Tải bản đầy đủ

Thực trạng bệnh bàng quang tăng hoạt ở người từ 40 tuổi trở lên tại huyện duy tiên, tỉnh hà nam năm 2016 và một số yếu tố liên quan

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bàng quang tăng hoạt (hay Overactive Bladder - OAB) là khái niệm
được các tác giả P. Abram và A.Wein đưa ra lần đầu năm 1997 để chỉ tình
trạng rối loạn đi tiểu như tiểu gấp, tiểu nhiều lần, tiểu đêm, tiểu không tự
chủ,… đã được loại trừ các nguyên nhân thực thể. Năm 2002, Hiệp hội tiểu tự
chủ quốc tế (International Continent Society - ICS) chính thức chấp nhận sử
dụng thuật ngữ bàng quang tăng hoạt và đưa ra những định nghĩa cụ thể về
tình trạng bệnh lý này. Theo ICS, chẩn đoán BQTH khi có sự hiện diện của
triệu chứng tiểu gấp, thường đi kèm với tiểu nhiều lần và tiểu đêm, có hay
không kèm theo són tiểu. Các biểu hiện trên xuất hiện mà không có nhiễm
khuẩn đường tiết niệu, không có các tổn thương bệnh lý tại chỗ hoặc không
có các tác nhân chuyển hóa kèm theo có thể gây nên các triệu chứng trên.
Trong định nghĩa này, triệu chứng tiểu gấp là tiêu chuẩn vàng. Chẩn đoán
BQTH khi có triệu chứng tiểu gấp và một trong những triệu chứng còn lại [1].
Theo một nghiên cứu do Steward WF và cộng sự thực hiện năm 2001
tiến hành trên 5.204 người trưởng thành tại Hoa Kỳ, tỉ lệ mắc bệnh bàng
quang tăng hoạt trong cộng đồng là 16,5%, ở nam 16% và nữ 16,9% nhưng
khác nhau về mức độ nặng của bệnh ở hai giới [2]. Tỉ lệ mắc và mức độ
nghiêm trọng của BQTH được ghi nhận gia tăng theo tuổi [3]. Nghiên cứu

EPIC thực hiện tại Canada và 4 nước Châu Âu (Đức, Italia, Thụy Điển và
Anh) vào năm 2006, tỷ lệ mắc BQTH của người trưởng thành tại cộng đồng
là 11,8%, trong đó nam chiếm 10,8% nữ 12,8% [4]. Một nghiên cứu khác tiến
hành tại Châu Á do ASFU tiến hành năm 2004 ở 11 nước Châu Á tiến hành
trên 5.502 phụ nữ trên 18 tuổi, có các triệu chứng tiểu nhiều trên 8 lần/24 giờ,
tiểu gấp, són tiểu gấp. Kết quả cho thấy có tới 53,1 % bị OAB [5]. Nghiên
cứu khác cho thấy tỷ lệ này ở Châu Á là 29,9% ở nam giới [6].


2

Bệnh bàng quan tăng hoạt khá phổ biến trong cộng đồng, tuy không phải
là bệnh nguy hiểm nhưng ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống, hoạt động
làm việc, học tập, vui chơi, giải trí của người bệnh. Theo báo cáo NHS BQTH
ảnh hưởng đến 50 triệu người Châu Âu và Hoa Kỳ [7]. Bàng quang tăng hoạt
thậm chí là nguyên nhân gián tiếp gây chấn thương do ngã, rối loạn giấc ngủ
vì lý do tiểu đêm, tiểu gấp và tiểu nhiều lần.
Việc xác định tỉ lệ mắc BQTH tại cộng đồng có vai trò quan trọng trong
xây dựng các biện pháp can thiệp phù hợp giúp phòng ngừa, điều trị căn bệnh
này, giúp giảm thiểu những tác động của bênh gây ra cho người bệnh. Hiện
tại một số nước Đông Nam Á đã có nghiên cứu báo cáo tỷ lệ mắc bệnh BQTH
trong cộng đồng được tham khảo rộng rãi trong các Hội nghị niệu khoa. Tuy
nhiên, tại Việt Nam, theo khảo sát của chúng tôi, chưa có nhiều báo cáo dịch
tễ học đưa ra số liệu chính thức về tần suất của bàng quang tăng hoạt tại động
đồng nhất là đối với người trung niên và lớn tuổi, đối tượng hay bị rối loạn
chức năng đường tiết niệu dưới. Chính vì vậy, trong khuôn khổ đề tài: “Thực
trạng bệnh bàng quang tăng hoạt ở người từ 40 tuổi trở lên tại huyện Duy
Tiên, tỉnh Hà Nam năm 2016 và một số yếu tố liên quan”; với hy vọng cung
cấp số liệu về bệnh bàng quang tăng hoạt ở người từ 40 tuổi re lên trên địa
bàn cụ thể làm cơ sở tham khảo. Nghiên cứu của chúng tôi có hai mục tiêu:
1.

Xác định tỷ lệ mắc và phân bố bệnh bàng quang tăng hoạt của người
từ 40 tuổi trở lên tại huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam năm 2016

2.

Phân tích một số yếu tố liên quan đến bệnh bàng quang tăng hoạt ở
người từ 40 tuổi trở lên tại huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam năm 2016



3

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Khái niệm về bàng quang tăng hoạt
Thuật ngữ bàng quang tăng hoạt để chỉ sự rối loạn trong giai đoạn đổ
đầy nước tiểu của bàng quang. Tình trạng bàng quang tăng hoạt là do sự co
bóp không tự chủ của cơ bàng quang trong khi bệnh nhân vẫn đang kiềm chế
phản xạ đi tiểu.
1.1.1. Chẩn đoán hội chứng bàng quang tăng hoạt
Theo hiệp hội tiểu không tự chủ quốc tế, chẩn đoán bàng quang tăng
hoạt khi có sự hiện diện của triệu chứng tiểu gấp, thường đi kèm với tiểu
nhiều lần, tiểu đêm, có thể kèm theo són tiểu. Các biểu hiện trên mà không
có nhiễm khuẩn tiết niệu, không có các tổn thương tại chỗ và không có các
tác nhân chuyển hóa kèm theo có thể gây nên các triệu chứng trên. Trong
định nghĩa này triệu chứng tiểu gấp là tiêu chuẩn vàng. Chẩn đoán bàng
quang tăng hoạt khi có triệu chứng tiểu gấp kèm theo một trong các triệu
chứng còn lại [1].
Hỏi các triệu chứng của bệnh:
Thầy thuốc cần tìm hiểu mức độ cơ bản các triệu chứng của bàng quang
tăng hoạt, mức độ ảnh hưởng của các triệu chứng này đến chất lượng sống và
các triệu chứng bàng quang của bệnh nhân để đảm bảo rằng các triệu chứng
này không liên quan đến bệnh lý đường tiết niệu dưới.
Các triệu chứng bàng quang tăng hoạt gồm
- Tiểu gấp: bệnh nhân than phiền có cảm giác buồn tiểu một cách đột
ngột, cần phải đi tiểu ngay và rất khó có thể nhịn được (còn tiểu có kiểm
soát). Đây là triệu chứng bắt buộc trong chẩn đoán BQTH.


4

- Tiểu nhiều lần: bệnh nhân tha phiền là phải đi tiểu nhiều lần (trên 8 lần)
trong ngày tính từ lúc thức dậy đến lúc đi ngủ
- Tiểu đêm: bệnh nhân than phiền về việc phải thức dậy ban đêm từ một
lần trở lên để đi tiểu
- Són tiểu gấp: bệnh nhân than phiền tiểu không tự chủ theo sau cảm giác
tiểu gấp. Chỉ khoảng 50% trường hợp BQTH có triệu chứng tiểu gấp không
kiểm soát với các biểu hiện: ra nước tiểu ngay khi muốn đi tiểu mà không kịp
vào nhà vệ sinh, tiểu dầm khi ngủ, tiểu bất ngờ không kiểm soát hoặc ra nước
tiểu trong quần không kiểm soát được vào ban ngày.
- Chẩn đoán BQTH khi có triệu chứng tiểu gấp kèm theo một trong số
triệu chứng còn lại.
- Bàng quang tăng hoạt khô (bàng quang tăng hoạt không kèm theo són tiểu):
là dạng lâm sàng của bàng quang tăng hoạt nhưng không có són tiểu gấp.
- Bàng quang tăng hoạt ướt (bàng quang tăng hoạt kèm theo són tiểu): là
dạng bàng quang tăng hoạt có kèm theo són tiểu gấp.
Cần hỏi về các triệu chứng khác của bàng quang như: són tiểu gắng sức
với biểu hiện chảy nước tiểu ra khi ho, hắt hơi, hoặc vận động gắng sức như
nâng hoặc kéo vật nặng, tiểu khó, tiểu ngắt quãng, tiểu máu hay bí tiểu để
chẩn đoán phân biệt với các nguyên nhân khác cũng gây triệu chứng rối loạn
đường tiểu dưới.
1.1.2. Các công cụ chẩn đoán bàng quang tăng hoạt
Do chẩn đoán bàng quang tăng hoạt chỉ dựa vào triệu chứng hỏi bệnh
nên việc khai thác những triệu chứng phản hồi của bệnh nhân được xem là rất
quan trọng. Triệu chứng bàng quang tăng hoạt thường được định lượng bằng
đếm số lần đi tiểu, tiểu gấp, són tiểu gấp. Tuy nhiên, bàng quang tăng hoạt là
một tập hợp các triệu chứng phức tạp, và vì thế chúng ta không thể đánh giá
đầy đủ triệu chứng bàng quang tăng hoạt chỉ đơn giản bằng cách đếm số lần.


5

Vì thế, đã có những bảng câu hỏi kèm theo chấm điểm cụ thể cho từng
câu hỏi nhằm giúp thuận lợi cho việc đánh giá chẩn đoán, và so sánh hiệu quả
điều trị bàng quang tăng hoạt với các phương pháp khác nhau.
1.1.2.1. Bảng câu hỏi của Coyne (2002) OAB q
Coyne lần đầu tiên giới thiệu bộ câu hỏi OAB-q vào năm 2002, sau đó
OAB-q được Ủy ban soạn thảo câu hỏi của hiệp hội tiểu không tự chủ Quốc tế
chấp nhận như là một bảng câu hỏi mẫu khi sử dụng đánh giá chẩn đoán bàng
quang tăng hoạt. Bảng này tập trung khá nhiều câu hỏi đánh giá mức độ ảnh
hưởng của các triệu chứng bàng quang tăng hoạt đến chất lượng sống của
người bệnh.
Ban đầu bảng hoàn chỉnh gồm 62 câu hỏi trong đó có 13 câu hỏi đánh
giá các triệu chứng, 4 câu hỏi đánh giá chung và 44 câu hỏi đánh giá mức độ
ảnh hưởng của các triệu chứng bàng quang tăng hoạt đến chất lượng sống của
bệnh nhân (ảnh hưởng đến thói quen sinh hoạt hàng ngày, đến hiệu suất công
việc, hoạt động xã hội, đi du lịch, giấc ngủ, hoạt động tình dục…). Sau đó bộ
câu hỏi được rút ngắn xuống còn 33 câu với 8 câu đánh giá về triệu chứng, 25
câu đánh giá về ảnh hưởng đến chất lượng sống của người bệnh. Mỗi câu hỏi
bệnh nhân sẽ có 6 lựa chọn để trả lời tùy thuộc vào mức độ bệnh nhân cảm
nhận được: không bao giờ, một ít, thỉnh thoảng, khá nhiều lần, nhiều lần, rất
nhiều lần và được cho điểm từ 1 đến 6 lần lượt theo thứ tự như trên [8].
1.1.2.2. Bảng câu hỏi của Homma (2006) OABSS
Năm 2006 Homma tác giả người Nhật Bản đã giới thiệu bảng câu hỏi
đánh giá bàng quang tăng hoạt dựa vào 4 triệu chứng bao gồm: tiểu nhiều lần
vào ban ngày, tiểu nhiều lần vào ban đêm, tiểu gấp và són tiểu gấp [9]. Mỗi
triệu chứng được phân chia thành các mức độ cụ thể để tính điểm. Cách phân
chia mức độ để tính điểm của Homma dựa vào kết quả nghiên cứu dịch tễ học
về mức độ ảnh hưởng của triệu chứng bàng quang tăng hoạt đến chất lượng


6

sống của người bệnh [9]. Do đó bộ câu hỏi đánh giá bàng quang tăng hoạt của
tác giác Homma có các thang điểm không giống nhau: triệu chứng đi tiểu
nhiều lần ban ngày chịa làm 3 mức độ từ nhẹ đến nặng, có điểm từ 0 đến 2
điểm; triệu chứng tiểu nhiều lần vào ban đêm chia thành 4 mức độ , nhẹ nhất
là 0 điểm, nặng nhất là 3 điểm; triệu chứng tiểu gấp và són tiểu gấp đều được
chia 6 mức từ nhẹ nhất là 0 điểm đến nặng nhất là 5 điểm.
1.1.2.3. Bảng câu hỏi của Blaivas (2007) OABSS
Năm 2007 Blaivas đăng trên tạp chí niệu khoa (The Journal of
Urology) đã giới thiệu bộ câu hỏi đánh giá triệu chứng bàng quang tăng hoạt
cũng lấy tên OABSS [10]. Cấu trúc bộ câu hỏi của tác giá Blaivas gồm 7 câu
hỏi, các câu trả lời được chia thành 5 mức độ và được tính điểm từ 0-4. Các
câu hỏi đánh giá các triệu chứng của bàng quang tăng hoạt gồm 1 câu hỏi
khảo sát triệu chứng tiểu nhiều lần, 1 câu hỏi khảo sát triệu chứng tiểu đêm, 3
câu hỏi về triệu chứng tiểu gấp và 1 câu hỏi đánh giá són tiểu gấp và 1 câu hỏi
đánh giá mức độ ảnh hưởng của tình trạng tiểu không tự chủ.
Bảng câu hỏi của Coyne 2002 OAB-q có ưu điểm giúp chẩn đoán
BQTH đầu tiên được công bố và được Hiệp hội tiểu không tự chủ Quốc tế
chấp nhận. Tuy nhiên bộ công cụ này dài với rất nhiều câu hỏi mặc dù tác giả
đã rút ngắn xuống một nửa xong vẫn gặp nhiều khó khăn trong đánh giá chẩn
đoán như mất nhiều thời gian để hoàn thành, nhiều câu hỏi mang tính đính
tính, không có định nghĩa rõ ràng, khiễn ngưới bệnh khó hiểu. Chính vì vậy
mà bộ câu hỏi của Coyen ngày càng ít được ứng dụng vào thực tế khi đánh
giá chẩn đoán bàng quang tăng hoạt. Nhận định này cũng tương đồng với
nhận định của một số tác giả trên thế giới như của Lin, Chou năm 2009, cho
rằng bộ câu hỏi OAB-q của Coyen khó định nghĩa và giải thích cho bệnh
nhân hiểu các câu trả lời để đánh giá chính xác và đồng nhất giữa các bệnh
nhân [11].


7

Trong khi đó bộ cung cụ để chẩn đoán bàng quang tăng hoạt của
Blaivas OABSS được xây dựng và áp dụng chủ yếu cho người Châu Âu, chưa
có nhiều nghiên ở các nước châu Á cứu áp dụng bộ câu hỏi này. Sự khác nhau
về văn hóa, chủng tộc và kích thước của người Châu Âu, do đó theo nhận
định của chúng tôi, bảng câu hỏi OABSS cần phải được nghiên cứu hiệu
chỉnh cho phù hợp với văn hóa, tính cách và đặc điểm của người châu Á.
Trong khi đó bộ công cụ đánh giá chẩn đoán bàng quang tăng hoạt của
Homma là bộ câu hỏi OABSS có các câu hỏi được định nghĩa chính xác, rõ
ràng và dễ hiểu.Tác giả Homma đã tiến hành so sánh độ nhạy cảm của
OABSS và nhật ký đi tiểu (một công cụ quan trọng trong việc theo dõi, đánh
giá và chẩn đoán bàng quang tăng hoạt trên lâm sàng) trong việc đánh giá các
triệu chứng bàng quang tăng hoạt trước và sau điều trị cho bệnh nhân bằng
thuốc kháng muscarinic [9]. Tác giả đã chứng minh có mối liên quan khá chặt
chẽ (hệ số Kappa = 0,33-0,8) và có hệ số tương quan cao (Spearman’rho ≥
0,05)giữa các câu hỏi đánh giá trong bộ câu hỏi OABSS và các biến tường
ứng trong nhật ký đi tiểu trước điều trị và sau điều trị 12 tuần. Tác giả
Homma đã đưa ra kết luận rằng, OABSS có độ nhạy cao trong việc chẩn đoán
và đánh giá hiệu quả điều trị. Trong khi thực hiện phỏng vấn bộ câu hỏi
OABSS của Homma đơn giản và phù hợp hơn cho việc sàng lọc bệnh bàng
quang tăng hoạt tại cộng đồng so với nhật ký đi tiểu phải theo dõi ít nhất 3
ngày vốn phù hợp hơn cho chẩn đoán trong các bệnh viện. Chính vì sự đơn
giản, dễ thực hiện tại cộng đồng và độ tin cậy cao, bộ cậu hỏi OABSS của
Homma phù hợp hơn cho việc đánh giá, chẩn đoán sàng lọc bệnh nhân tại
cộng đồng hơn việc sử dụng nhật ký đi tiểu [9].
Bộ câu hỏi OABSS của Homma đã được Hiệp hội bàng quang thần
kinh của Nhật Bản chấp thuận như là một công cụ đánh giá đơn giản và hiệu
quả bàng quang tăng hoạt trong các nghiên cứu, nhất là nghiên cứu dịch tễ


8

học tại cộng đồng. Đã có những nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi OABSS của
Homma đăng trên các tạp chí có uy tín và được nhiều quốc gia khu vực châu
Á dịch ra các thứ tiếng để áp dụng như: Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kong,
Trung Quốc, Malaysia [12-13]. Các tác giả này cũng có chung nhận định là
bộ công cụ này có tính đặc hiệu cao trong việc đánh giá các triệu chứng của
bàng quang tăng hoạt. Bộ câu hỏi của Homma là rất đơn giản nên đặc biệt hấp
dẫn, hữu ích và khả thi để áp dụng vào chẩn đoán, sàng lọc bệnh nhân bàng
quang tăng hoạt tại cộng đồng mà không kém nhiều thời gian và nhân lực. Tại
Việt Nam, theo khảo sát của chúng tôi, mặc dù chưa có báo cáo nào được
đăng tải sử dụng bộ câu hỏi của Homma trong việc đánh giá và chẩn đoán
bàng quang tăng hoạt, nhưng đã có những cơ sở chuyên khoa áp dụng vào
lâm sàng để chẩn đoán bàng quang tăng hoạt. Bên cạnh đó, tại hội nghị Thận
học- tiết niệu toàn quốc diễn ra tại Quảng Bình năm 2014, có có sự đồng
thuận cho việc khuyến cáo sử dụng bộ câu hỏi OABSS của Homma trong việc
chẩn đoán bàng quang tăng hoạt ở Việt Nam.
Việt Nam cũng là nước châu Á, gần gũi nhau về địa lý, văn hóa, thể trạng
với một số quốc gia đã nghiên cứu và áp dụng bộ câu hỏi của Homma trong
chẩn đoán, sàng lọc bênh lý bàng quang tăng hoạt. Bộ công cụ này đánh giá
khánh quan, chính xác các triệu chứng bàng quang tăng hoạt ở bệnh nhân tại địa
bàn nhiên cứu. Vì vậy chúng tôi lựa chọn sử dụng bộ câu hỏi OABSS của
Homma vào trong nghiên cứu của chúng tôi. Bộ công cụ này duợc dịch sang
tiếng Việt với sự cho phép sử dụng bản quyền của Giáo sư Homma và đã đuợc
thử nghiệm, chỉnh sửa dể phù hợp với văn phong tiếng Việt cho dễ hiểu hơn.
1.1.3. Dịch tễ học và tần suất mắc bệnh bàng quang tăng hoạt
Năm 2009, ở Mỹ W Cheung, tiến hành nghiên cứu phỏng vấn 325 người
tham gia với độ tuổi 18-97, có 311 người hoàn tất bộ câu hỏi. Kết quả cho
thấy có 53,2% phụ nữ tiền mãn kinh và 44,3% phụ nữ sau mãn kinh bị bàng


9

quang tăng hoạt. Trong đó phụ nữ tiền mãn kinh có tỷ lệ bàng quang tăng
hoạt thể hỗn hợp cao hơn sau mãn kinh với tỷ lệ 64,4% và 52,1%. Phụ nữ sau
mãn kinh có tỷ lệ bàng quang tăng hoạt có cảm giác tiểu gấp cao hơn thể rỉ
tiểu gấp với 18,8% và 10,2%. Kết quả này cũng cho thấy bàng quang tăng
hoạt tăng cao có ý nghĩa ở nhóm phụ nữ tiền mãn kinh có chứng béo phì [14].
Năm 2011 cũng ở Mỹ Karin S. Coyne và công sự tiến hành nghiên cứu ở
nam và nữ từ 40 tuổi trở lên từ nghiên cứu dịch tễ học triệu chứng đường tiết
niệu dưới (EpiLUTS). Kết quả cho thấy tỷ lệ triệu chứng bàng quang tăng
hoạt không xuất hiện thường xuyên ở nam là 27,2% và 43,1% ở nữ. trong khi
tỷ lệ này là 15,8% ở nam và 32,6% ở nữ có triệu chứng bàng quang tăng hoạt
xuất hiện thường xuyên [15].
Năm 2015, Malaysia, Ahmad SM và cộng sự tiến hành nghiên cứu tỷ lệ
bàng quang tăng hoạt ở 573 bệnh nhân nữ đến khám tại phòng khám sản phụ
khoa trong vòng 6 tháng. Kết quả cho thấy tỷ lệ bàng quang tăng hoạt chiếm
19,1%. Trong đó những phụ nữ có tiền sử đẻ thai to, sa sinh dục có tỷ lệ bị
bàng quang tăng hoạt cao hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh nhân không có
tiền sử. Hơn một nửa số bệnh nhân có triệu chứng bàng quang tăng hoạt là
không được điều trị, họ cho rằng việc điều trị không cần thiết [16].
Năm 2016, tại Trung Quốc, Fang An tiến hành nghiên cứu trên 2.161
người tham gia trả lời câu hỏi, có 86,4% hoàn thành trả lời với độ tuổi 18-97
tuổi. Tỷ lệ bàng quang tăng hoạt 8,8% (191/2161) trong đó tỷ lệ nữ giới trên 50
tuổi chiếm tỷ lệ cao hơn (p<0,05). Ngoài ra, tỷ lệ bàng quang tăng hoạt ở
những phụ nữ bị sa sinh dục cao hơn 25,8% so với 8,6% nhóm bệnh nhân nữ
không bị sa sinh dục, (p<0,05). Nghiên cứu cũng chỉ ra tuổi và sa sinh dục là
yếu tố làm tăng nguy cơ bị bàng quang tăng hoạt với lần lượt (OR=1,504, 95%
CI=1,072–2,111) và (OR=2,512, 95% CI=1,109–5,688). Nghiên cứu cũng chỉ
ra các triệu chứng của bàng quang tăng hoạt như tiểu gấp, tiểu nhiều lần, són
tiểu gấp, tiểu đêm có ảnh hưởng tới chất lượng sống của người bệnh [17].


10

Năm 2008, ước tính trên toàn thế giới có khoảng 1,9 tỷ người gặp phải ít
nhất 1 triệu chứng rối loạn đường tiểu dưới. Con số này còn có nguy cơ tăng
lên 2,1 tỉ người tương ứng 9,3% dân số thế giới vào năm 2013, và 2,3 tỉ người
vào năm 2018. Các triệu chứng này được dự đoán là xuất hiện ở phụ nữ nhiều
hơn ở nam giớ, cụ thể năm 2008 là 46,3% so với 44,1%, năm 2013 là 46,5%
so với 44,4% và năm 2018 là 46,8% so với 44,7% [18].
1.1.4. Nghiên cứu về chức năng bàng quang
Chức năng bàng quang có liên quan mật thiết đến số lượng và loại nước
uống vào. Khi uống quá nhiều nước cũng có thể gây ra các triệu chứng tiểu
gấp giống như hội chứng bàng quang tăng hoạt. Các triệu chứng có thể nặng
lên do dùng đồ uống có caffein (trà, cà phê, coca cola) hoặc do uống rượu bia.
Vì vậy, cần khai thác kỹ thói quen uống nước của người bệnh và yêu cầu bệnh
nhân theo dõi cụ thể như sau:
- Loại nước gì bệnh nhân thường hay uống
- Số lượng nước uống trung bình mỗi ngày là bao nhiêu
- Số lần đi tiểu trong ngày, số lần đi tiểu vào ban đêm
- Số lượng nước tiểu mỗi lần đi là bao nhiêu
Nếu bệnh nhân không theo dõi được thì có thể sử dụng nhật ký đi tiểu.
Nhật ký đi tiểu có thể được sử dụng để ghi nhân những dữ liệu và đánh giá cả
hai rối loạn tiểu gấp và són tiểu gấp. Việc theo dõi nhật ký đi tiểu trong 3
ngày là một bước đầu tiên quan trọng để bắt đầ một quá trình thay đổi hành vi
điều trị bàng quang tăng hoạt. Tần số đi tiểu khác nhau giữa các bệnh nhân.
Trong cộng đồng người trưởng thành khỏe mạnh, tần số đi tiểu trung bình là 6
lần/ngày hay khoảng cánh giữa các lần đi tiểu là 3-4 giờ [19-20].
Cũng cần phải loại trừ nguyên nhân gây đi tiểu nhiều do thuốc bằng
cách hỏi xem bệnh nhân có đang phải sử dụng thuốc gì hay không. Một số
thuốc tây cũng như thuốc đông y có thể gây đi tiểu nhiều lần như lợi tiểu râu


11

ngô, bông má đề…và một số thuốc khác như: thuốc lợi tiểu, thuốc chông trầm
cảm, thuốc chống tăng huyết áp, thuốc ngủ, thuốc an thần, ma túy và các
thuốc giảm đau.
1.1.5. Nghiên cứu về tiền sử bệnh
Cần khai thác các bệnh phối hợp vì chúng có thể ảnh hưởng trực tiếp
đến chức năng của bàng quang gây nên các triệu chứng đường tiết niệu dưới.
Các bệnh thường phối hợp với bàng quang tăng hoạt như:
• Các bệnh về thần kinh như: đột quỵ, bệnh parkinson, bênh xơ
cứng cột bên teo cơ và tổn thương tủy sống.
• Các bệnh lý nội khoa mạn tính như: các nguyên nhân gây hạn
chế vận động do tai biến mạch máu não, bệnh tiểu đường cơ biến chứng, các
rối loạn đại tiện (ỉa đùn hoặc táo bón), đau khung chậu mạn tính, tiền sử
nhiễm khuẩn tiết niệu tái diễn, đái máu đại thể, bệnh tăng nhãn áp góc đóng,
bệnh suy giảm nhận thức…, tiền sử phẫu thuật vùng tiểu khung và tia xạ vùng
khung chậu.
1.1.6. Điều trị bàng quang tăng hoạt
Nguyên tắc: kết hợp các biện pháp dùng thuốc và không dùng thuốc, ưu
tiên áp dụng các biện pháp không dùng thuốc đơn giản, dễ áp dụng, ít tốn kém
và triển khai được trên phạm vi cộng đồng. Nếu các biện pháp trên không
hiệu quả mới sử dụng thuốc, các biện pháp can thiệp có xâm lấn và thường ưu
tiên sử dụng các biện pháp xâm lấn tối thiểu trước.
Mục tiêu điều trị: cải thiện triệu chứng tiểu gấp, tiểu nhiều lần, tiểu đêm
nhằm cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân, phòng ngừa hậu quả do
BQTH gây ra như ngã gãy xương, tai biến mạch máu não…
1.1.6.1. Bước điều trị thứ nhất: các biện pháp can thiệp hành vi
Các liệu pháp can thiệp hành vi đơn thuần hoặc kết hợp với điều trị
bằng thuốc kháng muscarinic, được xem là bước điều trị trước tiên cho
BQTH.


12

a) Hướng dẫn bệnh nhân các biện pháp điều chỉnh thói quen đi tiểu,
tập luyện bàng quang và điều chỉnh lối sống
- Giáo dục cho bệnh nhân hiểu thế nàolà bàng quang có chức năng
bình thường và thế nào là bất thường. Đây là cơ sở để bệnh nhân nhận thức
và thực hiện tốt những bài hướng dẫn về thay đổi thói quen đi tiểu, tập luyện
bàng quang và thay đổi lối sống nhằm mục tiêu đưa chức năng bàng quang
trở về sinh lý bình thường.
- Hướng dẫn bệnh nhân viết “nhật ký đi tiểu”. NhCât ký đi tiểu là cơ sở
dữ liệu để bác sĩ cũng như bệnh nhân nhận biết mức độ và dạng thức của
BQTH, hướng mục tiêu điều trị nhằm làm giảm triệu chứng, và về sau giúp
theo dõi sự tiến bộ, hiệu quả điều trị. Mẫu nhật ký đi tiểu đơn giản, ghi lại
thời điểm đi tiểu tự chủ và thời điểm bị són tiểu gấp, hoặc ghi thêm cả thời
điểm mắc tiểu gấp, mức độ của triệu chứng tiểu gấp, lượng nước tiểu của
mỗi lần đi tiểu, ghi nhận thời điểm, loại và lượng nước uống vào. Nhật ký đi
tiểu nên thực hiện từ 3 – 7 ngày để đảm bảo kết quả có giá trị.. Ghi chú càng
nhiều thì có càng nhiều dữ kiện để bác sĩ xem xét nguyên nhân và đưa ra
những tư vấn chi tiết hơn cho bệnh nhân.
- Tập đi tiểu theo giờ: Nhiều bệnh nhân cứ cố đi tiểu nhiều lần để
tránh bị són tiểu mà không có ý thức về việc thói quen đi tiểu nhiều lần có
thể làm nặng hơn tình trạng bệnh. Nên lập kế hoạch để bệnh nhân dần tập đi
tiểu theo giờ, tập kìm nén cảm giác mắc tiểu nếu chưa đến thời gian quy
định. Hướng dẫn bệnh nhân khoảng thời gian thích hợp giữa 2 lần đi tiểu là
3 – 4 giờ, và không nhất thiết cứ phải đi tiểu mỗi khi có cảm giác khác lạ
trong bàng quang. Việc quy định giờ cũng nên uyển chuyển: tùy theo dung
tích chứa đựng của bàng quang, lượng nước uống hàng ngày, loại công việc,
nhiệt độ của môi trường làm việc, cự ly và sự thuận lợi của nhà vệ sinh... của
mỗi cá nhân.


13

- Điều chỉnh chế độ ăn uống: Một số thức ăn và thức uống có tính lợi
tiểu hoặc gây kích thích bàng quang. Các loại nên kiêng dùng là caffein, bia
rượu, thức uống có đường,... Chất thường được nhắc đến là caffein, vì có rất
nhiều người nghiện uống cà phê. Nhiều thực phẩm có chứa caffein, và đáng
lưu ý là có hơn 1000 loại thuốc tây loại không cần kê toa (OTC) trong thành
phần có chứa caffein. Caffein vừa có tính lợi tiểu, vừa làm tăng sức co bóp
cơ bàng quang, vừa làm tăng kích thích bàng quang. Khuyên bệnh nhân
dùng những loại thay thế không chứa caffein. Trong trường hợp khó bỏ
được, bệnh nhân không nên uống quá 200mg/ngày, tức là không quá 2 ly cà
phê mỗi ngày, để hạn chế các triệu chứng tiểu gấp, tiểu nhiều lần.
- Điều chỉnh lượng nước uống: Uống nước qúa nhiều sinh ra lượng tiểu
nhiều dẫn đến tiểu nhiều lần, uống nước quá ít sinh ra tăng nồng độ nước
tiểu dẫn đến kích thích niêm mạc bàng quang gây tiểu gấp và là điều kiện
thuận lợi sinh ra nhiễm trùng tiết niệu. Lượng nước uống cần thiết hàng
ngày trung bình khoảng 1.500 – 2.000 ml hay 30ml/kg thể trọng. Cần biết
lượng nước uống vào thường ngày của bệnh nhân. Cần điều chỉnh lượng
nước uống vào của bệnh nhân theo điều kiện làm việc và sinh hoạt của bệnh
nhân. Như thế cần giảm lượng nước uống vào nếu bệnh nhân uống quá nhiều
mức cần thiết. Những bệnh nhân bị tiểu đêm nên hạn chế uống nước sau 6
giờ tối, hoặc từ 3 – 4 tiếng trước khi ngủ.
- Kiểm soát thể trọng: Béo phì (BMI ≥ 30) làm tăng áp lực trong bụng,
đè ép lên bàng quang và đáy chậu, làm nặng hơn các triệu chứng của BQTH
và tiểu không kiểm soát. Vì thế, giảm cân là một biện pháp quan trọng nhằm
cải thiện tình trạng BQTH.
- Chống táo bón: Táo bón mạn tính là yếu tố nguy cơ của BQTH. Tỷ lệ
bị táo bón cao hơn ở những người bị BQTH so với không bị BQTH, cả ở nam
và nữ. Táo bón nặng ở phụ nữ có thể do hậu quả của rối loạn chức năng thần


14

kinh vùng đáy chậu. Làm giảm táo bón có thể giúp cải thiện các triệu chứng
tiểu gấp và tiểu nhiều lần. Ăn nhiều chất xơ, gia tăng lượng nước uống vào
vừa phải, lập thời gian biểu đi đại tiện kết hợp với chương trình tập ruột nhằm
để việc đi cầu có điều độ nhằm làm giảm nhẹ tình trạng táo bón.
- Ngưng hút thuốc lá: Hút thuốc lá có liên quan mật thiết với triệu
chứng đường tiết niệu dưới ở nam giới và với tiểu gấp và són tiểu gấp ở nữ
giới. Sự liên quan trên càng gia tăng ở người hút thuốc lá kinh niên do
thường bị ho nhiều làm tăng áp lực bụng.
b) Các kỹ thuật tập luyện
- Tập kìm nén và kiểm soát tiểu gấp: Bệnh nhân bị tiểu gấp hay tiểu gấp
không kiểm soát có khuynh hướng vội vã chạy vào nhà vệ sinh khi có cảm
giác mắc tiểu. Bác sĩ cần giải thích cho bệnh nhân không nên làm như thế, vì
chạy vội làm tăng áp lực trong bụng, dễ kích thích bàng quang co bóp nên
càng làm trầm trọng thêm triệu chứng. Nên khuyên bệnh nhân khoan vội
chạy đi tiểu mà ở lại vị trí, hướng dẫn cho bệnh nhân các phương pháp căn
bản để tập kìm nén khi xuất hiện cảm giác mắc tiểu gấp
• Ngồi xuống nếu được, hít thở sâu và thư giãn;
• Làm xao lãng cảm giác muốn tiểu (chẳng hạn như tập trung chơi ô sắp
chữ, hoặc suy nghĩ về việc khác, hoặc đếm số thứ tự từ 1 đến 100...);
• Chủ động co thắt cơ đáy chậu (hoặc co thắt mạnh và nhanh 5 – 6 lần,
hoặc co thắt vừa phải và giữ 10 giây).
Ý nghĩa của việc co thắt cơ đáy chậu là ngăn chặn sự dãn nở cơ thắt
trong niệu đạo, tránh nước tiểu đi xuống đoạn đầu niệu đạo làm kích thích
cơ chóp bàng quang. Nếu bệnh nhân chưa biết co thắt cơ đáy chậu thì xem
cách tập cơ đáy chậu ở phần sau.
- Tập luyện bàng quang: Là áp dụng các biện pháp kìm nén đi tiểu nêu
trên kết hợp với theo dõi trên nhật ký đi tiểu, để từ từ kéo dài khoảng thời


15

gian giữa 2 lần đi tiểu. Có thể lúc đầu bệnh nhân phải đi tiểu mỗi 30 – 60
phút, sau đó tập kéo dài thêm mỗi 15 – 30 phút mỗi 1 -2 tuần, để dần dần đạt
mục tiêu giữ được 3 – 4 giờ. Theo y văn thì cần thực hiện các biện pháp tập
kìm nén và tập bàng quang ít nhất 6 tuần để thấy hiệu quả. Tập co thắt cơ sàn
chậu Tập cơ sàn chậu là một trong những biện pháp chính điều trị tiểu không
kiểm soát gắng sức do suy yếu sàn chậu. Trong BQTH, tập cơ đáy chậu có ý
nghĩa nhằm hỗ trợ việc kìm nén đi tiểu để điều trị tình trạng tiểu gấp hay tiểu
gấp không kiểm soát. Có 3 phương pháp tập luyện tăng dần theo mức độ, tùy
thuộc vào khả năng và thời gian của mỗi bệnh nhân cũng như trang bị và mức
độ được đào tạo của cơ sở y tế. Nhìn chung, khoảng thời gian cần thiết tập để
việc tập cơ đáy chậu đem lại hiệu quả tối thiểu là 3 tháng.
o Bệnh nhân tự tập, bằng cách hướng dẫn cho họ cách tự co thắt cơ đáy
chậu kiểu như thót hậu môn để tránh xì hơi khi trung tiện hay thót cơ để ngắt
cục phân khi đang đi cầu (cho cả nam và nữ giới), hoặc kiểu như tưởng
tượng đang ngồi trong chậu nước cố gắng thót cơ đáy chậu để hút và giữ
nước vào trong âm đạo đối với nữ giới. Lưu ý khi tập co thắt hậu môn hay
âm đạo thì cố gắng không gồng cơ vùng bụng hay cơ vùng chân. Các tác giả
khác nhau trình bày thời lượng tập khác nhau. Cách thông dụng nhất là tập
mỗi ngày 3 đợt, mỗi đợt khoảng 15 lần, mỗi lần thót cơ khoảng 10 giây và
nghỉ khoảng 10 giây.
o Tập theo phương pháp Kegel: Phương pháp tập luyện làm tăng trương
lực và sức co bóp cơ đáy chậu được bác sĩ sản khoa Arnold Kegel đề ra từ
năm 1948. Dụng cụ nguyên thủy làm bằng ống nhựa có bong bóng cao su
đặt trong âm đạo, nối với cột đo áp lực nước nhằm theo dõi được sức cơ sàn
chậu khi tập. Sau này, với sự tiến bộ của kỹ thuật, nhiều dụng cụ mới được
chế tạo phỏng theo kiểu nguyên thủy của Kegel Nếu không có áp kế, vẫn có
thể tập cơ sàn chậu theo nguyên tắc của Kegel. Đơn giản nhất là chính ngón


16

tay của điều dưỡng tập vật lý trị liệu đặt trong âm đạo nữ hoặc hậu môn nam
để cảm nhận có sự siết lại và nâng lên của cơ đáy chậu. Một dụng cụ khác là
thanh tạ bằng thép không rỉ với đầu tạ có đường kính khoảng 24mm đặt và
giữa trong âm đạo để bệnh nhân tập và tự cảm nhận sự siết của cơ sàn chậu
trên dụng cụ này.
o Dùng máy tập cơ sàn chậu: Các loại máy hiện nay thường kết hợp với
kích thích điện. Đặt probe có điện cực trong âm đạo nữ hay trong hậu môn
nam. Kích thích điện sẽ làm co thắt thụ động cơ sàn chậu (gồm cả cơ thắt
niệu đạo và cơ thắt hậu môn), vừa làm gia tăng sức cơ, vừa làm cho bệnh
nhân cảm nhận được vị trí của cơ thắt. Một điện cực khác được dán lên bụng
để lưu ý bệnh nhân không được gồng bụng mỗi khi tập co thắt cơ sàn chậu.
Kết hợp với tập cơ sàn chậu mà sức cơ sẽ hiện lên màn hình để bệnh theo
dõi và đánh giá được hiệu quả của tập luyện. Tần suất tập là từ mỗi ngày
một lần đến mỗi tuần một lần tùy theo tác giả, mỗi lần khoảng 20 phút kích
thích điện và khoảng 20 phút tập co thắt cơ đáy chậu. Những ngày không tập
bằng máy có thể kết hợp tập sàn chậu bằng 2 phương pháp nêu trên.
1.1.6.2. Bước điều trị thứ hai: Các biện pháp dùng thuốc
a) Các thuốc kháng muscarinics
Hiện nay thuốc nhóm kháng muscarinics là loại được ưu tiên chọn lựa
trong điều trị bàng quang tăng hoạt [18] [30]. Thụ thể muscarin bao gồm
năm phân nhóm, M1-M5, và được tìm thấy ở bàng quang. Các thụ thể M3
chịu trách nhiệm chính về sự co bóp đi tiểu bình thường của bàng quang
[30]. Thuốc kháng muscarinics hoạt động bằng cách ngăn chặn các thụ thể
muscarin trên cơ chóp do đó giảm khả năng co thắt của bàng quang [30].
Các thuốc kháng muscarinics có thể được chia thành hai nhóm chính:
- Không chọn lọc với tất cả thụ thể muscarin.
- Chọn lọc nhiều hơn cho thụ thể muscarin M2 và M3.


17

b) Một số loại thuốc khác
- Estrogen đặt âm đạo có thể làm cải thiện chủ quan các triệu chứng
của hội chứng bàng quang tăng hoạt [LE2, GRB (Oxford)].
- Một số thuốc khác có tác dụng kháng cholinergic cũng đã được
nghiên cứu điều trị bàng quang tăng hoạt. Thuốc chống trầm cảm nhóm ba
vòng như imipramine và amitryptyline đã được sử dụng bàng quang hoạt
động quá mức. Tuy nhiên tác dụng kháng cholinergic của nhóm này yếu.
- Botulinum toxin type A được sử dụng trong trường hợp điều trị bằng
các thuốc kháng cholinergic không còn tác dụng
1.1.6.3. Bước điều trị thứ ba: khi kháng thuốc
- Tiêm Onabotulinumtoxin A vào bàng quang
- Kích thích thần kinh cùng
- Kích thích thần kinh chày
- Mở rộng bàng quang bằng ruột
Các biện pháp điều trị sau cùng như chuyển lưu nước tiểu hay mở
rộng bàng quang là biện pháp sau cùng nên được cân nhắc khi điều trị bảo
tồn thất bại.
1.2. Một số yếu tố liên quan đến bệnh bàng quang tăng hoạt
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến bệnh bàng quang tăng hoạt, bao gồm cả
những yếu tố có thể khắc phục và những yếu tố không thể khắc phục được như:
- Tuổi: mối liên quan giữa tuổi và bệnh bàng quang tăng hoạt đã được
ghi nhận rộng rãi. Ở độ tuổi càng cao, tỉ lệ mắc và mức độ nghiêm trọng của
bệnh bàng quang tăng hoạt càng cao[2-6-20-22]. Tuy nhiên, không thể coi
bàng quang tăng hoạt như một phần bình thường của sự lão hóa.
- Giới: sự ảnh hưởng của giới tính lên bệnh bàng quang tăng hoạt hiện
còn chưa rõ ràng. Một số nghiên cứu chỉ ra có sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê về tỉ lệ mắc bệnh giữa hai giới nhưng không có sự thống nhất là giới nào


18

có nguy cơ mắc cao hơn [2-23-25]. Một số nghiên cứu khác lại không cho
thấy sự khác biệt này [22].
- BMI: béo phì (BMI>30) làm tăng áp lực trong bụng, đè ép lên bàng
quang và đáy chậu, làm nặng hơn các triệu chứng của BQTH và tiểu không
kiểm soát [17]
- Tình trạng táo bón: táo bón mạn tính là yếu tố nguy cơ của bàng
quang tăng hoạt. Tỉ lệ táo bón cao hơn ở những người bị BQTH so với không
bị BQTH cả ở nam và nữ. Táo bón nặng ở nữ giới có thể do hậu quả của rối
loạn chức năng thần kinh vùng đáy chậu.
- Tình trạng dùng đồ uống có cồn, café: một số đồ uống có tính lợi tiểu
hoặc gây kích thích bàng quang. Cafein vừa có tính lợi tiểu vừa làm tăng sức
co bóp cơ bàng quang, vừa làm tăng kích thích bàng quang.
Hiện nay, các đặc tính hóa học và dược lý của caffein (1,3,7trimethylxanthine) đối với hệ thần kinh đã được nghiên cứu kỹ lưỡng. Tác
dụng tăng khả năng kích thích của tủy sống và giảm tái hấp thu các chất điện
giải trong ống thận của caffein có thể làm trầm trọng thêm tình trạng tiểu
không kiểm soát. Sự kích thích quá mức cấu trúc lưới gây ra bởi một số
lượng lớn các phân tử caffein cũng là một trong những cơ chế của triệu
chứng BQTH. Một cơ chế có thể khác là caffein làm tăng hình thành và bài
tiết nước tiểu thứ sinh. Thể tích nước tiểu tăng lên làm tăng tải trọng lên thụ
thể muscarinic của bàng quang. Ở một giai đoạn nhất định, tình trạng thiếu
hụt hoặc giảm nhạy cảm trên thụ thể muscarinic ở người có tuổi làm bàng
quang mất khả năng phản ứng với lượng nước tiểu tăng thêm, dẫn đến xuất
hiện triệu chứng tiểu gấp, tiểu nhiều lần và đôi khi có són tiểu gấp.
- Tình trạng hút thuốc lá/thuốc lào: hút thuốc có liên quan mật thiết với
triệu chứng đường tiết niệu dưới ở nam giới và với tiểu gấp và són tiểu gấp ở
nữ giới. Sự liên quan trên càng gia tăng ở người hút thuốc lá kinh niên do bị
ho nhiều làm tăng áp lực bụng.


19

- Ở phụ nữ, tình trạng tiền mãn kinh và mãn kinh có làm tăng nguy cơ
mắc bệnh bàng quang tăng hoạt cả về tỉ lệ mắc lẫn mức độ nghiêm trọng của
bệnh [13].
1.3. Tình hình nghiên cứu về bệnh bàng quang tăng hoạt
1.3.1. Thực trạng bàng quang tăng hoạt trên thế giới
Tuổi càng cao tỷ lệ mắc bàng quang tăng hoạt càng nhiều ở cả hai giới,
tăng gấp 1,3 lần sau 40 tuổi và 2,1 lần sau 70 tuổi [5]. Theo các chuyên gia
nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bàng quang tăng hoạt ở các nước châu Âu là 16,6%,
và tỷ lệ giữa nam và nữ là như nhau [22]; Hoa Kì là 16,5%, khác nhau về mức
độ nặng của bệnh ở hai giới Châu Á là 53,1% [5].
Thực trạng bàng quang tăng hoạt cụ thể theo khu vực trên thế giới
STT

Tác giả

Địa điểm

Đối tượng và
phương pháp
nghiên cứu

Tỷ lệ mắc

Milsom

và Nghiên

cộng

sự được tiến hành > 40 tuổi với các BQTH, tỷ lệ nam và

(2001) [22]



các

cứu 16.776 nam và nữ 16,6% trường hợp bị
nước tiêu chuẩn tiểu nữ ngang nhau, tăng

châu Âu như: trên 8 lần/ngày, theo tuổi ở cả hai
Pháp, Đức, Ý, có tiểu gấp và són giới. Trong đó tiểu
Tây Ban Nha tiểu gấp.
1

và Thụy Điển

nhiều lần 85%, tiểu
đoán gấp 54%, són tiểu gấp

Chẩn

BQTH dựa trên 36%; riêng són tiểu
bộ

câu

OABSS
Blaivas.

hỏi gấp ở nữ chiếm tỷ lệ
của cao hơn nam, các
triệu

chứng

khác

Nghiên cứu mô giống nhau ở hai giới.
tả cắt ngang.


20

2

Stewart WF Nghiên
cứu Nghiên cứu cắt Tỷ lệ BQTH 16,5%,
và cộng sự được tiến hành ngang mô tả ở nam là 16%, nữ
hay còn gọi là ở Hoa Kì
5.204 người có 16,9% nhưng khác
nghiên
cứu
độ tuổi từ 18 trở nhau về mức độ năng
NOBLE
lên.
của bệnh ở hai giới.
(2001) [2]
Tần suất bệnh tăng
theo tuổi từ 2-19% ở
nữ và 0,3-8,9% ở
nam.
Trong
đó
BQTH ướt chiếm
6,1% nữ 9,3% cao
hơn nam 2,6%, và
45% són tiểu thể hỗn
hợp; 10,4% BQTH
khô trong đó nữ
7,6% thấp hơn nam
13,4%. Nghiên cứu
cũng cho thấy nhiễm
khuẩn tiết niệu làm
tăng tỷ lệ tiểu gấp và
són tiểu gấp ở nữ,
trong khi nam có phì
đại tiền liệt tuyến lại
làm tăng tỷ lệ tiểu
gấp có và không có
kèm theo són tiểu
gấp. Có mối liên
quan giữa chỉ số khối
cơ thể BMI với việc
làm tăng tần suất
mắc bàng quang tăng
hoạt ở nữ, trong khi
không có mối liên hệ
nào ở nam.


21

3

Vaughan và Nghiên
cứu Nghiên
cứu
cộng
sự được tiến hành phỏng vấn 6.000
(2011) [23] ở Phần Lan
người có độ tuổi
từ 18-79 nhằm
khảo sát mức độ
ảnh hưởng của
BQTH đến chất
lượng sống. Khảo
sát 2 tiêu chỉ: tần
suất đi tiểu và
mức
độ
ảnh
hưởng, kết quả có
62,4%
người
đồng ý trả lời.

Lapitan M.C
và cộng sự
hay còn gọi là
nghiên
cứu
ASFU (2001)
[5]

4

Được tiến hành
nghiên cứu ở
11 nước châu
Á

Tiến hành nghiên
cứu mô tả cắt
ngang 5.502 phụ
nữ từ 18 tuổi trở
lên, có các triểu
chứng tiểu nhiều
lần≥ 8 lần/ngày,
tiểu gấp, són tiểu
gấp.

Tiểu gấp ở nam
54,2%, nữ 56,9%,
són tiểu gấp ở nam
10,7%, nữ là 25,7%.
Kết quả nghiên cứu
cũng cho thấy chỉ 1/7
người trả lời có tiểu
gấp và dưới 1/3
người có són tiểu gấp
cho rằng có ảnh
hưởng đến chất
lượng sống từ trung
bình đến nặng. Chỉ
có những người có
tiểu gấp nặng hoặc
kèm theo són tiểu
gấp mới cho rằng họ
bị ảnh hưởng đến
chất lượng sống.
Kết quả: tỷ lệ BQTH
53,1%, chủ yếu là
tiểu gấp 65,4%, tiểu
nhiều lần 55,4%, són
tiểu
gấp
chiếm
21,4%. Trong đó có
21,1% bệnh nhân
thấy bị ảnh hưởng
nhiều cần được điều
trị. Tấn suất bệnh
tăng theo tuổi và
người có tiền sử gia
đình rối loạn đi tiểu
làm tăng nguy cơ gấp
1,6 lần. Nghiên cứu
cho thấy tỷ lệ dân
thành thị bị cao hơn
1,2 lần dân nông thôn.


22

5

6.

Hashim H, và Tiến
hành Nghiên cứu cắt
cộng
sự nghiên cứu tại ngang mô tả
(2006) [25] Anh
những người từ
18 tuổi trở lên
được tiến hành
thăm dò niệu
động học, những
bệnh nhân được
lựa chọn có các
triệu chứng tiểu
gấp, tiểu nhiều và
són tiểu gấp. Xác
định BQTH đơn
thuần hay phối
hợp
với

BQTH.
Irwin DE và Tiến
hành Nghiên
cứu
cộng
sự nghiên cứu tại 19.165
người
(2011) [18] Canada, Đức, tham gia từ 18
ý, Thụy Điển tuổi trở lên được
và Anh từ 4- phỏng vấn qua
12/2005
điện thoại để
khảo sát triệu
chứng đường tiết
niệu
dưới,
BQTH, rỉ tiểu
gấp
và triệu
chứng tắc nghẽn
đường tiết niệu
dưới.

Kết quả cho thấy có
69% nam và 44% nữ
có BQTH khô có cơ
bàng quang co bóp
không tự chủ. Trong
đó 90% nam và 58%
nữ có có chứng tiểu
gấp và són tiểu gấp
có cơ bàng quang co
bóp không tự chủ.

Tỷ lệ BQTH dự đoán
tăng 20,1% từ năm
2008 đến 2018, ước
số người mắc BQTH
trên toàn thế giới
năm đạt tới 546 triệu
người năm 2018.
Ước tính theo vùng
tăng cao nhất là khu
vực châu Á cụ thể:
Châu Phi tăng từ
30,1-31,1% từ năm
2008 đến 2018; Nam
Mỹ tăng từ 20,5 đến
24,7% và châu Á
tăng từ 19,7 đến
24,4%.


23

Félix L.S và Tiên
cộng
(2013)

hành Nghiên cứu mô tả Có 11,8% phụ nữ

sự nghiên cứu tại cắt
Bacelona

ngang

của trung

Tây Ban Nha

tâm

đa tham gia trả lời câu
với hỏi



BQTH.

1004 phụ nữ từ Những bệnh nhân
18-82 tuổi.

trên 50 tuổi có tỷ lệ
mắc bệnh cao hơn

7

người trẻ có ý nghĩa
thống

kê.

Những

người béo phì, thừa
cân hoặc có ≥ 3 con


nguy cơ

mắc

BQTH cao hơn.
Jian G. W và Tiến hành tại Nghiên cứu mô tả Tỷ
cộng
(2014) [26]

sự Trung Quốc

cắt

ngang

lệ

chung

trên BQTH

bị
2,1

10.160 người > (209/9,805), tròng đó
40 tuổi, có 9.805 1% BQTH khô và
người

(96,5%) 1,1%

bàng

quâng

tham gia trả lời tăng hoạt ướt. Độ
câu hỏi OABSS tuổi ≥ 60 nam 4,6%
của Homma
8

cao hơn nữ 2,6%
(p<0,05). Bệnh nhân
đái tháo đường bị
cao hơn không đái
tháo

đường

với

BMI≥ 25 (p<0,05).
Người có BMI≥ 29
cao hơn với tỷ lệ
3,2%
(p<0,05)



1,8%


24

1.3.2. Thực trạng nghiên cứu bệnh bàng quang tăng hoạt ở Việt Nam
Bàng quang tăng hoạt bắt đầu thu hút được sự chú ý, quan tâm của toàn
xã hội và các nhà chuyên môn Việt Nam trong nửa thập niên gần đây, đặc biệt
trong các hội nghị chuyên ngành đã có những báo cáo liên quan đến chủ đề
bàng quang tăng hoạt. Tuy nhiên mới chỉ dừng ở mức trao đổi kinh nghiệm
chẩn đoán và điều trị, chưa có nhiều báo cáo về tỷ lệ bàng quang tăng hoạt.
Do đó chưa có số liệu chính thức về tần suất mắc bàng quang tăng hoạt tại
Việt Nam.
Năm 2014 tắc giả Vũ Văn Chuyên và cộng sự tiến hành nghiên cứu
dịch tễ học trong vòng 2 tháng (5/2014-7/2014); thiết kế nghiên cứu mô tả cắt
ngang tại cộng đồng (Hà Nội, Huế, thành phố Hồ Chí Minh) với cỡ mẫu trên
2093 người được phát ngẫu nhiên cho người dân từ 18 tuổi trở lên và những
người tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ tự trả lời bảng câu hỏi của
mình. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bàng quang tăng hoạt là 12,2% trong
đó nam chiếm 9,89% thấp hơn nữ 14,58% (p<0,05); tỷ lệ bàng quang tăng
hoạt khô là 9,7% và ướt là 2,5%[27]
Cũng năm 2014, tác giả Đỗ Đào Vũ, Lương Tuấn Khanh báo cáo kết
quả nghiên cứu hiệu quả điều trị bàng quang tăng hoạt bằng phối hợp
Solifenacin và kích thích thần kinh chầy tại Trung tâm Phục hồi chức năng
bệnh viện bạch Mai trên tạp chí chuyên ngành Thận Tiết niệu Việt Nam [28].
Mô tả đặc điểm lâm sàng và niệu động học bàng quang tăng hoạt ở
bệnh nhân tai biến mạch máu não của nhóm tác giả Nguyễn Thanh Sơn, Đỗ
Đào Vũ và công sự năm 2015 cho thấy có tỷ lệ không nhỏ bệnh nhân tai biến
mạch máu não bị chứng bàng quang tăng hoạt làm ảnh hưởng tới sức khỏe và
chất lượng sống của bệnh nhân. Nhóm tác giả cũng cho thấy rằng, mới chỉ
một lượng nhỏ bệnh nhân điều trị tại một số cơ sở chuyên sâu mới được chẩn
đoán điều trị. Trong khi còn lượng lớn bệnh nhân này tại cộng đồng chưa thực


25

sự quan tâm, chẩn đoán và điều trị cho người bệnh, họ vốn chịu ảnh hưởng
không nhỏ của những di chứng tai biến mạch máu não gây ra [29]
Như vậy, có thể thấy rằng trong thập niên gần đây đã có một số nghiên
cứu tỷ lệ mắc bệnh bàng quang tăng hoạt tại cộng đồng cũng như nghiên cứu
đặc điểm của bệnh tại một số cơ sở bệnh viện. Tuy nhiên số liệu không đồng
nhất giữa các khu vực địa lý cũng như độ tuổi đối tượng nghiên cứu. Tại Việt
Nam, số lượng các báo cáo chưa nhiều, nghiên cứu trong thời gian ngắn và độ
tuổi rộng trến 18 tuổi. trong khi đó, tỷ lệ bàng quang tăng hoạt không giống
nhau ở các độ tuổi mà có xu hướng tăng dần theo tuổi. Nhóm tuổi trung niên
và trường thành thường chiếm tỷ lệ cao hơn và thực tế nhu cầu phải điều trị ở
nhóm này thường lớn hơn. Trong khi đó, chưa có nghiên cứu nào được báo
cáo tại Việt Nam về tỷ lệ mắc bệnh bàng quang tăng hoạt ở nhóm tuổi này.
Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực trạng mắc chứng bàng
quang tăng hoạt ở nhóm trung niên và người lớn tuổi nhằm có được kết quả
tin cậy để tham khảo cũng như làm cơ sở xây dựng kế hoạch chăm sóc điều trị
cho đối tượng bệnh nhân này.
1.3.3. Một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, Hà Nam có 784.045
người, chiếm 4,0% dân số đồng bằng sông Hồng, mật độ dân số 954
người/km², 90,4% dân số sống ở khu vực nông thôn và 9,6% sống ở khu
vực đô thị. Nhóm độ tuổi từ 40 tuổi trở lên có 294.774 người, chiếm 37,6%.
Huyện Duy Tiên có dân số vào khoảng 126.000 người, bao gồm 2 thị
trấn: Hòa

Mạc (huyện

lị), Đồng

Văn và

16

xã: Bạch

Thượng, Châu

Giang, Châu Sơn, Chuyên Ngoại, Đọi Sơn, Duy Hải, Duy Minh, Hoàng
Đông, Mộc

Bắc, Mộc

Nam, Tiên

Ngoại, Tiên

Nội, Tiền

Phong, Trác

Văn, Yên Bắc, Yên Nam. Trên địa bàn huyện Duy Tiên đã và đang hình thành
nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp và làng nghề.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×