Tải bản đầy đủ

TIỂU LUẬN QUẢN lý KINH tế đổi mới tổ chức, quản lý hệ thống doanh nghiệp

MỞ ĐẦU
Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành
lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm
thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội do nhà nước giao.
Cũng như các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, doanh
nghiệp nhà nước là một khâu cơ bản của nền kinh tế quốc dân, là đơn vị sản xuất
hàng hoá có tư cách pháp nhân và hạch toán kinh tế độc lập. Sự khác biệt của
doanh nghiệp nhà nước là ở chỗ nhà nước là chủ sở hữu do đó có quyền kiểm
soát và chế định các mặt hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.
Ngày nay, các doanh nghiệp nhà nước tồn tại và hoạt động ở tất cả các
nước trên thế giới, không kể nước đó thuộc chế độ xã hội, chính trị nào. Nếu
như trong những năm từ 1960 trở về trước, sự xuất hiện của doanh nghiệp nhà
nước còn gây tranh cãi và chỉ phổ biến ở các nước xã hội chủ nghĩa và các nước
đang phát triển thì ngày nay ở hầu khắp các nước, doanh nghiệp nhà nước được
thừa nhận hiển nhiên và ngày càng có vai trò quan trọng. Mặc dù trên bình diện
lý luận và trong hoạch định chính sách thực tiễn vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau
về hiệu quả, mô thức hoạt động và tỷ trọng của doanh nghiệp nhà nước trong
nền kinh tế quốc dân, nhưng nhận thức chung về sự tồn tại khách quan của
doanh nghiệp nhà nước đã có sự thống nhất chung.
Ở nước ta, doanh nghiệp nhà nước ra đời trước hết do nhà nước tiếp quản
các doanh nghiệp của chính quyền cũ, do quốc hữu hoá của bọn thực dân, tư sản

mại bản và tiến hành cải tạo các xí nghiệp tư nhân, chuyển thành doanh nghiệp
nhà nước.
Tuy quốc hữu hoá và cải tạo đã tạo ra những cơ sở ban đầu rất quan trọng,
song quyết định quy mô, tỷ trọng, tốc độ phát triển của doanh nghiệp nhà nước ở
nước ta lại liên quan đến mô hình kinh tế. Với mô hình kế hoạch hoá tập trung,
trước hết và trên hết là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, do đó cùng với hàng
loạt các xí nghiệp quốc doanh ra đời bằng tiếp quản, cải tạo, nước ta tiếp tục
thành lập mới nhiều doanh nghiệp nhà nước ở hầu hết các ngành kinh tế quốc
dân tạo thành hệ thống các doanh nghiệp phát triển cho đến ngày nay.


1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành
lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm
thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội do nhà nước giao.
2. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay
Các doanh nghiệp nhà nước có vai trò hết sức to lớn trong nền kinh tế
nước ta, đặc biệt là trong điều kiện cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ
nghĩa. Vai trò đó được thể hiện trên các nội dung sau:
- Các doanh nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt nhất, những đài
chỉ huy, bánh lái của nền kinh tế. Vai trò này xuất phát từ mục tiêu định hướng
xã hội chủ nghĩa của nước ta. Bởi vì, chỉ khi nào chúng ta xây dựng một hệ
thống doanh nghiệp nhà nước mạnh, tạo nền “xương cốt” cho nền kinh tế thì nhà
nước mới có thể kiểm soát được các quá tình kinh tế, hướng chúng vào thực
hiện các mục tiêu xã hội chủ nghĩa.
- Doanh nghiệp nhà nước phải bảo đảm những điều kiện để nền kinh tế
quốc dân phát triển một cách hiệu quả. Sứ mạng đó thể hiện trước hết ở chỗ
doanh nghiệp nhà nước phải tập trung vào những lĩnh vực đầu tư dài hạn như kết
cấu hạ tầng, công nghiệp mũi nhọn v.v… nhằm tăng cường bền vững. Thứ hai,
doanh nghiệp nhà nước phải đi đầu, mở đường, tạo điều kiện, môi trường thuận
lợi cho nền kinh tế ngay cả khi các ngành đó có mức doanh lợi thấp. Thứ ba,
doanh nghiệp nhà nước thậm chí được thiết kế như bước đệm để giảm sự tàn phá
của các quy luật kinh tế thị trường tự phát.
- Các doanh nghiệp nhà nước còn là công cụ để nhà nước thực hiện những
chính sách xã hội như cung cấp hàng hoá, dịch vụ thiết yếu cho xã hội, thúc đẩy
sự phát triển các vùng kinh tế lạc hậu. Với mục tiêu xây dựng một xã hội công
bằng, dân chủ, vì dân, những nghĩa vụ xã hội đặt ra trước nhà nước ta không chri
rất nặng nề mà ngày càng tăng lên trong mỗi bước phát triển. Do vậy, doanh
nghiệp nhà nước phải là lực lượng hỗ trợ nhà nước thực hiện những mục tiêu xã
hội ngay và khi đó là việc đầu tư vào những lĩnh vực lãi ít hoặc lĩnh vực thu hồi

2


ích,

vốn lâu nhưng có ý nghĩa xã hội lớn. Đặc biệt trong những lĩnh vực công
những lĩnh vực có vai trò chính trị xã hội như kết cấu hạ tầng, bảo vệ môi

trường, đảm bảo an ninh quốc phòng … thì doanh nghiệp nhà nước là lực lượng
chủ đạo.
- Các doanh nghiệp nhà nước còn có sư mệnh rất lớn là tạo điều kiện và
thúc đẩy toàn bộ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Bởi vì, công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi nguồn vốn lớn, dài hạn trong khi vốn của tư
nhân trong nước còn ít, tư bản nước ngoài không chú trọng đến mục tiêu chuyển
dịch cơ cấu kinh tế của công nghiệp hoá ở nước ta thì dù muốn, dù không vai trò
của đầu tư nhà nước cũng hết sức to lớn. Đầu tư nhà nước không chỉ ở lĩnh vực
cơ sở hạ tầng mà còn ở lĩnh vực tạo dựng cơ cấu công – nông – dịch vụ hiện đại,
đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn.
- Trong điều kiện phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta
hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước còn là công cụ trong tay nhà nước, là hạt
nhân, nòng cốt, trong việc liên doanh, liên kết, lôi cuốn các thành phần kinh tế
khác vào quỹ đạo phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là vai trò, là sứ mệnh
hết sức quan trọng của các doanh nghiệp nhà nước. Chủ trương mới, đúng đắn
của Đảng và những biện pháp kịp thời của nhà nước về phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã kích thích, giải phóng sản sản xuất ở các
thành phần kinh tế phát triển. Nhưng các thành phần kinh tế với bản chất kinh tế
vốn có của nó, nếu không có những tác động điều chỉnh có hiệu lực bằng các
biện pháp kinh tế, nếu không có thực lực, những sức mạnh kinh tế để khống chế
và điều tiết, thì khó có thể định hướng hoạt động kinh tế của toàn bộ xã hội.
Những sức mạnh, những trung tâm, thực lực kinh tế cùng sống, cùng hoạt động
trong một môi trường thị trường với các thành phần kinh tế trong sản xuất kinh
doanh chính là các doanh nghiệp nhà nước, đó là đội quân chủ lực hùng mạnh
mà nhà nước sử dụng để tác động và điều khiển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần. Đây không chỉ đơn thuần là vai trò định hướng về kinh tế kỹ thuật,
mà còn thể hiện xu hướng phát triển của nền kinh tế thông qua sự khẳng định
3


tính ưu việt của quan hệ sản xuất tiên tiến chứa đựng trong các doanh nghiệp
nhà nước.

3. Đánh giá chung quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở nước
ta
- Tình trạng tài chính không minh bạch: kế thừa di sản của nhiều đợt thay
đổi giá, thay đổi chế độ kế toán, thay đổi chính sách quản lý, cho đến nay đa
phần doanh nghiệp nhà nước không xác định được giá trị thực sự của mình là
bao nhiêu. Mặc dù những năm 1992 – 1993, nhà nước đã tiến hành tổng kiểm kê
để giao vốn và gần đây, đầu năm 2000 đã tiến hành cuộc kiểm kê mới song
phương thức tính giá trị dựa vào sổ sách vẫn gây tranh luận và ít được tin cẩn.
Ngoài ra, tín dụng bao cấp vẫn được duy trì, những can thiệp của các cơ quan
quản lý chức năng vẫn khá sâu mà không có cơ chế chịu trách nhiệm vật chất đã
làm cho tình hình tài chính doanh nghiệp nhà nước không lành mạnh gây khó
khăn cho người muốn tuân thủ chính sách, tạo cơ hội cho một số cán bộ quản lý
doanh nghiệp tham ô tư lợi mà trốn tránh được pháp luật.
- Tình trạng lao động không phù hợp: lao động của nhiều doanh nghiệp dư
thừa trong khi đó thiếu lao động kỹ thuật cao và cán bộ quản lý giỏi. Hiện tại, hệ
thống luật pháp và chính sách chưa tạo điều kiện để doanh nghiệp nhà nước tự
giải quyết lao động dư thừa và thu hút lao động giỏi. Ngược lại, các giám đốc
doanh nghiệp nhà nước lại chịu sức ép khá lớn về lo thu nhập cho người lao
động trong doanh nghiệp, đôi khi nhiệm vụ này còn cấp bách hơn làm ra lợi
nhuận.
- Tình trạng công nghệ, kỹ thuật, thiết bị đã quá cũ, chắp vá từ nhiều nước
khác nhau với các thế hệ công nghệ khác nhau đã đặt doanh nghiệp nhà nước
voà tình thế khó khăn. Một mặt, do trước kia khấu hao cơ bản nộp vào ngân sách
nhà nước đã chi dùng hết cho mục đích khác nên lượng vốn khấu hao còn để lại
không đủ cho đổi mới thiết bị. Mặt khác, bản thân việc chuyển giao công nghệ
không dễ dàng và không phải là doanh nghiệp nào cũng làm được nếu không có
4


đủ điều kiện và được nhà nước hỗ trợ. Trong khi đó, nước ta chưa có một chiến
lược công nghệ cơ bản định hướng lâu dài vào chuyển giao công nghệ có hiệu
quả. Từng doanh nghiệp phải tự mò mẫm đổi mới thiết bị trên thị trường thế
giới, do đó rất dễ vấp ngã và tốc độ rất chậm. Nếu không giải quyết thích đáng
vấn đề đổi mới công nghệ thì các doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa thể cạnh
tranh trong điều kiện hội nhập hiện nay.
- Cơ cấu doanh nghiệp nhà nước còn bất hợp lý: cơ cấu ngành, vùng, quy
mô đều chưa hợp lý. Trước hết, tỷ trọng doanh nghiệp nhà nước (xét về số
lượng) ở khu vực nông nghiệp (25%) và thương mại, dịch vụ (40%) là quá lớn
trong khi một cơ cấu hợp lý đòi hỏi doanh nghiệp nhà nước chủ yếu tập trung
vào lĩnh vực công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến, chế tạo. Cơ cấu cấp
quản lý cũng bất hợp lý ở chỗ tỷ trọng doanh nghiệp thuộc địa phương quản lý
quá

cao

(trên 60% về số lượng). Về quy mô, tính đến 12/2001, số doanh nghiệp nhà
nước, trong đó ắ là doanh nghiệp địa phương. Số doanh nghiệp có vốn trên 10 tỷ
đồng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ. Với cơ cấu bất hợp lý như vậy, doanh nghiệp nhà
nước khó có thể thực hiện đầy đủ các chức năng và vai trò mà Đảng và nhà nước
mong đợi.
4. Các giải pháp tiếp tục đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở nước ta
4.1. Các quan điểm cơ bản
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) đã khẳng định:
“Doanh nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ
khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế –
xã hội và chấp hành luật pháp … Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách đối với
doanh nghiệp nhà nước để tạo động lực phát triển và nâng cao hiệu quả theo
hướng: xoá bao cấp, doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng trên thị trường, tự chịu
trách nhiệm về sản xuất kinh doanh, nộp đủ thuế và có lãi”.
Từ đó, có thể khái quát một số quan điểm cơ bản sau:

5


- Chủ động đổi mới, vừa phát triển, vừa nâng cao hiệu quả kinh tế – xã
hội của doanh nghiệp nhà nước trong mối quan hệ với các bộ phận khác của
kinh tế nhà nước, đảm bảo sự thành công trong xây dựng nền kinh tế phát triển
bền vững, hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Chú trọng phát triển doanh nghiệp nhà nước ở các ngành và lĩnh vực cần
thiết, trong các ngành kinh tế mũi nhọn, đặc biệt trong các ngành công nghệ
thông tin, khai thác và chế biến dầu khí, công nghệ sinh học, vật liệu mới …
- Tuân thủ nguyên tắc bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước với các loại
hình doanh nghiệp khác, nhà nước sẽ giảm, tiến tới xoá bỏ những ưu đãi, bao
cấp dưới mọi hình thức, thực hiện vai trò của mình chủ yếu thông qua việc
gương mẫu, đầu tàu, dẫn dắt, hạt nhân liên kết bằng chính hiệu quả, chất lượng
hoạt động.
- Giảm sự can thiệp của các cơ quan quản lý nhà nước, tiếp tục xác lập
đúng đắn quyền tự chủ của doanh nghiệp nhà nước, cơ chế quản trị và quan hệ
quản lý nhà nước - doanh nghiệp.
- Kết hợp đổi mới doanh nghiệp nhà nước với đổi mới cơ chế quản lý đối
với các loại hình doanh nghiệp nói chung, đồng thời kết hợp với đổi mới và
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước.
4.2.cac giải phỏp đổi mới.
Sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước
Việc sắp xếp các doanh nghiệp nhà nước hiện có phải phù hợp với đường
lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đường lối phát triển kinh tế nhiều thành
phần, đồng thời đổi mới cơ cấu đầu tư. Theo hướng này, sẽ sắp xếp những doanh
nghiệp nhà nước hiện có theo phương án tổng thể đã được Chính phủ phê duyệt
năm 2000, trước hết cần phân thành hai loại:
+ Doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích: xác định rõ các doanh
nghiệp công ích hoạt động trong các lĩnh vực cung ứng hàng hoá công cộng.
Các doanh nghiệp công ích được nhà nước hỗ trợ, có cơ chế quản lý hạch toán
đặc thù. Những đơn vị đã được hỗ trợ nhưng vẫn không đủ điều kiện thành lập
6


doanh nghiệp thì hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp. Khuyến khích áp
dụng mô hình công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn đối với các hoạt
động công ích.
+ Doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh: nhóm này được phân
làm bốn nhóm:
Nhóm thứ nhất, gồm những doanh nghiệp đặc biệt quan trọng mà nhà
nước cần giữ 100% vốn sở hữu. Các doanh nghiệp loại này kinh doanh ở các
lĩnh vực cần giữ độc quyền, có vai trò dẫn dắt, mở đường về ứng dụng công
nghệ mũi nhọn, công nghệ cao, quy mô lớn, địa bàn trọng yếu, ngành kinh tế kỹ
thuật then chốt hoặc góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, các doanh nghiệp hoạt
động đảm bảo nhu cầu cần thiết cho phát triển sản xuất và nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc ở miền núi, ở vùng sâu, vùng xa.
Nhóm thứ hai, gồm các doanh nghiệp nhà nước quan trọng mà nhà nước
cần nắm cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt. Đó là các doanh nghiệp hoạt động
trong một số lĩnh vực, như bán buôn sản phẩm chiến lược, công nghiệp khai thác
và chế biến quan trọng, các ngành vận tải lớn, các doanh nghiệp có quy mô lớn
hoặc đóng góp lớn cho ngân sách v.v…
Nhóm thứ ba, gồm các doanh nghiệp không quan trọng đang hoạt động có
lãi hoặc có triển vọng có lãi (khoảng trên 1500 doanh nghiệp) sẽ tiến hành cổ
phần hoá và tuỳ theo sức mua của cán bộ, công nhân viên và công chúng trên thị
trường vốn, có thể cổ phần hoá toàn bộ hoặc một phần.
Nhóm thứ tư, gồm các doanh nghiệp nhà nước không quan trọng, có vốn
dưới 1 tỷ đồng hoặc làm ăn yếu kém kém dài mà nhà nước không cần phải nắm
giữ, doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng hoạt động thua lỗ kéo dài trên 2 năm
liên tục, nhà nước cũng không cần nắm giữ, nếu không cổ phần hoá được thì
tiến hành một trong các hình thức giao, khoán, bán, cho thuê theo Nghị định
103/1999/NĐ-CP. Số các doanh nghiệp yếu kém, hoặc không cần thiết tồn tại
độc lập nếu không thực hiện các hình thức chuyển đổi sở hữu nói trên thì sáp
nhập vào doanh nghiệp khác hoặc giải thể, phá sản.
7


Trong quá trình sắp xếp lại, tích cực hoàn thiện tổ chức các Tổng công ty.
Rà soát lại các Tổng công ty theo tiêu chuẩn quy định của nhà nước. Tổng công
ty nào không đủ điều kiện cần tiến hành sắp xếp lại. Chuyển các Tổng công ty
đủ điều kiện và có khả năng hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con.
Kiện toàn hoạt động của hội đồng quản trị và công ty tài chính trong Tổng công
ty. Xây dựng một số Tổng công ty nhà nước thành các tập đoàn kinh tế lớn đủ
sức chi phối về vốn, kỹ thuật, công nghệ và thị trường đối với các doanh nghiệp
thành viên; thu hút các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác tham gia
Tổng công ty theo nguyên tắc đầu tư vốn và tự nguyện.
* Thực hiện các biện pháp nhằm làm lành mạnh hoá tài chính doanh
nghiệp nhà nước
- Giải quyết dứt điểm tình hình công nợ khó đòi, vật tư ứ đọng và mất khả
năng thanh toán của doanh nghiệp; phân rõ nguyên nhân khách quan hoặc chủ
quan của doanh nghiệp để giải quyết cụ thể. Chấm dứt hỗ trợ cho những doanh
nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh đang lâm vào tình trạng phá sản.
- Đi đôi với các biện pháp huy động vốn và bổ sung một phần vốn từ
nguồn ngân sách nhà nước, thí điểm chuyển một phần nợ tín dụng của doanh
nghiệp nhà nước thành vốn góp của ngân hàng để chuyển thành doanh nghiệp
nhà nước hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhằm giải quyết khó khăn về vốn,
tạo sự gắn bó giữa ngân hàng và doanh nghiệp, xác lập cụ thể trách nhiệm và
quyền quản lý sử dụng các nguồn vốn của nhà nước.
- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước,
thực hiện kiểm kê, phân loại doanh nghiệp nhà nước, xác định lại tài sản thuộc
quyền sử dụng của doanh nghiệp nhà nước, kể cả phần tài sản chưa giao cho
doanh nghiệp như đất đai, lợi thế về mặt bằng và vị trí, lợi thế về công nghệ …
giao cho doanh nghiệp quản lý.
- Tiếp tục phân cấp thực hiện các quyền với doanh nghiệp nhà nước được
quy định trong Luật doanh nghiệp nhà nước.

8


- Xác định các mô hình đảm bảo quyền đại diện sở hữu nhà nước tại
doanh nghiệp nhà nước phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp: Tổng công ty
và doanh nghiệp lớn có Hội đồng quản trị: giao cho Chủ tịch Hội đồng quản trị;
doanh nghiệp nhà nước độc lập quy mô vừa và nhỏ có 100% vốn nhà nước: giao
cho giám đốc và từng bước đa dạng hoá sở hữu để hoạt động theo Luật doanh
nghiệp; các d doanh nghiệp khác uỷ quyền cho Bộ tài chính; định ra cơ chế kiểm
soát chi phí và thu nhập đối với các doanh nghiệp có tính chất độc quyền.
- Hoàn thiện cơ chế khuyến khích vật chất đối với cán bộ quản lý và
người lao động gắn với hiệu quả sản xuất – kinh doanh, kết quả tích luỹ vốn của
doanh nghiệp, giảm bớt tính chất bình quân để tăng động lực phát triển trong
từng doanh nghiệp đồng thời tăng cường hiệu lực kiểm soát của nhà nước.
* Cổ phần hoá, đa dạng hoá sở hữu doanh nghiệp nhà nước, chuyển
doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo Luật doanh nghiệp (công ty hoá)
- Chính sách cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước mặc dù đã được ban
hành và sửa đổi nhiều lần cho phù hợp với thực tế song cho đến nay tốc độ thực
hiện vẫn rất chậm chạp. Thời gian tới, cần cải tiến công tác cổ phần hoá theo
hướng: ở Trung ương cũng như ở các ngành và địa phương phải có một tổ chức
về cổ phần hoá đủ quyền hạn để thực thi các phương án cổ phần hoá có hiệu lực;
thực thi chính sách khuyến khích hơn nữa doanh nghiệp cổ phần hoá; tích cực
giải quyết các khó khăn về công nợ, có chính sách giải quyết lao động dôi dư tạo
điều kiện cổ phần hoá nhanh; cải cách thủ tục định giá theo hướng khách quan
và chính xác hơn; đẩy mạnh tiến độ, không chờ cơ sở tự nguyện xây dựng
phương án cổ phần hoá; đảm bảo đến 2005 hoàn thành về cơ bản cổ phần hoá
doanh nghiệp.
- Chuyển các doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo hai mô hình
chính là công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn một chru nhằm tách
bạch rõ ràng bằng cơ chế quản lý giữa tài chính công và tài chính doanh nghiệp
nhà nước. Quan hệ giữa nhà nước doanh nghiệp nhà nước là quan hệ của người
chủ đầu tư ở mức kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp và chỉ chịu trách nhiệm
hữu hạn về số vốn góp vào doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, thay đổi phương thức
9


đầu tư vốn nhà nước, chủ yếu thực hiện đầu tư qua công ty tài chính của nhà
nước và thị trường vốn.
- Nâng cao vai trò của đại diện sở hữu nhà nước trong ban quản trị. Xây
dựng tiêu chuẩn và chế độ đối với đội ngũ cán bộ theo hướng bảo vệ lợi ích của
nhà nước tại doanh nghiệp, phân biệt người đại diện sở hữu của nhà nước và
người điều hành tác nghiệp trong doanh nghiệp nhà nước.
- Xác định rõ ngành, lĩnh vực, sản phẩm ưu tiên và điều kiện ưu tiên gọi
vốn đầu tư nước ngoài liên doanh với doanh nghiệp nhà nước. Xác định những
ngành, những sản phẩm, có thể và cần được vay vốn để tự đầu tư.
- Đối với doanh nghiệp thuộc nhóm thứ tư trong phương án sắp xếp nêu ở
trên, tích cực áp dụng các hình thức giao, khoán, cho thuê và bán doanh nghiệp.
- Tổng kết đánh giá kết quả thực hiện các hình thức liên doanh để định
hướng cho từng lĩnh vực hợp tác.
* Tiếp tục tạo lập môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi cho doanh nghiệp
nhà nước hoạt động
Nhà nước các cấp từ trung ương đến phường, xã đều phải có trách nhiệm
chăm lo, xây dựng môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp nhà nước nói
riêng, doanh nghiệp nói chung hoạt động có hiệu quả. Đây là vấn đề lớn, phức
tạp, đòi hỏi phải thực hiện từng bước, với nhiều biện pháp cụ thể, thích hợp.
Thời gian tới sẽ tập trung vào một số biện pháp sau đây:
- Cải tiến thủ tục hành chính của bộ máy nhà nước theo hướng đơn giản,
một cửa, công khai.
- Tạo sự thống nhất đồng bộ trong các văn bản pháp lý hiện hành, tiến tới
các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần khác nhau đều hoạt động theo một luật
quán triệt nội dung kinh tế thị trường, cũng như việc đảm bảo tuân thủ luật
nghiêm minh.
- Xây dựng hệ thống thu nhập và cung cấp thông tin tin cậy và kịp thời
cho doanh nghiệp, nhất là các thông tin về sửa đổi chính sách hiện hành và đảm

10


bảo độ trễ hợp lý khi thực thi chính sách mới cho phép doanh nghiệp kịp điều
chỉnh.
- Tạo sự thông thoáng thị trường trong các quan hệ kinh tế đối ngoại theo
hướng nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường nước ngoài.

11


KẾT LUẬN
Sau một thời gian dài nỗ lực đổi mới, cho đến nay, có thể nói doanh
nghiệp nhà nước ở nước ta đã khẳng định vai trò của mình trong nền kinh tế thị
trường. Đây là thành tựu vượt bậc của Việt Nam khi chuyển đổi sang kinh tế thị
trường. Quá trình chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước chỉ vấp phải thời gian suy
thoái rất ngắn (nửa cuối thập kỷ 80). Các thời kỳ còn lại doanh nghiệp nhà nước
đều có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế.
Cho đến nay, về cơ bản, mục tiêu giữ vai trò đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế bền
vững, giữ ổn định xã hội, tạo công ăn việc làm, góp phần giảm nhẹ phân hoá
giàu nghèo vẫn được giữ vững. Doanh nghiệp nhà nước vẫn là các đơn vị kinh tế
mạnh nhất, nắm giữ các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế như: công nghiệp,
vận tải, xây dựng, xuất nhập khẩu, tài chính, ngân hàng … Nhiều doanh nghiệp
nhà nước có sản phẩm đạt chất lượng quốc tế và có sức cạnh tranh tốt. Đóng góp
của doanh nghiệp nhà nước vào ngân sách vẫn chiếm một tỷ trọng lớn góp phần
ổn định thu chi ngân sách. Ngoài ra, doanh nghiệp nhà nước vẫn là lực lượng
chủ đạo trong xuất nhập khẩu và liên doanh với nước ngoài. Đóng góp của
doanh nghiệp nhà nước vào tổng sản phẩm quốc dân nói chung và kim ngạch
xuất nhập khẩu nói riêng vẫn chiếm tỷ trọng lớn.

12


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình Quản lý Kinh tế – Học viện chính trị hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh. Viện kinh tế năm 2010
2. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX – năm 2001

13


MỤC LỤC
Trang
I. Mở đầu

1

Nội dung
1. Khái niệm doanh nghiệp Nhà nước

2

2. Vai trò của doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta hiện nay

2

3. Đánh giá chung quá trình đổi mới doanh nghiệp Nhà nước

4

ở nước ta
4. Các giải pháp tiếp tục đổi mới doanh nghiệp Nhà nước ở

5

nước ta
4.1. Các quan điểm cơ bản

5

4.2. Các giải pháp

6

Kết luận

11

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×