Tải bản đầy đủ

Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy ở thành phố hà nội

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN MẠNH TÙNG

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
CÁC VỤ ÁN VỀ MA TÚY Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 60 38 01 04
Người hướng dẫn khoa học: TS. …………..

HÀ NỘI – NĂM 2017


Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng

tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn cha từng đợc ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Xỏc nhn ca giỏo viờn hng dn

Tác giả luận văn


LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu lý luận và qua công tác thực tiễn, được sự hướng
dẫn, giảng dạy của các thầy cô, sự quan tâm giúp đỡ của cơ quan cùng với sự đóng góp của bạn bè,
đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành
Luận văn thạc sỹ Luật học. Qua đây tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến: Ban giám hiệu
cùng thầy cô Trường đại học Luật Hà Nội, các giảng viên đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những
tri thức kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường. Cảm ơn Lãnh đạo đơn vị công
tác đã tạo điều kiện để tôi được học tập, nâng cao trình độ.
Cảm ơn Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã giúp đỡ tôi rất nhiều để tôi có được
tư liệu thực tiễn hoàn thành luận văn này.
Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian
học tập và hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt, tôi xin dành sự kính trọng và cảm ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Văn Tuân, người
đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn.
Tác giả luận văn


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật Hình sự
BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hình sự
CQĐT : Cơ quan điều tra
KSĐT : Kiểm sát điều tra
THQCT : Thực hành quyền công tố
VKS : Viện kiểm sát
VKSND : Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao
VAHS : Vụ án hình sự
KSV : Kiểm sát viên
ĐTV : Điều tra viên
ADPL : Áp dụng pháp luật
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng


Tên bảng Trang

2.1 Tỷ lệ các vụ án về ma túy so với tổng số các vụ án nói
chung trên địa bàn thành phố Hà Nội mà VKS đã thụ lý,
kiểm sát điều tra từ năm 2011 – 2015

44

2.2 Kết quả kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy trên địa bàn
thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2015

44

2.3 Kết quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
các vụ án về ma túy trên địa bàn thành phố Hà Nội giai
đoạn 2011-2015

45


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT
ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN VỀ MA TÚY 7
1.1 Khái niệm, đối tượng, phạm vi và nội dung của thực hành quyền công tố 7
1.1.1 Quyền công tố 9
1.1.2 Thực hành quyền công tố 11
1.2 Khái niệm, đối tượng, phạm vi và nội dung của kiểm sát điều tra 18
1.3 Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra 22
1.4 Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy 27
1.4.1 Tội phạm về ma túy 27
1.4.2 Đặc điểm thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy 29
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
CÁC VỤ ÁN VỀ MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
32
2.1. Những quy định của pháp luật hiện hành về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra 32
2.2 Thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy trên địa bàn
thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay 41
2.2.1 Kết quả đạt được trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án về
ma túy trên địa bàn Hà Nội giai đoạn hiện nay 42


2.3 Những hạn chế và nguyên nhân khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với các
vụ án ma túy của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội 51
2.3.1 Những hạn chế 51
2.3.2 Nguyên nhân 55
Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN VỀ MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HÀ NỘI 62
3.1. Về pháp luật 62
3.2. Về nâng cao trình độ, năng lực nghiệp vụ trong áp dụng pháp luật để thực hành quyền công tố
và kiểm sát điều tra của Kiểm sát viên 74
3.3 Về tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành và sự phối hợp với các cơ quan khác 78
3.4. Về cải thiện phương tiện làm việc và chế độ chính sách đối với cán bộ ngành kiểm sát 81
3.5 Yêu cầu riêng đặt ra đối với việc nâng cao chất lượng công tác giải quyết án ma túy trên địa
bàn thành phố Hà Nội 85
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách tư pháp là yêu cầu cấp thiết của Đảng, Nhà nước ta hiện nay, nhằm mục tiêu xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân, do Đảng lãnh đạo. Chủ trương “Tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động
điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra” là một trong những vấn đề cơ bản, quan trọng trong
cải cách tư pháp hình sự hiện nay ở nước ta. Các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về cải cách tư pháp
xác định: Viện kiểm sát phải chịu trách nhiệm chính về những oan, sai trong việc khởi tố, bắt, tạm
giữ, tạm giam, điều tra, truy tố; phải bảo đảm việc truy tố có căn cứ, đúng pháp luật, cùng với cơ
quan điều tra khắc phục những vi phạm, tồn tại trong quá trình điều tra, bảo đảm không để lọt tội
phạm, người phạm tội, không làm oan người vô tội. Tại Hội nghị triển khai công tác kiểm sát năm
2011, đồng chí Viện trưởng VKSNDTC đã kết luận về vấn đề này để chỉ đạo toàn Ngành Kiểm sát
quán triệt thực hiện; cụ thể như sau: “Cần có cách nhìn toàn diện, đầy đủ về quan hệ giữa thực
hành quyền công tố với kiểm sát điều tra; tăng cường hơn nữa vai trò chủ động của Viện kiểm sát
trong quá trình điều tra…; Tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra, gắn
công tố với hoạt động điều tra nghĩa là Viện kiểm sát phải “song hành” cùng với cơ quan điều tra
trong hoạt động điều tra, làm rõ tội phạm và người phạm tội; phải phối hợp chặt chẽ với cơ quan
điều tra để tìm giải pháp phát hiện, xử lý tội phạm khẩn trương nhất, đầy đủ nhất. Khi phát hiện
thấy hạn chế, thiếu sót trong quá trình điều tra, Viện kiểm sát phải coi đó cũng chính là hạn chế,
thiếu sót của mình để cùng với cơ quan điều tra tìm biện pháp khắc phục… Viện kiểm sát kiên
quyết không phê chuẩn đối với những quyết định tố tụng vi phạm pháp luật hoặc không có căn cứ.
Mục tiêu của hoạt động kiểm sát điều tra là nhằm hỗ trợ việc thực hành quyền công tố
được tốt, bảo đảm việc truy tố có căn cứ và đúng pháp luật. Do vậy, yêu cầu của việc tăng cường
trách nhiệm công tố đòi hỏi Viện kiểm sát phải cùng với cơ quan điều tra khắc phục những vi
phạm, tồn tại trong quá trình điều tra, bảo đảm không để lọt tội phạm, không làm oan người vô
tội…”.
Các nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp trong những năm gần đây có những chủ
trương hết sức quan trọng về trách nhiệm công tố của VKS trong giai đoạn điều tra: Nghị quyết số
08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về ‘’một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp
trong thời gian tới" và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về
“Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đã nhấn mạnh:
Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật
trong hoạt động tư pháp. Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong
suốt quá trình tố tụng nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan
người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi
hành nhiệm vụ… [2]. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về "chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020" đặt ra nội dung "Tăng cường trách nhiệm của
công tố trong hoạt động điều tra" [3]; Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X của Đảng
xác định: "Cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ; lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng
tâm; thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra" [4]. Tại Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định: "Bảo đảm tốt hơn các điều kiện để Viện kiểm sát
nhân dân thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều
tra" [5].


Nhận thức và quán triệt nghiêm túc tinh thần nghị quyết của Đảng, trong những năm qua
hoạt động thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát điều tra (KSĐT) các vụ án hình sự của
ngành Kiểm sát nhân dân đã có nhiều chuyển biến tích cực. Với số lượng rất lớn các vụ án hình sự
được phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử nhanh chóng, kịp thời bảo đảm sự nghiêm minh, đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội đã góp phần
quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội.
Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, chức năng của VKSND ở bnước ta trong giai
đoạn hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Đây là một chức
năng mà VKSND đã đảm đương từ lâu nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều vướng mắc và khó khăn
do chưa đạt được sự thống nhất cao cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn. Công tác kiểm sát
hoạt động tư pháp đặc biệt là kiểm sát điều tra vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế mà nguyên nhân và
bài học kinh nghiệm của các hạn chế đó không phải chỉ có một, cần được nghiên cứu làm rõ và có
hướng khắc phục để tiếp tục tiến trình cải cách tư pháp, đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của thực tiễn
đổi mới. Vì vậy, việc nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề trên không chỉ có giá trị về mặt lý luận mà
còn có ý nghĩa thực tiễn, góp phần đảm bảo sự thống nhất trong hành động, nâng cao hiệu quả của
công tác tư pháp nói chung, công tác kiểm sát nói riêng, hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Nhà
nước giao phó cho VKSND, đáp ứng với yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Với mong muốn được góp phần làm sáng tỏ hơn một số vấn đề lý luận và thực tiễn thông
qua hoạt động thực hiện chức năng nhiệm vụ của VKSND đối với một loại tội phạm cụ thể đồng
thời đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng của hoạt động này trong điều kiện cải cách tư
pháp, tác giả chọn đề tài ‘’ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy ở
thành phố Hà Nội’’; làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Ở nước ta hiện nay, liên quan đến hoạt động THQCT và KSĐT, tác giả cũng đã tiếp cận,
tham khảo được một số công trình nghiên cứu sau: Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp trong giai đoạn điều tra’’; của Lê Hữu Thể (chủ biên), Nhà xuất bản Tư pháp, 2005.
- Luận văn thạc sĩ luật học “Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các tội xâm
phạm sức khỏe trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh – thực trạng và một số kiến nghị” của Nguyễn Văn
Hùng, Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội, 2014.
- Luận văn thạc sĩ luật học: "Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở
giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân" của Trịnh Duy Tám, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, 2005.
- Luận án tiến sĩ Luật học Lê Thị Tuyết Hoa: "Quyền công tố ở Việt Nam",
2005.
Ngoài ra, còn có các bài viết của các tác giả khác với các ý kiến và quan điểm khác nhau
được đăng trên các báo và Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Luật học…, các báo cáo tổng kết công tác,
các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, các chuyên đề của VKSNDTC qua từng năm.
3. Mục đích, câu hỏi và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lí luận của
THQCT và KSĐT, pháp luật tố tụng hình sự 2003; 2015 về THQCT và KSĐT nói chung và các
quy định của pháp luật đối với các tội phạm ma túy nói riêng để góp phần làm sáng tỏ một số vấn


đề lí luận và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động THQCT và KSĐT các
vụ án về ma túy.
3.2. Các câu hỏi nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có nhiệm vụ chủ yếu làm rõ các câu hỏi
nghiên cứu sau:
- Những quy định cụ thể về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong hoạt động
THQCT và KSĐT là gì? Và cụ thể về việc kiểm sát các vụ án về ma túy ra sao?
- Qua việc nghiên cứu, đánh giá thực tiễn hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án về ma
túy trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2011- 2015, hãy làm rõ những tồn tại, hạn chế và
nguyên nhân trong hoạt động THQCT và KSĐT của VKS?
- Trên cơ sở đó, hãy đánh giá chất lượng của các công tác này, những kết quả đã đạt được,
những vấn đề thiếu sót, yếu kém tồn tại và làm rõ nguyên nhân của chúng đồng thời đề xuất một số
giải pháp khắc phục?
3.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động THQCT và KSĐT đối với các vụ án về
ma túy. Đề tài xác định phạm vi nghiên cứu là hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án về ma túy
trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2015 trên địa bàn thành phố Hà Nội.
4. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp chủ nghĩa duy vật lịch
sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật,
quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về
vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Văn kiện Đại hội Đảng VIII, IX, X, XI và các
Nghị quyết số 08/NQTW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49/NQTW ngày 26/5/2005 về chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị.
- Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng
các phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu;
phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng
hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn.
5. Những điểm mới đóng góp của luận văn
- Luận văn đã khảo cứu chuyên sâu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động
THQCT và KSĐT các vụ án về ma túy.
- Luận văn cũng đánh giá, phân tích những hạn chế trong hoạt động củaVKSND khi
THQCT và KSĐT các vụ án về ma túy, thông qua đó, đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao
hiệu quả của VKSND trong hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án về ma túy ở địa bàn thành phố
Hà Nội.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn


Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hoạt động của VKSND khi
THQCT và KSĐT các vụ án về ma túy, góp phần xây dựng, hoàn thiện các tri thức của khoa học
Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự và khoa học Điều tra hình sự.
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành cho không chỉ
các nhà lập pháp mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu
sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật.
Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu cho
các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan Thi
hành án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ
án về ma túy.
Chương 2: Thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy
trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay.
Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát
điều tra các vụ án về ma túy trên địa bàn thành phố Hà Nội.


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU
TRA CÁC VỤ ÁN VỀ MA TÚY
1.1. Khái niệm, đối tượng, phạm vi và nội dung của thực hành quyền công tố
1.1.1. Quyền công tố:
Ở Việt Nam, VKSND được thành lập ngày 26 tháng 7 năm 1960 vớichức năng chủ yếu
khi đó là kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm đảm bảotính thống nhất của pháp chế và trật tự
pháp luật Xã hội chủ nghĩa.
Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam thì
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểmsát các hoạt động tư pháp. Đây là chức
năng hiến định của VKSND trong giaiđoạn hiện nay và cũng là một nhiệm vụ mà VKSND vốn
đảm nhiệm đã từlâu, ngay từ khi tổ chức tiền thân của nó là Viện công tố ra đời và đi vào
hoạtđộng. Mặc dù vậy, cho đến nay, trong khoa học pháp lý nói chung, trong khoahọc kiểm sát nói
riêng và ngay cả trong thực tiễn hoạt động của VKSND vẫnchưa đạt được sự thống nhất cao về các
vấn đề này cả trên phương diện kháiniệm, nội dung, đối tượng và phạm vi của thực hành quyền
công tố, kiểm sátcác hoạt động tư pháp cũng như mối quan hệ giữa chúng. Điều này không chỉảnh
hưởng đến nhận thức mà còn tác động trực tiếp đến hiệu quả của hoạtđộng thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của các chủ thể trong hệ thống cáccơ quan tư pháp nói chung, cơ quan VKSND
nói riêng. Để góp phần từngbước nâng cao hiệu quả và dần đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của công tác
kiểmsát, điều không thể thiếu được là cần phải làm rõ từ trong nhận thức về cácvấn đề cơ bản có
liên quan đến các hoạt động chức năng này: Khái niệm thếnào là thực hành quyền công tố, thế nào
là kiểm sát điều tra, đối tượng, nộidung, phạm vi cũng như mối quan hệ giữa chúng.
Để hiểu rõ về thực hành quyền công tố, trước hết cần tìm hiểu về quyềncông tố. Cùng với
việc ban hành Hiến pháp năm 1980 và Luật tổ chứcVKSND năm 1981, khái niệm “Quyền công
tố’’ và “Thực hành quyền côngtố’’ lần đầu tiên được xuất hiện bên cạnh khái niệm truyền thống
"kiểm sátviệc tuân theo pháp luật".
Có thể thấy, về khái niệm quyền công tố có rất nhiều quan điểm khácnhau. Mỗi quan điểm
trong số đó đều có những hạt nhân hợp lý của nó nhưngcũng đều bộc lộ những bất cập: Hoặc là
đánh đồng quyền công tố với kiểmsát tuân theo pháp luật, coi quyền công tố chỉ là quyền năng của
VKS trongkiểm sát tuân theo pháp luật nên đã mở rộng phạm vi của quyền công tố sangcác lĩnh
vực khác ngoài TTHS; hoặc là quá thu hẹp phạm vi của quyền côngtố, cho rằng quyền công tố chỉ
có trong giai đoạn xét xử sơ thẩm; hoặc xácđịnh không đúng chủ thể của quyền công tố…
Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKS truy cứu trácnhiệm hình sự đối với
người phạm tội; cơ quan công tố có trách nhiệm bảođảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để
xác định tội phạm và ngườiphạm tội, trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo
vệ sựbuộc tội đó trước phiên tòa [27, tr. 40].
Với nhận thức của mình, tôi ủng hộ quan điểm khái niệm quyền công tốnhư sau: Quyền
công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKS truy cứu tráchnhiệm hình sự đối với người phạm tội;
cơ quan công tố có trách nhiệm bảođảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội
phạm và ngườiphạm tội, trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sựbuộc
tội đó trước phiên tòa [27, tr. 40].


Tôi ủng hộ quan điểm trên bởi các lý do sau đây:
Thứ nhất, tôi nhận thấy quan điểm này phù hợp với quan điểm truyền
thống nghiên cứu lịch sử nhà nước - pháp luật về quyền công tố: "Quyền công
tố là quyền của Nhà nước, nhân danh Nhà nước buộc tội đối với người có
hành vi vi phạm mà pháp luật hình sự xem xét là tội phạm xâm hại trật tự
chung của toàn xã hội".
Thứ hai, quan điểm này cũng phù hợp với các quy định của pháp luật
của Nhà nước ta qua các thời kỳ khác nhau về quyền công tố, cụ thể:
- Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước ta qua các thời kỳ đều khẳng
định "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố…".
- Khi nói về vai trò nhiệm vụ của VKSND, đồng chí Trường Chinh đã
khẳng định: "Không có cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành kiểm sát
để sử dụng quyền công tố, bắt, giam, tha, điều tra, truy tố, xét xử có đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, đó chính là việc Viện kiểm sát
nhân dân phải trông nom, đảm bảo tốt".
- Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 củ Bộ
Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nêu rõ: "Viện kiểm sát
các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong hoạt động tư pháp" [2, tr. 2].
- Luật Tổ chức VKSND năm 2014 khẳng định: "Thực hành quyền
công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để
thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện
ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong
suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.”
- Hiến pháp 2013 (khoản 1 Điều 107) quy định "Viện kiểm sát có
nhiệm vụ kiểm sát tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, thực hành quyền


công tố".
Từ các ý kiến, tư tưởng chỉ đạo nêu trên, có thể thấy quyền công tố ở
nước ta được giao cho chủ thể duy nhất là Viện kiểm sát; quyền công tố chỉ
có trong lĩnh vực tố tụng hình sự và có ở tất cả các giai đoạn từ khi tiếp nhận
tin báo tố giác tội phạm, khởi tố, điều tra đến truy tố và xét xử hình sự; các
công tác khác như giải quyết án dân sự, giam giữ cải tạo, giải quyết án hành
chính, kinh tế, lao động, thi hành án … của VKSND là hoạt động thuộc lĩnh
vực kiểm sát các hoạt động tư pháp khác…
1.1.2. Thực hành quyền công tố
a) Khái niệm:
Việc xác định rõ quyền công tố và theo đó là thực hành quyền công tố
có ý nghĩa không chỉ giúp phân định rõ ràng, đúng đắn chức năng nhiệm vụ,
xác định vị trí, vai trò của VKSND trong hệ thống cơ quan nhà nước nói
chung, trong mối quan hệ với các cơ quan tư pháp nói riêng mà còn giúp cho
nhận thức thống nhất và hoạt động thực tiễn có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của
thực tiễn cải cách tư pháp.
Như phân tích trên, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội; quyền công tố chỉ
có trong lĩnh vực TTHS; phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm
xảy ra, tiếp diễn suốt từ khởi tố, điều tra đến truy tố bị can ra Tòa, tranh tụng
tại phiên tòa và kết thúc bằng một bản án có hiệu lực pháp luật (hoặc quyết
định của Tòa án - trong trường hợp vụ án bị đình chỉ). Để thực hiện được
quyền công tố đó, Nhà nước ban hành pháp luật quy định các quyền năng
pháp lý khác nhau để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng trong
từng giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự (hay nói cách khác đó là các
phương pháp khác nhau để tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong


những giai đoạn tố tụng khác nhau) - đó là thực hành quyền công tố.
Không chỉ Viện kiểm sát còn có cả Cơ quan điều tra và Tòa án cũng có
quyền phát động quyền công tố nhưng các quyết định khởi tố của các cơ quan
đó chỉ thực sự có ý nghĩa phát động công tố quyền sau khi được Viện kiểm
sát xem xét; nếu quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự của Cơ
quan điều tra không có căn cứ và trái pháp luật thì Viện kiểm sát có quyền
hủy bỏ. Tòa án có quyền khởi tố vụ án hình sự, nếu qua việc xét xử phát hiện
có tội phạm bị bỏ lọt, nhưng các quyết định khởi tố vụ án hình sự của Tòa án
đều phải được gửi cho Viện kiểm sát xem xét, nếu có vi phạm pháp luật thì
Viện kiểm sát sẽ kháng nghị. Như vậy, về mặt pháp lý chỉ có Viện kiểm sát là
cơ quan có quyền độc lập phát động quyền công tố mà không chịu sự can
thiệp của bất cứ cơ quan nhà nước nào. Trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều
tra chỉ có quyền đề nghị áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn
chặn, còn việc quyết định là do Viện kiểm sát; Cơ quan điều tra có quyền độc
lập thu thập tài liệu chứng cứ, nhưng việc bảo đảm cho các tài liệu chứng cứ
ấy có đủ cơ sở để truy tố bị can hay không là do Viện kiểm sát chịu trách
nhiệm. Khi có đủ tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội và xét thấy
cần xử lý người đó trước Tòa án thì Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can ra
Tòa. BLTTHS nước ta đã quy định thẩm quyền công tố của Viện kiểm sát
trong tố tụng hình sự rất lớn là “được áp dụng các biện pháp do BLTTHS để
xác định tội phạm và xử lý người phạm tội” (Điều 23 BLTTHS 2003). Như
vậy, về thực hành quyền công tố là chức năng mà không cơ quan nhà nước
nào làm thay Viện kiểm sát. Ở Việt Nam, căn cứ vào các quy định của Hiến
pháp và pháp luật và thực tiễn thì từ trước đến nay quyền này được giao cho
duy nhất VKS. Vậy, chủ thể thực hành quyền công tố ở Việt Nam là Viện
kiểm sát nhân dân.
Từ những phân tích trên có thể đi đến khái niệm sau:


Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người
phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án
hình sự. [45, tr. 1].
b) Đối tượng thực hành quyền công tố:
Đối tượng của quyền công tố là yếu tố mà quyền công tố tác động tới
nhằm thực hiện mục đích truy cứu trách nhiệm hình sự. Với cách hiểu này,
đối tượng của quyền công tố không gì có thể khác hơn là tội phạm và người
phạm tội. Đây cũng chính là đối tượng của hoạt động THQCT nói chung và
THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói riêng.
c) Phạm vi thực hành quyền công tố:
Để xác định chính xác phạm vi thực hành quyền công tố không thể
không xem xét đến phạm vi của quyền công tố và khái niệm về thực hành
quyền công tố đã được đề cập ở các phần trên. Quyền công tố là quyền nhân
danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội; để đảm
bảo thực hiện được sự buộc tội nhân danh Nhà nước đó pháp luật quy định
các biện pháp cụ thể, các biện pháp đó chính là thực hành quyền công tố [47,
tr. 13-14]. Như vậy, có thể thấy rõ quyền công tố là cơ sở của thực hành
quyền công tố, phải có quyền công tố thì mới có thực hành quyền công tố cho
nên để xem xét phạm vi của thực hành quyền công tố thì trước hết phải xem
xét đến phạm vi của quyền công tố. Như phần trên đã nêu, phạm vi của quyền
công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện … Còn thực hành quyền công
tố thì chỉ phát sinh kể từ thời điểm vụ án được khởi tố bằng quyết định chính
thức của cơ quan có thẩm quyền - tức là khi cơ quan tố tụng đã áp dụng một
trong các biện pháp thực hành quyền công tố. Tuy nhiên, trên thực tế có


không ít những trường hợp mặc dù có tội phạm xảy ra nhưng không được
khởi tố; điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong khoa học pháp lý
gọi là "tội phạm ẩn" (tức là những tội phạm trên thực tế đã xảy ra nhưng chưa
được khởi tố để điều tra) [48, tr. 62-67] cho nên cơ quan tố tụng không áp
dụng được bất cứ một biện pháp thực hành quyền công tố nào. Với mục tiêu
mọi tội phạm xảy ra đều phải được phát hiện và xử lý theo pháp luật của
TTHS, nên về mặt nguyên tắc, cứ có tội phạm xảy ra là đòi hỏi quyền công tố
phải được phát động. Khi quyền công tố được phát động thì đồng nghĩa với
hoạt động thực hành quyền công tố được triển khai và khi quyền công tố
không còn thì hoạt động thực hành quyền công tố cũng được kết thúc. Vì vậy,
phạm vi thực hành quyền công tố được bắt đầu từ khi khởi tố vụ án hình sự và
kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị, hoặc vụ án
được đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS. Qua đây, có thể thấy rằng
phạm vi của thực hành quyền công tố hẹp hơn so với phạm vi của quyền công
tố, nó chỉ bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án có
hiệu lực pháp luật (trừ trường hợp vụ án bị tạm đình chỉ, đình chỉ).
d) Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
Để buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội, pháp luật đã
quy định hàng loạt các hoạt động tố tụng, như: khởi tố vụ án, khởi tố bị can,
tiến hành điều tra thu thập chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của người
đã thực hiện hành vi phạm tội, buộc tội đối với bị can, bị cáo và bảo vệ quan
điểm truy tố. Việc sử dụng các quyền năng pháp lý để thực hiện các hoạt động
tố tụng này chính là nội dung của thực hành quyền công tố.
Theo các quy định của BLTTHS và Luật Tổ chức VKSND thì "Viện
kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố trong tất cả các giai đoạn điều
tra, truy tố và xét xử bằng các biện pháp theo quy định của pháp luật". Trong
khuôn khổ đề tài nghiên cứu tôi xin chú trọng trình bày nội dung thực hành


quyền công tố trong giai đoạn điều tra, cụ thể như sau:
- Khởi tố vụ án, khởi tố bị can: Đây là các biện pháp phát động quyền
công tố, mở đầu cho cả quá trình TTHS, là điểm mốc làm phát sinh quan hệ
pháp luật hình sự giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với người có
hành vi phạm tội bởi bắt đầu từ đây, cơ quan có thẩm quyền chính thức bắt
đầu các hoạt động điều tra nhằm làm rõ tội phạm và người phạm tội, làm rõ
các tình tiết của vụ án… Theo quy định của pháp luật, VKS là cơ quan duy
nhất trong TTHS có quyền quyết định việc có hay không khởi tố vụ án hình
sự, bị can để điều tra: Có quyền phê chuẩn các quyết định khởi tố vụ án, khởi
tố bị can, các quyết định thay đổi và bổ sung quyết định khởi tố vụ án, bị can
của Cơ quan điều tra… Các quyết định khởi tố vụ án, bị can của các chủ thể
khác được pháp luật giao cho thẩm quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can đều
phải chịu sự giám sát và phụ thuộc vào quyết định của VKS: Sau khi có quyết
định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, các quyết định khởi tố của các cơ quan đó
phải được gửi đến VKS cùng các tài liệu có liên quan để VKS xem xét quyết
định phê chuẩn hay không phê chuẩn; trong trường hợp không được sự phê
chuẩn của VKS thì các quyết định đó bị triệt tiêu về hiệu lực.
Ngoài ra, VKS còn có thẩm quyền đặc biệt hơn cả trong số các chủ
thể có thẩm quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can: Có quyền độc lập quyết định
việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, không phải chịu sự chi phối của bất cứ cơ
quan nào, các quyết định này của VKS có hiệu lực ngay sau khi ban hành.
- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều
tra, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra:
Trong TTHS, Cơ quan điều tra được giao trách nhiệm điều tra tội
phạm, có quyền áp dụng tất cả các biện pháp theo quy định của pháp luật để
điều tra làm rõ vụ án, làm rõ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết có liên


quan như động cơ, mục đích của tội phạm, nhân thân của người phạm tội, các
tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, các thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra… Đây là
những hoạt động mà không có cơ quan nào có thể thay thế cho Cơ quan điều
tra được bởi họ có biên chế là đội ngũ các Điều tra viên được đào tạo chuyên
môn nghiệp vụ về điều tra và khám phá tội phạm [49, tr. 8-15]. Nhưng bởi
việc đưa một con người vào vòng tố tụng và xử lý họ về hình sự là vấn đề
không hề đơn giản, động chạm đến rất nhiều quyền cơ bản của công dân được
pháp luật bảo hộ cho nên cần phải đảm bảo tính thận trọng và chính xác cho
nên cần phải có sự chế ước giữa các cơ quan nhà nước với nhau trong TTHS
nhằm đảm bảo tất cả mọi hành vi phạm tội đã được phát hiện phải được khởi
tố, xử lý kịp thời và nghiêm minh nhưng phải có căn cứ và đúng pháp luật. Vì
vậy, pháp luật quy định giao cho một cơ quan nhà nước trách nhiệm kiểm tra,
giám sát, đảm bảo cho các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc chứng minh
hành vi phạm tội và nhân thân của người phạm tội phải được thu thập đầy đủ,
toàn diện, khách quan và hợp pháp - Cơ quan đó là VKS. VKS là cơ quan duy
nhất có quyền can thiệp trực tiếp vào quá trình điều tra, đề ra yêu cầu điều tra
để Cơ quan điều tra tiến hành điều tra. Cơ quan điều tra mà cụ thể là các Điều
tra viên có trách nhiệm phải thực hiện tất cả các yêu cầu của VKS; trường hợp
không nhất trí, Cơ quan điều tra có quyền được kiến nghị đến VKS cấp trên
nhưng trong thời gian chờ đợi kết quả vẫn phải thực hiện nghiêm chỉnh các
yêu cầu đó. Ngoài ra, VKS còn có quyền tự mình trực tiếp tiến hành một số
hoạt động điều tra nếu xét thấy cần thiết như ghi lời khai của bị hại, nhân
chứng, thực nghiệm điều tra…
- Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo
quy định của BLTTHS, nếu hành vi có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố hình sự
Để bảo đảm việc điều tra vụ án được khách quan, toàn diện và đầy đủ,
Viện kiểm sát có quyền yêu cầu thủ trưởng cơ quan điều tra thay đổi Điều tra


viên khi có căn cứ cho rằng Điều tra viên đó không vô tư trong quá trình tiến
hành tố tụng. Trong trường hợp hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội
phạm như tiêu hủy, đánh tráo vật chứng của vụ án, làm sai lệch hồ sơ vụ án
đang điều tra... thì Viện kiểm sát có quyền khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị
can đối với Điều tra viên đó.
- Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp bắt, tạm giữ,
tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác
Trong quá trình điều tra, pháp luật tố tụng đã quy định cho cơ quan
điều tra có quyền ra các quyết định bắt, tạm giữ, ra lệnh tạm giam hoặc đề
nghị áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác hạn chế một số quyền của người
phạm tội nhằm phục vụ cho việc điều tra thu thập tài liệu chứng cứ, ngăn chặn
người phạm tội tiếp tục phạm tội hoặc tiêu hủy chứng cứ. Nhưng cơ quan
điều tra không được áp dụng các biện pháp ngăn chặn, nhất là các biện pháp
bắt, tạm giữ, tạm giam khi không có xét phê chuẩn của Viện kiểm sát. Pháp
luật hiện hành đã đòi hỏi Viện kiểm sát phải nghiên cứu, xem xét tính có căn
cứ và tính hợp pháp để phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định của
cơ quan điều tra; kịp thời hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn trái pháp luật của
cơ quan điều tra. Trong mọi trường hợp, khi thực hiện các quyền năng này
pháp luật cũng yêu cầu Viện kiểm sát cần quán triệt tư tưởng nhanh chóng,
chính xác và khách quan để phúc đáp được các yêu cầu đối với quá trình điều
tra vụ án hình sự tránh oan, sai, lọt tội phạm, nâng cao hiệu quả công tác đấu
tranh phòng chống tội phạm và bảo vệ quyền tự do dân chủ của công dân.
- Quyết định việc truy tố bị can, tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra vụ án,
bị can
Theo quy định tại Điều 141 BLTTHS, Điều 14 Luật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân, thì Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất có quyền quyết định


việc truy tố bị can. Cơ quan điều tra có quyền đề nghị truy tố, nhưng trong
mọi trường hợp nếu Viện kiểm sát không truy tố thì vụ án phải được đình chỉ.
Cơ quan điều tra có quyền đình chỉ điều tra nhưng trường hợp quyết định đình
chỉ điều tra của cơ quan điều tra không có căn cứ thì Viện kiểm sát có quyền
hủy bỏ. Như vậy, theo quy định của pháp luật ở giai đoạn điều tra, Viện kiểm
sát có toàn quyền quyết định số phận pháp lý của vụ án hình sự. Đó là đưa
hay không đưa vụ án ra Tòa. Để thực hiện nhiệm vụ này, pháp luật hiện hành
đã có nhiều quy định cho Viện kiểm sát tác động vào quá trình điều tra, bảo
đảm hoạt động điều tra phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật,
việc điều tra phải khách quan, toàn diện, phải thu thập đầy đủ các chứng cứ,
cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội, làm rõ các tình tiết tăng nặng hoặc
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, xác định nguyên nhân và
điều kiện dẫn đến tội phạm, những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra
phải được phát hiện, khắc phục kịp thời và xử lý nghiêm minh.
Trong quá trình điều tra, Viện kiểm sát phải chủ động bám sát các
hoạt động điều tra của cơ quan điều tra như trực tiếp kiểm sát việc khám
nghiệm hiện trường, hỏi cung bị can, khám xét... Phải kiểm sát chặt chẽ các
hoạt động thu thập, bảo quản, đánh giá các chứng cứ của vụ án; kiểm sát chặt
chẽ ngay từ đầu việc khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và các quyết định
khác của cơ quan điều tra như quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra,
quyết định phục hồi điều tra vụ án... thông qua công tác kiểm sát, Viện kiểm
sát ra được các quyết định công tố kịp thời, chính xác như hủy các quyết định
không có căn cứ của cơ quan điều tra.
Như vậy, pháp luật hiện hành đã quy định các nội dung hoạt động
công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra, nhằm bảo đảm việc truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can có căn cứ và đúng pháp luật. Hoạt
động này của Viện kiểm sát chỉ đúng đắn khi kết quả điều tra của cơ quan


điều tra được bảo đảm bởi hoạt động kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát một
cách khách quan, toàn diện và đầy đủ.
1.2. Khái niệm, đối tượng, phạm vi và nội dung của kiểm sát điều
tra:
a) Khái niệm:
Theo quy định của pháp luật thì chức năng, nhiệm vụ của VKSND là
"Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp…". Qua tinh
thần của các văn bản pháp luật, có thể thấy rõ đây là hai chức năng hoàn toàn
độc lập của VKS. Các vấn đề có liên quan đến chức năng thứ nhất (thực hành
quyền công tố) đã được làm rõ qua phần phân tích trên. Các vấn đề có liên
quan đến chức năng thứ hai kiểm sát các hoạt động tư pháp: Thế nào là hoạt
động tư pháp và thế nào là kiểm sát các hoạt động tư pháp, mối liên hệ giữa
chức năng này với chức năng thực hành quyền công tố cũng cần được làm
sáng tỏ trước khi để cập đến hoạt động thực hiện chức năng này của VKS.
Kiểm sát hoạt động tư pháp
Các cơ quan tư pháp ở nước ta bao gồm Cơ quan điều tra, VKS, Tòa
án và Cơ quan thi hành án. Xuất phát từ nghĩa rộng của khái niệm về tư pháp
ở nước ta như đã trình bày phần trên, có thể hiểu các hoạt động tư pháp là các
hoạt động liên quan đến quá trình giải quyết các vụ án và các tranh chấp bao
gồm các hoạt động điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ như khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử và thi hành các quyết định của Tòa án trong cả lĩnh vực hình
sự, dân sự và hành chính, kinh tế... Vậy, hoạt động tư pháp là hoạt động trước
hết phải được tiến hành bởi các cơ quan tư pháp. Tuy nhiên, như vậy không
có nghĩa tất cả mọi hoạt động do cơ quan tư pháp tiến hành đều là hoạt động
tư pháp mà chỉ là hoạt động tư pháp nếu hoạt động đó gắn liền với việc giải
quyết một vụ án, một tranh chấp cụ thể.


Kiểm sát các hoạt động tư pháp là một trong hai chức năng hiến định
của Viện kiểm sát nhân dân. Theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát thực
hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp bằng các công tác khác nhau
gắn liền với các lĩnh vực khác nhau bao gồm kiểm sát các hoạt động của các
cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và tố tụng tư pháp khác trong lĩnh vực giải
quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động…
Gắn liền với tố tụng hình sự là các công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong việc điều tra các vụ án hình sự của Cơ quan điều tra - Kiểm sát điều tra,
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự - Kiểm
sát xét xử và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành các bản án
và các quyết định của Tòa án nhân dân. Cả ba lĩnh vực công tác đó hợp thành
kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Kiểm sát điều tra
Theo quy định của pháp luật, trong lĩnh vực hình sự, Viện kiểm sát
thực hiện chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp bằng các công tác khác nhau gắn với các giai đoạn tố tụng khác
nhau: Thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc
điều tra các vụ án hình sự của Cơ quan điều tra; thực hành quyền công tố và
kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự; kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong việc thi hành các bản án hình sự và các quyết định
của TAND (Điều 4 Luật Tổ chức VKSND năm 2014). Ứng với mỗi công tác
này, Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định một chương riêng biệt. Trong
đó, tại chương II, các mục 2 (gồm các điều 14, 15) quy định cụ thể về nhiệm
vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố và
kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của Cơ quan
điều tra (công tác thứ nhất) với tiêu đề "Thực hành quyền công tố và kiểm sát
điều tra vụ án hình sự". Như vậy, kiểm sát điều tra là một bộ phận cấu thành


của kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Kiểm sát điều tra các vụ án hình sự là hoạt động của VKSND kiểm sát
việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng
hình sự phát sinh trong giai đoạn điều tra, nhằm đảm bảo cho quá trình điều
tra vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Nội dung của hoạt
động này là việc VKS sử dụng tất cả các quyền năng pháp lý do luật định để
phát hiện vi phạm của các chủ thể thuộc đối tượng bị kiểm sát, kịp thời yêu
cầu chấm dứt hoặc có biện pháp xử lý, khắc phục.
b) Đối tượng của kiểm sát điều tra:
Khác với THQCT, hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
giai đoạn điều tra các vụ án hình sự hướng tới các chủ thể là cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong mối quan
hệ pháp luật tố tụng hình sự. Đối tượng của KSĐT là sự tuân thủ pháp luật
của các chủ thể tiến hành hoạt động điều tra (về thẩm quyền, thời hạn, thủ tục,
việc tiến hành các hoạt động điều tra cụ thể...) và các chủ thể khác tham gia
quan hệ pháp luật tố tụng hình sự phát sinh trong giai đoạn điều tra.
Trước hết, đó là sự tuân thủ pháp luật của CQĐT (CQĐT trong Công
an nhân dân, CQĐT trong Quân đội nhân dân, CQĐT của Viện kiểm sát nhân
dân tối cao (VKSNDTC)), cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra. Với nhóm chủ thể này, VKS phải đảm bảo sự tuân theo pháp
luật của họ trong việc ban hành và thực hiện các quyết định tố tụng, hành vi tố
tụng. Nói cách khác, sự tuân theo pháp luật của CQĐT trong việc tiến hành
các hoạt động từ khi giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, quá trình tiến
hành các hoạt động điều tra cụ thể cho đến khi kết thúc việc điều tra đều
thuộc đối tượng kiểm sát tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra.
Việc tuân theo pháp luật của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến


hành một số hoạt động điều tra trong việc thực hiện hoạt động điều tra theo
thẩm quyền cũng là đối tượng của KSĐT. Các cơ quan này gồm có: Bộ đội
biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Lực lượng cảnh sát biển và các cơ quan
khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra. Quyền hạn điều tra của các cơ quan này được quy
định tại Điều 111 BLTTHS và các điều 2, 20, 21, 24, 25 Pháp lệnh tổ chức
điều tra hình sự, Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh
tổ chức điều tra hình sự. Khi tiến hành hoạt động điều tra theo thẩm quyền nói
trên, các cơ quan này phải đảm bảo tuân thủ theo quy định của pháp luật tố
tụng hình sự.
Bên cạnh đó, khi thực hiện KSĐT vụ án hình sự, VKS cũng phải đảm
bảo sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng. Đó là sự tuân
theo pháp luật của người bị tạm giữ, bị can, người bị hại, người làm chứng,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người giám định, người phiên dịch,
người bào chữa... Kiểm sát sự tuân theo pháp luật của những người tham gia
tố tụng là kiểm sát việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định
của pháp luật khi tham gia vào các hoạt động tố tụng. Người tham gia tố tụng
phải thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của họ và CQĐT phải đảm bảo để
người tham gia tố tụng được thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó.
c) Phạm vi của kiểm sát điều tra
Phạm vi của kiểm sát điều tra: Về phạm vi không gian: Kiểm sát điều
tra chỉ có trong lĩnh vực TTHS và chỉ ở giai đoạn đầu của TTHS - giai đoạn
điều tra. Về phạm vi thời gian: Kiểm sát điều tra bắt đầu từ khi khởi tố vụ án
và kết thúc khi VKS có quyết định xử lý vụ án và bị can (quyết định truy tố
hoặc đình chỉ điều tra vụ án, bị can).
Việc nhận thức đúng đắn phạm vi của hoạt động THQCT và KSĐT
các vụ án hình sự có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Chỉ trên cơ


sở xác định một cách đúng đắn phạm vi của hoạt động này, Kiểm sát viên mới
có thể thực hiện được một cách đầy đủ các biện pháp nghiệp vụ, các nhiệm
vụ, quyền hạn luật định để nâng cao chất lượng, hiệu quả THQCT và KSĐT
các vụ án hình sự.
d) Nội dung của kiểm sát điều tra
Nội dung của kiểm sát điều tra chính là các nhiệm vụ và quyền hạn
mà pháp luật tố tụng hình sự quy định khi kiểm sát điều tra. Theo Điều 113
BLTTHS 2003, nội dung của kiểm sát điều tra là : Kiểm sát việc khởi tố,
kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra;
kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành và tham gia tố
tụng; giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra theo quy định của pháp
luật; yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt
động điều tra; yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra xử lý nghiêm minh Điều
tra viên có vi phạm kỷ luật khi tiến hành điều tra…
1.3. Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát
điều tra các vụ án về ma túy
1.3.1. Tội phạm về ma túy:
Theo quan điểm của các nhà khoa học cũng như Uỷ ban kiểm soát ma
tuý quốc tế của Liên Hợp quốc (UNDCP) và theo từ điển bách khoa Công an
nhân dân, thì chất ma tuý được hiểu là: “Các chất hoá học có nguồn gốc tự
nhiên hoặc nhân tạo khi xâm nhập vào cơ thể con người sẽ có tác dụng làm
thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ làm con người bị lệ thuộc vào chúng và
cuối cùng gây nên những tổn thương cho từng cá nhân và cộng đồng”.
Do tác hại lâu dài và nhiều mặt của các vi phạm các quy định về chế
định quản lý chất ma túy nên mọi hành vi vi phạm, ở bất kỳ khâu nào của quá
trình quản lý chất ma túy đều bị quy định là tội phạm. Từ đó có thể định


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×