động
thay đổi. Khi mức độ hoạt động tăng lên thì đònh phí cho một đơn vò hoạt động
căn cứ giảm và ngược lại.
Đònh phí bao gồm các khoản chi phí như khấu hao, tiền lương cố đònh của
bộ phận quản lý. Đònh phí không có nghóa là chi phí không thể thay đổi mà chỉ
có nghóa là nó không khả biến; vì vậy đònh phí được chia làm hai loại đònh phí
tùy ý và đònh phí bắt buộc.
Chi phí hỗn hợp là những chi phí bao hàm cả yếu tố khả biến và bất biến.
• Phân loại chi phí theo chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát
được
Đây là những khoản chi phí phản ánh phạm vi và quyền hạn của các nhà
quản trò các cấp đối với những loại chi phí.
Chi phí kiểm soát được:


-15-

Là những khoản chi phí mà nhà quản trò có thẩm quyền quyết đònh về sự
phát sinh của nó.
Chi phí không kiểm soát được:
Là những khoản chi phí mà nhà quản trò không có thẩm quyền quyết đònh
sự phát sinh chi phí, ví dụ như các khoản chi phí chung mà Công ty phân bổ.
Việc phân loại chi phí như trên giúp cho việc đánh giá trách nhiệm quản
lý của các cấp quản trò được chính xác hơn. Các nhà quản trò cấp cao thì có phạm
vi và quyền hạn rộng hơn các nhà quản trò cấp thấp hơn trong việc ra quyết đònh
và kiểm soát chi phí.
b) Phân bổ chi phí
Trong mỗi doanh nghiệp bên cạnh các chi phí phát sinh trực tiếp tại các
bộ phận, phòng ban thì tồn tại các khoản chi phí chung phục vụ cho tất cả các bộ
phận. Các khoản chi phí này không bóc tách được riêng rẻ cho từng bộ phận gọi
là chi phí chung. Để đánh giá thành quả quản lý của các bộ phận một cách tương
đối đầy đủ, các khoản chi phí này cần được phân bổ cho các đối tượng liên quan.
Có nhiều cơ sở để phân bổ chi phí chung cho các bộ phận. Tuy nhiên, sự phân bổ
đôi khi tùy tiện nên đưa đến việc phản ánh sai lệch thông tin. Để khắc phục
nhược điểm này, nhiều tổ chức ngày nay đã chọn việc không phân bổ chi phí
chung hoặc áp dụng phương pháp phân bổ dựa trên hoạt động gọi tắt là ABC
(Activity Base Costing). Theo phương pháp này các yếu tố chi phí sản xuất
chung sẽ được nhận diện theo từng loại hoạt động đã gây ra chi phí, và chính các
nguyên nhân gây ra chi phí này sẽ được lựa chọn làm tiêu thức phân bổ phù hợp
với từng loại hoạt động.
4.3.3. Phân tích chênh lệch


-16-

Một trong những yêu cầu của nhà quản trò là phải biết được tại sao họ đạt
được những thành quả và tại sao không đạt được những thành quả. Từ đó tìm
hiểu nguyên nhân và cố gắng khắc phục những hạn chế đồng thời phát huy
những ưu điểm của mình.
Phân tích chênh lệch là một công cụ hữu ích giúp cho các nhà quản trò có
thể thấy rõ được những chênh lệch quan trọng giữa kế hoạch và thực hiện, giữa
kỳ thực hiện này so với kỳ thực hiện trước. Trên cơ sở phân tích, tính toán được
chênh lệch thuận lợi và bất lợi, các nhà quản trò sẽ tập trung chú ý vào các bộ
phận, các hoạt động đi lệch khỏi mục tiêu chung để khắc phục, sửa chữa, đồng
thời phát huy và tận dụng cơ hội dựa trên những chênh lệch thuận lợi.
Để phân tích các chênh lệch được hiệu quả, cần phải thực hiện theo một
trình tự sau
+ Xác đònh chỉ tiêu cần phân tích
+ Xác đònh đối tượng cần phân tích, đối tượng cần phân tích ở đây có thểà là
chênh lệch giữa thực tế và kế hoạch, hoặc giữa thực tế kỳ này và kỳ
trước.
+ Tính toán mức độ ảnh hưởng của các nhân tố liên quan đến sự biến động.
+ Xác đònh nguyên nhân, xu hướng của sự biến động và đề ra các biện pháp
khắc phục.
Khi xem xét, phân tích các sai biệt không nên chỉ xem xét thuần túy về
mặt giá trò đối với các khoản chênh lệch này mà phải có sự phân tích kỹ lưỡng
chúng. Mức độ chênh lệch sẽ tùy thuộc vào bản chất của chênh lệch là kiểm
soát được hay không kiểm soát được và độ lớn của các chênh lệch cũng như tần
suất xuất hiện của nó.


-17-

Nếu như độ lớn và tần suất xuất hiện của các chênh lệch càng cao thì nhà
quản trò càng phải tập trung sự chú ý vào nó. Độ lớn các sai biệt xác đònh tùy
thuộc vào tính trọng yếu của nó cũng như quy mô của doanh nghiệp hoặc bộ
phận trong doanh nghiệp, đồng thời có sự chú ý đến các chênh lệch trong quá
khứ để thiết lập một giới hạn chênh lệch có thể chấp nhận được.
4.4.Các công cụ sử dụng để đánh giá trách nhiệm quản lý của các trung tâm
trách nhiệm.
4.4.1. Báo cáo thành quả quản lý của mỗi trung tâm trách nhiệm
Thành quả quản lý của mỗi trung tâm trách nhiệm được thể hiện trên một
báo cáo thành quả quản lý. Báo cáo thành quả quản lý chỉ ra kết quả hoạt động
theo thực tế có so sánh với kế hoạch và phù hợp với các trung tâm trách nhiệm
liên quan. Thông qua thông tin trong báo cáo thành quả sẽ giúp nhà quản trò
đánh giá tốt trách nhiệm quản lý của các nhà quản trò các cấp trong tổ chức do
các báo cáo này đã loại bỏ các khoản doanh thu và chi phí không kiểm soát
được.
Báo cáo thành quả thường chú ý đến việc phân tích chênh lệch.Việc phân
tích chênh lệch giữa thực hiện và kế hoạch giúp cho nhà quản trò đánh giá được
thành quả quản lý của một trung tâm chính xác và đúng đắn hơn.
a) Đánh giá trách nhiệm quản lý của trung tâm chi phí
-

Được đánh giá thông qua việc trung tâm có hoàn thành được kế hoạch và
mục tiêu đã đề ra hay không.

-

Được đánh giá qua việc phân tích chênh lệch giữa chi phí thực tế và chi
phí kế hoạch. Thành quả của các nhà quản trò trung tâm này sẽ được đánh
giá dựa vào khả năng kiểm soát chi phí của họ trong bộ phận.


-18-

-

Xác đònh các nguyên nhân chủ quan và khách quan tác động đến tình hình
thực hiện kế hoạch.
Bảng 1:
Báo cáo thực hiện chi phí của bộ phận A
Tháng (Q)
Đơn vò tính: VNĐ
Chỉ tiêu

Kế hoạch

Thực hiện

Chênh lệch
Số tiền

%

Biến phí
Biến phí kiểm soát được
+

Chi phí nguyên vật liệu

+

Chi phí nhân công

+

Chi phí ….

+

Chi phí thuê ngoài

Biến phí không kiểm soát được
+

Chi phí nguyên vật liệu

+

Chi phí nhân công

+

Chi phí ….

+

Chi phí thuê ngoài

Cộng biến phí
Đònh phí kiểm soát được
+

Chi phí bảo trì, sửa chữa

+

Chi phí nhân …

Đònh phí không kiểm soát được
Cộng đònh phí
Tổng chi phí

b) Đánh giá trách nhiệm quản lý của trung tâm lợi nhuận
Việc đánh giá thành quả quản lý của trung tâm này có thể thông qua các
mặt sau


-19-

-

Xem xét việc hoàn thành kế hoạch chỉ tiêu doanh thu, trong đó cần đánh
giá mức hoàn thành về kế hoạch doanh thu kiểm soát được và không
kiểm soát được.

-

Xem xét việc kiểm soát các khoản chi phí kiểm soát đïc có phù hợp với
kế hoạch hay không và mức độ ảnh hưởng của nó đến mục tiêu chung như
thế nào.

-

Do có thể lượng hóa được bằng tiền cả đầu vào và đầu ra, nên có thể xem
xét được trách nhiệm quản lý của người đứng đầu trung tâm này thông
qua các chỉ tiêu sau:

+ Số dư đảm phí bộ phận kiểm soát được
+ Số dư bộ phận kiểm soát được
Bảng 2:
Báo cáo kết quả kinh doanh bộ phận
Tháng (Q_)
Đơn vò tính: VNĐ
STT

Chỉ tiêu

Kế hoạch

Thực hiện

Chênh lệch
Số tiền

1

Tổng doanh thu

2

Doanh thu kiểm soát được

3

Doanh thu không kiểm soát được

4

Tổng biến phí

5

Biến phí kiểm soát được

6

Biến phí không kiểm soát được

7

Số dư đảm phí kiểm soát được

8

Số dư đảm phí không kiểm soát
được

9

Số dư đảm phí

10

Đònh phí kiểm soát được

%


-20-

STT

Chỉ tiêu

Kế hoạch

Thực hiện

Chênh lệch
Số tiền

11

Số dư bộ phận kiểm soát được

12

Đònh phí không kiểm soát được

13

Lợi nhuận bộ phận

%

c) Đánh giá trách nhiệm quản lý của trung tâm đầu tư
Trung tâm đầu tư là một dạng mở rộng của trung tâm lợi nhuận, trong đó
nhà quản trò có nhiều quyền hạn và trách nhiệm hơn, ngoài việc đưa ra quyết
đònh ngắn hạn như cơ cấu sản phẩm, giá bán, chi phí họ còn kiểm soát được các
quyết đònh về đầu tư. Do đó, ngoài việc đo lường về lợi nhuận thực hiện so với
kế hoạch, trung tâm đầu tư còn phải được đánh giá thông qua việc so sánh giữa
lợi nhuận thực hiện và tài sản đầu tư.
Chúng ta xem xét các chỉ tiêu đánh giá thành quả của trung tâm đầu tư
+ Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI)
Là tỷ lệ giữa lợi nhuận trước thuế so với vốn đầu tư đã sử dụng để tạo ra
lợi nhuận đó ở một trung tâm đầu tư:
ROI =

Lợi nhuận trước thuế
Vốn đầu tư

X 100 %

Mặc dù chỉ tiêu ROI được sử dụng rộng rãi để đánh giá thành quả quản lý
của trung tâm đầu tư nhưng chỉ tiêu này cũng còn một số hạn chế như sau:
-

Chỉ tiêu này chỉ chú trọng đến việc thực hiện ngắn hạn hơn là quá trình
sinh lợi dài hạn.

-

Nó đã bỏ qua sự ảnh hưởng của thời giá tiền tệ nên không phù hợp đến
việc phân tích vốn đầu tư

-

Chỉ tiêu này không tính đến chi phí sử dụng vốn.


-21-

-

Không khuyến khích các nhà quản trò các bộ phận hướng đến mục tiêu
chung.

+ Lợi nhuận còn lại (RI)
Là số tiền còn lại sau khi trừ đi chi phí sử dụng vốn
RI = Lợi nhuận – chi phí sử dụng vốn
RI = Lợi nhuận – (vốn đầu tư x %chi phí sử dụng vốn)
Chỉ tiêu RI là chỉ tiêu thường dùng để khắc phục hạn chế của chỉ tiêu ROI
trong việc đánh giá thành quả của trung tâm đầu tư. Tuy nhiên, chỉ tiêu này phản
ánh số tuyệt đối nên không thể sử dụng để đánh giá thành quả của các trung tâm
có quy mô khác nhau. Để khắc phục nhược điểm này ta nên dùng chỉ tiêu tỷ lệ
lợi nhuận còn lại trên vốn (%RI)
Là tỷ lệ giữa lợi nhuận còn lại so với vốn đầu tư
%RI =

RI
Vốn đầu tư

x 100 %


-22-

Kết luận chương 1
Trong một tổ chức nhu cầu về thông tin tài chính là một yêu cầu vô cùng
cấp thiết. Thông tin có chất lượng tốt sẽ giúp cho nhà quản trò doanh nghiệp đề
ra các quyết đònh chính xác và kòp thời.
Để đáp ứng với sự thay đổi mạnh mẽ trong môi trường kinh doanh, các
doanh nghiệp đã đưa nhiều phương thức quản lý mới vào thực hiện. Đối với các
doanh nghiệp kinh doanh có quy mô lớn, việc phân cấp, phân quyền cho các cấp
diễn ra hết sức mạnh mẽ. Có như thế, các nhà quản trò cấp cao mới giành nhiều
thời gian vào công việc phát triển chiến lược cho doanh nghiệp. Kế toán trách
nhiệm quản lý là một công cụ để các nhà quản trò đánh giá thành quả quản lý
của các cấp đúng đắn và đầy đủ. Trên cơ sở đó kiểm soát doanh thu, chi phí, vốn
đầu tư một cách hiệu quả hơn.
Trong một tổ chức kinh doanh, có thể phân chia thành 3 trung tâm trách
nhiệm là trung tâm chi phí, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư. Để đánh giá
thành quả của các trung tâm này, cần có các công cụ khác nhau. Muốn vậy, phải
phân biệt rõ các chỉ tiêu thuộc quyền kiểm soát của người đứng đầu trung tâm
như chi phí kiểm soát được và không kiểm soát được, chi phí biến đổi, chi phí cố
đònh…. Việc phân đònh được các chỉ tiêu theo quyền kiểm soát giúp cho việc
đánh giá thành quả của người đứng đầu các bộ phận một cách khách quan khi đã
loại trừ các yếu tố không thuộc quyền kiểm soát của họ.
Khi đánh giá được đầy đủ và chính xác thành quả quản lý của các trung
tâm, nhà quản trò cao cấp sẽ có những phương thức quản lý thích hợp đến việc
thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức.


-23-

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HỆ THỐNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI
CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN A&C
1. Giới thiệu khái quát về Công ty kiểm toán và tư vấn A&C
Công ty kiểm toán và tư vấn A&C (gọi tắt là công ty) là Doanh nghiệp
nhà nước (DNNN) thuộc Bộ Tài Chính. Ra đời từ năm 1992, trải qua hơn 10 năm
tồn tại và phát triển công ty đã có những thành công nhất đònh. Hiện tại, công ty
đang trở thành một trong những doanh nghiệp hàng đầu tại chuyên cung cấp
dòch vụ kiểm toán, thực hiện các dòch vụ tư vấn thuộc lónh vực quản trò doanh
nghiệp - tài chính - kế toán - thuế - đầu tư.
Công ty được thành lập để hoạt động, thực hiện dòch vụ kiểm toán, kế
toán, tài chính nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, tạo việc làm ổn đònh, nâng
cao thu nhập cho người lao động, đóng góp vào ngân sách nhà nước và phát triển
Công ty ngày càng lớn mạnh.
Hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính là một lónh vực mới ra đời từ khi
mở cửa nền kinh tế hội nhập với thế giới. Quá trình hình thành và phát triển của
công ty gắn liền với sự phát triển kinh tế của đất nước trong thời kỳ đổi mới. Với
việc thu thập có chọn lọc những kiến thức, kinh nghiệm của các chuyên gia và
qua quá trình hoạt động thực tiễn, Ban Giám đốc công ty xây dựng được một đội
ngũ nhân viên luôn nhiệt tình công tác, có trách nhiệm và tận tâm với khách
hàng của mình.Vì vậy, công ty luôn được khách hàng tín nhiệm.
Công ty đã xây dựng được một tiêu chuẩn về quản lý chất lượng công
việc phục vụ cho chính hoạt động của mình và không ngừng cải tiến để thích
ứng với tình hình mới.
2. Cơ cấu tổ chức công ty – trách nhiệm và quyền hạn của các phòng ban


-24-

2.1. Sơ đồ tổ chức công ty theo chức năng
Giám Đốc

Sơ đồ2:

Phó


Trưởng
phòng

Trưởng
phòng
kế toán

Trưởng
phòng

Phòng
kiểm
toán 2

Phòng
kiểm
toán 4

Phó


Trưởng
phòng
HCQT

Trưởng
phòng

Phòng
dòch vụ
kế toán

Phòng
kiểm
toán 1

Phó


Trưởng
phòng

Phòng
kiểm
toán 5

Phó


Trưởng
phòng

Phòng
kiểm
toán 3

Phòng
kiểm
toán
XDCB

2.2. Nhiệm vụ và quyền hạn của những người đứng đầu các bộ phận
ƒ Giám đốc công ty
+ Là người đại diện cho Nhà nước lãnh đạo Công ty. Chòu trách nhiệm cao
nhất về thực hiện các mục tiêu chung của Công ty trước Bộ Tài chính.
+ Là người đại diện theo pháp luật của công ty, với quyền hạn này, giám
đốc là người chòu trách nhiệm ký hợp đồng kiểm toán.


-25-

+ Quyết đònh phương án hoạt động, chính sách đối nội, đối ngoại và phát
triển công ty.
+ Giám đốc là người trực tiếp giao kế hoạch thực hiện doanh thu cho các
phòng kiểm toán.
ƒ Các phó Giám đốc phụ trách bộ phận kiểm toán báo cáo tài chính
Hiện tại, bộ phận kiểm toán có 5 bộ phận trực thuộc (phòng kiểm toán).
Số lượng phó giám đốc phụ trách kiểm toán báo cáo tài chính gồm 3
người. Trong đó;
+ Hai phó giám đốc phụ trách 4 phòng kiểm toán. Mỗi người phụ trách 2
phòng kiểm toán
+ Một phó giám đốc phụ trách phòng kiểm toán còn lại.
Quyền hạn các phó giám đốc phụ trách bộ phận kiểm toán
+ Khai thác thò trường – khách hàng, đảm bảo công việc cho nhân viên, chòu
trách nhiệm chính trong công tác chỉ đạo và thực hiện chỉ tiêu doanh thu
đối với các đơn vò được phân công quản lý. Các phó giám đốc sẽ là người
đàm phán hợp đồng. Nhưng việc ký hợp đồng kiểm toán do Giám đốc
quyết đònh.
ƒ Phó giám đốc phụ trách bộ phận kiểm toán xây dựng cơ bản
+ Xây dựng kế hoạch khách hàng, doanh thu và các biện pháp thực hiện.
Có nhiệm vụ thựïc hiện chỉ tiêu doanh thu mà giám đốc đã giao.
+ Thiết lập hệ thống cộng tác viên thường xuyên và ổn đònh nhằm tạo điều
kiện mở rộng loại hình dòch vụ, nâng cao chất lượng dòch vụ cung cấp cho
khách hàng. Có quyền đề nghò mức chi giao tiếp, bồi dưỡng cho các cộng
tác viên để thực hiện công việc đặc thù của mình.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×