Tải bản đầy đủ

Hôn nhân và gia đình trong văn hóa người thái đen xã sốp cộp huyện sốp cộp tỉnh sơn la

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

CHU THỊ CHINH

HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG VĂN HÓA
NGƢỜI THÁI ĐEN XÃ SỐP CỘP HUYỆN SỐP CỘP
TỈNH SƠN LA

Chuyên ngành: XH2b

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn: Th.S Nguyễn Thanh Thủy

SƠN LA, NĂM 2017


Lời cảm ơn!
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo trong khoa Lý luận
chính trị, Phòng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế đã động viên, giúp đỡ em
trong suốt thời gian làm khóa luận. Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn cô giáo,

Ths.Nguyễn Thanh Thủy, đã tận tình chỉ bảo và đóng góp những ý kiến khoa học vô
cùng quý báu giúp em hoàn thành khóa luận này.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong thƣ viện nhà trƣờng đã tạo
điều kiện về mặt tài liệu để em hoàn thành khóa luận. Xin cảm ơn đến Ủy ban nhân
dân xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp tỉnh Sơn La đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình
thu thập số liệu. Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề khóa luận một cách hoàn
chỉnh nhất. Song do lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và còn hạn
chế về kiến thức, kinh nghiệm nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất
định mà bản thân em chƣa thấy đƣợc. Em rất mong nhận đƣợc sự góp ý kiến của quý
Thầy, cô giáo và các bạn sinh viên để khóa luận của em đƣợc hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 5/2017
Sinh viên

Chu Thị Chinh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..........................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ..........................................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu ...................................................................................................2
3. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu ..............................................................3
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu ................................................................................................3
3.3. Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................................4
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ...............................................................................4
4.1. Mục đích nghiên cứu .................................................................................................4
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.................................................................................................4
6. Phƣơng pháp nghiên cứu ..............................................................................................4
7. Đóng góp của khóa luận ...............................................................................................4
8. Kết cấu của khóa luận ...................................................................................................5
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU HÔN
NHÂN, GIA ĐÌNH NGƢỜI THÁI ĐEN Ở HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA ...6
1.1. Cơ sở lí luận của việc nghiên cứu hôn nhân và gia đình của ngƣời Thái đen ở
huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La .............................................................................................6
1.1.1 Khái niệm hôn nhân .................................................................................................6
1.1.2. Khái niệm gia đình..................................................................................................8
1.1.3. Văn hóa hôn nhân, gia đình ..................................................................................10
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu hôn nhân và gia đình của ngƣời Thái đen ở
huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La ...........................................................................................12

Chƣơng 2: HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH CỦA NGƢỜI THÁI ĐEN Ở XÃ SỐP CỘP,
HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA VÀ NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA NÓ ...............20
2.1. Hôn nhân ..................................................................................................................20
2.1.1. Hôn nhân truyền thống .........................................................................................20
2.1.2. Nghi lễ cƣới hỏi ....................................................................................................31
2.1.3. Biến đổi trong hôn nhân ngƣời Thái đen hiện nay...............................................37
2.2. Gia đình ....................................................................................................................40


2.2.1. Gia đình truyền thống của ngƣời Thái đen...........................................................40
2.2.2. Biến đổi trong gia đình ngƣời Thái đen hiện nay ................................................44
2.3. Nguyên nhân của sự biến đổi về hôn nhân và gia đình của ngƣời Thái đen ở xã
Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La ...........................................................................46
2.3.1. Nguyên nhân kinh tế - xã hội ...............................................................................46
2.3.2. Nguyên nhân văn hóa ...........................................................................................47
2.3.3. Nguyên nhân pháp lí .............................................................................................48
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 .................................................................................................50
Chƣơng 3: GIẢI PHÁP PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA TRONG HÔN NHÂN
VÀ GIA ĐÌNH CỦA NGƢỜI THÁI ĐEN Ở XÃ SỐP CỘP, HUYỆN SỐP CỘP,
TỈNH SƠN LA HIỆN NAY .........................................................................................51
3.1. Những giá trị văn hóa trong hôn nhân và gia đình của ngƣời Thái đen ở xã Sốp
Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La ..................................................................................51
3.1.1 Tích cực..................................................................................................................51
3.1.2. Hạn chế .................................................................................................................54
3.2. Giải pháp ..................................................................................................................56
3.2.1. Về kinh tế ..............................................................................................................57
3.2.2. Về văn hóa – xã hội ..............................................................................................58
3.2.3. Về quản lí ..............................................................................................................59
3.2.4. Về tuyên truyền .....................................................................................................59
KẾT LUẬN ....................................................................................................................62
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................64


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hôn nhân và gia đình là những thiết chế xã hội có liên quan chặt chẽ với toàn
bộ hệ thống xã hội. Nó phản ánh các mối quan hệ sinh học và xã hội, vật chất và tinh
thần, tƣ tƣởng và tâm lí. Gia đình Việt Nam đƣợc coi là tế bào của xã hội, sự thu hẹp
của các quan hệ xã hội đƣợc thể hiện ở những quan hệ gia đình và dòng họ. Hôn nhân
là một trong những vấn đề cơ bản của gia đình vì nó dẫn đến sự tạo lập gia đình mới
hoặc làm thay đổi quy mô, cấu trúc, hình thái của gia đình cũ. Bản thân hôn nhân cũng
là thiết chế hết sức mềm dẻo đã tồn tại dƣới nhiều hình thức.
Qua các thời kì, có rất nhiều bằng chứng cho thấy những đặc trƣng văn hóa và
các khuôn mẫu hôn nhân và gia đình ở các tộc ngƣời không ngừng biến đổi. Với tính
chất biện chứng, sự vận động của hôn nhân và gia đình ngay trong lòng một xã hội là
không thể tránh khỏi khi chính xã hội đó đang dần biến thiên. Điều này đặt ra một vấn
đề cần đƣợc xem xét là liệu có nên có sự can thiệp và hƣớng dẫn của pháp luật đối với
những luật tục trên cơ sở tôn trọng tính văn hóa đa dạng của các dân tộc. Do đó, các
tập tục này cần đƣợc nghiên cứu kỹ trong bối cảnh xã hội hiện đại để làm cơ sở khoa
học cho việc hoạch định các chính sách phù hợp, nhằm lãnh đạo có hiệu quả công
cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa, xã hội trong thời kì mới.
Dân tộc Thái hiện là cộng đồng đông nhất ở Sơn La, chiếm khoảng 54% dân số
trong tỉnh và phân bố ở các huyện chủ yếu nhƣ: Quỳnh Nhai, Mƣờng La, Thuận Châu,
Sông Mã, Sốp Cộp, Mai Sơn,... Ngƣời Thái cƣ trú thành từng bản xen cài chủ yếu với
các bản dân tộc thiểu số khác nhau nhƣ Mông, Mƣờng, Laha, Khơ mú,... tạo nên mối
quan hệ xã hội và giao tiếp, trao đổi văn hóa giữa ngƣời Thái và các tộc ngƣời khác
một cách tự nhiên qua các thời kì lịch sử khác nhau trong quá khứ và hiện tại. Đặc biệt
trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kinh tế thị
trƣờng, bên cạnh sự tiếp thu những giá trị văn hóa mới của nền văn minh công nghiệp
thì văn hóa hôn nhân và gia đình của ngƣời Thái đen chịu sự tác động nhiều chiều và
đang đứng trƣớc sự mai một bản sắc.
Để góp phần nhận diện, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa hôn nhân truyền
thống của ngƣời Thái đen trong bối cảnh trên, tác giả đã lựa chọn “Hôn nhân và gia

1


đình trong văn hóa của người Thái đen ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La”
làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu
Hôn nhân và gia đình luôn là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học
thuộc lĩnh vực xã hội và nhân văn. Việc nghiên cứu hôn nhân và gia đình ở các tộc
ngƣời có ý nghĩa rất lớn về mặt khoa học, một mặt góp phần làm sáng tỏ quá trình tộc
ngƣời với các hình thức tiến triển của các loại hình hôn nhân và gia đình ở các thời kì
lịch sử khác nhau, mặt khác làm rõ các cấu trúc, quan hệ xã hội và văn hóa trong nội
bộ tộc ngƣời và với các tộc ngƣời khác.
Vì vậy việc nghiên cứu về vấn đề Hôn nhân và gia đình cũng đã đƣợc nhiều tác
giả quan tâm. Và trong thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Cụ
thể nhƣ:
* Các công trình nghiên cứu về hôn nhân, gia đình nói chung gồm:
- Đỗ Thúy Bình (1999), Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở
Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Nguyễn Thị Thuận (2016), Hôn nhân và gia đình của người Khơ mú ở huyện
Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Bài viết này tác giả đã tìm hiểu về nguồn gốc, lịch sử và nhận
diện chân dung và đặc điểm văn hóa Hôn nhân và Gia đình của ngƣời Khơ mú ở huyện
Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Qua đó, làm rõ những nhân tố tác động trực tiếp, gián tiếp đến
sự biến đổi và những xu hƣớng trong quan hệ Hôn nhân và Gia đình của tộc ngƣời
Khơ mú. Và đề xuất, kiến nghị nội dung, giải pháp nhằm phát huy các giá trị văn hóa
Hôn nhân và gia đình của ngƣời Khơ mú trong xây dựng nông thôn mới và xây dựng
đời sống văn hóa ở cơ sở ở hiện nay.
- Lƣơng Thị Vân, (2010), Nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng tại Việt
Nam - Lịch sử phát triển và thực tiễn áp dụng.
* Các công trình nghiên cứu về hôn nhân, gia đình ngƣời Thái nhƣ:
- Lò Thị Cẩm Diệp (2010), Phong tục cưới xin của người Thái đen huyện
Thuận Châu – Sơn La. Tác giả đã đề cập đến nguồn gốc, nơi cƣ trú, các bƣớc cƣới xin,
những nét văn hóa đặc sắc trong phong tục cƣới xin nhƣ: tẳng cẩu, uống rƣợu cần, một
số bài xƣớng đƣợc lƣu truyền lại,... Đồng thời, tác giả cũng đã nêu lên đƣợc ý nghĩa và
tìm ra một số giải pháp để bảo tồn và phát huy những bản sắc văn hóa dân độc Thái
đen trong thời kỳ đổi mới.
2


- Cà Văn Hoàng (2014), Nạn tảo hôn của người Thái ở xã Nậm Lịch, huyện
Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Trong bài viết này, tác giả đã khái quát về ngƣời Thái và
tập quán hôn nhân truyền thống của ngƣời Thái ở xã Nậm Lịch, huyện Mƣờng Ảng,
tỉnh Điện Biên.Đồng thời, phân tích thực trạng nguyên nhân, những tác động của nạn
tảo hôn tới kinh tế xã hội và đƣa ra giải pháp khắc phục nạn tảo hôn của ngƣời Thái ở
địa phƣơng.
- Thái Thị Minh (2006), Tìm hiểu phong tục cưới xin của người Thái ở huyện
Thuận Châu, tỉnh Sơn La trong gia đoạn hiện nay. Với bài viết này tác giả đã nêu ra
các bƣớc cƣới xin theo truyền thống và sự thay đổi hiện nay.
- Lò Thị Phƣợng (2014), Tìm hiểu tục cưới xin truyền thống của người Thái đen
ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Bài viết này tác giả đã khái quát về nguồn gốc lịch
sử văn hóa của ngƣời Thái đen, tìm hiểu những nét độc đáo riêng trong phong tục
cƣới xin của dân tộc Thái đen ở Điện Biên và góp phần giáo dục truyền thống văn hóa,
ý thức giữ gìn văn hóa cho thế hệ trẻ.
-Vũ Hải Việt (2017), Ảnh hưởng của Luật tục dân tộc Thái trong thực hiện
pháp luật hôn nhân và gia đình, Tạp chí dân chủ và pháp luật.
Ở Sơn La vấn đề hôn nhân và gia đình cũng nhận đƣợc nhiều sự quan tâm.
Những năm qua công tác giáo dục về hôn nhân và gia đình luôn đƣợc các cấp ủy,
chính quyền các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nhƣ: đƣa ra các kế hoạch, chỉ thị,
tuyên truyền đến các cơ sở địa phƣơng,... vì sự tiến bộ của hôn nhân và gia đình các
dân tộc trên toàn tỉnh.
Bên cạnh đó, còn có nhiều các tạp chí, bản tin, bài viết, website của các viện
nghiên cứu, các trung tâm thông tin, các văn kiện, nghị quyết về vấn đề này. Tuy
nhiên, chƣa có đề tài, công trình nghiên cứu nào đề cập đến hôn nhân và gia đình cùng
những biến đổi của nó trong văn hóa ngƣời Thái đen ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp,
tỉnh Sơn La.
3. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Khóa luận lấy đối tƣợng Hôn nhân và gia đình của ngƣời dân tộc Thái đen làm
đối tƣợng tiếp cận, giải mã thông tin và tìm ra các giá trị văn hóa.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Vấn đề hôn nhân và gia đình của dân tộc Thái đen ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp
Cộp, tỉnh Sơn La.
3


3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: 3 bản ngƣời Thái đen là Hua Mƣờng, Lả Mƣờng, Nà Nó ở xã
Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
- Về thời gian: quan sát hôn nhân và gia đình ngƣời Thái đen trƣớc và sau năm
1986.
- Về nội dung: tiếp cận đối tƣợng trong cái nhìn truyền thống và biến đổi.
Dân tộc Thái bao gồm Thái đen và Thái trắng. Tuy nhiên trong bài khóa luận
chỉ đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu về dân tộc Thái đen.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
- Nhận diện chân dung và đặc điểm văn hóa trong hôn nhân và gia đình của
ngƣời Thái đen ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
- Làm rõ những nhân tố tác động trực tiếp, gián tiếp đến sự biến đổi và những
xu hƣớng trong quan hệ hôn nhân và gia đình của tộc ngƣời Thái đen.
- Đề xuất giải pháp nhằm phát huy các giá trị văn hóa hôn nhân và gia đình của
ngƣời Thái đen trong xây dựng nông thôn mới và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
hiện nay.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về hôn nhân và gia đình của ngƣời Thái đen ở xã Sốp
Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
- Tìm hiểu và đánh giá các nhân tố ảnh hƣởng đến sự biến đổi trong hôn nhân
và gia đình của ngƣời Thái đen ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
- Đề xuất các kiến nghị, phƣơng hƣớng, giải pháp trong việc thực hiện hôn nhân
và gia đình của ngƣời Thái đen ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu vấn đề này, tác giả sử dụng các phƣơng pháp nhƣ: thu thập tài
liệu thứ cấp, điền dã dân tộc học, điều tra phỏng vấn các đối tƣợng cung cấp thông tin
bằng bảng hỏi.
7. Đóng góp của khóa luận
Làm rõ đƣợc các đặc điểm văn hóa và những nhân tố tác động đến sự biến đổi
và những xu hƣớng trong quan hệ hôn nhân và gia đình của ngƣời Thái đen ở xã Sốp
Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Từ đó, đóng góp thêm những phƣơng hƣớng, giải
4


pháp nhằm phát huy các giá trị văn hóa hôn nhân và gia đình của ngƣời Thái đen trong
xây dựng nông thôn mới và xây dựng đời sống văn hóa ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp,
tỉnh Sơn La.
8. Kết cấu của khóa luận
Khóa luận ngoài phần mở đầu, kết luận, kết cấu gồm 3 chƣơng:
Chƣơng I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu hôn nhân, gia đình
ngƣời Thái đen ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
Chƣơng II: Hôn nhân, gia đình của ngƣời Thái đen ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp
Cộp, tỉnh Sơn La và những biến đổi của nó.
Chƣơng III: Giải pháp phát huy bản sắc văn hóa trong hôn nhân và gia đình của
ngƣời Thái đen ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La hiện nay.

5


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU HÔN NHÂN,
GIA ĐÌNH NGƢỜI THÁI ĐEN Ở HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
1. 1. Cơ sở lí luận của việc nghiên cứu hôn nhân và gia đình của ngƣời Thái
đen ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La
1.1.1 Khái niệm hôn nhân
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Hôn nhân là thể chế xã hội kèm theo nghi
thức xác nhận quan hệ tính giao giữa hai hay nhiều ngƣời thuộc hai giới tính khác
nhau (nam, nữ), đƣợc coi nhau là chồng và vợ, quy định mối quan hệ và trách nhiệm
giữa họ với nhau và giữa họ với con của họ. Sự xác nhận đó, trong quá trình phát triển
của xã hội, dần dần mang thêm những yếu tố mới.
Hôn nhân là hiện tƣợng xã hội – là sự liên kết giữa đàn ông và đàn bà, đƣợc luật
tục hoặc pháp luật thừa nhận để chung sống với nhau xây dựng gia đình.
Sách giáo khoa Giáo dục công dân 10 (Bộ Giáo dục và Đào tạo – NXB Giáo
dục Việt Nam, Tái bản lần thứ 9, năm 2015): Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng
sau khi đã kết hôn.
Theo Từ điển Bách Khoa toàn thư mở Wikipedia:
Hôn nhân là một cách chung nhất có thể đƣợc xác định nhƣ một sự xếp đặt của
mỗi một xã hội để điều chỉnh mối quan hệ sinh lý giữa đàn ông và đàn bà. Nó là một
hình thức xã hội luôn luôn thay đổi trong suốt quá trình phát triển của mối quan hệ
giữa họ, nhờ đó xã hội xếp đặt và cho phép họ sống chung với nhau, quy định quyền
lợi và nghĩa vụ của họ. Về mặt luật pháp, đó là việc đăng ký kết hôn.
Hôn nhân thƣờng là sự kết hợp giữa một ngƣời đàn ông đƣợc gọi là chồng và
một ngƣời đàn bà đƣợc gọi là vợ. Hôn nhân theo chế độ đa thê là một kiểu hôn nhân
trong đó một ngƣời đàn ông có nhiều vợ. Ở một số nƣớc, hôn nhân đồng giới đƣợc
công nhận. Ở một số nƣớc khác, việc đấu tranh hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới đang
diễn ra. Hiện nay ở Việt Nam, luật hôn nhân và gia đình không cấm hôn nhân giữa
những ngƣời cùng giới tính song cũng không thừa nhận thể loại hôn nhân này.
Hôn nhân, trong chừng mực nào đó, có thể đƣợc định nghĩa nhƣ là sự kết hợp
giữa hai ngƣời, một nam và một nữ, để chung sống, cũng nhƣ để dành cho nhau sự
giúp đỡ và hỗ trợ cần thiết. Ta nói trong chừng mực nào đó, vì khái niệm này không có
đƣợc nội dung nhƣ trên một cách trọn vẹn trong luật của nhiều nƣớc.
6


Một mặt, ở một số nƣớc nhất là các nƣớc Hồi giáo, vẫn thừa nhận rằng hôn
nhân là sự kết hợp giữa một ngƣời nam và một ngƣời nữ,... nhƣng đồng thời còn cho
phép một ngƣời đàn ông thực hiện sự kết hợp đó với nhiều ngƣời đàn bà cùng một lúc:
ta có chế độ hôn nhân đa thê. Chế độ đa thê cũng có thời kỳ đƣợc thừa nhận ở phƣơng
Ðông (Việt Nam, Trung Quốc,...) nhƣng nay đã bị bãi bỏ. Ở một vài bộ tộc sống theo
nền nếp hình thành từ thời kỳ sơ khai của nền văn minh, chế độ đa phu đƣợc thừa
nhận: một ngƣời đàn bà có thể chung sống với nhiều ngƣời đàn ông cùng một lúc.
Mặt khác, ở một số nƣớc lại xuất hiện xu hƣớng cho rằng sự khác biệt giới tính
không phải là điều kiện bắt buộc của hôn nhân: những ngƣời cùng giới tính vẫn có thể
chung sống với nhau và tạo thành một gia đình. Các nƣớc Bắc Âu là nơi phát triển
mạnh nhất của xu hƣớng này. Riêng Hà Lan là nƣớc đầu tiên đã thông qua một đạo
luật cho phép kết hôn giữa những ngƣời có cùng giới tính. Ðối với xã hội phƣơng
Ðông, nhất là đối với xã hội Việt Nam, tình yêu giữa những ngƣời cùng giới tính đƣợc
coi là biểu hiện của một tình trạng bệnh tật và hôn nhân giữa những ngƣời cùng giới
tính là một giao dịch không chỉ nằm ngoài vòng pháp luật mà còn nằm ngoài khuôn
khổ đạo đức pháp lý.
Về phương diện pháp lý, hôn nhân là một giao dịch đặc biệt trọng thức và phức
hợp. Nó bắt đầu bằng việc kết hôn, diễn ra trong một thời gian gọi là thời kỳ hôn nhân
và chấm dứt do một trong hai nguyên nhân – một trong hai bên chết hoặc ly hôn. Có
trƣờng hợp một ngƣời đàn ông và một ngƣời đàn bà chung sống với nhau và cũng xây
dựng một hộ về mặt xã hội, nhƣng lại không đăng ký kết hôn. Quan hệ chung sống ấy
đƣợc chi phối bởi các quy tắc riêng.
Ngoài ra khi nghiên cứu về hôn nhân chúng ta cần đề cập đến một số khái niệm
liên quan nhƣ:
Ngoại hôn, ngƣời ta phải chọn ngƣời ngoài nhóm (dòng họ, cộng đồng) để cƣới.
Hình thức hôn nhân này khá phổ biến khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định
trong xã hội loài ngƣời.
Hôn nhân hỗn hợp dân tộc là khái niệm dùng để chỉ sự kết hôn giữa hai ngƣời
khác giới không cùng dân tộc, tôn giáo.
Hôn nhân một vợ một chồng là hình thức hôn nhân giữa một ngƣời đàn ông và
một ngƣời đàn bà vào một thời điểm nhất định theo luật tục, pháp luật quy định xuất
hiện trong thời đại văn minh của xã hội loài ngƣời.
7


Nhƣ vậy, hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm, xã hội
hoặc tôn giáo một cách hợp pháp. Hôn nhân có thể là kết quả của tình yêu. Hôn nhân
là một mối quan hệ cơ bản trong gia đình ở hầu hết xã hội. Về mặt xã hội, lễ
cƣới thƣờng là sự kiện đánh dấu sự chính thức của hôn nhân.
1.1.2. Khái niệm gia đình
Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam nêu rõ tại mục 2 của Điều 3: Gia đình là
tập hợp những ngƣời gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ
nuôi dƣỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của
Luật này.
Sách giáo khoa Giáo dục công dân 10 (Bộ Giáo dục và Đào tạo – NXB Giáo
dục Việt Nam, Tái bản lần thứ 9, năm 2015): Gia đình là một cộng đồng ngƣời cùng
chung sống và gắn bó với nhau bởi hai mối quan hệ cơ bản quan hệ hôn nhân và quan
hệ huyết thống.
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Gia đình là một cộng đồng ngƣời sống
chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ
huyết thống, quan hệ nuôi dƣỡng và hoặc quan hệ giáo dục. Gia đình có lịch sử từ rất
sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài. Thực tế, gia đình có những ảnh
hƣởng và những tác động mạnh mẽ đến xã hội.
Ngay từ thời nguyên thủy cho tới hiện nay, không phụ thuộc vào cách kiếm
sống, gia đình luôn tồn tại và là nơi để đáp ứng những nhu cầu cơ bản cho các thành
viên trong gia đình. Song để đƣa ra đƣợc một cách xác định phù hợp với khái niệm gia
đình, một số nhà nghiên cứu xã hội học đã đƣa ra sự so sánh giữa gia đình loài ngƣời
với cuộc sống lứa đôi của động vật, gia đình loài ngƣời luôn luôn bị ràng buộc theo
các điều kiện văn hóa xã hội của đời sống gia đình ở con ngƣời. Gia đình ở loài ngƣời
luôn bị ràng buộc bởi các quy định, các chuẩn mực giá trị, sự kiểm tra và sự tác động
của xã hội; vì thế theo các nhà xã hội học, thuật ngữ gia đình chỉ nên dùng để nói về
gia đình loài ngƣời.
Thực tế, gia đình là một khái niệm phức hợp bao gồm các yếu tố sinh học, tâm
lý, văn hóa, kinh tế,... khiến cho nó không giống với bất kỳ một nhóm xã hội nào. Từ
mỗi một góc độ nghiên cứu hay mỗi một khoa học khi xem xét về gia đình đều có thể
đƣa ra một khái niệm gia đình cụ thể, phù hợp với nội dung nghiên cứu phù hợp và chỉ
có nhƣ vậy mới có cách tiếp cận phù hợp đến với gia đình.
8


Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội. Vì vậy, có thể
xem xét gia đình nhƣ một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời nhƣ một thiết chế xã hội mà có
vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con ngƣời. Gia đình là một thiết
chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi
quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về
sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi
thành viên cũng nhƣ để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con ngƣời.
Có thể phân ra hai loại gia đình:
Gia đình hạt nhân: Là loại hình gia đình đƣợc tạo thành gồm hai thế hệ: Cha
mẹ và con cái chƣa lập gia đình. Mỗi thành viên của gia đình hạt nhân nằm trong một
loạt những quan hệ chuyển biến qua thời gian với từng thành viên kia: giữa chồng với
vợ, cha mẹ với con cái và giữa những ngƣời con với nhau.
Do vậy cũng có thể có gia đình hạt nhân đầy đủ và gia đình hạt nhân không đầy
đủ. Gia đình hạt nhân đầy đủ là gia đình chứa trong nó đầy đủ các mối quan hệ (chồng,
vợ, các con). Gia đình hạt nhân không đầy đủ là gia đình trong nó không đầy đủ các
mối quan hệ đó, nghĩa là trong đó chỉ tồn tại mối quan hệ giữa ngƣời vợ với ngƣời
chồnghoặc mối quan hệ giữa ngƣời bố hoặc ngƣời mẹ với các con.
Gia đình hạt nhân là dạng gia đình đặc biệt quan trọng trong đời sống gia đình.
Nó là kiểu gia đình của tƣơng lai và ngày càng phổ biến trong xã hội hiện đại.
Gia đình mở rộng: Là loại hình gia đình có từ ba, bốn thế hệ trở lên “tam, tứ đại
đồng đƣờng” chung sống với nhau.
Đó là một nhóm ngƣời ruột thịt của một vài thế hệ sống chung với nhau dƣới
một mái nhà, thƣờng từ ba thệ hệ trở lên, tất nhiên trong phạm vi của nó còn có cả
những ngƣời ruột thịt từ tuyến phụ. Dạng cổ điển của gia đình mở rộng là gia đình
trƣởng lớn, có đặc tính tổ chức chặt chẽ. Nó liên kết ít nhất là vài gia đình nhỏ và
những ngƣời lẻ loi. Các thành viên trong gia đình đƣợc xếp đặt trật tự theo ý muốn của
ngƣời lãnh đạo gia đình mà thƣờng là ngƣời đàn ông cao tuổi nhất trong gia đình.
Ngày nay, gia đình mở rộng thƣờng gồm cặp vợ chồng, con cái của họ và bố mẹ của
họ nữa. Trong gia đình này, quyền hành không ở trong tay của ngƣời lớn tuổi nhất.
Với tƣ cách là một hình thức cộng đồng tổ chức đời sống xã hội. Gia đình đƣợc
hình thành từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài. Xuất phát từ nhu
cầu bảo tồn và duy trì nòi giống, từ sự cần thiết phải dựa vào nhau để sinh tồn, các
9


hình thức quần tụ giữa nam và nữ giới, những hình thức cộng đồng tổ chức đời sống
gia đình đã xuất hiện. Lịch sử nhân loại đã trải qua nhiều hình thức gia đình nhƣ: Gia
đình đối ngẫu, gia đình hôn nhân từng cặp, gia đình một vợ một chồng...
Trên cơ sở của sự phát triển kinh tế - xã hội các kiểu dạng tổ chức cộng đồng
mang tính tự nhiên, ngay từ đầu đã chịu sự quy định của sự biến đổi trong sản xuất
trong đời sống kinh tế - xã hội. Để quan hệ với thiên nhiên, tác động vào thiên nhiên,
con ngƣời cần phải quần tụ thành các nhóm cộng đồng. Ban đầu, các quan hệ chi phối
trong những nhóm cộng đồng ấy còn mang sắc thái tự nhiên sinh học sống quần tụ với
nhau theo bầy đàn, sinh sống bằng săn bắn hái lƣợm... Trƣớc những yêu cầu của sản
xuất và sinh hoạt những đòi hỏi của đời sống kinh tế các quan hệ ấy dần trở nên chặt
chẽ, giữa các thành viên trong cộng đồng ấy xuất hiện những cơ chế ràng buộc lẫn
nhau phù hợp và thích ứng với những điều kiện sản xuất, sinh hoạt của mỗi một nền
sản xuất. Gia đình dần dần trở thành một thiết chế xã hội, một hình ảnh “xã hội thu
nhỏ”. Nhƣng không phải là sự thu nhỏ một cách giản đơn các quan hệ xã hội. Những
gia đình đƣợc coi nhƣ một thiết chế xã hội đặc thù, nhỏ nhất, cơ bản nhất.
Nếu nhƣ văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời
sáng tạo ra, nhằm thoả mãn, đáp ứng các nhu cầu của chính mình thì 2 gia đình không
chỉ là một hình thức tổ chức cộng đồng, một thiết chế xã hội mà điều quan trọng gia
đình còn là một giá trị văn hoá xã hội. Tính chất, bản sắc của gia đình lại đƣợc duy trì,
bảo tồn, đƣợc sáng tạo và phát triển nhằm thoả mãn những nhu cầu của mỗi thành viên
trong gia đình trong sự tƣơng tác gắn bó với văn hoá cộng đồng dân tộc, cộng đồng
giai cấp, tầng lớp trong mỗi giai đoạn lịch sử của quốc gia, dân tộc.
Nhƣ vậy: Gia đình là một trong những hình thức tổ chức cơ bản trong đời sống
cộng đồng của con ngƣời một thiết chế văn hoá xã hội đặc thù đƣợc hình thành, tồn tại
và phát triển trên cơ sở của những quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ
nuôi dƣỡng và giáo dục... giữa các thành viên.
1.1.3. Văn hóa hôn nhân, gia đình
Nếu coi văn hóa là gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc
khác, thì văn hóa hôn nhân và gia đình, một bộ phận không tách rời của văn hóa chung
cũng sẽ bao gồm tất cả những gì làm cho hôn nhân, gia đình cả một cộng đồng này, xã
hội này, dân tộc này, khu vực này khác với hôn nhân, gia đình của các cộng đồng, xã
hội, dân tộc, khu vực khác. Sự khác biệt đó không phải ngẫu nhiên, tình cờ mà nó
10


đƣợc qui định bởi hàng loạt những yếu tố khách quan về đời sống vật chất, tinh thần,
chế độ xã hội, môi trƣờng tự nhiên của mỗi cộng đồng ngƣời, tồn tại lâu dài trong lịch
sử, để lại dấu ấn đặc biệt trong đời sống xã hội và gia đình, tạo thành cái đƣợc gọi là
bản sắc văn hóa. Một dân tộc chỉ đƣợc coi là có một nền văn hóa riêng khi chứng minh
đƣợc bản sắc văn hóa của mình. Cũng nhƣ vậy, khi nói đến văn hóa hôn nhân, gia đình
là phải chứng minh đƣợc bản sắc của nó.
Văn hóa hôn nhân, gia đình là một bộ phận hợp thành của nền văn hóa Việt
Nam. Đó là hệ thống những giá trị, chuẩn mực đặc thù, có chức năng kiểm soát, điều
hành hành vi và mối quan hệ giữa các thành viên trong hôn nhân, gia đình và giữa gia
đình với xã hội.
Một gia đình đƣợc đánh giá là văn hóa khi mỗi thành viên trong gia đình đều có
quan hệ ứng xử tốt với cộng đồng cũng nhƣ trong nội bộ gia đình phù hợp với các tiêu
chuẩn đạo đức xã hội (nếp sống quan hệ lành mạnh, hòa đồng, thƣơng yêu lẫn nhau,
không dính đến các tệ nạn xã hội nhƣ trộm cƣớp, ma túy, mại dâm, mê tín dị đoan,
chấp hành tốt các quy định về vệ sinh môi trƣờng không làm ảnh hƣởng ngƣời khác,...)
Văn hóa hôn nhân, gia đình nghiên cứu những dấu ấn để lại trong đời sống vật
chất, tinh thần của gia đình đƣợc biểu hiện thông qua các mối quan hệ, cấu trúc, chức
năng, sinh hoạt, đời sống tâm linh… của gia đình. Đó là những dấu ấn đƣợc duy trì
qua lịch sử, trở thành truyền thống, ăn sâu vào tiềm thức, tâm lý, chi phối hành vi,
cách ứng xử giữa các thành viên trong gia đình, giữa gia đình với xã hội, tiếp nối từ
thế hệ này sang thế hệ khác.
Những dấu ấn để lại trong đời sống gia đình ở các cộng đồng, quốc gia, dân tộc
không giống nhau, tạo nên tính đa dạng của văn hóa gia đình. Sự hội nhập kinh tế, giao
lƣu văn hóa quốc tế làm cho các nƣớc có xu hƣớng hợp tác, liên kết và hiểu biết lẫn
nhau nhiều hơn nhƣng không làm mất đi bản sắc văn hóa dân tộc, bởi vì một trong
những yếu tố hình thành nên văn hóa đó là môi trƣờng tự nhiên. Sự gắn bó và phụ
thuộc của văn hóa vào môi trƣờng tự nhiên làm cho văn hóa không thể xuất khẩu
đƣợc, trong khi văn minh, một bộ phận của văn hóa lại có thể xuất khẩu đƣợc vì nó
độc lập với môi trƣờng tự nhiên. Chính vì thế mà nhiều quốc gia có trình độ văn minh
nhƣ nhau nhƣng văn hóa thì vẫn khác nhau.
Các thành tố của văn hóa hôn nhân, gia đình không tồn tại một cách cô lập mà
liên kết với nhau tạo thành một hệ thống thực hiện các chức năng của văn hóa hôn
11


nhân, gia đình. Đó là các chức năng truyền tải văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác;
duy trì sự cân bằng của đời sống hôn nhân, gia đình; bảo đảm sự tiếp nối văn hóa,
chống sự đứt đoạn văn hóa; giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa và chức năng hình
thành các giá trị văn hóa mới.
Từ sự phân tích đặc trƣng, qui luật hình thành và phát triển, cấu trúc và chức
năng của văn hóa hôn nhân, gia đình, có thể định nghĩa văn hóa hôn nhân, gia đình
nhƣ sau:
Văn hóa hôn nhân, gia đình là hệ thống những giá trị, chuẩn mực khu biệt đặc
thù điều tiết mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và mối quan hệ giữa gia
đình với xã hội, phản ánh bản chất của các hình thái gia đình đặc trưng cho các cộng
đồng, các tộc người, các dân tộc và các khu vực khác nhau được hình thành và phát
triển qua lịch sử lâu dài của đời sống gia đình, gắn liền với những điều kiện phát triển
kinh tế, môi trường tự nhiên và xã hội.
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu hôn nhân và gia đình của ngƣời
Thái đen ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La
Trong điều kiện có tính đặc thù của huyện Sốp Cộp việc làm rõ những điều kiện
về địa lý tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội có một ý nghĩa vô cùng to lớn. Đây là căn
cứ quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội qua đó góp phần nâng cao chất lƣợng cuộc
sống về Hôn nhân và gia đình, nâng cao dân trí, phát triển và biến đổi.
Sốp Cộp là một huyện vùng cao biên giới của tỉnh Sơn La, đƣợc thành lập theo
Nghị định số 148/NĐ-CP của Chính phủ, gồm 7 xã đặc biệt khó khăn tách ra từ huyện
Sông Mã. Diện tích tự nhiên 147.342 ha, gồm 08 đơn vị hành chính xã gồm: Dồm
Cang, Mƣờng Lạn, Mƣờng Lèo, Mƣờng Và, Nậm Lạnh, Púng Bánh, Sam Kha, thị trấn
Sốp Cộp, 127 bản, 07 điểm dân cƣ, có 120km đƣờng biên giới với nƣớc bạn Lào, là
huyện có vị trí chiến lƣợc về an ninh quốc phòng và đối ngoại của tỉnh Sơn La và khu
vực Tây Bắc.
Phía Đông và phía Nam giáp với nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, phía
Tây giáp với tỉnh Điện Biên, phía Bắc giáp với huyện Sông Mã. Toàn huyện Sốp Cộp
nhìn chung gồm các dân tộc cùng sinh sống nhƣ: Thái, Mông, Lào, Khơmú, Kinh,..
Theo số liệu thống kê, tính đến cuối năm 2013, tổng dân số toàn huyện là 45.789
ngƣời với hơn 7 dân tộc anh em cùng sinh sống. Trong đó, dân tộc Thái chiếm
62,12%; dân tộc Kinh chiếm 4,61%; dân tộc Mông chiếm 17,61%; dân tộc Mƣờng
12


chiếm 0,20%; dân tộc Kháng chiếm 0,93%; dân tộc Khơ Mú chiếm 6,56%; các dân tộc
khác chiếm 0,04%.
Hiện nay, Sốp Cộp đang còn nhiều lợi thế về nông, lâm nghiệp với diện tích đất
tự nhiên 148.088 ha, trong đó đất chƣa sử dụng còn trên 81.700 ha, có thể sử dụng vào
sản xuất nông nghiệp trên 7.000 ha và sản xuất lâm nghiệp 62.000 ha (34.816 ha rừng
phòng hộ; 26.535 ha rừng sản xuất và 5.633 ha rừng đặc dụng).
Đƣợc sự quan tâm của Đảng, Nhà nƣớc đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã
hội ở vùng núi, cùng với nội lực của địa phƣơng nên đời sống nhân dân đã từng bƣớc
đƣợc cải thiện, đƣợc quan tâm đầu tƣ nhiều dự án xây dựng cơ sở hạ tầng nhƣ: Quyết
định 134/QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, hỗ trợ tấm lợp cho
đồng bào dân tộc thiểu số còn nghèo, đời sống khó khăn; Quyết định 135/QĐ-TTg về
việc phê duyệt nội dung chƣơng trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó
khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa của Chính phủ; Quyết định số 3665 và 177/QĐHĐND tỉnh về chính sách hỗ trợ làm đƣờng giao thông từ xã đến bản, song hiệu quả
mà ngƣời dân đƣợc hƣởng không đáng kể, nhìn chung trên phạm vi toàn diện nền
kinh tế vẫn chậm phát triển, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, giao thông đi lại gặp rất
nhiều khó khăn, đời sống nhân dân các dân tộc còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí
thấp kém, nhân dân các dân tộc đặc biệt là vùng sâu, vùng xa chƣa biết áp dụng tiến
bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất do đó năng suất lao động chƣa cao. Đa phần nhân
dân sinh sống bằng sản xuất nông nghiệp thủ công, nền kinh tế tự cung tự cấp là
chính, một số ít làm ăn buôn bán nhỏ lẻ, tập trung chủ yếu ở trung tâm huyện và các
trung tâm xã, số hộ nghèo trên địa bàn huyện vẫn còn nhiều (trên 70%). Bên cạnh đó
là các phong tục tập quán và các hủ tục lạc hậu vẫn còn tồn tại trong bộ phận không
nhỏ nhân dân các dân tộc thiểu số đã và đang là yếu tố làm kìm hãm sự phát triển kinh
tế - xã hội của địa phƣơng.
* Về kinh tế - xã hội:
Về kinh tế:
Sốp cộp là vùng đất giàu tiềm năng về kinh tế. Trong những năm qua, đƣợc sự
quan tâm của Trung ƣơng, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, cùng với sự đoàn kết, năng
động, quyết tâm vƣợt khó của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong
toàn huyện, Sốp Cộp đã vƣơn lên và đ ạt đƣợc những thành tựu quan trọng trên tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội.
13


Kinh tế của huyện tiếp tục có những bƣớc phát triển mới, đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân đƣợc cải thiện rõ rệt. Tốc độ phát triển kinh tế, thu nhập bình
quân trên ngƣời tăng; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hƣớng tích cực. Năm
2015, Tổng thu ngân sách Nhà nƣớc địa phƣơng 5 năm qua đạt 2.045,2 tỷ đồng, tăng
104,5% so với kế hoạch. Thu ngân sách trên địa bàn 94,9 tỷ đồng, tăng 137,2% so với
kế hoạch, chi ngân sách là 2.038,2 tỷ đồng, tăng 103,8% so với kế hoạch. Hoạt động
của ngân sách trên địa bàn huyện cơ bản đáp ứng đƣợc nhu cầu vốn vay kinh doanh,
sản xuất của nhân dân các dân tộc trong huyện [14, tr.2].
Huyện thƣờng xuyên quan tâm chỉ đạo, triển khai công tác khuyến nông, hƣớng
dẫn nhân dân áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ
cấu giống, mùa vụ và tăng cƣờng thâm canh cây trồng. Cùng với các địa phƣơng trong
tỉnh, Đảng bô ,̣ chính quyền và nhân dân các dân t ộc huyện Sốp Cộp đã tâ ̣p trung cho
công tác di dân tái đ ịnh cƣ phục vụ xây dựng thủy điê ̣n N ậm Công I và Nậm Công II
hoàn thành công tác cấp đất ở, đất sản xuất cho các hộ dân tái định cƣ trên địa bàn
huyện; hoàn thành việc di chuyển và sắp xếp nơi ở mới, bố trí đất canh tác, thi công cơ
sở hạ tầng tốt, giúp ngƣời dân tái định cƣ ổn định cuộc sống lâu dài. Đây là thành tích
của huyện Sốp Cộp nói riêng và tỉnh Sơn La nói chung, là kết quả của sự hy sinh lợi
ích cá nhân cho lợi ích quốc gia, vì dòng điện ngày mai của Tổ quốc.
Về xã hội:
Sốp Cộp là một trong năm huyện nghèo của tỉnh Sơn La, địa bàn rộng, giao
thông đi lại khó khăn, xuất phát điểm nền kinh tế xã hội còn thấp, mặt bằng dân trí
không đồng đều. Toàn huyện có 6 xã vùng đặc biệt khó khăn, nhiều xã có bản đặc biệt
khó khăn. Tập quán canh tác còn lạc hậu, các tệ nạn ma tuý, mại dâm, cờ bạc còn diễn
biến phức tạp.
Sốp Cộp là một huyện đặc biệt khó khăn nằm trong trong diện 62 huyện nghèo
của cả nƣớc. Nguyên nhân chủ yếu là do kinh tế của huyện xuất phát điểm thấp, phát
triển chƣa đồng bộ, quy mô nhỏ lẻ, năng suất chất lƣợng sản phẩm chƣa cao; kết cấu
hạ tầng, kinh tế - xã hội yếu kém, giao thông đến các trung tâm xã, bản còn nhiều khó
khăn nhất là vào mùa mƣa, tình hình diễn biến thiên tai, dịch bệnh khó lƣờng. An ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội vẫn còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp.
Hệ thống chính trị xã, bản, một số nơi hoạt động còn yếu, trình độ năng lực của một
số cán bộ chủ chốt ở cơ sở chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ đổi mới.
14


Với địa hình hiểm trở, phức tạp, dân số không tập trung đã gây khó khăn trong
công tác quản lý, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trƣơng, đƣờng
lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc và phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở.
Tuy nhiên, những năm qua Đảng và Nhà nƣớc có nhiều chủ chƣơng chính sách
về phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh - quốc phòng các chƣơng trình dự án
đầu tƣ cho đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, do đó công tác vận động
định canh định cƣ từng bƣớc ổn định; Cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng đƣợc tăng
cƣờng. Đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân các dân tộc đang từng bƣớc đƣợc cải
thiện, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đƣợc giữ vững, khối đại đoàn
kết các dân tộc đã và đang đƣợc củng cố, phát triển. Tất cả 7 xã, thị trấn có đƣờng ô tô
đến trung tâm xã, trong đó có 2 xã, thị trấn có đƣờng bê tông nhựa, 7/7 xã có trụ sở
làm việc, nhà văn hoá đƣợc xây cấp 4 trở lên. Bệnh viện trung tâm huyện đƣợc xây
dựng với quy mô 100 giƣờng bệnh, 100% các trƣờng mầm non, tiểu học, trung học cơ
sở và trƣờng trung học phổ thông đƣợc xây dựng kiên cố và bán kiên cố. Đài Truyền
thanh - Truyền hình huyện đƣợc đầu tƣ, xây dựng nâng cấp tăng diện phủ sóng.
Xã Sốp Cộp là một xã nằm ngay trung tâm thị trấn huyện Sốp Cộp, gồm 1522
hộ dân cƣ với 06 dân tộc chủ yếu: Thái khoảng 989 hộ (chiếm Khoảng 65% dân số
toàn huyện), Kinh khoảng 304 hộ (chiếm khoảng 20% dân số toàn huyện), còn lại là
các dân tộc: Khơmú, Lào, Mông, Mƣờng chiếm thiểu số trong xã.
Xã Sốp Cộp gồm có 17 bản: Hua Mƣờng (322 hộ), Cang Mƣờng (135 hộ), Lả
Mƣờng (87 hộ), Nà Lốc (107 hộ), Co Pồng (81 hộ), Sốp Nặm (125 hộ), Nà Dìa (136
hộ), Nà Sài (81 hộ), Nà Nó (49 hộ), Pom Khăng (55 hộ), Bản Ban (71 hộ), Huổi
Khăng (57 hộ), Huổi Pe (56 hộ), Bản Pe (70 hộ), Co Hịnh (31 hộ), Pá Hốc (23 hộ), Tà
Cọ (36 hộ).
Về văn hóa:
Thông qua các tài liệu thành văn đã trở thành luật tục của ngƣời Thái, thông qua
các truyện lịch sử nhƣ: “Quam Tô Mƣơng” (chuyện kể bản mƣờng), “Quắm Pú Sấc”
(những cuộc chinh chiến của ngƣời Thái), Phanh Mƣơng, Piết Mƣơng,... và các chính
kiến kết luận của các nhà khoa học ta có thể có thể nhận thấy rằng: Ngƣời Thái tỉnh
Sơn La nói chung và ngƣời Thái huyện Sốp Cộp nói riêng đều có cội nguồn từ Đông
Nam Á và tổ tiên của họ đã thiết lập thành bản, thành mƣờng, cƣ trú và sinh sống ổn
định từ mảnh đất này từ xƣa.
15


Với phong tục tập quán canh tác của dân tộc mình, ngƣời Thái sớm có văn
minh lúa nƣớc nên họ sinh sống thiết lập bản mƣờng thƣờng nằm dọc theo những
thung lũng ven khe suối, có đồng ruộng lớn, nhỏ liên tiếp nhau. Ngƣời Thái có nhiều
kinh nghiệm và khá thuần phục về kĩ thuật khai khẩn đồng ruộng, đắp phai, khơi
mƣơng, bắc máng, làm guồng hay con quay để lấy nƣớc từ nơi thấp đƣa lên nơi cao để
làm ruộng. Lúa nƣớc đƣợc coi là nguồn lƣơng thực chủ yếu của ngƣời Thái đen. Kinh
nghiệm đồng ruộng của họ đƣợc nhân dân đúc kết trong bốn từ “Mƣơng, phai, lái, lin”.
Ngoài ra, dân tộc Thái cũng làm nƣơng để trồng thêm lúa, hoa màu (khoai, sắn,
ngô,...), chăn nuôi gia súc gia cầm, nuôi cá,...
Nam giới thông thạo các việc đan lát các đồ dùng trong nhà, chế tạo ra các công
cụ trong cuộc sống. Còn nữ giới thì thạo các việc trồng bông, dệt vải, cắt may, thêu
thùa. Ngƣời Thái đen xây dựng cho mình ngôi nhà sàn, với đặc trƣng ngôi nhà sàn của
ngƣời Thái đen có nóc hình mai rùa, chỏm đầu đốc có khau cút với nhiều kiểu khác
nhau, khung cửa ra vào và cửa sổ có nhiều hình thức trang trí lạ mắt.
* Về trang phục:
Cũng nhƣ các dân tộc khác, trang phục của ngƣời Thái đen thể hiện rất rõ nét
bản sắc văn hóa dân tộc.
Thông thƣờng trong lao động và trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, nam
giới ngƣời Thái đen thƣờng mặc áo cánh ngắn đƣợc may bằng vải chàm đen, xẻ ngực,
cổ tròn, tay dài hoặc tay ngắn. Khuy áo đƣợc cài bằng cúc tròn hoặc cúc vải, có hai túi
đƣợc may ở vạt áo trƣớc và một túi may ở ngực trái áo.
Vào dịp hội hè, lễ tết, cƣới xin nam giới mặc thêm chiếc áo dài xẻ nách màu
chàm, cổ đứng tròn, vạt áo dài tới gối, đầu đội khăn thƣờng là màu đen.
Nam giới ngƣời Thái đen mặc quần dài màu nâu chàm, ống rộng buộc giải rút,
sử dụng thắt lƣng vải hoặc thắt lƣng da trâu để tạo thêm sự mạnh mẽ cho ngƣời nam
giới.
Phụ nữ ngƣời Thái đen thƣờng ngày mặc áo ngắn gọi là “Xửa cỏm”, nhiều màu
sắc, bó sát ngƣời, có đính hàng cúc bƣớm có thể bằng bạc trắng. Cổ đƣợc may tròn,
đúng vừa khít với ngƣời để tôn lên những nét quyến rũ của phụ nữ Thái.
Chiếc áo Thái kết hợp với váy “Xỉn” đƣợc may thành hình ống. Khi mặc váy
quấn chặt lấy vùng eo, đoạn váy thừa đƣợc gấp nếp sang bên cạnh cho gọn. Dùng thắt
lƣng xanh có viền kim tuyến giữ cho cạp váy không bị tuột ra. Phụ nữ Thái đen đầu
16


đội khăn Piêu, trên nền khăn đƣợc thêu nhiều hoa văn phong phú đặc trƣng hình hoa
lá, đƣờng diềm... Chiếc khăn Piêu không chỉ là vật trang trí mà trong đời sống tinh
thần, Piêu còn là biểu tƣợng tham gia vào lệ tục, nghi lễ trang trọng. Đôi nam nữ sau
khi đính ƣớc thƣờng trao tặng cho nhau chiếc khăn Piêu để làm tin, cô dâu khi về nhà
chồng phải dùng Piêu để làm quà biếu cho bố mẹ,...
Đi cùng với khăn Piêu là châm cài tóc. Phụ nữ Thái đen khi lấy chồng phải qua
nghi thức “Tẳng Cẩu”. Bà mối chải tóc cho cô dâu ngƣợc lên rồi cuộn thành búi tóc ở
đỉnh đầu dùng châm bạc hay châm vàng cài lên giữ cho búi tóc đƣợc chắc chắn và
dùng để trang trí cho đẹp.
* Về ẩm thực:
Ngƣời Thái thích ăn cơm nếp xôi, cơm lam, cơm gạo cẩm, gạo nhuộm màu,
cơm độn, ngô bung, sắn khoai,... ăn với “Chẳm chéo” và các món nƣớng, Pỉnh, Nửng,
Moọk, Lạp,...
Với đời sống vật chất hết sức phong phú, ngƣời Thái đen Sốp Cộp đang ra sức
xây dựng bản mƣờng giàu đẹp, các thành viên trong cộng đồng bản mƣờng có cuộc
sống ấm no, hạnh phúc, góp phần vào công cuộc xây dựng đời sống văn hóa mới của
Đảng, Nhà nƣớc đang phát động.
* Đời sống sản xuất và tín ngưỡng của người Thái đen
Các dân tộc khu vực Tây Bắc nói chung và dân tộc Thái đen Sốp Cộp nói riêng
từ xa xƣa đều có ý niệm vạn vật hữu linh, thế giới ý niệm, hƣ vô quyết định sự tồn
vong và phát triển của thế giới hiện thực. Từ những quan niệm trên đã nảy sinh nhiều
phong tục tập quán, tập tục cúng bái, lễ hội dâng cỗ khẩn cầu thần linh phù hộ cho con
ngƣời khỏe mạnh không đau ốm, cầu đƣợc mƣa thuận gió hòa, lễ tục cúng nhà, lên nhà
mới, tục cƣới xin, tang ma. Những ngƣời đứng ra thực hiện phong tục này là những
ông Mo, bà Mo. Họ là ngƣời có uy tín trong bản, am hiểu phong tục tập quán dân tộc
mình và đƣợc đồng bào kính trọng. Ngoài ra ngƣời Thái đen còn tổ chức những lễ hội
“Xên bản”, “Xên mƣờng”. Không chỉ có nghi thức tế lễ (phần lễ) mà còn tổ chức văn
nghệ, vui chơi (phần hội). Ngƣời thái đen tổ chức các trò chơi dân gian nhƣ kéo co,
ném còn, đánh trống,...
Bản mƣờng Thái thƣờng định cƣ gần nguồn nƣớc, mỗi bản có từ vài chục đến
hơn trăm nóc nhà kề bên nhau. Đời sống vốn gắn bó với thiên nhiên, với rừng núi.
Ngƣời Thái hoạt động sản xuất dựa vào nông nghiệp là chính, chủ yếu là dựa vào
17


trồng lúa nƣớc trên các cánh đồng thông lũng, nếp nƣơng ở các sƣờn đồi, dân cƣ có
nhiều kinh nghiệm đắp phai, đào mƣơng, dựng con, bắc máng lấy nƣớc làm ruộng. Ở
những nơi đất cao hơn không dẫn nƣớc vào đƣợc thì xây dựng các cây guồng để đong
nƣớc từ suối lên ruộng. lúa nƣớc là nguồn lƣơng thực chính, đặc biệt là lúa Nếp.
Ngƣời Thái cũng làm nƣơng để trồng lúa, hoa màu và nhiều thứ cây khác. Từng gia
đình chăn nuôi gia súc, gia cầm, đan lát, trồng bông se sợi, trồng cây thuốc nhộm, dệt
vải, một số nơi làm đồ gốm... ngƣời Thái có nghề dệt rất lâu đời, các sản phẩm nổi
tiếng của ngƣời Thái là vải thổ cẩm, với những hoa văn độc đáo, màu sắc rực rỡ, bền
đẹp. Ngƣời dân tự trồng dâu nuôi tằm se sợi, dệt thổ cẩm. hoạt động săn bắn thời trƣớc
và nay là chăn nuôi cũng rất đƣợc chú trọng.
Ngày nay hoạt động sản xuất của ngƣời Thái cũng đã đƣợc giao thoa, học hỏi
ngƣời kinh, xuất hiện thêm nhiều ngành mới trong hoạt động sản xuất, đƣa tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất để đảm bảo sự phát triển bền vũng của dân tộc, kể cả
hoạt động dịch vụ. ngƣời dân đã đƣa khoa học kỹ thuật vào canh tác sản xuất nhƣng
vẫn còn hạn chế.
Với nguồn gốc lịch sử lâu đời, ngƣời Thái đen có một di sản văn hóa truyền
thống mang đậm màu sắc dân tộc. Truyền thuyết, thần thoại, cổ tích, truyện thơ, ca
dao,... là những vốn văn hóa quý báu của văn học cổ truyền ngƣời Thái. Những tác
phẩm thơ ca nổi tiếng của ngƣời Thái nhƣ: “Xống Chụ Xon Xao”, “Chƣơng Han”,
“Khun Lú - Nàng Ủa”, “Ý Nọi - Nàng Xƣa”,... và với tiếng khèn, tiếng sáo “Pí Thiu”
của ngƣời con trai, tiếng ca nhẹ nhàng đằm thắm của ngƣời con gái Thái, những bài
hát dân ca của dân tộc mình luôn đƣợc cất lên trong những ngày hội và cuộc sống ngày
thƣờng. Gõ sạp “múa sạp” là một nét sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo của đồng bào
dân tộc Thái đen – Tây Bắc. Múa sạp đƣợc sử dụng trong các lễ hội hay trong mỗi gia
đình có tổ chức cuộc vui có nhiều khách tham dự. Trong mỗi bản mƣờng của đồng bào
dân tộc ngƣời Thái đen hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng là một nét văn hóa tiêu
biểu. Từ giữa mùa thu, vào mùa bông nở hay sang mùa xuân tối đến các cô gái tập
trung ở sàn giữa bản, hay ở sàn ngoài nhà nào đó để đốt lửa. Các cô gái thì dệt vải, kéo
sợi, các chàng trai thì đến chơi thổi kèn, gẩy đàn. Đôi bên trai gái nói với nhau những
lời tình tứ, đƣa đẩy rồi dẫn vào những bài hát giao duyên. Cuộc chơi dẫn đến khuya và
thƣờng là cơ hội để đôi bên kết duyên vợ chồng.
Những cơ sở thực tiễn trên có ảnh hƣởng rất lớn đến hôn nhân, gia đình trong
văn hóa của ngƣời Thái đen ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
18


*
*

*

Nhƣ vậy, hôn nhân là phƣơng thức để xây dựng, duy trì và phát triển gia đình,
vì vậy thông thƣờng ngƣời ta luôn gắn gia đình với hôn nhân và hình thành khái niệm
“hôn nhân - gia đình”. Hôn nhân - gia đình là thiết chế xã hội hết sức đa dạng và phức
tạp phản ánh các mối quan hệ sinh học và văn hóa, vật chất và tinh thần, tƣ tƣởng và
tâm lý. Gia đình dựa trên cơ sở hôn nhân nhƣng không chỉ giới hạn ở đó, gia đình bao
gồm nhiều mặt trong mối quan hệ huyết thống giữa các thế hệ, giữa gia đình với dòng
họ, giữa gia đình với xã hội… Nên gia đình liên quan chặt chẽ tới toàn bộ hệ thống xã
hội. Một mặt, gia đình trực tiếp hoặc gián tiếp phản ánh những điều kiện kinh tế - xã
hội, những biến đổi đang diễn ra trong một xã hội cụ thể, mặt khác nó tác động và ảnh
hƣởng trực tiếp đến đời sống xã hội. Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc tái
sản xuất con ngƣời để duy trì lực lƣợng lao động xã hội, là môi trƣờng xã hội hóa cơ
bản nhất đối với mỗi cá nhân, là nơi tổ chức cuộc sống bình thƣờng hàng ngày, đem lại
sự thỏa mãn cho cá nhân về mọi mặt, là nơi hỗ trợ và ổn định cho mỗi cá nhân khi môi
trƣờng xã hội xung quanh bị xáo trộn.
Các hình thái hôn nhân - gia đình biến thiên theo lịch sử và khác nhau ở các xã
hội khác nhau. Sự chuyển biến của nó là kết quả những mối tƣơng tác không chỉ giữa
các thành viên bên trong hôn nhân - gia đình mà quan trọng hơn nữa là sự tƣơng tác
giữa hôn nhân - gia đình với các yếu tố xã hội bên ngoài. Các hình thái hôn nhân - gia
đình vừa thể hiện đa dạng phức tạp, vừa có những nét đồng nhất định trong quá trình
phát triển, thể hiện tính qui luật, tính thống nhất của nhân loại.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, văn hóa về hôn nhân, gia đình
Việt Nam nói chung và văn hóa trong hôn nhân, gia đình của ngƣời dân tộc Thái đen
nói riêng đang chịu những tác động nhiều chiều và biến đổi mạnh mẽ. Việc phát huy
các giá trị văn hóa tốt đẹp của gia đình truyền thống trong thời đại ngày nay, khắc
phục những hệ quả tiêu cực do xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế mang lại là yêu
cầu bức thiết của toàn xã hội.

19


Chƣơng 2
HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH CỦA NGƢỜI THÁI ĐEN Ở XÃ SỐP CỘP, HUYỆN
SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA VÀ NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA NÓ
2.1. Hôn nhân
2.1.1.Hôn nhân truyền thống
2.1.1.1. Quan niệm về hôn nhân
Ngƣời Thái đen quan niệm hôn nhân là quy luật của tạo hóa, mục đích cuối
cùng của hôn nhân theo họ là thỏa mãn nhu cầu sinh con, duy trì nòi giống của gia
đình, họ hàng và xây dựng xã hội. Ngoài ra, kết hôn còn là điểm tựa cho bố mẹ khi về
già, và đặc biệt để tăng thêm thế lực cho dòng họ. Bởi quan niệm truyền thống nhƣ vậy
nên gia đình của ngƣời Thái đen thƣờng có nhiều con. Hôn nhân của họ dựa trên tình
yêu của đôi trai gái, đặc biệt dựa trên sự đồng thuận giữa hai gia đình. Điều này còn
vƣợt lên trên cả sự đồng thuận của đôi nam nữ, bởi đó không chỉ là việc riêng của đôi
trẻ mà còn liên quan mật thiết đến cả gia đình, dòng họ, đặc biệt đến chuyện “nối dõi
tông đƣờng”, thờ cúng tổ tiên.
Chế độ hôn nhân của ngƣời Thái đen là một vợ một chồng, tuân thủ quy định
của luật tục. Ngƣời dân cho biết nếu ai vi phạm sẽ bị phạt vạ, không có trƣờng hợp
ngoại lệ, bất kể đó là con cái hay ngƣời thân của chủ mƣờng (Chẩu mƣờng), chủ đất
(Chẩu đin). Hôn nhân không chỉ là sự gắn kết hai con ngƣời, hai gia đình mà còn có
vai trò liên kết các dòng họ, tạo nên một liên minh, thế lực trong cộng đồng bản
mƣờng. Với ngƣời Thái đen rất hiếm thấy trƣờng hợp một ngƣời đàn ông có nhiều vợ.
Tuy nhiên, đôi khi cũng có ngƣời lấy vợ lẽ; đó là trƣờng hợp hi hữu, khi mà ngƣời vợ
cả không thể sinh con. Hôn nhân cần phải thể hiện sự trọng thị giữa nhà trai và nhà
gái; vì thế mới xuất hiện vai trò của vợ chồng ông bà mối (xoọc lạm) - ngƣời am hiểu
phong tục tập quán, biết làm mát lòng, mát mặt cả hai họ bằng tài ăn nói và cũng là
ngƣời điều hành các nghi lễ. Cùng với “xoọc lạm”, ngƣời Thái đen còn đặc biệt đề cao
quyền của ông cậu trong các quyết định dẫn tới hôn nhân và chỉ đạo, điều hành hôn lễ.
Trong gia đình ngƣời Thái đen, khi có con đến tuổi trƣởng thành, ai cũng muốn
kén đƣợc chàng rể hay cô dâu ƣng ý. Khi chọn vợ, chọn chồng, ngƣời Thái đen không
chỉ xem xét điều kiện kinh tế của gia đình sẽ kết thông gia mà còn quan tâm đến phong
cách sống và đạo đức của họ. Thông thƣờng, khi chọn vợ, ngƣời đàn ông để ý xem
hoàn cảnh kinh tế của gia đình nhà vợ thế nào, anh em họ hàng ra sao. Hơn tất cả, họ
20


đặc biệt lƣu tâm đến sức khỏe, tính siêng năng, cần cù, khéo léo, hiền hậu và sự chung
thủy của ngƣời mà mình sẽ lấy làm vợ. Khi gả con gái, gia đình bên vợ cũng muốn kén
những chàng rể khỏe mạnh, tháo vát trong việc ruộng nƣơng. Sức khỏe là yếu tố hàng
đầu trong những tiêu chí chọn vợ, chọn chồng của đồng bào nơi đây. Hơn nữa, ở ngƣời
Thái đen, hoạt động kinh tế chủ yếu mang tính tự cấp tự túc, kinh tế thị trƣờng tuy
cũng tác động ít nhiều nhƣng không đáng kể, bởi vậy ngƣời vợ có vai trò rất quan
trọng trong việc nội trợ cũng nhƣ sản xuất ra của cải vật chất, đáp ứng nhu cầu ăn, mặc
trong gia đình. Hình thức của phụ nữ, tuy không phải là tiêu chí hàng đầu, song lại là
yếu tố mà các chàng trai luôn để ý. Họ cho rằng sức khỏe và sắc đẹp là do thiên phú,
nhƣng phẩm chất cần cù, siêng năng, tháo vát cũng nhƣ sự ứng xử khéo léo là do
truyền thống và giáo dục gia đình. Hơn nữa, những phẩm chất đó còn đƣợc rèn luyện,
thử thách trong cuộc sống hằng ngày. Đôi khi các bậc cha mẹ có thể châm chƣớc, bỏ
qua những điểm chƣa đƣợc để quyết định việc hôn nhân cho con cái. Những tiêu chí
trên thể hiện quan niệm của ngƣời Thái đen về những phẩm chất lý tƣởng của ngƣời
làm vợ, làm chồng và làm con trong gia đình. Có lẽ, đó cũng là ƣớc mơ của hầu hết
các tộc ngƣời, bởi nó hội tụ đủ các yếu tố sức khỏe, đạo đức và công việc.
Trong xã hội truyền thống, ngƣời Thái đen đã hình thành bộ luật tục gồm nhiều
điều quy định rất cụ thể và chặt chẽ liên quan đến mọi mặt đời sống, trong đó có
những điều xử phạt nặng đối với các trƣờng hợp chửa hoang, ngoại tình, ly dị, loạn
luân… Ví dụ, bị bắt quả tang ngoại tình, phạt cả nam lẫn nữ hai nén bạc trắng cùng với
một con lợn để tẩy uế cho bản. Gái chửa hoang, phạt 15 lạng bạc; đàn bà góa có chửa
với trai tân hay gái tân có chửa với đàn ông góa, phạt hai nén bạc. Trong hôn nhân của
ngƣời Thái đen, những tàn dƣ mẫu hệ còn sót lại đƣợc biểu hiện ở vai trò của ông cậu,
hay còn gọi là quyền ông cậu. Ở các lễ dạm hỏi, nhất thiết phải có ngƣời này và ngày
cƣới phải có mâm cơm biếu riêng. Trong hôn nhân truyền thống, bố mẹ đẻ của cô dâu
chỉ đƣợc xem là “chẩu côn” - nghĩa là chủ ngƣời, còn “chẩu khuôn” - nghĩa là chủ hồn
lại là ông cậu, bởi vì khi cô dâu mới lọt lòng mẹ thì chính ông cậu là ngƣời đặt tên,
làm vía cho cháu gái. Số tiền “cá hùa” (phạt vạ) nhƣ đã mô tả ở trên cũng do ông cậu
quyết định. Tuy nhiên, do chế độ phụ quyền ở ngƣời Thái đã đƣợc củng cố, nên ngày
nay, vai trò của ông cậu ít nhiều mờ nhạt dần trong hôn nhân.

21


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×