Tải bản đầy đủ

tieu luan chinh tri tổ CHỨC và HOẠT ĐỘNG của NHÀ nước CỘNG HOÀ xã hội CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY – THỰC TRẠNG và vấn đề đặt RA

MỞ ĐẦU
Nhà nước ta – nhà nước của dân, do dân, vì dân, mang bản chất giai
cấp công nhân và do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Trong quá trình đổi mới hiện nay, nhà nước ta thực hiện chức năng
chính trị của mình thông qua những nhiệm vụ chủ yếu như phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng và phát triển kinh tế nhà nước làm
chủ đạo, kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác xã làm nền tảng của nền kinh tế;
xây dựng nền dân chủ và nhà nước pháp quyền XHCN; xây dựng và củng cố
nền tảng tinh thần của xã hội trên cơ sở chủ nghĩa Mac Lenin; tư tưởng Hồ
Chí Minh, tinh hoa văn hoá của dân tộc và nhân loại; xây dựng và thực hiện
chiến lược an ninh; quốc phòng, bảo vệ tổ quốc và nhân dân, bảo vệ đảng, nhà
nước và sự nghiệp xây dựng đất nước theo định hướng XHCN. Nhà nước
thực hiện chức năng xã hội thông qua việc hoạch định và thực thi các chính
sách phát triển xã hội, phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học – công
nghệ và bảo vệ môi trường; xây dựng và phát triển các cơ sở hạ tầng xã hội
thiết yếu; thực hiện xoá đói, giảm nghèo... ở nước ta hiện nay, các chức năng
của nhà nước quy định, ràng buộc lẫn nhau, đó là sự liên hệ giữa các yếu tố
trong cùng một hệ thống chức năng của nhà nước trong việc thực hiện quyền
làm chủ của nhân dân về mọi mặt của đời sống xã hội.

1



NỘI DUNG
Chương 1 TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ
ĐẶT RA.

1. Quốc hội
Quốc hội Việt Nam hiện nay là cơ sở của hệ thống cơ quan nhà nước
khác. Theo quy định của Hiến pháp, quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của
nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Mọi quyền lực nhà nước
được thống nhất ở quốc hội. Quốc hội làm việc theo nhiệm kỳ 5 năm, mỗi
năm họp 2 kỳ. Hiện nay, tổng số đại biểu quốc hội khoá XII (nhiệm kỳ 2007 –
2011) là 493 người, trong đó có 30% số đại biểu làm việc theo chế độ chuyên
trách. Quốc hội là cơ quan đưa ra quyết định thông qua các kỳ họp theo
nguyên tắc tập thể. Do đó, hình thức hoạt động chủ yếu của Quốc hội là các
kỳ họp.
Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu như lập hiến và lập
pháp, giám sát tối cao việc tuân thủ hiến pháp, pháp luật và các nghị quyết
của quốc hội; quyết định những vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế –
xã hội của đất nước; quy định tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà
nước; bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ
tịch Quốc hội, các Phó chủ tịch quốc hội và các Uỷ viên của Uỷ ban Thường
vụ quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng về
bổ nhiệm, miễn nhiệm và bãi nhiệm các thành viên Chính phủ; phê chuẩn đề
nghị của Chủ tịch nước về danh sách thành viên hội đồng quốc phòng và an
ninh; quyết định thành lập và bãi bỏ các Bộ, thành lập mới và điều chỉnh địa
giới tỉnh; quyết định đại xá; quy định hàm cấp lực lượng vũ trang và ngoại
giao; quy định huân, huy chương; quyết định các vấn đề chiến tranh và hoà
bình; quyết định chính sách đối ngoại và trưng cầu dân ý...
2


Uỷ ban Thường vụ quốc hội là cơ quan thường trực của quốc hội, gồm
có Chủ tịch quốc hội, các Phó Chủ tịch và các Uỷ viên. Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội có quyền công bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội; giải
thích hiến pháp, luật và pháp lệnh; ra pháp lệnh về những vấn đề được quốc
hội giao; giám sát việc thi hành hiến pháp, pháp luật, hoạt động của Chính
phủ, các cơ quan tư pháp; giám sát, hướng dẫn hoạt động của hội đồng nhân

dân; chỉ đạo, điều hoà phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ
ban của Quốc hội. Uỷ ban Thường vụ quốc hội họp ít nhất mỗi tháng một lần.
Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội và đoàn thư ký kỳ họp.
Quốc hội khoá XII bao gồm 9 uỷ ban: Uỷ ban pháp lụât, Uỷ ban tư pháp, Uỷ
ban kinh tế, Uỷ ban tài chính – ngân sách, Uỷ ban quốc phòng – an ninh, Uỷ
ban văn hoá - giáo dục – thanh niên – thiếu niên và nhi đồng, Uỷ ban các vấn
đề xã hội, Uỷ ban khoa học – công nghệ và môi trường, Uỷ ban đối ngoại.
Các uỷ ban có nhiệm vụ nghiên cứu, thẩm tra các dư luật, kiến nghị luật, dự
án pháp lệnh và các dự án khác; giám sát hoạt động của các cơ quan hành
pháp và tư pháp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định. Mỗi uỷ
ban có một số thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách.
Với tư cách là cơ quan lập pháp, Quốc hội có vai trò quan trọng trong
việc tạo dựng một môi trường xã hội, đảm bảo thực hiện nguyên tắc về tính
tối cao của pháp luật. Vai trò của quốc hội thể hiện ở chỗ, quốc hội ban hành
các đạo luật, tạo ra khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của công dân và thực
hiện giám sát đối với hoạt động của công dân để đảm bảo cho pháp luật được
tôn trọng. Quốc hội đảm bảo quyền con người bằng cách đặt ra các quy định
ràng buộc, nhất là quy định cho phép các công dân khi tham gia vào các quan
hệ xã hội có thể tự kiểm soát và bảo vệ được mình, ngăn chặn những nguy cơ
xâm phạm từ phía các chủ thể quyền lực khác.
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của các cơ
quan hành pháp và tư pháp; giám sát đối với các văn bản pháp luật nói chung,
3


kể cả văn bản quy phạm lẫn văn bản áp dụng. Hệ thống các văn bản pháp luật
mà quốc hội trực tiếp hay gián tiếp thực hiện quyền giám sát gồm: Hiến pháp,
luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; nghị quyết, nghị định của
Chính phủ; quyết định, chị thị của Thủ tướng Chính phủ; quyết định, chỉ thị,
thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; nghị quyết của Hội
đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; nghị quyết, thông tư liên tịch giữa
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với các tổ chức chính trị – xã hội; nghị
quyết của Hội đồng nhân dân; quyết định của uỷ ban nhân dân, v.v...
Các văn bản thuộc quyền giám sát của Quốc hội là những văn bản được
ban hành bởi Quốc hội hay các cơ quan có thẩm quyền khác khi quyết định
những vấn đề trọng đại của đất nước. Nội dung giám sát của Quốc hội đối với
các loại văn bản này bao gồm việc giám sát tính hợp hiến, hợp pháp, tính thứ
bậc của các loại văn bản; giám sát những sơ hở, thiếu sót của văn bản trong
quá trình áp dụng; giám sát việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; tính hiệu
quả của các văn bản, tính phù hợp của các pháp lệnh, nghị định độc lập...

2. Chủ tịch nước
Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt đất nước về đối
nội và đối ngoại. Là một thành viên của Quốc hội và do Quốc hội bầu, Chủ
tịch nước phải báo cáo công việc của mình trước Quốc hội và chịu trách
nhiệm trước Quốc hội.
Theo các quy định hiện nay Chủ tịch nước có quyền công bố Hiến
pháp, luật, pháp lệnh; thống lĩnh các lực lượng vũ trang; đề nghị Quốc hội
bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh
án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, căn
cứ vào nghị quyết của Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh Phó
Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; công bố đặc xá,
4


bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các Phó chánh án, thẩm phán Toà án nhân
dân tối cao, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định
phong hàm cấp sỹ quan cấp cao trong lực lượng vũ trang, tặng thưởng các
loại huân chương, danh hiệu, ... Chủ tịch nước đồng thời là Chủ tịch Hội đồng
Quốc phòng và An ninh, có quyền tham dự các phiên họp của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội, của Chính phủ.
Phó Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội có
nhiệm vụ giúp Chủ tịch nước làm nhiệm vụ và có thể được Chủ tịch nước uỷ
quyền làm thay một số việc.

3. Chính phủ
Trong cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay, Chính
phủ được xây dựng theo hướng tập trung vào lĩnh vực hành chính nhà nước.
Vừa là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Chính
phủ cũng được xác định là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất. Chính phủ
thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc
phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước; bảo đảm hiệu lực bộ máy nhà
nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc chấp hành Hiến pháp và pháp
lụât; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc;
bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Chính phủ bao gồm Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và một số
thành viên khác. Ngoài Thủ tướng các thành viên khác của Chính phủ không
nhất thiết phải là đại biểu Quốc hội. Chính phủ nhiệm kỳ 2007- 2011 gồm 5
Phó Thủ tướng, 22 Bộ trưởng và Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ.
Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu như lãnh đạo công
tác của các cơ bộ và các cơ quan trực thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các
cấp, xây dựng và kiện toàn hệ thống bộ máy hành chính nhà nước từ Trung
ương đến cơ sở; đảm bảo việc thi hành Hiến pháp và pháp lụât trong các cơ
5


quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang
và công dân. Chính phủ có quyền trình dự luật, pháp lệnh và các dự án khác
của Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; thống nhất quản lý việc xây
dựng, phát triển nền kinh tế, thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia,
thi hành các biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;
đảm bảo an ninh quốc gia và trật tự xã hội; thống nhất quản lý công tác đối
ngoại đàm phán, ký kết, các hiệp ước quốc tế nhân danh nhà nước...
Thủ tướng Chính phủ do Quốc hội bầu và chịu trách nhiệm trước Quốc
hội. Thủ tướng Chính phủ có nhiệm vụ lãnh đạo công tác của chính phủ; các
thành viên Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp; Chủ tọa các phiên họp của
Chính phủ; đề nghị Quốc hội thành lập hoặc bãi bỏ các bộ, cơ quan ngang bộ,
trình Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm cách chức các thứ trưởng và các chức
vụ tương đương; phê chuẩn, miễn nhiệm, cách chức Chủ tịch, các Phó Chủ
tịch tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ
các chỉ thị, thông tư của các Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ,
Uỷ ban nhân dân tỉnh trái với Hiến pháp và pháp luật, v.v...
Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm quản
lý nhà nước về lĩnh vực mà mình phụ trách trên phạm vi cả nước, bảo đảm
quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cơ sở theo quy
định của pháp luật.
Là cơ quan quản lý hành chính nhà nước cao nhất, Chính phủ phải bao
quát toàn bộ các ngành, lĩnh vực quản lý. Theo đó, khi quyết định một vấn đề
quản lý nhà nước nào đó, Chính phủ phải thảo luận tập thể và ra quyết định
theo đa số.

4. Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân
Toà án nhân dân

6


Theo quy định của pháp luật, Toà án nhân dân tối cao, Toà án nhân dân
các cấp, Toà án quân sự và các loại toà án khác là những cơ quan giữ quyền
xét xử. Nguyên tắc hoạt động của toà án là xét xử công khai, có sự tham gia
của các hội thẩm nhân dân. Khi xét xử thẩm phán và hội thẩm độc lập với
nhau và chỉ tuân theo pháp luật, quyết định theo đa số. Toà án nhân dân tối
cao là cơ quan xét xử cao nhất. Toà này có nhiệm vụ giám đốc thẩm việc xét
xử của các toà án địa phương, các toà án quân sự và các loại toà án đặc biệt
khác. Chánh án Toà án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, chịu trách nhiệm và
báo cáo công tác trước Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch
nước. Chánh án toà án các địa phương chịu trách nhiệm báo cáo công tác
trước Hội đồng nhân dân các cấp.
Theo cách thức tổ chức bộ máy nhà nước ở hầu hết các quốc gia trên
thế giới hiện nay, tư pháp phải là một nhánh quyền lực độc lập để kiềm chế
và đối trọng hai nhánh lập pháp và hành pháp các tranh chấp giữa nhà nước
và công dân với công dân, giữa các cơ quan nhà nước với nhau; giám sát việc
tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền của công dân trong quan hệ
với các cơ quan nhà nước.
Ở nước ta, do không áp dụng cơ chế phân quyền, Toà án không có chức
năng kiềm chế và đối trọng với Quốc hội và Chính phủ. Chức năng của Toà
án là xét xử các vụ án hình sự, dân sự, lao động, kinh tế và hành chính theo
luật định.
Viện Kiểm sát nhân dân:
Theo Hiến pháp năm 1992, Viện Kiểm sát nhân dân là cơ quan thực
hành quyền giám sát chung , giám sát việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật
của các cơ quan nhà nước, các tổ chức và các công dân đồng thời giữ quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Nhưng theo Hiến pháp năm 1992
(sửa đổi và bổ sung năm 2001), chức năng giám sát chung của Viện Kiểm sát
nhân dân không còn, cơ quan này chỉ tập trung vào chức năng công tố và
7


giám sát hoạt động tư pháp. Viện Kiểm sát nhân dân các địa phương, các Viện
Kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
trong phạm vi trách nhiệm do luật định.
Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của
Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân
dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, Uỷ ban
Thường vụ quốc hội và Chủ tịch nước. Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân
các địa phương chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân
và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân (trừ những đơn vị tổ chức
thí điểm không có Hội đồng nhân dân).

III. ĐỔI MỚI VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC ĐẢM BẢO VỊ TRÍ VÀ VAI
TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY.

1. Đối với tổ chức và hoạt động của Quốc hội
- Chuyên nghiệp hoá hoạt động của đại biểu Quốc hội, tăng số lượng và
chất lượng các đại biểu hoạt động chuyên trách. Hậu quả của tình trạng kiêm
nhiệm của đại biểu Quốc hội này là Quốc hội có thể thông qua những đạo lụât
một cách vội vàng do thiếu thời gian và nhân lực để thảo luận, bàn bạc kỹ
lưỡng, khiến cho nhiều đạo luật vừa mới thông qua đã phải sửa đổi. Với tư
cách là người đại diện của dân, địa vị pháp lý của các đại biểu Quốc hội là
như nhau, không nên có một số đại biểu hoạt động chuyên trách, một số khác
lại hoạt động nghiệp dư và không thực hiện đầy đủ sự uỷ quyền của người
dân.
- Xây dựng đội ngũ chuyên gia tham mưu cho cac đại biểu Quốc hội.
Để có một đội ngũ giúp việc mang tính chuyên nghiệp cao, Văn phòng Quốc
hội cần tổ chức những kỳ thi tuyển công chức một cách thực sự công khai và
khách quan để tuyển lựa các chuyên gia có tài năng thực sự . Thay vì cơ chế
8


tuyển chọn kiểu suốt đời như hiện nay, cần nghiên cứu áp dụng cơ chế công
chức chỉ làm việc theo hợp đồng trong một môi trường mang tính cạnh tranh
cao. Cách thức tuyển chọn như trên sẽ có thể quy tụ được những cán bộ giỏi
có năng lực và làm việc tại các cơ quan tham mưu cho các đại biểu Quốc hội.
- Đổi mới quy trình lập pháp để cho các dự luật trở nên khách quan hơn
và hạn chế tình trạng “cài cắm” lợi ích cục bộ của các cơ quan soạn thảo.
Minh bạch hoá quá trình này sẽ tạo điều kiện để công chúng có thể dễ dàng
hơn trong việc tiếp cận nội dung các dự luật, phát hiện những hạn chế, thiếu
sót và có thể tham gia đóng góp ý kiến vào các nội dung dự thảo. Sự tương
tác giữa người dân và các đại biểu Quốc hội sẽ tạo điều kiện để các đại biểu
Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội tham gia một cách hữu hiệu hơn vào quá
trình lập pháp hạn chế những khuyết điểm có thể có của dự thảo do những
cách nhìn chưa thực sự khách quan của cơ quan soạn thảo. Dưới góc độ này
có thể nói, việc minh bạch hoá hoạt động lập pháp chính là nội dung cơ bản
nhất của yêu cầu xã hội hoá hoạt động lập pháp mà lâu nay chúng ta vẫn
thường nói tới.
- Đổi mới phương thức giám sát của Quốc hội theo hướng tăng cường
hoạt động xem xét báo cáo chất vấn đối với các cơ quan nhà nước và những
người có chức vụ khác. Việc xem xét báo cáo nên tập trung vào kiểm điểm
hoạt động của Chính phủ, các bộ về việc tổ chức thực hiện các nghị quyết của
Quốc hội. Hoạt động chất vấn của Quốc hội đối với các bộ, ngành cần tập
trung vào việc vạch rõ những sai phạm do các cơ quan chịu sự chất vấn nêu
ra; hạn chế tối đa những câu hỏi chất vấn theo kiểu hỏi thông tin; thực hiện
hình thức bỏ phiếu bất tín nhiệm đột xuất hoặc thường kỳ đối với các chức
danh cao cấp của Nhà nước do Quốc hội bầu. Giải pháp ở đây là nên chăng
mỗi kỳ họp chỉ chọn một số vấn đề đưa ra chất vấn, thảo luận và đi đến kết
luận để có phương hướng giải quyết vấn đề một cách triệt để. Tăng cường
giám sát việc tuân thủ Hiến pháp. Trong khi nước ta vẫn chưa thiết lập một cơ

9


chế bảo hiến (giống như Toà án Hiến pháp ở các nước khác), thì Quốc hội cần
tăng cường công tác kiểm tra các văn bản dưới luật (các văn bản của Chính
phủ và các cơ quan nhà nước khác), và bãi bỏ chúng khi phát hiện các văn
bản này có dấu hiệu trái luật, trái với các quy định của Hiến pháp.
- Kéo dài hơn thời gian họp của Quốc hội. Để có thời gian giải quyết
công việc một cách hiệu quả và kịp thời, chắc chắn Quốc hội phải họp dài
ngày hơn. Mỗi đạo luật thay vì phải chịu áp lực thông qua trong vài ngày, thì
nay có thể kéo dài hơn thời gian thảo luận tại Quốc hội; thay vì các đạo luật
chủ yếu được thông qua theo quy trình một lần như hiện nay sẽ được chuyển
sang quy trình hai lần, cho phép các đại biểu nhìn hết các chiều cạnh của vấn
đề, lường tính được các rủi ro có thể, phân tích, lựa chọn được các phương án
tối ưu khi thông qua các dự luật. Để làm được điều này, thời gian họp của
Quốc hội phải chuyển sang cơ chế thường xuyên, trước mắt có thể 6
tháng/năm.
- Đổi mới công tác bầu cử Quốc hội để tuyển lựa được những người có
năng lực thực sự. Hiện nay, Quốc hội nước ta vẫn mang nặng tính cơ cấu. Do
vậy, những người có thể đóng góp, đề xuất được những biện pháp để giải
quyết các vấn đề quốc gia đại sự không nhiều. Vấn đề đặt ra là phải đổi mới
cơ chế bầu cử để người dân có thể tuyển lựa được những người đại diện thực
sự có tài, có đức. Cuộc bầu cử đó phải được tiến hành trên cơ sở tự do và cạnh
tranh giữa các ứng cử viên. Cho phép các ứng cử viên được vận động tranh cử
để người dân có thể hiểu về năng lực, tầm mức tư duy của họ, làm căn cứ
giúp họ đưa ra quyết định trong ngày bầu cử.
2. Đối với tổ chức và hoạt động của Chính phủ
- Xây dựng một Chính phủ theo hướng gọn nhẹ. Điều này có nghĩa
rằng, Chính phủ sẽ chỉ bao gồm rất ít những tiểu cấu trúc bên trong, giảm
thiểu những khâu, những đầu mối của quy trình hành pháp. Các cơ quan của

10


Chính phủ có khả năng hoạt động hiệu quả, có thể giải quyết tốt, nhanh những
vấn đề phát sinh trong xã hội.
- Đẩy mạnh việc cải cách thủ tục hành chính. Đây thực chất là việc loại
bỏ những khâu bất hợp lý, phiền hà cho ngừơi dân trong sinh hoạt, sản xuất
và kinh doanh, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
- Trao thêm quyền hạn cho Chính phủ. Để đáp ứng yêu cầu phát triển
của đất nước trong giai đoạn hiện nay, cùng với các biện pháp nhằm kiểm soát
chặt chẽ đối với các hoạt động của Chính phủ, cần giao thêm cho cơ quan này
những quyền hạn tương ứng. Một Chính phủ chỉ mạnh khi nó được giao đủ
thẩm quyền
để thực thi nhiệm vụ của mình. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội
nhập quốc tế hiện nay, hàng loat những vấn đề nóng bỏng của xã hội cần được
xử lý một cách nhanh chóng để theo kịp guồng quay của xã hội. Chính vì vậy,
chính phủ cần đưpực giao những thẩm quyền đủ mạnh để có thể điều hành xã
hội, đảm bảo sự thông suốt, thuận lợi cho việc phát triển của xã hội, phản ứng
nhanh trước những tình huống cụ thể, chẳng hạn như gia tăng thẩm quyền của
chính phủ trong việc lãnh đạo nền hành chính, tổ chức bộ máy, biên chế,...
Minh bạch hoá hoạt động của hệ thống hành pháp. Chính phủ hoạt động một
cách công khai và minh bạch là điều kiện để người dân có thể tham gia giám
sát các hành vi lạm quyền, lộng quyền của các công chức làm việc tại các cơ
quan này. Sự minh bạch được hiểu là hoạt động của các cơ quan hành pháp
phải được công khai cho mọi người dân được biết. Các công dân quan tâm
đến các hoạt động của các cơ quan này có thể tiếp cận một cách dễ dàng với
các loại thông tin, hồ sơ của họ khi cần thiết, trừ những vấn đề liên quan đến
bí mật và an ninh quốc gia quốc gia. Việc hoạch định chính sách của Chính
phủ cũng phải công khai, tạo điều kiện cho người dân tham gia. Chính phủ
cần tăng cường các buổi tiếp xúc với các đối tượng trực tiếp thụ hưởng chính
sách do mình ban hành như với các tầng lớp, đối tượng người dân, các doanh
11


nghiệp, giới đầu tư trong nước và nước ngoài ... để có thể nghe được ý kiến,
trao đổi phản hồi, và từ đó Chính phủ có thể điều chỉnh chính sách của mình
cho phù hợp với thực tế cuộc sống.

3. Đổi mới Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân
- Đảm bảo tính độc lập và khách quan của các cơ quan tư pháp trong
quá trình điều tra và xét xử là trọng tâm của công cuộc cải cách tư pháp ở
nước ta hiện nay. Sự độc lập của tư pháp với các nhánh quyền lực là hệ quả
của nguyên tắc phân công quyền lực – một đặc trưng của nhà nước pháp
quyền. Sự độc lập của các cơ quan tư pháp có nghĩa rằng, hoạt động của Viện
Kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân không chịu sự can thiệp từ phía các
nhánh quyền lực, các cấu trúc quyền lực khác, mà các cơ quan này phải tự
đưa những phán quyết của riêng mình trên cơ sở những quy định của pháp
luật. Nếu các cơ quan tư pháp không hoạt động độc lập thì quyền tự do và
quyền con người của công dân khó có thể được đảm bảo.
- Đổi mới thủ tục tố tụng để đảm bảo tính độc lập trong quá trình xét xử
của toà án. Thủ tục xét xử ở nước ta hiện nay chủ yếu vẫn là thủ tục xét hỏi.
Thủ tục này làm cho toà án có xu hướng lệ thuộc vào kết quả điều tra, bản cáo
trạng của viện kiểm sát trong xét xử các vụ án, đặc biệt là các vụ án hình sự,
điều tra là một giai đoạn tố tụng nhằm chứng minh tội phạm nhưng được tiến
hành một cách bán công khai. Giai đoạn xét xử là giai đoạn công khai hoá các
kết quả điều tra, trực tiếp nghe những người tranh luận, bảo vệ hoặc phản đối
những kết quả điều tra. Thực tiễn cho thấy, toà án thường coi những kết quả
điều tra là kết quả cuối cùng của các vụ án, nghĩa là khi vụ án đưa ra xét xử
thì phán quyết đã được định sẵn.
- Tiếp tục nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khả năng luận giải,
phân tích của các công tố viên, thẩm phán. Cần phải đào tạo trình độ nghiệp

12


vụ và bản lĩnh nghề nghiệp của các công tố viên và các thẩm phán để họ có
thể làm việc trong một môi trường độc lập, dân chủ hơn.
- Tăng cường hơn nữa vai trò của đội ngũ luật sư trong quá trình tố
tụng xét xử. Các lụât sư, với tư cách là những đại diện của bên bị (luật sư của
người dân) phải được tạo điều kiện thuận lợi và bình đẳng như các công tố
viên (luật sư của Nhà nước) trong việc tiếp cận với hồ sơ vụ án để có căn cứ
tranh tụng trước toà, tìm chứng cứ gỡ tội cho các thân chủ của mình. Trong
quá trình xét xử, quyền bào chữa của luật sư cần được các thẩm phán tôn
trọng. Chúng ta cần hướng tới một nền tư pháp mà ở đó chân lý được tìm ra
trên cơ sở tranh luận dân chủ và bình đẳng dựa trên pháp luật.
IV. KẾT LUẬN
Nhận thức đúng đắn về chức năng và nhiệm vụ, vị trí và vai trò của nhà
nước trong hệ thống chính trị là một trong những điều kiện để đề xuất các giải
pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nói chung và xây
dựng nhà nước nói riêng ở nước ta hiện nay. Nhận thức đúng đắn và đầy đủ
hơn về hệ thống chính trị là việc không đơn giản, vì đây là một khái niệm mới
ở nước ta, cách hiểu và cách làm còn chưa thật sự thống nhất. Đảng lãnh đạo
nhà nước, là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là làm cho
quyền lực Nhà nước và hệ thống tổ chức thực thi quyền lực – hệ thống chính
trị - được xác định đúng đắn và có hiệu quả hơn. Quyền lực nhà nước của
nhân dân được củng cố và tăng cường cũng có nghĩa là quyền lãnh đạo của
Đảng được củng cố và tăng cường. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với nhà nước là nhằm củng cố và tăng cường sức mạnh của Nhà
nước, đáp ứng tốt hơn những yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước theo
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×