Tải bản đầy đủ

Thẻ sacombank thực trạng và chiến lược phát triển

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

NGUYỄN THANH TUYỀN

THẺ SACOMBANK THỰC TRẠNG
VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2006


1

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG THẺ VIỆT NAM

1.1
-

Lịch sử ra đời và phát triển thẻ ngân hàng


Theo nguồn của Tổ chức thẻ quốc tế VISA (là tổ chức sở hữu một

trong những thương hiệu thẻ ngân hàng có uy tín nhất trên thế giới hiện nay)
nghiên cứu về lịch sử phát triển thẻ ngân hàng trên thế giới đã ghi nhận vào
năm 1914, một công ty điện báo hàng đầu của Mỹ là Western Union trong nỗ
lực cải thiện chất lượng dịch vụ đã cấp cho những khách hàng thân thuộc
những tấm thẻ bằng kim loại để thực hiện những giao dịch trên thị trường mà
người ta tin rằng đó là những tấm thẻ thanh toán đầu tiên. Tấm thẻ này là
một miếng kim loại mỏng, nhỏ được xem như “tiền kim loại” với một số thông
tin được in nổi trên thẻ bao gồm hai chức năng cơ bản là nhận dạng và lưu
trữ thông tin khách hàng. Tấm thẻ này thuận tiện cho khách hàng trong việc
gửi đi nhiều bức điện tín, có thể thanh toán ngay, và được chậm trả những
khoản thanh toán này mà không bị tính lãi. Đến cuối mỗi tháng, công ty này
liệt kê và in ra hóa đơn từng khoản thanh toán, tình hình thực hiện giao dịch
của khách hàng và gửi đến cho họ…
-

Thấy được sự tiện lợi của thẻ Western Union,vào năm 1924 công ty

General Petroleum ở California đã phát hành những tấm thẻ xăng dầu cho
công nhân và những khácch hàng chọn lọc của mình, những tấm thẻ này
cho phép khách hàng của họ thanh toán tại các cửa hàng bán xăng dầu của
công ty trên toàn nước Mỹ. Sau đó, công ty đã mở rộng dịch vụ này bao gồm
cả dịch vụ công cộng. Những tấm thẻ kim loại nói trên chính là nền tảng đầu
tiên cho sự ra đời tấm thẻ nhựa sau này.
-

Sự suy thoái kinh tế năm 1929 đã tạm ngưng việc phát triển thêm các

loại thẻ thanh toán. Tuy nhiên đến cuối năm 1930, công ty AT&T giới thiệu
thẻ Bell Credit Card một công cụ thuận tiện được thiết kế để tạo dựng lòng
trung thành của khách hàng được gọi là “Thẻ trung thực”. Sau đó, ngành


2

đường sắt, hàng không tịa Mỹ theo sự hướng dẫn của AT&T cũng đã phát
hành thẻ, tiếp đó là đến các nhà hàng, khách sạn,cửa hiệu…
-


Hoạt động nghiệp vụ thẻ thanh toán qua ngân hàng trên thế giới ra đời

vào năm 1946, nhưng nó chỉ thực sự trở thành bước ngoặt trong ngành dịch
vụ tài chính ngân hàng vào năm 1949 khi Frank Mc Namara, một chủ doanh
nghiệp người Mỹ đã phát minh ra thẻ thanh toán mang tên Dinner’s Club. Sự
ra đời của thẻ thanh toán này liên quan đến một câu chuyện về Mc Namara
mà sau này nó đã trở nên nổi tiếng và được nhiều người biết đến. Một lần
Mc Namara mời những khách hàng của mình đến dùng bữa tối tại nhà hàng
Mahatan ở New York, sau khi bữa tiệc kết thúc, hóa đơn thanh toán được
mang đến, ông hết sức bối rối vì phát hiện số tiền mặt trong ví không đủ để
thanh toán. Ông phải gọi điện thoại về nhà nhờ vợ đến thanh toán. Chính
tình trạng khó xử lần đó đã kiến ông quyết tâm tìm tòi,nghiên cứu và chế tạo
ra một phương tiện chi trả không dùng tiền mặt, đó là thẻ thanh toán Diner’s
Club. Với lệ phí hàng năm là 5 USD, như vậy Diner’s Club là hình thức thẻ
tín dụng đầu tiên trên thế giới. Nó cho phép chủ thẻ thanh toán toàn bộ số dư
trong vòng 60 ngày. Số lượng thẻ và doanh số thanh toán của thẻ Diner’s
Club ngày càng tăng lên và công ty phát hành thẻ nhanh chóng thu được
nhiều lợi nhuận. Thành công vượt ngoài dự kiến của Diner’s Club đã tạo tiền
đề cho hoạt động phát hành thẻ tín dụng ngân hàng mà tiên phong trong lĩnh
vực này là Franklin National Bank ở Long Island, New York vào năm 1951
với thẻ Charge-It. Thẻ này có thể sử dụng tại các cửa hàng bán lẻ ở địa
phương và có cách hoạt động khá giống với thẻ tín dụng hiện nay.
-

Đến 1955, thị trường thẻ thế giới chứng kiến sự ra đời của hàng lọat

thẻ mới như: Trip Charge, Golden Key, Gourmet Club…Đến năm 1958, công
ty Americant Express Corporation phát hành thẻ tín dụng American Express
ở Mỹ và nước ngoài. Công ty này nhanh chóng đứng đầu trong lĩnh vực thẻ
ngân hàng phục vụ cho giải trí và du lịch. Sau đó,chuỗi hệ thống khách sạn
Hilton cũng tung ra thị truờng sản phẩm thẻ Carte Blanche dành riêng cho
khách sạn của họ. Hai loại thẻ này đã thống lĩnh thị trường thẻ thế giới.


3

-

Năm 1960, một ngân hàng ở Mỹ là Bank of America phát hành thẻ

Bank Americard hình thức thẻ tín dụng tuần hoàn đầu tiên và cũng chính là
tiền thân của thẻ VISA sau này. Thẻ Bank AmeriCard cho phép chủ thẻ được
quyền chọn lựa cách thanh toán. Họ có thể trả toàn bộ số nợ hoăc thanh
toán một phần nợ hàng tháng, số tiền còn thiếu sẽ bị tính lãi. Sau đó, ngân
hàng này đã cấp phép cho các định chế tài chính trong khu vực để phát triển
thẻ mang thương hiệu Bank AmeriCard. Cùng với thời gian ngày càng nhiều
định chế tài chính được cấp phép phát hành thẻ. Vì vậy, Bank of America đã
xây dựng một số quy định và tiêu chuẩn riêng đới với các định chế tài chính
khi phát hành thẻ Bank AmeriCard.
-

Trước thành công của Bank AmeriCard, một số ngân hàng phát hành

thẻ khác ở Mỹ đã ngồi lại với nhau để tìm giải pháp cạnh tranh. Vào năm
1966, 14 ngân hàng ở Mỹ đã quyết định thành lập Hiệp Hội thẻ liên ngân
hàng, gọi là InterBank Card Association – ICA. Tổ chức này có khả năng trao
đổi thông tin về giao dịch thẻ tín dụng.
-

Đến năm 1967, bốn ngân hàng ở California đã đổi tên Hiệp hội thẻ

ngân hàng California (California BankCard Association) thành hiệp hội thẻ
ngân hàng các bang phía Tây-Western State BankCard Association (WSBA)
và kết nạp thêm các tổ chức tài chính ở phía Tây làm thành viên và thẻ của
Hiệp hội được biết đến với tên gọi là MasterCharge, đây chính là tiền thân
của tổ chức MasterCard sau này. Sau đó,WSBA cũng cho phép ICA sử dụng
tên và logo của MasterCharge. Đến cuối thập niên 1960, nhiều định chế tài
chính đã trở thành hội viên của WSBA để phát hành các sản phẩm thẻ ngân
hàng mang thương hiệu MasterCharge và cạnh tranh với thẻ Bank
AmeriCard.
-

Năm 1961, ngân hàng sanwa ở Nhật đã cho ra đời thẻ JCB (Japan

Credit Bureau) và đã nhanh chóng phát triển trên thế giới vào năm 1981.
Ngày nay JCB đã phát hành được hơn 48,4 triệu thẻ và được chấp nhận
thanh toán tại hơn 189 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới (số liệu năm
2004).


4

-

Vào giữa năm 70,nền công nghiệp thẻ ngày càng phát triển,mở rộng

phạm vi phát hành và thanh toán thẻ ra toàn thế giới vì vậy thương hiệu
“America” không còn thích hợp nữa, do đó Bank AmeriCard đã đổi tên thành
Visa international vào năm 1977 và Tổ chức Visa quốc tế ra đời từ đây. Đến
nay, Visa đã có hơn 22.000 thành viên tại 200 nuớc, phát hành hơn 500 triệu
thẻ, với 13 triệu điểm chấp nhận thanh toán thẻ và 320.000 máy rút tiền mặt,
doanh số giao dịch hằng năm khoảng 800 tỷ USD (số liệu năm 2004).
-

Năm 1979, MasterCharge cũng đổi tên thanh MasterCard và trở thành

đối thủ cạnh tranh chủ yếu cảu Visa. MasterCard là tổ chức thẻ quốc tế lớn
thứ hai sau Visa. Hiện nay MasterCard cũng đã có 22.000 thành viên tại 200
quốc gia,12 triệu điểm chấp nhận thanh toán thẻ và 200.000 máy rút tiền,
doanh số giao dịch hàng năm khoảng 460 tỷ USD (số liệu năm 2004).
-

Ngày nay, hai loại thẻ ngân hàng này được sử dụng phổ biến nhất

trên thế giới và chiếm lĩnh hoàn toàn thị truờng thẻ thế giới cả về số lượng
thẻ phát hành lẫn doanh số thanh toán thẻ.
1.2
1.2.1

Khái niệm và cấu tạo thẻ
Khái niệm thẻ: Do điều kiện ra đời và khái niệm pháp lý

về thẻ ở mỗi quốc gia có sự cạnh tranh khác nhau hơn nữa trong thuật ngữ
có nhiều cách diễn đạt khác nhau để làm nổi bật một nội dung nào đó vì vậy
có tất nhiều khái niệm khác nhau về thẻ:
-

Quan điểm thứ nhất: cho rằng thẻ ngân hàng là một trong những công

cụ đuợc sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa,dịch vụ thay thế cho tiền mặt,
hoặc có thể đuợc sử dụng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý hoặc các
máy rút tiền tự động.
-

Quan điểm thứ hai: thẻ ngân hàng được sử dụng để thanh toán là một

laọi thẻ giao dịch tài chính được phát hành bởi các ngân hàng,các định chế
tài chính.
-

Quan điểm thứ ba: thẻ được sử dụng để thanh toán là một phương

thức ghi sổ những số tiền cần để thanh toán thông qua các máy móc,thiết bị
chuyên dùng được lắp đặt tại các điểm chấp nhận thanh toán thẻ.


5

-

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đã đưa ra khái niệm về thẻ trong

Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng, ban hàn kèm theo
quyết định số 371/1999/QĐ ngày 19/10/1999. Theo đó Ngân hàng Nhà nuớc
quy định: “Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ
cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát
hành thẻ và chủ thẻ”. Từ đó có thể khái quát: Thẻ thanh toán là một phương
tiện thanh toán mà người củ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt tại các điểm
chấp nhận thanh toán thẻ. Như vậy,chủ thẻ muốn sử dụng thẻ thanh toán thì
phải mua hàng háo,dịch vụ tại các nơi có lắp thiết bị đọc thẻ. Đối với ngân
hàng,việc phát hành và thanh toán thẻ thanh toán là một hoạt động bao gồm
các nghiệp vụ cho vay,huy động vốn,thanh toán tiền trong và ngoài nước.
1.2.2Cấu tạo thẻ
Mặc dù có nhiều tên gọi và do nhiều ngân hàng khác nhau phát hành
nhưng tất cả các loại thẻ đang lưu hành trên thị trường hiện nay đều có hình
dạng và cấu tạo tương đối giống nhau. Hầu hết các loại thẻ đều có hình chữ
nhật bốn góc tròn, đuợc làm bằng nhựa ABC hoặc PC, cấu tạo bởi ba lớp
đuợc ép thường với kỹ thuật cao và có kích thươc chuẩn là
85mmx54mmx0,76mm.
-

Mặt trước của thẻ thường bao gồm các yếu tố cơ bản sau:
+ Tên và biểu tượng của ngân hàng phát hành thẻ: là tên và biểu

tượng của ngân hàng trực tiếp phát hành thẻ (Vietcombank, ACB,
Sacombank…) Đây là yếu tố bắt buộc đối với tất cả các loại thẻ nhằm phân
biệt ngân hàng phát hành thẻ.
+ Biểu tượng của tổ chức thẻ quốc tế: các huy hiệu,logo và tên của
tổ chức thẻ quốc tế (VISA, MasterCard, JCB…) dùng để phân biệt các loại
thẻ quốc tế. Ví dụ: biểu tượng của Visa là Hologam có hình con chim bồ câu
đang bay trong không gian ba chiều, của MasterCard là hình ảnh quả đại cầu
giao nhau với các lục địa…


6

Hình 2 Một số mẫu thẻ thế giới
Thẻ của hệ thống khách sạn Hilton

Thẻ American Express

-

MasterCard

Thẻ Visa

Tên chủ thẻ: đựơc in dập nổi trên mặt thẻ, là tên cá nhân (hoặc tổ

chức) được ngân hàng phát hành cấp thẻ để sử dụng.
-

Thời gian hiệu lực của thẻ: đây là khoảng thời gian ngân hàng phat

hành cho phép chủ thẻ sử dụng thẻ, thời gian này tùy thuộc vào loại thẻ và
chính sách của từng ngân hàng mà có thể là một năm, ba năm, năm năm.
Hết thời gian sử dụng thẻ, chủ thẻ phải trả lại thẻ cho ngân hàng và có nhu
cầu sử dụng tiếp thì tiến hành làm thủ tục gia hạn thẻ.
-

Số thẻ: in dập nổi trên thẻ, đây là số thẻ danh riêng cho chủ thẻ, số thẻ

này được in lại trên hóa đơn khi chủ thẻ thực hiện giao dịch thanh toán hàng
hóa, dịch vụ. tùy theo từng loại thẻ mà có chữ số khác nhau và cách cấu trúc
theo nhóm cũng khác nhau. Ví dụ số thẻ Visa thường bắt đầu bằng số 4 (số
Bin), MasterCard bắt đầu bằng số 5xxxxx
-

Thẻ EMV: được sử dụng đối với tất cả các loại thẻ thông minh, đây là

loại thẻ được nhiều người ưu chuộng nhất vì độ an toán rất cao.
-

Ngoài ra còn có thể có những yếu tố khác: các đặc điểm quy định về

tính năng an toàn của thẻ như từng tổ chức thẻ có ký hiệu riêng của minh,
hình chủ thẻ, code 10…
-

Mặt sau của thẻ gồm các yếu tố:


7

+ Dãi băng từ: gồm 3 rãnh, chứa những thông tin đã được mã hóa
theo chuẩn thống nhất như số tài khoản,tên chủ thẻ, thời hạn hiệu lực thẻ,
mã số cá nhân cảu chủ thẻ (số PIN), số thẻ, loại thẻ, tên ngân hàng phát
hành…Khi thực hiện giao dịch các các thiết bị đọc thẻ, những dữ liệu này sẽ
truyền về ngân hàng chấp nhận thẻ và thông qua mạng thông tín kết nối với
các tổ chức thẻ quốc tế, dữ liệu này sẽ được chuyển đến ngân hàng phát
hành để kiểm tra thông tin và cấp số chuẩn chi để thực hiện giao dịch.
+ Ô chữ ký dành cho chủ thẻ: việc ngân hàng páht hành yêu cầu chủ thẻ
ký tên vào mặt sau của thẻ là để xác nhận đúng người sử dụng thẻ khi thực hiện
giao dịch thanh toán hàng hóa,dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán thẻ. Theo
đó các đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ đối chiếu chữ ký trên hóa đơn và trên thẻ
xem có phù hợp không. Băng chữ ký này được làm bằng một nguyên liệu rất đặc
biệt,nếu chữ ký bị tẩy xóa thì lập tức thẻ sẽ bị khóa và không thể thực hiện được
giao dịch,lúc đó chủ thẻ yêu cầu ngân hàng cấp lại thẻ mối để sử dụng.

1.2.3

Phân loại thẻ

Hiện nay trên thị trường thế giới cũng như Việt Nam, có rất nhiều loại
thẻ khác nhau với những đặc điểm cũng như công dụng rất đa dạng và
phong phú,có thể phân loại thẻ theo một số tiêu chí sau:
* Xét theo công nghệ sản xuất: Có hai loại thẻ
-

Thẻ băng từ (Magnetic Stripe): là loại thẻ sản xuất dựa trên kỹ thuật từ

tính với một băng từ chứa ba rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ, theo đó các
dữ liệu, thông tin liên quan đến khách hàng sẽ được lưu vào trong dải băng
từ này. Những thông tin này không được mã hóa tự động nên người ta có
thể đọc được thông tin này một cách dễ dàng thông qua một thiết bị đọc thẻ
khác ngoài những POS do ngân hàng cài đặt. Hơn nữa, khu vực chứa thông
tin của thẻ rất hẹp nên không thể áp dụng được các kỹ thuật mã hóa đảm
bảo an toàn. Do đó, ngày nay các ngân hàng trên thế giới đang chuyển dần
sang phát hành thẻ EMV thay cho thẻ từ.
-

Thẻ thông minh (EMV) hay còn gọi là Smartcard: đây là loại thẻ hiện

đại nhất trên thế giới hiện nay, được áp dụng kỹ thuật bằng thao tác gắn vào


8

thẻ một bộ nhớ điện tử có kảh năng lưu trữ vào xử lý thông tin liên quan đến
khách hàng, có cấu trúc giống như một máy vi tính hoàn hảo. Thẻ thông
minh có nhiều nhóm với dung lượng nhớ của “Chip” điện tử khác nhau. Thẻ
Chip có ưu điểm hơn so với thẻ từ là hạn chế được việc sử dụng thẻ giả mạo
và gian lận. Tuy nhiên,chi phí đầu tư phát triển hệ thống thẻ thông minh cao
hơn rất nhiều so với thẻ từ.
* Xét về phạm vi sử dụng
-

Thẻ nội địa: là loại thẻ chỉ sử dụng trong phạm vi một quốc gia nơi thẻ

được phát hành, đồng tiền giao dịch trên thẻ là đồng bản tệ của quốc gia đó.
Thẻ nội đại chịu sự giới hạn về phạm vị địa lý, nên muốn mở rộng thị trường
thẻ nội địa cần phải phát triển đại lý chấp nhận thanh toán cũng như tính
năng của thẻ.
-

Thẻ quốc tế: là loại thẻ sử dụng trên phạm vi toàn cầu. Thẻ quốc tế

không bị giới hạn về phạm vi địa lý, thị phần lớn và rất tiện lợi cho khách
hàng thường xuyên đi nước ngoài. Tuy nhiên, khách hàng khi sử dụng thẻ
quốc tế thường phải chịu chi phí cao hơn so với thẻ nội địa, đặc biệt là phí
chuyển đổi ngoại tệ giữa các quốc gia. Thẻ quốc tế cũng đòi hỏi vấn đề kiểm
soát và những thủ tục thanh toán chặt chẽ hơn so với thẻ nội địa.
* Xét về tính chất thanh toán thẻ
-

Thẻ ghi nợ (Debit Card): là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với

tài khoản tiền gởi của chủ thẻ. Theo đó, khách hàng muốn sử dụng thẻ thì
phải mở tài khoản tại ngân hàng phát hành thẻ và người sử dụng thẻ chỉ
được thanh toán trong phạm vi số dư tài khoản của mình. Chủ thẻ khi sử
dụng thẻ để thanh toán hàng hóa,dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán
thẻ thì giá trị của những giao dịch sẽ đựoc khấu trừ ngay lập tức vào tài
khoản của chủ thẻ đồng thời ghi có vào tài khoản của đại lý chấp nhận thanh
toán thẻ.
-

Thẻ rút tiền mặt (Cash Card): là loại thẻ được dùng để rút tiền mặt tại

các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc ở ngân hàng bằng cách sử dụng mã số
nhận dạng cá nhân (số PIN). Thẻ rút tiền mặt cho phép người sử dụng thẻ


9

được rút số tiền tối đa bằng số tiền ký quỹ trong tài khoản và số tiền rút ra
mỗi lần sẽ được khấu trừ dần vào số tiền ký quỹ. Thẻ rút tiền mặt có hai loại:
+ Loại 1: chỉ được rút tiền tại các ATM của ngân hàng phát hành.
+ Loại 2: được sử dụng không chỉ rút tiền tại máy ATM của ngân
hàng phát hành mà còn có thể rút tiền mặt tại các ngân hàng có tham gia tổ
hợp thanh toán với ngân phát hành thẻ, nhưng thông thường chủ thẻ phải
chịu thêm phí.
-

Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ mà chủ thẻ có thể có thể sử

dụng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hay rút tiền mặt tại các đơn vị
chấp nhận thanh toán từ nguồn tiền vay của ngân hàng phát hành thẻ. Ngân
hàng phát hành thẻ sẽ căn cứ vào nhu cầu và khả năng trả nợ của chủ thẻ
để cấp cho họ một hạn mức tín dụng, chủ thẻ chỉ được sử dụng thẻ để thanh
toán trong hạn mức này và sẽ không bị tính lãi nếu hoàn trả số tiền đã sử
dụng cho ngân hàng đúng thời hạn mức này và sẽ không bị tính lãi nếu hoàn
trả số tiền đã sử dụng cho ngân đúng thời hạn quy định, nếu không hoàn trả
đúng hạn thì phải chịu một mức lãi suất trên số nợ theo quy định của ngân
hàng phát triển. Có hai loại thẻ tín dụng:
+ Loại 1: Thẻ tín dụng được đảm bảo bằng tài sản thế chấp, ký quỹ.
Chủ thẻ phải dùng tài sản của chính mình như: tiền mặt, sổ tiết kiệm, tiền gửi
ngân hàng…để đảm bảo cho khả năng trả nợ của mình.
+ Loại 2: Thẻ tín dụng được đảm bảo bằng tín chấp. Ngân hàng sẽ
dựa vào uy tín và khả năng trả nợ của khách hàng để cấp tín dụng cho họ
mà không cần thế chấp hay ký quỹ tài sản. Thẻ tín dụng tín chấp chỉ đựơc
cấp cho một số đối tượng như: những người giữ những chức vụ lãnh đạo,
cao cấp trong các tổ chức, doanh nghiệp, hoặc các cá nhân được những
công ty có uy tín đứng ra bảo lãnh.
1.3
-

Các chủ thể tham gia trong thị trường thẻ

Tổ chức thẻ quốc tế: tham gia thị trường với tư cách là người tổ chức

thị trường. Những tổ chức này đứng ra liên kết với các thành viên, đặt ra các
quy định bắt buộc các thành viên phải áp dụng và tuân theo thống nhất thành


10

một hệ thống một hệ thống toàn cầu đối với thị trường thẻ quốc tế. Theo đó,
các tổ chức này sẽ cấp giấy phép hoạt động phát hành và thanh toán các
sản phẩm thẻ mang thương hiệu của tổ chức họ, Bất cứ ngân hàng nào hiện
nay hoạt động trong lĩnh vực thẻ thanh toán quốc tế đều phải gia nhập vào
một tổ chức thẻ quốc tế.
-

Ngân hàng phát hành thẻ (Issuer): tham gia thị trường với tư cách là

người tạo ra hàng hóa (sản phẩm thẻ)trên thị trường. Để có thể hoạt động
trên thị trường, đòi hỏi ngân hàng phát hành thẻ phải được Ngân hàng Nhà
nước cho phép thực hiện hoạt động phát hành thẻ ra thị trường. Đối với các
ngân hàng phát hành thẻ quốc tế ngoài việc được phép của Ngân hàng phát
hành thẻ có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ của Tổ chức thẻ quốc
tế. Ngân hàng phát hành thẻ có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ của
khách hàng, xử lý và phát hành thẻ, mở và quản lý tài khoản thẻ của chủ thẻ,
đồng thời chịu trách nhiệm về việc thanh toán thẻ đó.
-

Ngân hàng thanh toán thẻ (Acquirer): tham gia thị trường với vai trung

gian, hoạt động như là đại lý của ngân hàng phát hành thẻ, đồng thời cũng là
thành viên chính thức hoặc thành viên liên kết của tổ chức thẻ quốc tế (đối
với thẻ quốc tế). Ngân hàng thanh toán thẻ có nhiệm vụ thực hiện các dịch
thanh toán thẻ theo hợp đồng dưới sự ủy quyền của ngân hàng phát hành
thẻ. Ngân hàng thanh toán thẻ là ngân hàng trực tiếp ký hợp đồng với các cơ
sở chấp nhận thẻ để tiếp nhận và xử lý các giao dịch về thẻ tại các đơn vị
chấp nhận thanh toán thẻ, cung cấp các dịch hỗ trợ cho đơn vị chấp nhận
thanh toán thẻ và sẽ được hưởng khoản phí hoa hổng từ ngân hàng phát
hành thẻ và đơn vị chấp nhận thẻ.
-

Chủ thẻ (Cardholder): tham gia thị trường với tư cách là người mua

hàng hóa trên thị trường. Chủ thẻ là người có tên trên thẻ do ngân hàng phát
hành thẻ cấp và được quyền sử dụng tất cả những tiện ích mà thẻ mang lại
như: thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thanh toán,
rút tiền mặt, kiểm tra số dư…đồng thời chủ thẻ có trách nhiệm thanh toán
các khoản nợ (đối với thẻ tín dụng) và trả các khoản phí cho ngân hàng (phí


11

thường niên, phí rút tiền mặt…)khi sử dụng những tiện ích của dịch vụ thanh
toán qua thẻ mà ngân hàng đã cung cấp.
-

Đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ (Merchant): là những đơn vị bán

hàng hóa,dịch vụ có ký hợp đồng với ngân hàng thanh toán thẻ để chấp
nhận thanh toán thẻ để chấp nhận thanh toán hàng hóa, dịch vụ bằng thẻ
như: cửa hàng,khách sạn,nhà hàng…Đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ tham
gia thị trường thẻ nhằm tăng lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ khác do đã
đa dạng hóa hình thức thanh toán tại đơn vị mình cũng như đáp ứng nhu cầu
của khách hàng muốn sử dụng thẻ. Các đơn vị này sẽ được ngân hàng
thanh toán trang bị những máy móc thiết bị cần thiết để tiếp nhận thẻ thanh
toán thay cho tiền mặt và phải trả cho ngân hàng thanh toán một khoản chi
phí dịch vụ khi sử dụng tiện ích này. Các chủ thể tham gia trong thị trường
thẻ có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với nhau, tất cả đều hoạt động dưới sự
kiểm soát, quản lý của các tổ chức thẻ quốc tế và cơ quan quản lý của mỗi
quốc gia nhằm giúp cho hoạt động trên thị trường thẻ diễn ra lành mạnh, góp
phần tạo điều kiện cho việc lưu thông hàng hóa tiền tệ được thực hiện một
cách nhanh chóng, hiệu quả.
1.4

Lợi ích của việc sử dụng thẻ

1.4.1 Đối với người sử dụng thẻ
-

Trước hết, sử dụng thẻ trong thanh toán sẽ mang lại sự an toàn nhiều

hơn so với sử dụng tiền mặt. Giữ tiền mặt bên mình có thể gặp rủi ro mất
cắp,tiền giả,gian lận trong thanh toán. Nhưng nếu sở hữu một chiếc thẻ
thanh toán trong tay khách hàng sẽ không gặp phải những rủi ro như trên, và
nếu trong trường hợp làm mất thẻ thì chủ thẻ có thể thông báo ngay cho
ngân hàng phát hành thẻ để phong tỏa tài khoản của mình do đó vẫn không
bị mất tiền. Người nhặt được thẻ hay đánh cắp cũng khó sử dụng được vì
thẻ có hình và chữ ký và đặt biệt là mã số nhận dạng cá nhân (PIN) chỉ có
chủ thẻ mới biết được.
-

Dịch vụ thẻ còn mang lại cho người sử dụng sự tiện ích và linh hoạt

trong thanh toán. Không cần mang theo tiền mặt bên mình, khách hàng có


12

thể mua được hàng hóa, dịch vụ tại các cửa hàng, siêu thị,nhà hàng, đặt vé
máy bay, đặt phòng khách sạn, mua hàng qua mạng Internet…mà không cần
phải đến tận nơi cung cấp. Đối với những người hay đi công tác nước ngoài
hay những gia đình có con em đi du học nước ngoài thì thẻ thanh toán là một
phương tiện thanh toán rất cần thiết để không phải mang theo một lượng
tiền mặt lớn bên mình vừa bất tiện vừa không an toàn.
-

Bên cạnh đó, với hệ thống máy ATM phục vụ 24/24, chủ thẻ có thể sử

dụng để rút tiền mặt khi có nhu cầu bất cứ khi nào mà không phải phụ thuộc
vào thời gian làm việc của ngân hàng. Các tiện ích này khách hàng có thể
thực hiện dễ dàng không chỉ phạm vi trong nước mà còn trên phạm vi toàn
cầu (đối với thẻ quốc tế). Như vậy với việc sử dụng thẻ sẽ giảm được nhiều
chi phí cũng như tiết kiệm thời gian hơn hẳn so với dùng tiền mặt.
-

Đặt biệt với thẻ tín dụng, chủ thẻ sẽ được cấp trước một khoản tiền để

sử dụng mà không bị trả lãi cho ngân hàng trong thời gian ưu đãi nấht định
tùy theo chính sách của từng ngân hàng. Theo đó,chủ thẻ có thể mua được
những hàng hóa mình muốn ngay cả khi không có tiền mà không phải làm
thủ tục vay vốn như các hình thức khác. Ngoài ra, đối với thẻ ATM số tiền
trong tài khoản của chủ thẻ sẽ được hưởng lãi suất không kỳ hạn giống như
một hình thức gửi tiết kiệm cho số tiền không sử dụng đến, và khi nào cần thì
chủ thẻ có thể dễ dàng rút ra để sử dụng. Như vậy sử dụng thẻ tiền sẽ được
sinh lời trong khi sử dụng tiền mặt thì không sinh lời.
-

Hàng tháng,ngân hàng đều gửi bản sao kê liệt kê những giao dịch đã

được thực hiện trong tháng với đầy đủ những nội dung như: gía trị giao
dịch,thời gian giao dịch, địa điểm giao dịch…mà bình thường sử dụng bằng
tiền mặt chúng ta không thể nào nhớ hết được. Do đó sử dụng thẻ giúp
chúng ta có thể kiểm soát được việc chi tiêu để từ đó lên kế hoạch và cân
đối lại ngân sách sao cho hợp lý và phù hợp với nhu cầu.
-

Bên cạnh những lợi ích tài chính trên thì những lợi ích phi tài chính mà

tấm thẻ đem lại cho người sử dụng là không thể phủ nhận được: sự văn


13

minh,tiện lợi,bộc lộ một tác phong công nghiệp,một nét văn hóa mới trong
tiêu dùng,cũng như thể hiện sự hội nhập với nên kinh tế thế giới.
1.4.2 Đối với ngân hàng phát hành thẻ
-

Dịch vụ thẻ góp phần tạo nên nguồn thu nhập cho ngân hàng phát

hành thẻ thông qua các khoản phí thu từ khách hàng như: phí thường
niên,phí chuyển tiền mặt,phí thu lãi trả chậm (đối với thẻ tín dụng), phí
chuyển đổi ngoại tệ, chânh lệch tỷ giá (đối với thẻ quốc tế).
-

Góp phần đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng,giữ chân khách hàng

cũ, thu hút thêm khách hàng mới và củng cố thêm mối quan hệ giữa ngân
hàng và khách hàng. Thông qua dịch vụ thẻ ngân hàng đã tạo điều kiện cho
khách hàng biết đến mình vì khi đã sử dụng sản phẩm, dịch vụ của một ngân
hàng thí khách hàng cũng sẽ có nhu cầu tìm hiểu thêm về ngân hàng đó
cũng như những sản phẩm,dịch vụ khác như: tín dụng,thanh toán,chuyển
tiền,gửi tiết kiệm…Đối với khách hàng mới thì đây chính là cầu nối giữa ngân
hàng với khách hàng. Mỗ khách hàng tìm đến dịch vụ thẻ của ngân hàng là
một khách hàng tiềm năng của ngân hàng, vì vậy ngân hàng vừa đa dạng
hóa được các sản phẩm,dịch vụ của mình vừa thu được nhiều lợi nhuận
hơn.
-

So với các tiện ích thanh toán không dùng tiền mặt khác (séc, ủy

nhiệm thu,ủy nhiệm chi, thư dụng, ngân phiếu thanh toán,..)chỉ đáp ứng các
đối tượng là các tổ chức và doanh nghiệp với quy mô giao dịch lớn, thẻ ngân
hàng có ưu điểm vượt trội là có khả năng phổ cập đông đảo tầng lớp dân cư
một lượng khách hàng tiềm năng rất lớn trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay.
-

Dịch vụ thẻ góp phần làm giảm các chi phí hoạt động cho ngân hàng

phát hành. Bởi lẽ việc lắp đặt một máy ATM đơn giàn và tốn ít chi phí so với
việc thành lập một phòng giao dịch truyền thống. Các ngân hàng không phải
quan tâm nhiều đến đất đai,nhà cửa,nhân viên,bảng hiệu…đó là những
khoản chi phí lớn hơn rất nhiều so với chi phí cho một máy ATM. Hơn
nữa,chi phí lao động tại các quầy giao dịch,chi phí kiểm đếm,đóng gói,bảo
quản, vận chuyển và chi trả tiền mặt cũng như những khoản chi phí không


14

nhỏ ở các ngân hàng. Ngày nay, các ATM với khả năng xử lý đa dịch vụ,các
phòng giao dịch truyền thống đã chuyển dần những nghiệp vụ có thể cho
ATM. Như vậy chi phí hoạt động của ngân hàng chắc chắn được tiết kiệm rất
nhiều.
-

Thông qua hoạt động phát hành thẻ,các ngân hàng đã huy động được

nguồn vốn nhàn rỗi đáng kể trong dân cư với chi phí thất khi họ gửi tiền vào
tài khoản thẻ. Như chúng ta đã biết đối với tiền gửi trong tài khoản thẻ ký quỹ
thanh toán ngân hàng chỉ phải trả lãi cho khách hàng với lãi suất không kỳ
hạn,thấp hơn so với lãi suất huy động từ tiền gủi tiết kiệm. Với nguồn tiền
huy động này, ngân hàng dùng để cho vay để tăng thêm thu nhập.
-

Kinh doanh thẻ là lĩnh vực có thu nhập cao mà lại có tính an toàn hơn

so với các sản phẩm truyền thống khác của ngân hàng. Đối với thẻ thanh
toán ký quỹ thì khách hàng phải nạp tiền vào tài khoản và chỉ được chi tiêu
trên số tiền đó. Đối với thẻ tín dụng thì hầu hết các ngân hàng đều yêu cầu
khách hàng phải ký quỹ tiền mặt bằng hạn mức tín dụng được cấp hoặc thế
chấp sổ tiết kiệm có số dư bằng hạn mức tín dụng được cấp, và do đó nếu
khách hàng không trả đuợc nợ thì ngân hàng cũng đã có khoản thế chấp này
để bù đắp rủi ro.
1.4.3 Đối với ngân hàng thanh toán
-

Ngân hàng thanh toán thẻ thu đuợc phí chiết khấu đại lý từ các đơn vị

chấp nhận thanh toán thẻ. Điều này một mặt góp phần làm tăng thu nhập
cho ngân hàng,mặt khác sẽ giúp ngân hàng mở rộng được đối tượng thanh
toán,và có thêm nguồn khách hàng chính là những đơn vị chấp nhận thanh
toán thẻ, vì khi các đơn vị này ký hợp đồng với ngân hàng thanh toán thì họ
cũng sẽ mở luôn tài khoản tại đây, do đó họ có thể sử dụng thêm các dịch vụ
khác mà ngân hàng cung cấp khi có nhu cầu.
-

Như vậy thông qua việc làm trung gian thanh toán các ngân hàng

thanh toán thẻ cũng đã huy động được một nguồn vốn từ tài khỏan của các
nhà bán sỉ và bán lẻ có chấp nhận thanh toán thẻ và có thể sử dụng nguồn
vốn này, vì khi thu được tiền bán hàng hóa,dịch vụ các đơn vị này có thể


15

không rút ra sử dụng ngay mà vẫn giữ trên tài khoản tại ngân hàng thanh
toán đến cuối kỳ mới sử dụng.
-

Thông qua các đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ,các ngân hàng thanh

toán có thể mở rộng thêm mạng lưới hoạt động, và có thể phát triển các sản
phẩm,dịch vụ đến tận tay người tiêu dùng hiệu quả hơn.
1.4.4 Đối với đại lý chấp nhận thanh toán thẻ: việc chấp nhận
thanh toán thẻ mang lại cho đơn vị chấp nhận thẻ rất nhiều lợi ích:
-

Thứ nhất, việc chấp nhận thanh toán bằng thẻ đã làm tăng doanh số

bán hàng và cung cấp dịch vụ cho các đơn vị chấp nhận thẻ. Thanh toán
bằng thẻ giúp khách hàng mua sắm hàng hóa nhiều hơn với giá trị cao hơn,
nhất là đối với thẻ tín dụng, khách hàng có thể mua hàng ngay khi họ chưa
có sẵn tiền mặt. Trong khi sử dụng tiền mặt thì khách hàng chỉ có thể mua
đúng với số tiền mang theo bên mình. Việc thanh toán bằng thẻ được tiến
hành nhanh gọn do đó giảm được tình trạng trả chậm cho khách hàng. Tất
cả những lợi ích trên đã giúp đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ bán được
nhiều hàng hơn,làm gia tăng doanh số cũng như lợi nhuận.
-

Thứ hai: việc thanh toán bằng thẻ giúp làm giảm các chi phí cho các

đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ như chi phí kiểm đếm tiền mặt, bảo quản
tiền mặt,chi phí đóng gói, vận chuyên tiền gửi đến ngân hàng…do đó làm
cho tiện ích của đơn vị đó tăng lên khá nhiều. Bên cạnh đó,việc thanh toán
bằng thẻ còn giúp các cửa hàng tránh rủi ro thu tiền giả,tình trạng gian
lận,mất cắp tiền trong thanh toán, giảm thời gian cho việc quản lý,thu tiền
mặt,cũng tránh được những mâu thuẫn có thể phát sinh trong việc thanh
toán bằng tiền mặt giữa các nhân viên cửa hàng,cũng như giữa nhân viên
với khách hàng.
-

Bên cạnh đó, thanh toán bằng thẻ giúp đơn vị chấn nhận thẻ tăng

được khả năng cạnh tranh của mình so với các đơn vị chỉ chấp nhận thanh
toán bằng tiền mặt. Ngày nay,xu hướng sử dụng thẻ trong thanh toán ngày
càng trở nên phổ biến. Bên cạnh lượng khách hàng trong nước thì lượng
khách nứơc ngoài đến Việt Nam không ngừng gia tăng và tất nhiên việc


16

khách hàng yêu cầu được thanh toán bằng thẻ cũng tăng lên. Do đó, nếu
các cửa hàng không có thanh toán bằng thẻ thì tất yếu khách hàng sẽ tìm
đến những cửa hàng khác có thanh toán bằng thẻ. Như vậy các cửa hàng đã
mất đi một lượng khách hàng vào tay các đối thủ khác.
-

Ngoài ra, khi chấp nhận thanh toán thẻ cho các ngân hàng, các đơn vị

sẽ đựơc trang bị những thiết bị đọc thẻ hiện đại, đội ngũ nhân viên được
huấn luyện nghiệp vụ thanh toán thẻ hoàn toàn miễn phí, được hưởng nhiều
chính sách ưu đãi từ phía ngân hàng và đặc biệt là có cơ hội đựơc tiếp cận
với những dịch vụ khác của ngân hàng. Đối với những đại lý đã gắn bó nhiều
năm và có quan hệ tốt với ngân hàng thì có thể đựơc xem xét cho vay trong
một hạn mức nào đó mà không cần thế chấp tài sản.
1.4.5 Đối với nền kinh tế-xã hội: việc sử dụng thẻ trong thanh toán
không chỉ đem lại lợi ích rất nhiều mặt cho các chủ thể tham gia mà nó còn
đem lại nhiều lợi ích cho việc điều hành chính sách vĩ mô của nền kinh tế-xã
hội.
-

Việc thanh toán bằng thẻ được tập trung qua hệ thống ngân hàng rất

an toàn,chính xác và tiết kiệm nhiều thời gian, qua đó giúp cho người dân
tiếp cận gần với ngân hàng hơn ,tạo lập được niềm tin của người dân vào
hoạt động của hệ thống ngân hàng. Nhà nước thông qua hệ thống ngân
hàng sẽ kiểm soát được các giao dịch thanh toán của dân cư cả nền kinh tế,
đây là tiền đề cho việc tính toán lượng cung ứng tiền tệ và điều hành chính
sách tiền tệ ngày càng hiệu quả hơn.
-

Hạn chế được các hoạt động kinh tế ngầm, giảm thiểu các tiêu cực,

tăng cường tính chủ đạo của Nhà nước trong việc điều tiết nên kinh tế, đặc
biệt là điều tiết chính sách tiền tệ quốc gia.
-

Việc sử dụng thẻ trong thanh toán tạo lập cho người dân thói quen

mới: thanh toán không dùng tiền mặt, giúp ngân hàng huy động được nguồn
vốn rất lớn trong dân cư với chi phí thấp, ngân hàng có thể sử dụng nguồn
vốn này vào các hoạt động kinh doanh của mình góp phần tăng thêm lợi
nhuận. Hơn nữa,hoạt động phát hành và thanh toán thẻ cũng tạo điều kiện


17

cho hoạt động tín dụng của ngân hàng tăng lên,nguồn vốn tín dụng này rất
lớn nhưng rủi ro thấp.
-

Việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại

trong việc phát hành và thanh toán thẻ,đã tạo điều kiện cho hệ thống ngân
hàng Việt Nam nói riêng và nên kinh tế nói chung hội nhập với nền kinh tế
thế giới. Từ đó Nhà nứơc có thể kiểm soát lượng tiền ra nước ngoài, quản lý
được hoạt động ngoại hối, tránh tình trạng tiêu cực,rửa tiền…
-

Khi thanh toán bằng thẻ thì khối lượng giao dịch sẽ tăng lên người dân

sẽ có nhu cầu chi tiêu thường xuyên hơn vì họ có thể tiêu dùng ngay khi
chưa có tiền mà vẫn kiểm soát được chi tiêu của mình do đó đã kích thích
cầu tiêu dùng. Khi cầu tăng thì cung tăng dẫn đến thúc đẩy hoạt động sản
xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển.
-

Như vậy, qua những tiện ích mà tấm thẻ đem lại có thể nói: thẻ ngân

hàng là một sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện địa,đa tiện ích,nó ra đời đã
làm thay đổi cách thức chi tiêu,giao dịch của cộng đồng xã hội. Với tính linh
hoạt và các tiện ích mang lại cho mọi chủ thể có liên quan,thẻ ngân hàng đã
và đang thu hút được sự quan tâm của cả cộng đồng và ngày càng khẳng
định vị trí của nó trong đời sống xã hội cũng như trong hoạt động kinh doanh
ngân hàng.


18

Chương 2: THỰC TRẠNG KINH DOANH DỊCH VỤ THẺ TẠI SACOMBANK
2.1 GIỚI THIỆU VỀ SACOMBANK VÀ TRUNG TÂM THẺ

-

2.1.1 Giới thiệu Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn
Thương Tín
Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín được thành lập năm 1991 trên cơ sở

hợp nhất của 4 tổ chức tín dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh với các nhiệm vụ
chính là huy động vốn, cấp tín dụng và thực hiện các dịch vụ ngân hàng.
-

Mức vốn điều lệ ban đầu là 3 tỷ đồng năm 1991, từ năm 2003

Sacombank là ngân hàng thương mại cổ phần có vốn điều lệ lớn nhất Việt
Nam. Đến tháng 10 năm 2005, Sacombank đã tăng vốn điều lệ lên 1250 tỷ
đồng và vừa qua, ngày 10 tháng 4 năm 2006 đã tăng lên gần 1900 tỷ đồng.
-

Mạng lưới hoạt động của Sacombank từ 3 Chi nhánh và 1 Hội sở lúc

thành lập, tính đến thời điểm hiện nay mạng lưới hoạt động của Sacombank
đã phát triển lên trên 108 điểm giao dịch trải đều khắp các tỉnh/thành kinh tế
trọng điểm trong cả nước: Miền Bắc - duyên hải Miền Trung - và Miền Nam
-

Sacombank là ngân hàng bán lẻ và là ngân hàng rất thành công trong

lĩnh vực tài trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ và chú trọng đến dòng sản phẩm
dịch vụ phục vụ khách hàng cá nhân. Năm 2002, Sacombank được Công ty
Tài chính Quốc tế (ICF) trực thuộc Ngân hàng Thế Giới (World Bank) góp
vốn đầu tư. Với tỷ lệ 10% vốn điều lệ, ICF đã trở thành cổ đông nước ngoài
lớn thứ 2 của Sacombank sau Quỹ đầu tư Dragon Financial Holdings (Anh
Quốc). Ngày 8/8/2005, ngân hàng ANZ chính thức ký hợp đồng góp vốn cổ
phần với tỷ lệ 10% vốn điều lệ vào Sacombank và trở thành cổ đông nước
ngoài thứ 3 của Sacombank.
-

Ngoài 3 cổ đông nước ngoài trên và các cổ đông là các nhà kinh

doanh trong nước, Sacombank là ngân hàng trương mại cổ phần có số có số
lượng cổ đông đại chúng lớn nhất Việt Nam với hơn 6500 cổ đông.
-

Định hướng của ngân hàng là trở thành một trong những Ngân hàng

thương mại mạnh tại Việt Nam, được biết đến với chất lượng sản phẩm dịch
vụ tốt và phong cách phục vụ chuyên nghiệp.
-

Mục tiêu của ngân hàng


19

+ Gia tăng giá trị cổ đông.
+ Tăng cường hiệu quả và tiện ích cho khách hàng và đối tác.
+ Ổn định và phát triển cuộc sống của nhân viên.
Những cam kết của ngân hàng
+ Với khách hàng: Cung cấp, thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng
với chất lượng sản phẩm dịch vụ tốt nhất.
+ Với các cổ đông: Lựa chọn và theo đuổi các chiến lược kinh doanh
hiệu quả và bền vững.
+ Với nhân viên: Xây dựng và hoàn thiện môi trường làm việc chuyên
nghiệp, tạo điều kiện để các nhân viên tạo dựng sự nghiệp cùng
Sacombank.
+Với đối tác: Là sự lựa chọn đáng tin cậy và hiệu quả cho các đối tác.
-

Các sản phẩm, dịch vụ Sacombank cung cấp cho khách hàng:
+ Đối với khách hàng cá nhân: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn; tiền

gửi tiết kiệm có kỳ hạn; tài khoản Âu Cơ; tài khỏa tiền gửi thanh toán; tiết
kiệm tích lũy và các dịch vụ hỗ trợ; tiền gửi bậc thang; tiết kiệm bậc thang;
chuyển tiền trong nước, chuyển tiền từ nước ngoài về Việt Nam; chuyển tiền
từ Việt Nam ra nước ngoài; chuyển tiền bằng BANKDRAFT; chuyển tiền
nhanh tận nhà; cho vay bất động sản; cho vay tiêu dùng; cho vay sản xuất
kinh doanh; cho vay tiểu thương; cho vay nông nghiệp; cho vay cầm cố sổ
tiền gửi; thẻ SACOMPASSPORT; thẻ tín dụng Sacombank; thẻ tín dụng
quốc tế Sacombank Visa/Mastercard; thẻ đồng thương hiệu Vnpay; dịch vụ
cho thuê ngăn tủ sắt; dịch vụ chuyển đổi ngoại tệ; dịch vụ Phone Banking;
dịch vụ hỗ trợ du học; dịch vụ bảo lãnh.
+ Đối với khách hàng doanh nghiệp: Tiền gửi thanh toán; tiền gửi có
kỳ hạn; tiết kiệm tích lũy thưởng; tiền gửi bậc thang; cho vay sản xuất kinh
doanh; dịch vụ chuyển đổi ngoại tệ; dịch vụ thấu chi tài khoản, dịch vụ bảo
lãnh; dịch vụ thanh toán quốc tế; dịch vụ thu chi hộ; dịch vụ chi trả hộ lương
cho cán bộ công nhân viên; bao thanh toán nội địa.
Sơ đồ tổ chức bộ máy điều hành Sacombank


Phòng ngân
quỹ & thanh

phát triển sản
phẩm

Các GD/CN khu
vực miền Nam

Bp dòch vụ
khách hàng

Bp.NH điện từ

Trung tâm
thẻ

Phòng nguồn
vốn

Phòng tài trợ
thương mai

h ti à tệ

kinh

Phòng quản lý rủi
ro

Ph. Tài chính
kế toán

Phòng chính
sách

Phòng kế hoạch
và chiến lược

Phònh hành
chánh quản trò

Ph. nhân sự
và đào tao

Bp.QHQT&
OHCC

CÁC CÔNG TY
TRỰC THUỘC

Phòng vận hành
&xử lý thông tin

Phòng nghiên
cứu & PTCNTT

Phòng quản trò tài
nguyên

KHỐI CNTT

Phòng PT thương
hiệu &thò trường

KHỐI HTÏ

Các ủy ban &
Các Dự án

KHỐI ĐH

Các SGD/CN khu
vực miền Trung

d

Phòng

KHỐI.NQ

Phòng tín dụng

KHỐI .KD

Các SGD/CN khu
vực miền Bắc

KHU VỰC

Phòng đầu


Ph. Kiểm tra
Kiểm toán

TỔNG GĐ

Công ty
SACOMREX

Công ty AMC

20


21

-

Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín
+ Năm 2004 kết quả hoạt động kinh doanh như sau: Lợi nhuận trước

thuế đạt mức 198 tỷ đồng, tăng 58,4% so với năm 2003; tổng tài sản tăng
42%; dư nợ cho vay tăng 26,2% và nợ quá hạn được khống chế ở mức
1,07%, huy động vốn tăng 42%, các hoạt độnh kinh doanh khác đạt mức
tăng trưởng tốt và khá toàn diện.
Các chỉ tiêu tài chính chủ yếu
Năm

2004

2003

THỜI ĐIỂM CUỐI NĂM
Tổng tài sản (Tỷ đồng)

10.395

7.304,4

740

505,0

90

75

1.865

1.488

Tổng thu nhập (Tỷ đồng)

835,9

617,9

Tổng chi phí (Tỷ đồng)

637,9

492,8

Lãi trước thuế (Tỷ đồng)

198,0

125,1

Lãi ròng (Tỷ đồng)

151,2

90,2

10,05

10,06

Huy động vốn / Tổng nợ

97,6

96,62

Cho vay / huy động vốn

65,0

73,49

Cho vay / Tổng tài sản

57,59

64,74

Tỷ lệ nợ quá hạn / Tổng dư nợ

1,07

0,56

Thu nhập phi tín dụng / Tổng thu nhập

31,4

26,1

Lãi ròng/ Tổng tài sản bình quân

1,66%

1,55%

Lãi ròng/ Vốn điều lệ bình quân

26,27%

25,91%

Vốn điều lệ (Tỷ đồng)
Mạng lưới hoạt động (Điểm giao dịch)
Số lượng nhân viên (Người)
CẢ NĂM

HỆ SỐ TÀI CHÍNH (%)
Vốn và quỹ / Tổng TS Có rủi ro (CAR)

Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh - Sacombank


22

+ Năm 2005, kết quả hoạt động kinh doanh như sau: Lợi nhuận trước thuế là
306 tỷ đồng, tăng 54,5% so với kỳ trước. Tổng tài sản là 14.456 tỷ đồng, tăng
39%.
Đơn vị : triệu đồng
KẾT QUẢ KINH DOANH

Kỳ này

Kỳ trước

I) Tổng thu nhập

1.208.643

835.978

II) Tổng chi phí

(902.589) (638.027)

III) Lợi nhuận trước thuế

306.054

197.951

IV) Lợi nhuận sau thuế

234.390

151.160

V) Tình hình trích lập và sử dụng các quỹ theo quy định của
pháp luật
1)

2)

Trích lập các quỹ:


Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ

11.720

7.558



Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ

6.462

3.641



Quỹ dự phòng tài chính

22.267

14.360



Các quỹ khác

15.464

13.023

(16.104)

(13.533)

23,84%

26,03%

4,10

2.87

Sử dụng các quỹ

VI) Thu nhập trên mỗi cổ phiếu (%)
VII)

Thu nhập bình quân của cán bộ nhân viên ngân hàng

Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh - Sacombank
2.1.2 Giới thiệu về Trung tâm thẻ
-

Trung tâm Thẻ Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín được thành lập tháng

5 năm 2002 và phát hành thẻ từ tháng 8 năm 2002. Ban đầu, Trung tâm Thẻ
liên kết với ngân hàng ANZ để phát hành thẻ Sacombank-ANZ vào ngày 14
tháng 8 năm 2002. Đây là thẻ thanh toán nội địa. Do Trung tâm Thẻ chưa có
máy dập thẻ nên các chi nhánh Sacombank tiếp nhận yêu cầu mở thẻ của
chủ thẻ, sau đó Trung tâm Thẻ sẽ chuyển yêu cầu sang cho ngân hàng ANZ
dập thẻ. Sacombank có chức năng quản lý và theo dõi tài khoản cá nhân của
chủ thẻ.


23

-

Tháng 5 năm 2003, Sacombank chính thức giới thiệu và phát hành thẻ

tín dụng nội địa và Sacombank trở thành một trong ba ngân hàng phát hành
thẻ tín dụng nội địa tại Việt Nam bên cạnh ngân hàng Á Châu và ngân hàng
Nông nghiệp và Phát Triển Nông Thôn. Lúc này, Trung tâm thẻ chỉ có 11
người và tổ chức cũng rất đơn giản.
-

Tháng 8 năm 2005, Sacombank phát hành thẻ tín dụng quốc tế

Sacombank-Visa nhằm đa dạng hóa sản phẩm và phục vụ nhu cầu ngày
càng cao của người dân.
-

Tháng 3 năm 2006, Sacombank liên kết với công ty Eden phát hành

thẻ đồng thương hiệu mang tên VNPay. Đây là thẻ đồng thương hiệu đầu
tiên của Sacombank.
-

Đến nay thì Trung tâm Thẻ có trên 60 người và hầu hết đều còn rất trẻ,

rất năng động. Họ đều có trình độ chuyên môn cao và có nhiều người đã
từng đi du học ở nước ngoài. Sau đây là cơ cấu tổ chức của Trung tâm Thẻ.
-

Tổ chức bộ máy trung tâm thẻ: Trung tâm Thẻ do Giám đốc phụ trách,

giúp việc cho giám đốc có hai Phó Giám đốc là Phó giám đốc kỹ thuật và
Phó giám đốc kinh doanh. Ngoài ra, trung tâm thẻ có các đơn vị trực thuộc
sau:
∗ Phòng kỹ thuật
∗ Phòng dịch vụ khách hàng
∗ Phòng chính sách và quản lý rủi ro
∗ Phòng kế toán
∗ Bộ phận hành chánh
2.1 .2.1 Sơ đồ tổ chức Trung tâm Thẻ


24
BAN LÃNH ĐẠO
ĐẠO

P.CHÍNH SÁCH VÀ
QUẢN LÝ RỦI RO

P.KỸ THUẬT

P.DỊCH VỤ
KHÁCH HÀNG

Bộ phận vận
hành thẻ

Bộ phận Phát
triển thẻ

Bộ phận chính
sách

Bộ phận kế
toán nghiệp

Bp.Triển khai
và lắp đặt

Bộ phận Phát
triển đại lý

Bộ phận quản
lý tín dụng

Bô phận kế
toán nội bộ

Bp.Dập thẻ

Bộ phận Phát
triển sản phẩm

Bộ phận
chuẩn chi

Bp.Phát triển
giải pháp thẻ

Bp.Chăm sóc
khách hàng

P.KẾ TOÁN

BỘ PHẬN
HÀNH CHÁNH

Bộ phận ngân
quỹ

Bp.Giải quyết khiếu
nại và quản lý rủi ro

2.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban thuộc Trung tâm thẻ

a) Chức năng nhiệm vụ của phòng kỹ thuật
-

Bộ phận vận hành thẻ có chức năng quản lý phòng máy chủ, tổ chức

các hồ sơ hệ thống máy chủ; Quản lý, bảo trì các phần mềm của hệ thống;
vận hành và theo dõi hệ thống quản lý thẻ, hệ thống mạng kết nối các
ATM/POS và các máy chủ liên quan; xử lý dữ liệu phục vụ cho công tác điều
hành; đảm bảo phòng máy chủ và hệ thống mạng được bảo mật.
-

Bộ phận triển khai và lắp đặt có chức năng quản lý việc mở rộng mạng

lưới ATM/POS về mặt kỹ thuật; quản lý và xử lý sự cố kỹ thuật của các thiết
bị ATM/POS trong hệ thống; quản lý các phương tiện viễn thông và hệ thống
mạng thuộc Trung tâm Thẻ.
-

Bộ phận dập thẻ có chức năng thực hiện công việc dập thẻ theo đúng

các quy định; quản lý hệ thống dập thẻ; dập thẻ theo yêu cầu phát hành thẻ;
đảm bảo hệ thống dập thẻ được bảo mật.
-

Bộ phận phát triển giải pháp thẻ thì có chức năng quản lý phần mềm

và giao diện của các máy ATM/POS, theo dõi và chỉnh sửa lưu đồ hoạt động
theo yêu cầu; quản lý và phát triển các phần mềm tiện ích khác phục vụ yêu
cầu tích hợp với các hệ thống khác bên ngoài hệ thống quản lý thẻ; nghiệm
thu kỹ thuật phần mềm, xây dựng quy trình kỹ thuật sử dụng và vận hành


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×