Tải bản đầy đủ

Tác động của toàn cầu hóa, khu vực hóa đến xuất khẩu của việt nam

I. MỞ ĐẦU
Sự tác động của toàn cầu hoá kinh tế đối với xã hội Việt
Nam là mạnh mẽ và sẽ còn tiếp tục tăng thêm trong những năm
tới. Đó là những tác động không tránh khỏi trong quá trình “đau
đẻ” của lịch sử xã hội loài người trước khi bước vào xã hội xã hội
chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa thực sự., thế giới toàn
cầu hóa với những thay đổi lớn, đa dạng và phức tạp, có ảnh
hưởng đến bất cứ quốc gia nào và cá nhân nào. Trong hai mươi
năm đổi mới vừa qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước,
nhân dân ta, đồng bào đã đạt được những thành tựu to lớn, đưa
đất nước vuợt qua tình trạng trì trệ kém phát triển trở thành một
trong những quốc gia có nền kinh tế phát triển nhanh và liên tục,
an ninh chính trị ổn định trong nhiều năm qua.
Toàn cầu hoá bên cạnh việc mang lại những cơ hội lớn cho
mỗi quốc gia, mỗi dân tộc thì đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều ngu
cơ trong đó có nguy cơ khủng hoảng toàn cầu. Sự thay đổi của
các thị trường tài chính với mức độ mở cửa thương mại và tài
chính của các nước, mỗi điều kiện bên trong của mỗi quốc gia đều
dẫn tới khả năng khủng hoảng. Xuất khẩu của Việt Nam đương
nhiên không nằm ngoài sự tác động của toàn cầu hóa và khu vực
hóa cả về mặt tích cực và tiêu cực.


1


II. NỘI DUNG
1. Một số khái niệm
Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi
trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết
và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các
cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế, v.v... trên quy mô toàn cầu.
Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoá hầu như được dùng
để chỉ các tác động của thương mại nói chung và tự do hóa
thương mại hay tự do hóa thương mại nói riêng. Cũng ở góc độ
kinh tế, người ta chỉ thấy các dòng chảy tư bản ở quy mô toàn cầu
kéo theo các dòng chảy thương mại, kỹ thuật, công nghệ, thông
tin, văn hoá.
Khu vực hóa được hiểu như là một quá trình diễn ra những
liên kết về nhiều mặt giữa các quốc gia nằm trong một khu vực
địa lí nhằm tối ưu hóa những lợi ích chung trong nội bộ khu vực
và tối đa sức cạnh tranh đối với các đối tác bên ngoài khu vực.
Việt Nam chủ trương muốn “làm bạn với tất cả” các nước
trong cộng đồng quốc tế, “chủ động hội nhập” kinh tế quốc tế. Vì
vậy, mọi biến đổi của nền kinh tế thế giới, từ tích cực đến tiêu
cực, đều ảnh hưởng tới xã hội Việt Nam ở những mức độ và góc
độ khác nhau. Sự biến đổi của thế giới hiện đại như một tất yếu
lịch sử, đánh dấu sự chuyển biến quan trọng trong lịch sử xã hội
loài người. Lịch sử xã hội loài người đã trải qua các nấc thang
phát triển khác nhau và các nấc thang đó được Các Mác xác định
bằng sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội.
2


Ở Việt Nam trong thời kỳ mới, Đảng Cộng sản chủ trương
Việt Nam muốn “làm bạn với tất cả” các nước trong cộng đồng
quốc tế, “chủ động hội nhập” kinh tế quốc tế. Vì vậy, mọi biến đổi
của nền kinh tế thế giới, từ tích cực đến tiêu cực, đều ảnh hưởng
tới xã hội Việt Nam ở những mức độ và góc độ khác nhau.

2. Tác động của toàn cầu hóa, khu vực hóa đến xuất
khẩu của Việt Nam

Toàn cầu hoá, nhất là toàn cầu hoá kinh tế, đã tác động đến
hệ tư tưởng ở Việt Nam trên cả hai phương diện: tích cực và tiêu
cực. Tác động tích cực là, do giao lưu quốc tế được mở rộng,
người Việt Nam nhận thấy rõ hơn bản chất của chủ nghĩa tư bản,
với tất cả những mặt tích cực và những mâu thuẫn không thể khắc
phục được của nó.
Tuy nhiên, sự tác động của toàn cầu hoá kinh tế cùng với
việc phát triển nền kinh tế thị trường của đất nước đã làm nảy
sinh tư tưởng thực dụng ở không ít người. Những tác động đó
cùng với một số hiện tượng tiêu cực trong xã hội đã làm cho một
số người không được học tập chủ nghĩa Mác-Lê-nin một cách hệ
thống, không nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của lý
luận này hoặc không vững vàng về tư tưởng, tỏ ra hoang mang,
dao động, giảm niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vào lý
tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

3


Sự giao lưu quốc tế rộng rãi trên cơ sở của phát triển kinh tế
toàn cầu cũng có những tác động không nhỏ tới lĩnh vực văn hóa.
Cùng với việc phục hồi, phát huy các giá trị văn hoá, nhiều khu
phố cổ, nhiều bản làng với những nhà sàn, nhà rông, “văn hoá
cồng chiêng” của đồng bào các dân tộc thiểu số được duy trì và
phát triển.
Mặt khác, giao lưu quốc tế được mở rộng, nền văn hoá Việt
Nam có điều kiện tiếp thu các giá trị mới của nền văn hoá thế giới
và ngày càng trở nên đa dạng, phong phú. Điều dễ nhận thấy là,
trong bất kỳ thời đại nào, sự phát triển khép kín tất yếu sẽ làm cho
nền văn hoá trở nên khô cằn.
Tuy nhiên, cùng với những tác động tích cực, toàn cầu hoá
cũng gây ra những hệ quả tiêu cực đối với nền văn hoá Việt Nam,
như: một bộ phận giới trẻ có dấu hiệu xa rời giá trị văn hoá truyền
thống; Một số giá trị văn hoá truyền thống không được bảo quản,
gìn giữ, thậm chí đem ra mua bán để trục lợi; có những giá trị tinh
thần bị biến dạng hoặc bị mai một; Không ít gia đình, phá bỏ
quan hệ truyền thống tốt đẹp; bị quan niệm sống thực dụng, tuỳ
thích làm cho hạnh phúc gia đình và sự ràng buộc trách nhiệm tan
vỡ, rạn nứt; Một số người thay đổi nhanh chóng lối sống: đang là
người cần cù, chịu khó, khoan dung, độ lượng, chân thật, bỗng
dưng trở thành kẻ tham lam, ích kỷ, coi thường danh dự của tập
thể, cộng đồng, thậm chí của cả bản thân, chỉ tập trung vào việc
thực hiện những mục tiêu cá nhân đầy tính vụ lợi…

4


Nhìn chung, sự tác động của toàn cầu hoá kinh tế đối với xã
hội Việt Nam là mạnh mẽ và sẽ còn tiếp tục tăng thêm trong
những năm tới. Đó là những tác động không tránh khỏi trong quá
trình “đau đẻ” của lịch sử xã hội loài người trước khi bước vào xã
hội xã hội chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa thực sự.
Những biến đổi của nền kinh tế thế giới tác động đến quan
hệ giai cấp, hệ tư tưởng, văn hoá ở Việt Nam bằng hai cách - trực
tiếp và gián tiếp. Tác động trực tiếp là, cùng với quá trình xâm
nhập của nền kinh tế thế giới, hệ tư tưởng ngoài mác-xít và nền
văn hoá của các nước cùng du nhập vào Việt Nam, tác động thẳng
đến các mối quan hệ xã hội, hệ tư tưởng và văn hoá ở Việt Nam.
Tác động gián tiếp là những tác động thông qua kinh tế: Nền kinh
tế thế giới ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam; nền kinh tế Việt
Nam lại ảnh hưởng đến các quan hệ xã hội, hệ tư tưởng và văn
hoá ở Việt Nam. Như khi Việt Nam gia nhập WTO chúng ta có
được nhiều lợi thế nhưng cũng vấp phải những thách thức không
nhỏ, những lợi thế và thách thức có thể kể đến như sau:
Lợi thế:
- Góp phần củng cố hoà bình, an ninh của đất nước.
- Có điều kiện tốt hơn đấu tranh giải quyết các tranh chấp thương
mại một cách xây dựng và công bằng.
- Tăng sức mạnh tổng hợp của ta khi phải đấu tranh với các nước
mạnh hơn về kinh tế, thương mại.
- Tạo điều kiện cho hàng hoá xuất khẩu của ta thâm nhập thị
trường các nước dễ dàng hơn.
5


- Cho người tiêu thụ của ta nhiều lựa chọn hơn, hàng hoá chất
lượng hơn.
- Kích thích tăng trưởng kinh tế, tăng việc làm.
- Góp phần làm cho hoạt động buôn bán của ta hiệu quả hơn và
giảm được phí tổn.
- Tạo điều kiện cho ta quản lý tốt hơn.
Thách thức:
- Sức ép cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước tăng.
- Nảy sinh những vấn đề xã hội mới.
- Nguy cơ mai một bản sắc văn hoá dân tộc.
Trước khi chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính
toàn cầu, sản phẩm dầu thô xuất khẩu chỉ tăng nhẹ trong mấy năm
đầu của giai đoạn 2001 – 2006 sau đó giảm dần. Sự sụt giảm là do
các mỏ dầu đã cạn kiệt trong khi việc thăm dò và mua các mỏ dầu
mới của các nước khác không mấy tiến triển khi xảy ra suy thoái.
Nhiều nền kinh tế lớn bắt đầu từ Nhật, Nga, EU lâm vào
tình trạng suy thoái, Mỹ chính thức lâm vào suy thoái từ tháng
12/2007 thì giá dầu thô sụt giảm mạnh cùng với đó là nhu cầu xây
dựng đi xuống ảnh hưởng tới mặt hàng dầu của Việt Nam, đang từ
ngưỡng cao xuống còn 50 USD/thùng. Kinh tế thế giới bước vào
giai đoạn suy thoái khiến giá dầu giảm mạnh, giá dầu giảm tác
động đến nguồn thu từ dầu mỏ Việt Nam. Tuy không chịu ảnh
hưởng về thị trường nhưng chịu ảnh hưởng về giá. Kim ngạch
xuất khẩu nhóm này trong năm 2008 đạt gần 5 tỷ USD giảm
40,1% tương đương 3,35 tỷ USD, trong đó giảm do giá giảm 4,83
6


tỷ USD và tăng do lượng khoảng 1,48 tỷ USD. Lượng dầu thô
xuất khẩu năm 2008 là 14,5 triệu tấn và bắt đầu giảm từ năm 2009
xuống còn 12 triệu tấn, năm 2010 còn 11 triệu tấn tương đương
với việc làm giảm kim ngạch từ 11,3 tỷ USD năm 2008 xuống
còn 7,2 tỷ USD năm 2009, 6,6 tỷ USD năm 2010. Mức giá dự
tính dự tính sẽ giao động ở mức trung bình khoảng 70 – 80
USD/thùng, thấp hơn 22 USD/ thùng so với giá bình quân xuất
khẩu

năm

2008.

Về than đá, cũng sẽ giảm dần do chủ trương kiểm soát chặt chẽ
xuất khẩu tài nguyên, mức xuất khẩu than duy trì 23 triệu tấn năm
2008 xuống mức 20 triệu tấn năm 2009 và 18 triệu tấn năm 2010.
Dự kiến kim ngạch năm 2010 đạt 1,5 tỷ USD.
Do kinh tế Việt Nam đã mở cửa hội nhập khá sâu vào nền
kinh tế khu vực và thế giới nên không thể tránh khỏi ảnh hưởng
của cuộc khủng hoảng này. Hoa Kỳ , EU, Trung Quốc là những
thị trường quan trọng, có sức tiêu thụ lớn hàng nông, lâm, thủy
sản Việt Nam.
Trước khủng hoảng hàng xuất khẩu của Việt Nam đã bị cạnh
tranh ngày càng khốc liệt bởi hàng xuất khẩu cùng loại của một số
nước, hơn nữa khả năng sản xuất mặt hàng nông, thuỷ sản gặp
nhiều khó khăn, còn vấp phải nhiều rào cản thương mại quốc tế
và mức tăng tỷ giá trong những tháng đầu năm 2009 đã làm cho
khả năng xuất khẩu năm giảm hơn so với năm 2008.
Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông, lâm, thủy sản
chính của Việt Nam sang Hoa Kỳ tăng lên từ 619 triệu USD (năm
7


2001) đến 1,8 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2008. Khi khủng
hoảng tài chính, tín dụng xảy ra, kinh tế Mỹ và các nước EU gặp
khó khăn sức tiêu dùng giảm nên hàng Việt Nam xuất khẩu vào
thị trường lớn này gặp khó khăn. Những tác động này đã bắt đầu
bộc lộ từ giữa tháng 9 năm 2008, xuất khẩu chững lại giá xuất
khẩu các mặt hàng nông sản đều giảm so với các tháng trước,
tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tháng 9/2008 đạt
1,45 tỷ USD tăng 32,6% so với tháng 9/2007 và giảm 11% so với
tháng 8/2008.
Năm 2008, do chịu ảnh hưởng của biến động kinh tế thế
giới nên hoạt động xuất khẩu diễn biến không theo quy luật,
những tháng đầu năm xuất khẩu gặp thuận lợi về giá, kim ngạch
xuất khẩu đạt mức cao trong 2 tháng 7 và 8 tuy nhiên đến tháng 9
xuất khẩu giảm mạnh và tiếp tục giảm trong những tháng cuối
năm. Nhu cầu của thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, các đơn đặt
hàng xuất khẩu dệt may, đồ gỗ vào Mỹ và EU đều giảm do ảnh
hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Trong khi thị trường xuất khẩu gặp khó khăn thì các chi phí
đầu vào không giảm thậm chí còn tăng cao. Năm 2008, Việt Nam
xuất khẩu được khoảng 64,8 tỷ USD, trong đó khoảng 32,1% giá
trị xuất khẩu là hàng công nghiệp nặng và khoáng sản, 45,2% là
hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp, 23,5% là hàng
nông, lâm, thuỷ sản.
Nhóm hàng công nghiệp chế biến, công nghiệp và thủ công
mỹ nghệ chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ tác động của cuộc khủng
8


hoảng toàn cầu do nhu cầu của các mặt hàng này giảm mạnh.
Trong những tháng đầu năm 2009, xuất khẩu các mặt hàng dệt
may, da giày, đồ gỗ đều gặp khó khăn do thị trường tiêu thụ bị thu
hẹp, các đơn hàng xuất khẩu dệt may, đồ gỗ, giày dép vào Mỹ và
EU đều giảm, nhiều hàng rào phi thuế quan và các biện pháp bảo
hộ mậu dịch của các nước được dựng lên. Chi phí đầu vào phục
vụ cho sản xuất vẫn tăng cao như lương công nhân và lãi suất
ngân hàng. Tuy nhiên đến tháng 5, tháng 6/2009 kinh tế thế giới
đã bắt đầu phục hồi kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đầu năm 2009
đạt 20,2 tỷ USD giảm 47% so với năm 2008. Lĩnh vực công
nghiệp, mặt hàng dệt may đạt 9,06 tỷ USD giảm 0,6% so với năm
2008, da giày đạt khoảng 4,1 tỷ USD, xuất khẩu đồ gỗ với nhiều
nỗ lực đạt khoảng 2,7 tỷ USD trong năm 2009.
3. Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu trong xu thế toàn
cầu hóa hiện nay
Chính phủ cần điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, hiệu
quả tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp đặc biệt là các
doanh nghiệp sản xuất hàng phục vụ xuất khẩu, điều chỉnh chính
sách thuế linh hoạt hỗ trợ tối đa cho sản xuất trong nước thúc đẩy
kinh doanh xuất khẩu.
Phát triển nội lực, giữ vững thị trường trong nước để làm
bàn đạp cho chiến lược phát triển xuất khẩu.
Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu giảm sự phụ thuộc vào
các thị trường truyền thống. Đầu tư tìm kiếm các thị trường mới

9


nhiều tiềm năng đồng thời vẫn phải chú trọng vào thị trường nội
địa vì đây là thị trường căn bản và an toàn nhất.
Nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam
trên cơ sở nâng cao chất lượng giảm giá thành.
Tăng cường công tác dự báo thông tin về thị trường, mặt
hàng các điều kiện thương mại.
Giảm bớt các thủ tục rườm rà trong hoạt động xuất khẩu để
thu hút đầu tư và khuyến khích xuất khẩu.
Cơ cấu lại các mặt hàng xuất khẩu tăng cường xuất khẩu các
mặt hàng công nghiệp chế biến vì đây là các mặt hàng mang lại giá
trị kinh tế cao.

10


III. KẾT LUẬN
Do bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa trên con đường tiến lên
chủ nghĩa xã hội nên xã hội Việt Nam không thể không trải qua
những bước đi ban đầu của nền kinh tế thị trường. Đồng thời,
trong bối cảnh mới, toàn cầu hoá kinh tế lại đem đến cho xã hội
Việt Nam những ảnh hưởng của chủ nghĩa tư bản thời kỳ cuối. Sự
tác động hỗn hợp của những yếu tố này đã tạo ra những hiện
tượng phức tạp trong đời sống xã hội. Đó là cái khiến cho toàn
cầu hoá kinh tế đối với Việt Nam vừa là thời cơ, vừa là thách thức
đặc biệt là với xuất khẩu hàng hóa sang các thị trường khó tính
thuyền thống và tìm kiếm các thị trường mới trên thế giới. Song,
với bề dày của lịch sử dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam hoàn toàn có đủ khả năng nắm
vững thời cơ, vượt qua thách thức; khai thác, tận dụng những mặt
tích cực của toàn cầu hoá kinh tế để tạo ra sức mạnh chiến thắng
các tác động tiêu cực của nó. Do đó, sự nghiệp cách mạng Việt
Nam vẫn có đầy đủ những điều kiện cơ bản để giành thắng lợi
trong một thế giới đầy biến động hiện nay.

11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×