Tải bản đầy đủ

“Quản lý hoạt động thanh tra, kiểm tra tại KBNN Thái Nguyên

i


ii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..................................................................................................................................................1
Chương 2..............................................................................................................................................41
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..............................................................................................................41
Chương 3..............................................................................................................................................48
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TRA............................................................................48
TẠI KBNN THÁI NGUYÊN......................................................................................................................48
Chương 4..............................................................................................................................................96
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA TẠI
KBNN THÁI NGUYÊN............................................................................................................................96
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................................................122


iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt
BQL

BTC
CBCC
CĐ,TrC
CN
CQ
CS
CT
CTMT
CV
CVC
HĐBT
HĐND
KB
KBNN
KNTC
NSNN
OSCAR
SL
TC
ThS
TS
TTKT
UBND
XDCB

Viết đầy đủ
Ban quản lý
Bộ Tài chính
Công chức công chức
Cao đẳng, trung cấp
Cử nhân
Chính quy
Cán sự
Chuyên tu
Chương trình mục tiêu
Chuyên viên
Chuyên viên chính
Hội đồng Bộ trưởng
Hội đồng nhân dân
Kho bạc

Kho bạc Nhà nước
Khiếu nại tố cáo
Ngân sách Nhà nước
Hệ thông kế toán và báo cáo trung ương
Sắc lệnh
Tại chức
Thạc sỹ
Tiến sỹ
Thanh tra, kiểm tra
Ủy ban Nhân dân
Xây dựng cơ bản
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch TTKT tại KBNN Thái Nguyên
................................................ Error: Reference source not found
Bảng 3.2: Tỷ lệ hồ sơ được TTKT trong tổng số hồ sơ được phê duyệt giai
đoạn 2012-2016...........................................................................63
MỞ ĐẦU..................................................................................................................................................1
Chương 2..............................................................................................................................................41
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..............................................................................................................41


iv
Chương 3..............................................................................................................................................48
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TRA............................................................................48
TẠI KBNN THÁI NGUYÊN......................................................................................................................48
Chương 4..............................................................................................................................................96
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA TẠI
KBNN THÁI NGUYÊN............................................................................................................................96
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................................................122


v
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU..................................................................................................................................................1

2.1. Mục tiêu chung.................................................................................3
2.2. Mục tiêu cụ thể..................................................................................3
1.1.3. Nội dung quản lý thanh tra, kiểm tra tại KBNN........................18
1.1.3.1. Quy trình quản lý hoạt động thanh tra, kiểm tra tại KBNN...18
a. Quy trình quản lý hoạt động thanh tra tại KBNN............................18
b. Quy trình quản lý hoạt động kiểm tra tại KBNN..............................19
Chương 2..............................................................................................................................................41
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..............................................................................................................41
Chương 3..............................................................................................................................................48
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TRA............................................................................48
TẠI KBNN THÁI NGUYÊN......................................................................................................................48
Chương 4..............................................................................................................................................96
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA TẠI
KBNN THÁI NGUYÊN............................................................................................................................96
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................................................122

Hình 3.3. Sơ đồ quy trình thanh tra đột xuất............Error: Reference source
not found7
Hình 3.4: Sơ đồ quy trình kiểm tra...............................................................
Hình 3.5. Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch TTKT giai đoạn 2012-2016....................
Hình 3.6: Tỷ lệ hồ sơ được TTKT giai đoạn 2012-2016..................................
Hình 3.7: Kết quả hoạt động TTKT theo phương thức...............................


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ những ngày đầu lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất chú ý
tới việc sử dụng, phát huy vai trò công tác thanh tra, kiểm tra và được thể hiện
ngay từ Sắc lệnh số 64/SL ngày 23 tháng 11 năm 1945 về việc thành lập Ban
Thanh tra đặc biệt. Sau này, vị trí, vai trò quan trọng của công tác thanh tra
tiếp tục được thể hiện trong nhiều bài viết, bài nói, chỉ thị của Hồ Chủ tịch ở
nhiều lúc, nhiều nơi.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra giúp phát hiện và xử lý hành vi vi phạm
pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp
luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động
quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đồng thời xem xét việc chấp hành chính sách, chế
độ, quy trình nghiệp vụ liên quan của công chức, công chức trong việc thực thi
nhiệm vụ được giao. Kiến nghị biện pháp xử lý kịp thời các tồn tại, sai sót, vi
phạm chính sách, chế độ, quy trình nghiệp vụ được phát hiện trong quá trình
kiểm tra. Kịp thời phát hiện các sơ hở, bất cập của chế độ, chính sách, quy trình
nghiệp vụ để kiến nghị cấp có thẩm quyền bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện.
Công tác thanh tra, kiểm tra cũng là một biện pháp quan trọng trong việc
ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật. Thanh tra cùng
với các phương thức kiểm tra, giám sát luôn là hiện thân của kỷ cương pháp
luật; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát dù được thực hiện dưới bất cứ hình
thức nào, cũng luôn có tác dụng hạn chế, răn đe những hành vi vi phạm pháp
luật của các đối tượng quản lý. Mặt khác, các giải pháp được đưa ra từ hoạt
động thanh tra, kiểm tra, giám sát không chỉ hướng vào việc xử lý các hành vi
vi phạm pháp luật, mà còn có tác dụng khắc phục các kẽ hở của chính sách,
pháp luật, ngăn ngừa tận gốc mầm mống phát sinh những vi phạm pháp luật.


2
Thực tiễn công tác thanh tra, kiểm tra thời gian qua cho thấy, địa
phương nào, ngành nào chú trọng đến công tác thanh tra, kiểm tra thì địa
phương đó, ngành đó thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước, ít có khiếu nại,
tố cáo; ngược lại nơi nào không chú trọng đúng mức đến công tác thanh tra,
kiểm tra thì nơi đó không thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của mình.
Thanh tra, kiểm tra là công tác quan trọng, vì vậy mọi tổ chức nhất là
các tổ chức Đảng và Nhà nước đều phải chú trọng hoàn thiện quy trình hoạt
động thanh tra, kiểm tra của mình; xây dựng tổ chức và bố trí công chức làm
công tác thanh tra, nhằm đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra.
Qua hơn 25 năm hình thành và phát triển, hệ thống Kho bạc Nhà nước
Thái Nguyên đã góp phần cùng với toàn ngành Tài chính đạt được nhiều kết
quả, đóng góp tích cực, có hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng, đổi mới đất
nước thông qua việc tập trung kịp thời, đầy đủ nguồn thu cho NSNN, đáp ứng
kịp thời nhu cầu chi của Chính phủ, huy động một lượng vốn lớn cho ngân
sách và cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội; KBNN Thái Nguyên đã cung
cấp thông tin kịp thời, chính xác tình hình thu, chi ngân sách phục vụ sự chỉ
đạo điều hành của các cơ quan trung ương và chính quyền địa phương, góp
phần đắc lực vào việc nâng cao chất lượng quản lý và điều hành tài chính,
ngân sách nhà nước, quỹ NSNN.
Cũng như các cơ quan đơn vị Nhà nước khác, KBNN Thái Nguyên
cũng cần phải hết sức chú trọng đến hoạt động thanh tra, kiểm tra, nhất là việc
hoàn thiện hoạt động thanh tra, kiểm tra bởi hiện nay đất nước đang đứng
trước yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế
quốc tế đòi hỏi KBNN Thái Nguyên phải có những cải cách mạnh mẽ về thể
chế chính sách, hoàn thiện bộ máy, hiện đại hóa công nghệ và phát triển
nguồn nhân lực.
Tuy nhiên, trong những năm vừa qua hoạt động thanh tra, kiểm tra tại
KBNN Thái Nguyên vẫn còn một số tồn tại, vướng mắc và hạn chế nhất định


3
như: Lực lượng thanh tra, kiểm tra KBNN còn mỏng, chưa được chuẩn hoá,
trình độ chuyên môn của một số công chức chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm
vụ mới; khung pháp lý cho hoạt động thanh tra, kiểm tra kho bạc còn thiếu;
quy trình nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra chưa được hoàn thiện kịp thời so với
những thay đổi của các hoạt động nghiệp vụ KBNN; một số KBNN huyện
vẫn chưa thực sự quan tâm đến công tác thanh tra, kiểm tra...
Từ những vấn đề nói trên tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý
hoạt động thanh tra, kiểm tra tại KBNN Thái Nguyên" là nội dung nghiên
cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Đề tài tập trung phân tích thực trạng công tác quản lý hoạt động thanh
tra, kiểm tra tại KBNN Thái Nguyên, phân tích các mặt đạt được, mặt còn
hạn chế, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện, góp phần nâng cao hiệu
quả công tác thanh tra, kiểm tra tại KBNN Thái Nguyên.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Luận văn hướng đến những mục tiêu cụ thể sau:
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động thanh
tra, kiểm tra nói chung và hoạt động thanh tra, kiểm tra tại KBNN nói riêng.
- Phân tích thực trạng công tác quản lý hoạt động thanh tra, kiểm tra tại
KBNN Thái Nguyên trong thời gian qua, nhằm đánh giá những mặt đã đạt
được, những tồn tại, nguyên nhân những tồn tại.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động
thanh tra, kiểm tra tại KBNN Thái Nguyên trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu


4
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hoạt động thanh
tra, kiểm tra tại KBNN Thái Nguyên. Từ đó đề xuất giải pháp phù hợp để nâng
cao chất lượng, hoàn thiện hoạt động thanh tra, kiểm tra tại KBNN Thái Nguyên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
* Nội dung nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu lý luận, thực tiễn hoạt động
thanh tra, kiểm tra tại KBNN Thái Nguyên. Luận văn tập trung vào phân tích
quy trình TTKT tại KBNN Thái Nguyên, đánh giá các phương pháp TTKT và
hiệu quả của công tác TTKT tại KBNN Thái Nguyên. Ngoài ra, luận văn còn
đi sâu nghiên cứu các yếu tố chủ quan và khách quan cóảnh hưởng đến hoạt
động TTKT của KBNN Thái Nguyên trong những năm qua, từ đó đưa ra các
định hướng và giải pháp đổi mới quản lý hoạt động thanh tra, kiểm tra KBNN
đến năm 2020.
* Về không gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại KBNN Thái
Nguyên và trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
* Về thời gian nghiên cứu: Số liệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài được
thu thập từ 2014 - 2016, số liệu điều tra thực tế tháng 11, 12 năm 2016.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Đề tài khái quát những lý luận chung về quản lý hoạt động thanh tra và
nêu bật vai trò của hoạt động thanh tra do KBNN thực hiện đối với quá trình
hoạt động của KBNN.
Bằng lý luận và thực tiễn sẽ làm rõ vai trò của hoạt động thanh tra
KBNN, phân tích thực trạng của thanh tra KBNN Thái Nguyên trong giai
đoạn hiện nay.
Trên cơ sở thực trạng những tồn tại, vướng mắc trong quản lý hoạt
động thanh tra kiểm tra KBNN Thái Nguyên, luận văn đề xuất những giải
pháp cơ bản để hoàn thiện công tác quản lý hoạt động của thanh tra kiểm tra


5
KBNN Thái Nguyên nói riêng và toàn hệ thống KBNN nói chung và những
kiến nghị để hoạt động thanh tra kiểm tra có hiệu quả hơn.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, đặc biệt là
các công chức lãnh đạo thuộc ngành Tài chính, Kho bạc, các công chức lãnh
đạo cấp địa phương (HĐND, UBND thành phố, Các phòng, ban ngành liên
quan...) đối với lĩnh vực có liên quan.
5. Kết cấu của luận văn
Bố cục của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo, luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cở sở lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động thanh tra, kiểm
tra tại Kho bạc Nhà nước
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý hoạt động thanh tra kiểm tra tại Kho bạc
Nhà nước Thái Nguyên.
Chương 4: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt
động thanh tra, kiểm tra tại Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên


6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
THANH TRA KIỂM TRA TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động thanh tra, kiểm tra
1.1.1. Khái niệm, vai trò, nguyên tắc thanh tra, kiểm tra
1.1.1.1. Khái niệm về thanh tra, kiểm tra:
a. Khái niệm về thanh tra:
Theo nghiệp vụ công tác thanh tra - Trường công chức thanh tra:
“Thanh tra xuất phát từ tiếng Latinh (In-spectare) có nghĩa là “nhìn vào bên
trong” chỉ “một sự xem xét từ bên ngoài vào một đối tượng nhất định”. (Giáo
trình Nghiệp vụ công tác thanh tra, 2009)
Theo PGS.TS Phạm Ngọc: “Thanh tra là hoạt động kiểm tra của tổ chức
thanh tra nhà nước đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, chấn chỉnh
những sai lầm, xử lý những vi phạm trong các hoạt động kinh tế - xã hội giúp
cho bộ máy quản lý vận hành tốt”. (Giáo trình Thanh tra tài chính, 2012)
Theo Luật Thanh tra năm 2010: “Thanh tra nhà nước là việc xem xét,
đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính
sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo
thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật thanh tra và các quy
định khác của pháp luật”. (Luật thanh tra, 2010)
Như vậy, từ những khái niệm trên ta có thể hiểu, thanh tra là hoạt động
kiểm tra, xem xét, đánh giá, xử lý của chủ thể quản lý với đối tượng quản lý
nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, chính
sách chế độ của Nhà nước và các quy định của cơ quan, tổ chức.
b. Khái niệm về kiểm tra
Theo Từ điển Tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn, thì kiểm tra là
"xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét". (Từ điển Tiếng Việt, 2008)
Theo Đại từ điển Tiếng Việt do Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt


7
Nam biên soạn thì kiểm tra là "xem xét thực chất, thực tế". (Đại từ điển Tiếng
Việt, 2006)
Theo Từ điển Luật học thì kiểm tra là "xem xét tình hình thực tế thi
hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nói chung hay một công tác
cụ thể được giao để đánh giá, nhận xét... ". (Từ điển Luật học, 2010)
Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ Hành chính thì kiểm tra (Ph.
Controle) là “Một chức năng quản lý có liên quan mật thiết với các chức năng
quản lý khác, đặc biệt là với chức năng kế hoạch hoá; nó cho phép các nhà
quản lý biết được các mục tiêu tổ chức có đạt được hay không hoặc đạt được
như thế nào, cũng như nguyên nhân tạo nên tình hình đó, tạo ra sự linh hoạt
trong hoạt động vận hành của một hệ thống”.
Tổng hợp các quan niệm trên có thể hiểu kiểm tra là xem xét những việc
thực tế diễn ra so với những quy tắc đã định và các mệnh lệnh về quản lý đã
ban ra. Tuy nhiên, kiểm tra cần được hiểu là một hoạt động của quản lý để xem
xét lại mọi quyết định, mọi nghiệp vụ và kết quả thực hiện. Trên thực tế, khái
niệm kiểm tra thường được sử dụng cho những công việc soát xét mang tính
thứ bậc hành chính.
1.1.1.2. Một số điểm giống và khác nhau giữa thanh tra và kiểm tra tại KBNN
Thanh tra là hoạt động kiểm tra cho nên giữa thanh tra và kiểm tra có
những điểm giống nhau:
Thanh tra và kiểm tra đều có cùng mục đích là phát hiện, ngăn ngừa, xử lý
những vi phạm pháp luật, quy chế, chế độ quản lý... góp phần thúc đẩy các tổ
chức, cá nhân hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thành cơ chế quản lý, tăng cường pháp
chế, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Thanh tra và kiểm tra đều phải xem xét hoạt động thực tế của đối tượng
để phát hiện, phân tích, đánh giá thực trạng tình hình một cách chính xác,
khách quan, trung thực, xử lý sai phạm. Do đó, giữa thanh tra và kiểm tra có


8
thể có cùng nội dung hoặc phương pháp tiến hành trong những phạm vi công
việc nhất định.
Tuy nhiên, giữa thanh tra và kiểm tra có sự khác nhau:
+ Về chủ thể: Chủ thể của hoạt động thanh tra và kiểm tra là không
giống nhau. Chủ thể của thanh tra là các tổ chức thanh tra chuyên trách về
kiểm tra của Nhà nước. Đó là thanh tra nhà nước gồm các cơ quan thanh tra
hành chính và thanh tra chuyên ngành (thanh tra Ngân hàng, thanh tra Tài
chính, Thanh tra Thuế, KBNN...). Chủ thể kiểm tra rộng hơn: bao gồm các cơ
quan quản lý nhà nước, các cơ quan thanh tra, Thủ trưởng các đơn vị, các tổ
chức quần chúng và người lao động cũng có thể thanh tra trực tiếp kiểm tra.
Về nội dung: Nội dung thanh tra thường là những vấn đề phức tạp, bao
gồm những hành vi thuộc về quá khứ. Hoạt động thanh tra là kiểm tra ở giai
đoạn sau khi các hoạt động giải quyết các “tồn đọng” trong quản lý; giải quyết
các khiếu nại, tố cáo đối với các đối tượng kiểm tra vi phạm pháp luật. Nội dung
hoạt động kiểm tra thường là những vấn đề trong hiện tại, dễ nhận biết thực chất
của chúng hơn.
Về phạm vi: hoạt động kiểm tra diễn ra ở tất cả các hoạt động kinh tế xã hội, nó được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục, ở mọi nơi với
nhiều hình thức và phương pháp kiểm tra thích hợp với các yêu cầu, đặc
điểm, nội dung hoạt động của những đối tượng kiểm tra.
Phạm vi của hoạt động thanh tra hẹp hơn. Hoạt động thanh tra là kiểm
tra ở giai đoạn sau khi các hoạt động kinh tế - xã hội đã phát sinh.
Về thời gian: Hoạt động thanh tra thời gian thường dài hơn.
Về hình thức tổ chức: Để tiến hành hoạt động thanh tra phải thành
lập Đoàn và Đoàn thanh tra thực hiện trình tự thanh tra theo quy định của
pháp luật.


9
Đối với kiểm tra có thể thành lập Đoàn hoặc không cần thành lập Đoàn,
có khi chỉ cần cấp dưới tự kiểm tra một hoặc một số nội dung và báo cáo kết
quả bằng văn bản cho cấp trên.
1.1.1.3. Sự cần thiết và vai trò của hoạt động thanh tra, kiểm tra
a. Sự cần thiết của hoạt động thanh tra, kiểm tra
Thanh tra luôn gắn với Nhà nước, là một hoạt động không thể tách rời
của cơ quan nhà nước, sự cần thiết khách quan của hoạt động thanh tra được
bắt nguồn từ các lý do cơ bản sau:
Thứ nhất, Thanh tra, kiểm tra là chức năng chủ yếu của quản lý nhà
nước. Thanh tra kiểm tra là một khâu của quá trình quản lý, có vai trò quan
trọng trong việc kiểm định và đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước,
đề xuất biện pháp hoàn thiện cơ chế chính sách.
Thứ hai, Thanh tra là phương thức đảm bảo trật tự kỷ cương trong
quản lý, góp phần tăng cường pháp chế XHCN. Hoạt động của thanh tra là
phát hiện, phòng ngừa và xử lý vi phạm chính sách, pháp luật của Nhà nước,
vi phạm các quy tắc, quy trình của các cơ quan tổ chức; giải quyết khiếu nại
tố cáo đảm bảo cho pháp luật được thực thi đúng đắn.
Thứ ba, Thanh tra, kiểm tra là một phương thức góp phần bảo đảm
quyền dân chủ của nhân dân. Ở nước ta quyền lực thuộc về nhân dân, Nhà
nước có nghĩa vụ chăm lo quyền và lợi ích hợp pháp cho nhân dân, nhân dân
thực hiện quyền kiểm tra giám sát thông qua nhiều con đường, trong đó có
hoạt động các cơ quan nhà nước do mình bầu ra, và thông qua quyền trực tiếp
khiếu nại tố cáo, hoạt động của các cơ quan thanh tra là một phương thức đảm
bảo các quyền dân chủ này.
b. Vai trò của hoạt động thanh tra, kiểm tra
Một là, Bảo đảm an toàn hệ thống KBNN
Trong hệ thống tài chính quốc gia, KBNN giữ vai trò quan trọng và đảm
nhiệm chức năng quản lý các quỹ tài chính nhà nước, trong đó có quỹ NSNN,
huy động và tập trung nguồn ngân quỹ cho nhà nước và đầu tư phát triển.


10
Trong quá trình hình thành và phát triển hệ thống KBNN ở nước ta,
phát triển KBNN ổn định, an toàn và hiện đại đạt mục tiêu nâng cao hiệu quả
quản lý NSNN, đảm bảo tính công khai, minh bạch và khả năng kiểm tra,
giám sát ngân sách và các hoạt động khác của KBNN, đã đặt ra yêu cầu tăng
cường tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra KBNN để giữ an toàn hệ
thống. Trong những năm qua, một trong những mục đích đầu tiên của hoạt
động TTKT KBNN là đảm bảo tính an toàn hệ thống để các KBNN hoạt động
đúng quy định của Ngành, của Bộ Tài chính và đúng Luật.
Hai là, tăng cường kỷ cương pháp luật trong quản lý quỹ NSNN và
hoạt động KBNN
Thanh tra, kiểm tra luôn gắn với nhà nước, lịch sử đã chứng minh, có
nhà nước là có thanh tra, công cụ kiểm tra giám sát phục vụ yêu cầu quản lý
của nhà nước, giúp nhà nước quản lý kinh tế xã hội. Hoạt động thanh tra,
kiểm tra KBNN gắn bó hữu cơ với thẩm quyền quản lý Nhà nước của
KBNN, đây là vấn đề quan trọng có quan hệ đến hiệu quả và hiệu lực thanh
tra, kiểm tra KBNN, do vậy phải phát huy hết vai trò của KBNN các cấp
trong hoạt động TTKT KB, thông qua hoạt động TTKT KB có tác dụng giúp
KBNN các cấp kiểm tra tính đúng đắn của các quyết định quản lý góp phần
hoàn thiện cơ chế, chính sách khắc phục sơ hở thiếu sót trong quản lý, giữ
vững kỷ cương pháp luật bảo vệ lợi ích của nhà nước và quyền lợi hợp pháp
của các tổ chức, cá nhân.
Bên cạnh đó, hoạt động TTKT KB còn phát hiện, ngăn ngừa và chấn
chỉnh, xử lý theo thẩm quyền, kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý vi
phạm pháp luật về quản lý quỹ NSNN và các hoạt động kho bạc khác.
Kiến nghị các biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật về quản lý quỹ
NSNN và các hoạt động kho bạc khác.
Xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy
định của Luật KNTC các vụ việc thuộc thẩm quyền của KBNN có liên quan
đến tổ chức và hoạt động KB, tham mưu giúp Tổng Giám đốc KBNN chỉ đạo
công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng trong ngành Kho bạc.


11
Tiến hành các cuộc TTKT thường xuyên, đột xuất về chấp hành các
quy định của pháp luật, chế độ, chính sách của BTC và quy trình nghiệp vụ
KB về lĩnh vực quản lý quỹ NSNN và các hoạt động KB khác.
Ba là, góp phần ổn định và phát triển hệ thống KBNN
Thanh tra, kiểm tra KBNN là một bộ phận quan trọng góp phần không
nhỏ giữ vững sự ổn định của hệ thống KBNN, vì vậy hoạt động của hệ thống
KBNN không thể tách rời hoạt động thanh tra, kiểm tra KBNN.
Thanh tra, kiểm tra Kho bạc Nhà nước hàng năm đã tiến hành các cuộc
TTKT định kỳ hoặc đột xuất… để kiểm tra tình hình hoạt động của các Vụ
chuyên môn tại KBNN; KBNN các cấp, khi phát hiện sai phạm sẽ tiến hành
chấn chỉnh, xử lý theo quy định hiện hành.
Thẩm tra, xác minh, kết luận kiến nghị việc giải quyết KNTC theo quy
định của Luật KNTC liên quan đến tổ chức và hoạt động Kho bạc, tham mưu
giúp Tổng Giám đốc KBNN chỉ đạo công tác phong ngừa và đấu tranh chống
tham nhũng trong ngành Kho bạc.
Thanh tra, kiểm tra KBNN thường xuyên tiếp nhận đơn thư KNTC và
xác minh tính chính xác và trung thực của thông tin từ đó có những biện pháp
cụ thể xử lý những sai phạm diễn ra trong hoạt động của các KBNN, quy
trách nhiệm của những cá nhân liên quan đến sai phạm đó.
Phát hiện ngăn chặn và xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền
cho phép, từ đó kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực quản lý quỹ NSNN và các hoạt động KB.
Kiến nghị Tổng Giám đốc KBNN và cơ quan có thẩm quyền thực hiện
các biện pháp chấn chỉnh, xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý quỹ NSNN và
các hoạt động KBNN. Yêu cầu các đơn vị chấp hành nghiêm các quy định về
quản lý quỹ NSNN và các hoạt động kho bạc, từ đó, góp phần ổn định và phát
triển hệ thống KBNN.
1.1.1.4. Mục đích và nguyên tắc hoạt động thanh tra, kiểm tra
Trên những nét tổng thể, có thể nhận thấy mục đích của thanh tra, kiểm
tra trên các khía cạnh sau:


12
Xem xét việc chấp hành chính sách, chế độ, quy trình nghiệp vụ liên
quan đến hoạt động KBNN của cán bộ, công chức trong việc thực thi nhiệm
vụ được giao. Kiến nghị biện pháp xử lý kịp thời các tồn tại, sai sót, vi phạm
chính sách, chế độ, quy trình nghiệp vụ
Nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật,
trong đó phòng ngừa là mục đích chủ yếu, trực tiếp của hoạt động thanh tra,
kiểm tra.
Phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật; bất
cập của chế độ, quy trình nghiệp vụ để kiến nghị với cơ quan nhà nước có
thẩm quyền các biện pháp khắc phục là mục đích quan trọng của hoạt động
thanh tra, kiểm tra.
Phát hiện nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của
hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đây là mục đích gián tiếp nhưng có
tác động quan trọng tới hiệu quả quản lý.
Để đạt được mục đích đề ra, trong hoạt động thanh tra cần quán triệt
các nguyên tắc cơ bản sau:
Hoạt động thanh tra, kiểm tra phải tuân theo pháp luật: Nhà nước ta là
Nhà nước pháp quyền XHCN, pháp luật vừa là chuẩn mực trong hoạt động
quản lý kinh tế - xã hội, vừa tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt
động này. Nguyên tắc này đòi hỏi mọi khâu của hoạt động thanh tra, kiểm
tra phải được thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự do pháp luật quy
định, mọi đánh giá nhận xét đều phải dựa trên quy định của pháp luật làm
chuẩn mực và hệ thống pháp luật cũng cần phải được liên tục hoàn thiện để
phù hợp với thực tế khách quan.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra phải bảo đảm chính xác, khách quan,
trung thực: Nguyên tắc này đòi hỏi hoạt động thanh tra, kiểm tra phải tôn
trọng sự thật, đánh giá đúng như nó vốn có, không được áp đặt, suy diễn
chủ quan, tùy tiện. Để thực hiện được nguyên tắc này, công chức thanh tra,


13
kiểm tra cần có kiến thức vững vàng và đạo đức trong sáng, phải quán triệt
nhìn nhận đánh giá sự vật, hiện tượng theo quan điểm duy vật biện chứng:
toàn diện, lịch sử cụ thể, thực tiễn và phát triển.
Hoạt động TTKT phải bảo đảm công khai và kịp thời: nguyên tắc này
đòi hỏi hoạt động thanh tra, kiểm tra phải tuân theo quy trình rõ ràng và minh
bạch, có cơ chế giám sát việc thực hiện hoạt động thanh tra. Hoạt động thanh
tra cần tuân theo thời hạn nhất định và tiến hành đúng lúc. Công khai dân chủ
là một giải pháp phòng chống tham nhũng trong hoạt động TTKT.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra không làm cản trở hoạt động bình thường
của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra: hoạt động thanh tra là
một loại hoạt động của bộ máy công quyền, vừa quản lý xã hội nhưng cũng
phải phục vụ xã hội. Do vậy nguyên tắc này đòi hỏi hoạt động thanh tra cần
có sự phối kết hợp tốt với đối tượng thanh tra để tổ chức hoạt động thanh tra
một cách phù hợp với điều kiện thực tế, thời gian và hoàn cảnh của đơn vị,
không làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh hay tổ chức điều
hành vốn có của cơ quan đơn vị được thanh tra.
1.1.2. Quản lý hoạt động thanh tra, kiểm tra tại Kho bạc nhà nước
1.1.2.1. Khái niệm quản lý thanh tra, kiểm tra KBNN
a. Quản lý công tác thanh tra KBNN
Thanh tra KBNN (gọi tắt là thanh tra kho bạc) là đơn vị thuộc KBNN,
thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành đối với các tổ chức cá nhân sử
dụng ngân sách nhà nước trong việc chấp hành pháp luật thuộc phạm vi quản
lý của KBNN; thanh tra hành chính đối với các tổ chức, cá nhân thuộc thẩm
quyền quản lý của Tổng giám đốc KBNN nhằm kết luận đúng sai đánh giá ưu
điểm, khuyết điểm, phòng ngừa và xử lý những vi phạm, tăng cường pháp
chế, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân có quan hệ
với quỹ NSNN và kiểm soát chi NSNN qua KBNN.
b. Quản lý công tác kiểm tra KBNN


14
Kiểm tra KBNN là việc hoạt động kiểm tra, giám sát của hệ thống thanh
tra, kiểm tra KBNN và hoạt động kiểm tra trong nội bộ KBNN, nhằm giúp Lãnh
đạo KBNN các cấp điều hành thông suốt, an toàn và đúng pháp luật các mặt hoạt
động của KBNN.
Thanh tra, kiểm tra KBNN được tổ chức theo cấp hành chính, ở Trung
ương có (Vụ) Thanh tra (thuộc) KBNN; ở địa phương có Phòng Thanh tra Kiểm tra thuộc KBNN các tỉnh, thành phố.
1.1.2.2. Đặc điểm quản lý hoạt động thanh tra, kiểm tra KBNN
Một là, quản lý hoạt động thanh tra, kiểm tra KBNN là loại hoạt
động tổng hợp và đa dạng
Hoạt động KBNN có liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều đơn
vị và công dân có quan hệ với NSNN, tài chính, tài sản của Nhà nước. Chính
vì vậy quản lý hoạt động thanh tra, kiểm tra KBNN có đặc điểm là loại hình
hoạt động tổng hợp và đa dạng.
Tính tổng hợp của thanh tra, kiểm tra KBNN biểu hiện ở sự việc hay
nội dung thanh tra, kiểm tra có liên quan đến nhiều lĩnh vực, mỗi lĩnh vực lại
tổng hợp nhiều vấn đề có ảnh hưởng lẫn nhau. Kết quả của thanh tra, kiểm tra
KBNN là những báo cáo, kết luận, giải quyết xử lý không chỉ có giá trị đối
với đơn vị được thanh tra mà còn có tác dụng chung trong hệ thống quản lý
tài chính, ngân sách nhà nước.
Tính đa dạng của thanh tra, kiểm tra KBNN biểu hiện ở sự việc thanh
tra, đối tượng thanh tra, kiểm tra, loại hình thanh tra, kiểm tra, phương pháp
thanh tra, kiểm tra là khác nhau, như: thanh tra, kiểm tra công tác quản lý quỹ
NSNN, quản lý vốn tiền mặt, tài sản; thanh tra, kiểm tra công tác kiểm soát
chi NSNN; kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB; chương trình mục tiêu;
thanh tra, kiểm tra công tác phát hành, thanh toán trái phiếu, tín phiếu, chi trả
công trái; quản lý kinh phí nội bộ, công tác XDCB nội ngành…
Quản lý NSNN và hoạt động KBNN là một hoạt động tổng hợp và đa
dạng, mỗi quyết định liên quan đến lĩnh vực quản lý NSNN và hoạt động


15
KBNN là sản phẩm của sự vận dụng tổng hợp các kiến thức kinh tế, xã hội và
mục tiêu của các quyết định quản lý không chỉ hướng tới và được do bằng giá
trị cụ thể mà là hiệu quả kinh tế, xã hội. Thanh tra, kiểm tra KBNN là một
hoạt động tổng hợp, đa dạng là vì thế.
Hai là, quản lý thanh tra, kiểm tra KBNN là hoạt động thường phải
đấu tranh với những sai trái, tiêu cực, vi phạm trong việc chấp hành các
quyết định quản lý, chấp hành pháp luật, chính sách, chế độ tài chính,
ngân sách của các cơ quan, đơn vị và công dân cũng như của chính cơ
quan KBNN và công chức trong ngành kho bạc.
Thanh tra, kiểm tra KBNN có đặc trưng là xem xét tại chỗ, chấn chỉnh,
kiến nghị hoặc làm rõ đúng sai đối với vụ việc và con người có quan hệ đến vi
phạm quản lý tài chính, ngân sách của Nhà nước. Kết quả tác động của thanh
tra, kiểm tra KBNN đối với đối tượng thanh tra, kiểm tra không phải là sự
phản ánh đơn thuần mà là sự khẳng định việc làm đúng hay sai, ảnh hưởng
đến thực hiện quyết định quản lý tài chính, ngân sách. Vì thế, hoạt động thanh
tra, kiểm tra KBNN trong hoàn cảnh nào, điều kiện nào, nội dung sự việc ra
sao, bao giờ cũng là sự đấu tranh của hai mặt đối lập đúng, sai, tích cực, tiêu
cực trong hoạt động quản lý kinh tế, tài chính, NSNN để tìm ra nguyên nhân,
đề xuất kiến nghị, biện pháp khắc phục, đấu tranh phòng ngừa, xử lý vi phạm,
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Ba là, tổ chức, cá nhân được thanh tra, kiểm tra KBNN vừa là đối
tượng thanh tra, kiểm tra vừa là chủ thể quản lý
Thanh tra, kiểm tra KB là một chức năng thiết yếu của KBNN và phạm
vi quản lý của KBNN mở rộng đến đâu thì phạm vi thanh tra, kiểm tra KB
cũng được mở rộng đến đó. Đối tượng của kiểm tra KBNN hiện nay là các đơn
vị thuộc và trực thuộc KBNN các cấp, cá nhân thuộc hệ thống KBNN còn đối
tượng của thanh tra KBNN còn bao gồm các các đơn vị sử dụng NSNN. Các


16
đối tượng của TTKT KBNN này đều có quyền hạn và trách nhiệm nhất định
trước pháp luật, họ vừa là đối tượng thanh tra, vừa là chủ thể quản lý.
Là đối tượng TTKT: KBNN các cấp, cá nhân được thanh tra, kiểm
tra có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu của đoàn TTKT KB, có trách
nhiệm pháp lý đối với những tài liệu, số liệu cung cấp theo yêu cầu của
đoàn TTKT KB.
Là chủ thể quản lý: họ có trách nhiệm về hoạt động của mình. Họ có
quyền biết mục tiêu, nội dung, kế hoạch TTKT KB, được tham gia thảo
luận những nhận xét, kết luận cũng như những giải pháp xử lý của đoàn
TTKT; được quyền giải trình những điểm chưa nhất trí, đồng thời có trách
nhiệm tổ chức thực hiện những kết luận, kiến nghị, giải quyết xử lý đối
với những sai phạm.
Xem xét các đặc điểm của hoạt động thanh tra, kiểm tra KB cho thấy,
mỗi sự việc, nội dung thanh tra, kiểm tra có liên quan đến nhiều yếu tố nên
khi tiến hành TTKT phải nghiên cứu, phân tích toàn diện, tìm ra những yếu tố
chủ yếu ảnh hưởng đến sự việc, nội dung TTKT và trên cơ sở đó rút ra những
kết luận có giá trị đích thực không chỉ với đối tượng TTKT mà còn đối với
hoạt động quản lý. Mặt khác, trong quá trình TTKT KB, giữa đoàn thanh tra,
kiểm tra với đơn vị được thanh tra, kiểm tra, cấp quản lý đoàn thanh tra, kiểm
tra, cơ quan, đơn vị quản lý nghiệp vụ cấp trên đơn vị được thanh tra phải
cộng tác, phối hợp chỉ đạo chặt chẽ, khẩn trương xử lý vướng mắc nảy sinh
phải tuân thủ nguyên tắc thận trọng, bình đẳng và dân chủ.
1.1.2.3. Nguyên tắc quản lý hoạt động thanh tra, kiểm tra tại KBNN
a. Nguyên tắc hoạt động thanh tra KBNN
Hoạt động thanh tra chuyên ngành Kho bạc Nhà nước do Đoàn thanh
tra chuyên ngành Kho bạc Nhà nước và người được giao thực hiện nhiệm vụ
thanh tra chuyên ngành Kho bạc Nhà nước thực hiện.
Hoạt động thanh tra chuyên ngành Kho bạc Nhà nước phải tuân theo
pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp


17
thời; không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa
các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra; không làm cản trở hoạt động bình
thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra.
Hoạt động thanh tra chuyên ngành Kho bạc Nhà nước phải được tiến hành
thường xuyên, gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ về chuyên môn, kỹ thuật,
nghiệp vụ; phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật.
Tổng Giám đốc Kho bạc Nhà nước; Giám đốc Kho bạc Nhà nước tỉnh,
thành phố và người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành
Kho bạc Nhà nước không được thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm theo
Điều 13 của Luật Thanh tra.
Công chức thanh tra chuyên ngành Kho bạc Nhà nước phải báo cáo từ
chối và không được tham gia Đoàn thanh tra trong trường hợp bố, mẹ, vợ,
chồng, con, anh ruột, chị ruột, em ruột của mình trực tiếp là đối tượng thanh tra
hoặc giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong cơ quan, tổ chức là đối tượng thanh tra.
b. Nguyên tắc quản lý hoạt động kiểm tra
Hoạt động kiểm tra phải tuân theo pháp luật và thực hiện theo đúng
chức năng, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn do pháp luật quy định, đảm
bảo khách quan, trung thực, chính xác; không làm ảnh hưởng đến hoạt động
bình thường của đơn vị được kiểm tra.
Khi tiến hành kiểm tra, người ban hành Quyết định kiểm tra, Trưởng
đoàn kiểm tra, các thành viên Đoàn kiểm tra phải thực hiện đúng các quy định
tại Quy chế này và chịu trách nhiệm cá nhân về quyết định, hành vi của mình
theo quy định của Luật Công chức công chức.
Sau khi kết thúc kiểm tra, phải có báo cáo kết quả kiểm tra; Đoàn kiểm
tra phải bàn giao lại đầy đủ hồ sơ, tài liệu đã trưng dụng trong quá trình kiểm
tra cho đơn vị được kiểm tra.


18
1.1.3. Nội dung quản lý thanh tra, kiểm tra tại KBNN
1.1.3.1. Quy trình quản lý hoạt động thanh tra, kiểm tra tại KBNN
a. Quy trình quản lý hoạt động thanh tra tại KBNN
* Đối tượng của hoạt động thanh tra KBNN Thái Nguyên là các cơ
quan, tổ chức, cá nhân sử dụng ngân sách nhà nước có nghĩa vụ chấp hành
quy định pháp luật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của
Kho bạc Nhà nước; các khoản chi ngân sách nhà nước thực hiện tại hệ thống
Kho bạc Nhà nước, việc chấp hành các quy định của pháp luật của các quỹ tài
chính do Kho bạc Nhà nước quản lý trên địa bàn tỉnh
* Quy trình đối với hoạt động thanh tra KBNN
- Xây dựng và phê duyệt kế hoạch tiến hành thanh tra của Đoàn Thanh
tra chuyên ngành Kho bạc Nhà nước.
- Phổ biến kế hoạch tiến hành thanh tra.
- Xây dựng đề cương yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo.
- Căn cứ kế hoạch tiến hành thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra có trách
nhiệm xây dựng đề cương yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo và gửi đối
tượng thanh tra trước ngày công bố quyết định thanh tra.
- Thông báo việc công bố quyết định thanh tra chuyên ngành.
- Trước khi công bố quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra thông
báo việc công bố quyết định thanh tra đến đối tượng thanh tra; trường hợp
cần thiết, chuẩn bị để người ra quyết định thanh tra thông báo bằng văn bản
đến đối tượng thanh tra. Thông báo phải nêu rõ thời gian, địa điểm, thành
phần tham dự.
- Công bố quyết định thanh tra chuyên ngành
- Thu thập thông tin tài liệu, đánh giá việc chấp hành chính sách,
pháp luật:
- Báo cáo tiến độ thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành
- Báo cáo kết quả thanh tra chuyên ngành.


19
- Chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày kết thúc cuộc thanh tra, Trưởng
đoàn thanh tra phải có văn bản báo cáo kết quả thanh tra, trừ trường hợp nội
dung kết luận thanh tra phải chờ kết luận về chuyên môn của cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền.
- Xây dựng kết luận thanh tra chuyên ngành.
b. Quy trình quản lý hoạt động kiểm tra tại KBNN
* Đối tượng của hoạt động kiểm tra KBNN là các đơn vị thuộc và trực
thuộc KBNN các cấp.
* Quy trình đối với hoạt động kiểm tra KBNN
Quy trình tiến hành một cuộc kiểm tra KBNN bao gồm các bước:
- Chuẩn bị kiểm tra:
+ Lập kế hoạch kiểm tra, tự kiểm tra, kiểm tra đột xuất, phúc tra; Điều
chỉnh kế hoạch kiểm tra, xử lý chồng chéo (nếu có).
+ Trưởng đoàn kiểm tra thông báo quyết định, đề cương kiểm tra, gồm:
thành phần đoàn kiểm tra; nội dung kiểm tra; thời gian tiến hành kiểm tra;
thời kỳ kiểm tra và các yêu cầu cần thiết khác để tiến hành kiểm tra.
+ Thành phần tham gia gồm Trưởng đoàn và các thành viên Đoàn kiểm
tra; lãnh đạo đơn vị được kiểm tra và đại diện các phòng nghiệp vụ có liên
quan đến nội dung kiểm tra.
- Thực hiện kiểm tra theo quyết định và đề cương kèm theo
- Kết thúc kiểm tra:
+ Kết thúc kiểm tra, Trưởng đoàn phải có báo cáo kết quả về những nội
dung đã kiểm tra. Báo cáo kết quả kiểm tra phải đầy đủ những nội dung sau:
Đánh giá việc triển khai thực hiện nhiệm vụ, chính sách, chế độ, quy trình
nghiệp vụ của đối tượng được kiểm tra thuộc nội dung kiểm tra; Kết luận về
những nội dung được kiểm tra; Xác định tính chất, mức độ vi phạm, nguyên
nhân, trách nhiệm của cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm (nếu có); Các kiến


20
nghị, biện pháp xử lý, thời hạn xử lý, thời hạn báo cáo thực hiện kiến nghị của
đoàn kiểm tra. Yêu cầu các đơn vị cần phối hợp xử lý sau kiểm tra.
+ Báo cáo kết quả kiểm tra gửi: KBNN được kiểm tra, KBNN cấp trên
trực tiếp, các đơn vị cần phối hợp xử lý sau kiểm tra hoặc theo yêu cầu của
người ban hành quyết định kiểm tra.
+ Kết thúc cuộc kiểm tra, Trưởng Đoàn kiểm tra chỉ đạo các thành viên
Đoàn kiểm tra thực hiện bàn giao đầy đủ hồ sơ, tài liệu đã trưng dụng có liên
quan đến việc phục vụ công tác kiểm tra cho đơn vị được kiểm tra.
Mỗi bước có yêu cầu và nội dung khác nhau nhưng có liên quan đến
nhau, bước trước là tiền đề cho bước sau, bước sau là kết quả của bước trước.
1.1.3.2. Tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra KBNN
* Về nội dung
Công tác thanh tra, kiểm tra tại KBNN Thái Nguyên có đầy đủ các nội
dung theo quy định đối với công tác thanh tra, kiểm tra trong toàn hệ thống
KBNN trên cả nước. Hoạt động thanh tra, kiểm tra được KBNN Thái Nguyên
triển khai trên tất cả các mặt hoạt động nghiệp vụ, đặc biệt tập trung vào
những lĩnh vực chủ yếu có liên quan đến việc quản lý tiền, tài sản như: công
tác quản lý quỹ NSNN, quản lý vốn tiền mặt, tài sản; kiểm soát chi NSNN;
kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB; chương trình mục tiêu; phát hành,
thanh toán trái phiếu, tín phiếu, chi trả công trái; quản lý kinh phí nội bộ,
công tác XDCB nội ngành; tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố
cáo trong hệ thống KBNN.
* Về phương thức thanh tra, kiểm tra
Đối với hoạt động thanh tra: Phương pháp tổ chức thanh tra là cách
thức tổ chức hoạt động cuộc thanh tra; phương pháp nghiệp vụ thanh tra được
thực hiện đảm bảo cuộc thanh tra tiến hành đảm bảo đúng quy trình; đúng kế
hoạch; đảm bảo chất lượng cuộc thanh tra.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×