Tải bản đầy đủ

Phương pháp rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 6 bậc THCS

SỞ GIÁO
GIÁO DỤC
DỤC VÀ
VÀ ĐÀO
ĐÀO TẠO
TẠO THANH
THANH HÓA
HÓA
SỞ
PHÒNG GD
GD &
& ĐT
ĐTTHỌ
THỌ XUÂN
XUÂN
PHÒNG

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI

TÊN ĐỀ TÀI

PHƯƠNG PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT
PHƯƠNG
PHÁP
KĨ NĂNG
ĐOẠN
VĂN
CHORÈN
HỌCLUYỆN
SINH LỚP
6 BẬCVIẾT
THCS
ĐOẠN VĂN CHO HỌC SINH LỚP 6 BẬC THCS

Người thực hiện: Hà Sỹ Sơn
Người
Hà Sỹ Sơn
Chức
vụ:thực
Hiệuhiện:
trưởng
Chức
vụ:vị:Hiệu
trưởng
Đơn
Trường
THCS Xuân Vinh - Thọ Xuân
ĐơnSKKN
vị: Trường
Xuân
Vinh
- Thọ
thuộc THCS
lĩnh vực
môn:
Ngữ
VănXuân
SKKN thuộc lĩnh vực môn: Ngữ Văn


THANH HÓA NĂM 2017
THANH HÓA NĂM 2017


Mục lục
1.

2.

Trang

1.Mở đầu:
1.1. lí do chọn đề tài.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
1.4. Phương pháp nghiên cứu

1

2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1. Cơ sử lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến
kinh nghiệm.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1. Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn miêu tả.
2.3.1.1. Một số vấn đề chung về văn miêu tả.
2.3.1.2. Cách dựng đoạn trong văn miêu tả.
2.3.1.3. Một số đoạn văn tiêu biểu.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt
động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà
trường.

3

2
3

4
5
6
9
1
4
15

3.

3.Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận.
3.2. Kiến nghị.

16
16
17

4.

Tài liệu tham khảo.

18


1. MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, môn Ngữ văn trong nhà trường có
một vị trí rất quan trọng. Nó tác động sâu sắc đến tâm hồn, tình cảm của con
người, nó bồi đắp cho tâm hồn mỗi người trở nên trong sáng, phong phú và sâu sắc
hơn. M.Goóc- ki nói : “Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng
cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng hướng tới
chân lý”. Văn học "Chắp đôi cánh" để các em đến với mọi thời đại văn minh, với
mọi nền văn hoá, xây dựng trong các em niềm tin vào cuộc sống, vào con người,
trang bị cho các em vốn sống, hướng các em tới đỉnh cao của chân, thiện, mỹ. Vì
vậy, nhiệm vụ của người giáo viên dạy Ngữ văn là phải làm cho học sinh hiểu
được cái hay cái đẹp của Văn học, kích thích sự hứng thú học tập môn Ngữ văn
cho học sinh. Một giờ dạy Ngữ văn là phải tạo ra được những rung động thẩm mỹ
sâu sắc khiến người ta say mê. Song nhiệm vụ cũng không kém phần quan trọng
nữa của giáo viên dạy Ngữ văn ở trường THCS là rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn
cho học sinh.
Việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh THCS là vấn đề hết sức cần
thiết. Từ đó, giúp học sinh hình thành ý thức và nhân cách cũng như trình độ học
vấn cho các em ngay khi đang học bậc học THCS và trưởng thành sau này. Qua
việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn, ta rèn cho học sinh ý thức tự tu dưỡng, biết
yêu thương, quí trọng gia đình, bạn bè, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội,
biết hướng tới những tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ
phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác và cũng từ đó rèn cho các em tính
tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mĩ
trong nghệ thuật. Trước hết là trong văn học có năng lực thực hành và năng lực sử
dụng Tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp.
Để rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết đoạn văn, giáo viên phải hướng dẫn
cho học sinh cách thức viết đoạn văn, cách sử dụng vốn từ ngữ, diễn đạt câu trong
đoạn văn, bố cục đoạn văn trong một văn bản, cách sử dụng các phương tiện liên
1


kết trong đoạn văn. Tuỳ theo từng phương thức diễn đạt khác nhau mà viết theo lối
qui nạp, diễn dịch, song hành hay móc xích.
Để viết được đoạn văn phải có nhiều câu kết hợp tạo thành, cũng như vậy để
tạo thành văn bản yêu cầu phải có các đoạn văn liên kết với nhau mà thành (khi đã
dùng các phương tiện liên kết trong văn bản).
Tuy vậy, trong giai đoạn hiện nay, có rất nhiều những phương tiện hiện đại,
thông tin đại chúng cập nhật liên tục khiến cho học sinh lao vào con đường say mê
“nghiện”, sách vở bị lãng quên, ham bạo lực điện tử, sách kiếm hiệp. Vì vậy, các
em không còn ham đọc sách, ham nghiên cứu. Cho nên, việc viết một đoạn văn lại
càng là vấn đề đáng quan tâm khi chúng ta rèn luyện cho các em.
Hơn thế nữa, tập làm văn là môn học thực hành tổng hợp ở trình độ cao của
môn Văn - Tiếng Việt, môn Tập làm văn được xem như vị trí cốt lõi trong mối
tương quan chặt chẽ với Văn và Tiếng Việt. Như vậy, chúng ta dạy tập làm văn cho
học sinh là dạy cho các em nắm vững văn bản, biết xây dựng các đoạn văn thông
thường. Rèn luyện cho học sinh là rèn luyện cho các em các thao tác, những cách
thức, những bước đi trong quá trình tạo lập văn bản.
Thông qua môn tập làm văn, qua bài làm văn của mình, các em bộc lộ những
tri thức, vốn sống, tư tưởng, tình cảm của cá nhân. Vì thế người giáo viên phải biết
nắm lấy ưu thế này để phát huy những khả năng của các em, đồng thời qua việc rèn
luyện kĩ năng viết đoạn văn giáo viên có dịp uốn nắn điều chỉnh những sai lệch
trong vốn sống, nhận thức, tư tưởng tình cảm - đặc biệt qua các thể loại văn học
mà các em sẽ học trong chương trình.
Trên đây là những lí do, vị trí, vai trò của việc xây dựng đoạn văn cho học
sinh THCS. Từ những mặt tích cực, hạn chế trên khiến cho tôi chọn đề tài:
“Phương pháp rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 6 bậc THCS”
để nghiên cứu và xây dựng các bước để rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn được tốt
hơn.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Phân môn Tập làm văn giúp cho học sinh nắm được các thể loại trong chương
trình tập làm văn ở THCS như tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh,
2


điều hành. Từ đó giúp học sinh biết vận dụng các thể loại văn bản để phục vụ cho
học tập, trong đời sống. Đặc biệt, đề tài này sẽ giúp cho các em biết cách xây dựng
đoạn văn với nhiều thể loại khác nhau, với bố cục đoạn văn dù ngắn hay dài điều
phải đảm bảo mặt nội dung và hoàn chỉnh về hình thức, hướng dẫn cho các em rèn
luyện kĩ năng viết đoạn văn theo bố cục : Mở đoạn, Thân đoạn, Kết đoạn.
Mỗi đoạn văn đều bao hàm một ý chính của nó. Ý chính đó, có thể đứng ở đầu
đoạn văn theo cách diễn dịch hoặc đứng cuối đoạn văn theo cách qui nạp hoặc ý
chính của các câu bình đẳng nhau, ngang hàng nhau theo cách song hành.
Qua đó, rèn luyện cho học sinh kĩ năng diễn đạt đúng và hay bằng các hình
thức nói hoặc viết, tập vận dụng một cách sáng tạo, tổng hợp những kiến thức đã
tiếp thu được qua các môn Văn - Tiếng Việt và những kiến thức văn hoá xã hội để
có thể nói và viết theo yêu cầu, đề tài khác nhau, những kiểu văn bản khác nhau
mà cuộc sống đặt ra cho các em.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
“Phương pháp rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 6 bậc THCS”
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Để nghiên cứu đề tài này tôi sử dụng hệ thống phương pháp sau:
- Phương pháp kiểm tra, khảo sát;
- Phương pháp so sánh, đối chiếu;
- Phương pháp phân tích, tổng hợp;
- Phương pháp cố vấn, chuyên gia.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Như chúng ta đã biết, bài viết được cấu thành bởi các đoạn văn (văn bản) theo
những phương thức và bằng những phương tiện rất phong phú. Dựng đoạn được
triển khai từ ý trong dàn bài. Có thể đoạn văn là một ý hoặc nhiều ý và cũng có
thể một ý có nhiều đoạn. Trong đoạn văn thường có bố cục ba phần: mở đoạn, phát
triển đoạn và kết đoạn. Ở góc độ đặc điểm cấu trúc thì các đoạn văn có thể là đoạn
diễn dịch, qui nạp, móc xích, song hành
3


Để rèn luyện được kĩ năng viết đoạn văn, đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ yêu
cầu diễn đạt thành lời, thành đoạn, phải sử dụng các phương tiện ngôn ngữ sao cho
phù hợp với ý của đoạn để hiệu qủa biểu đạt cao hơn, đoạn văn có sức cuốn hút
hơn với người đọc. Qua đó, ta có thể hiểu được: đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo
nên văn bản, bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xưống
dòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh. Đoạn văn thường do nhiều
câu tạo thành. Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề. Từ ngữ chủ đề là
các từ ngữ được dùng làm đề mục hoặc các từ ngữ được lặp lại nhiều lần (thường
là chỉ từ, đại từ, các từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng được biểu đạt. Câu chủ
đề mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính và
đứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn (hay còn gọi là câu chốt). Các câu trong đoạn văn
có nhiệm vụ triển khai và làm rõ chủ đề của đoạn bằng các phép diễn dịch, qui
nạp, song hành.
Khi chuyển từ đoạn này sang đoạn khác, cần sử dụng các phương tiện liên kết
để thể hiện quan hệ ý nghĩa của chúng. Có nhiều phương tiện liên kết: quan hệ từ,
đại từ, chỉ từ, các cụm từ thể hiện ý liệt kê, so sánh, đối lập, tổng kết, khái quát,và
dùng câu nối trong đoạn văn. Như vậy, đoạn văn liên kết nhằm mục đích phân biệt
nhau liền mạch với nhau một cách hợp lí, tạo tính chỉnh thể cho văn bản.
Vì vậy, chúng ta cần tận dụng những hiểu biết và khả năng trên của học sinh
để phát huy tính tích cực, tính chủ động và sáng tạo của học sinh trong việc rèn
luyện kĩ năng viết đoạn văn được tốt và làm nền tảng cho chương trình THPT.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Cũng bộ môn Ngữ văn, nhưng theo khảo sát, phần lớn học sinh học phân môn
Tập làm văn còn yếu mà đặc biệt là cách dựng đoạn, khiến cho giáo viên và học
sinh còn rất lúng túng. Thường thì thời gian quá ngắn mà lượng kiến thức nhiều,
nên chưa tìm hiểu kĩ các đoạn văn mẫu. Một tiết học, chỉ đưa ra một vài ví dụ đơn
giản, một vài đoạn mẫu nên học sinh chưa hiểu rõ hết vấn đề, lí thuyết hiểu sơ sài,
vì thế xác định đề bài, chủ đề và bố cục đoạn văn càng bối rối.
Những tình trạng viết đoạn văn ở THCS như trên là do nhiều nguyên nhân.
Trước là nguyên nhân khách quan: nó phụ thuộc vào tư tưởng lập nghiệp của học
4


sinh sau này như thi vào các trường cao đẳng, đại học Ngữ văn ít hơn các môn
khác,và điều quan trọng nhất là cơ chế thị trường thực dụng, con người khô khan,
kênh thông tin văn hoá nghệ thuật đa dạng, nhiều loại hình cuốn hút học sinh. Hơn
thế nữa phụ huynh lại định hướng cho con em mình theo khuynh hướng trên. Và
ngoài ra nó còn phụ thuộc vào nguyên nhân chủ quan là môn Tập làm văn khó học,
trừu tượng, học sinh không thích học, khó trở thành giỏi văn. Nội dung, chương
trình trong SGK còn quá tải, trình độ giáo viên chưa đáp ứng, chất liệu của môn
ngữ văn bị giảm xuống vì đưa nhiều thể loại văn bản nhật dụng, văn bản chính
luận, văn bản nghị luận vào, coi nhẹ giảng bình, giáo viên giao nhiều bài tập, khó
được điểm cao.
Trên đây là những tình trạng viết văn, dựng đoạn văn của học sinh THCS và
nó cũng có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan tác động. Cho nên ta cũng
quan tâm hơn nữa trong việc dạy một tiết Tập làm văn, mà đặc biệt là dạy một tiết
dựng đoạn văn trong văn bản.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Để khảo sát thực trạng viết văn, dựng đoạn của học sinh THCS, tôi đã tiến
hành ra đề như sau:
Em hãy viết một đoạn văn (khoảng 10 -15 câu) miêu tả khung cảnh giờ ra chơi.
Thời gian làm bài: 20 phút.
Tôi khảo sát thực tế bài làm của học sinh ở lớp 6A và 6B thấy rằng:
Có đến 40% số học sinh chưa biết viết đoạn văn. Có 57% HS xây dựng được
một đoạn văn nhưng chưa sử dụng triệt để các yếu tố miêu tả.
Số học sinh đạt khá, giỏi chiếm tỉ lệ rất thấp: Lớp 6A là 0.3%; Lớp 6B là 0.6
% - một con số đáng báo động trong việc học phân môn Tập làm văn hiện nay
trong nhà trường THCS.
Số liệu cụ thể ở trường THCS Xuân Vinh như sau:
Phân loại
Lớp

6A = 32

Giỏi
SL
%
0
0

Khá
SL
1

%
3,1

Trung bình
SL
%
18
56,3

yếu, kém
SL
%
13
40,6

6B = 33

0

0

1

3,0

19

57,6

13

39,4

Cộng: 65

0

0

2

3,1

37

56,9

26

40
5


2.3.1 Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn miêu tả
2.3.1.1 Một số vấn đề chung về văn miêu tả
* Khái niệm.
“Văn miêu tả là một trong những kiểu văn bản rất quen thuộc và phổ biến
trong cuộc sống cũng như trong sáng tạo văn chương. Đây là loại văn bản có tác
dựng rất lớn trong việc tái hiện đời sống, hình thành và phát triển trí tưởng tượng,
óc quan sát và khả năng nhận xét, đánh giá của con người. Với đặc trưng của mình,
những trang miêu tả làm cho tâm hồn con người và trí tuệ người đọc thêm phong
phú, giúp cho ta có thể cảm nhận văn học và cuộc sống một cách tinh tế hơn, sâu
sắc hơn”.( Đỗ Ngọc Thống, Phạm Minh Diệu- Văn miêu tả trong nhà trường phổ
thông. Nhà xuất bản giáo dục, năm 2003).
Miêu tả là một phương thức biểu đạt khá thông dụng, được sử dụng nhiều
trong giao tiếp bằng ngôn ngữ của con người, kể cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.
Cần hiểu rõ: văn miêu tả là loại văn nhằm giúp người đọc hình dung ra được
những đặc điểm tính chất nổi bật của một sự vật, sự việc, con người, phong cảnh,
nhằm cho những cái đó như hiện lên trước mắt người đọc. Qua văn miêu tả người
đọc không chỉ cảm nhận được vẻ bề ngoài màu sắc, hình dáng, kích thước, trạng
thái, mà còn hiểu rõ hơn bản chất bên trong của đối tượng.
Trong chương trình Ngữ văn THCS, yêu cầu của văn tả cảnh tập trung ở lớp 6.
Đến lớp 7, 8, 9 văn miêu tả được nhắc lại trong các kiểu văn biểu cảm, thuyết
minh, tự sự, nghị luận. Giúp học sinh thấy được vị trí, tầm quan trọng, giá trị của
văn miêu tả trong kể chuyện, trong thuyết minh, trong biểu cảm và trong nghị luận.
* Yêu cầu của văn miêu tả
Để miêu tả và viết tốt bài văn, đoạn văn miêu tả học sinh phải quan sát, so
sánh, tưởng tượng, nhận xét, ngôn từ, xúc cảm, tình cảm.
Quan sát là một trong những hoạt động của con người để nhận thức thế giới.
Trong quá trình quan sát cần gắn với so sánh liên tưởng để phát hiện ra những nét
giống nhau gần nhau, đối lập nhau trong thế giới khách quan giữa các sự vật, hiện
tượng, từ đó miêu tả đúng bản chất, gọi tên đúng sự vật hiện tượng.

6


Tưởng tượng có vai trò rất quan trọng trong đời sống, trong lao động và trong
sự hình thành, phát triển nhân cách của con người. Tưởng tượng tích cực tạo nên
những hình ảnh đẹp đẽ, rực rỡ, phản ánh những mơ ước, lí tưởng của con người,
kích thích những nhu cầu thẩm mĩ và tình yêu đối với cuộc sống.
Khi viết đoạn văn miêu tả người ta thường dùng liên tưởng, ví von, so sánh.
Nhờ có so sánh, liên tưởng mà văn miêu tả khơi gợi được trí tưởng tượng, kích
thích được óc sáng tạo của người đọc. Ngôn ngữ - Tiếng Việt phong phú và giàu
đẹp, Tiếng Việt giàu về vốn từ vựng, về các vốn từ như đồng âm, đồng nghĩa,
tượng thanh, tượng hình. Chúng ta lại phong phú về lối nói ẩn dụ, nhân hoá, so
sánh, tưởng tượng, cùng những cách diễn đạt đa dạng, với các kiểu câu Tiếng Việt.
Đó là điều kiện thuận lợi khi sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt để miêu tả sự vật, hiện
tượng, tâm lí, tính cách.
Tùy vào đối tượng miêu tả để sử dụng lớp từ ngữ phù hợp. Đoạn văn miêu tả
rất hay dùng và dùng có hiệu quả các biện pháp tu từ, nhân hoá, ẩn du, hoán dụ,
tượng trưng, so sánh ví von.
Khi viết một đoạn văn miêu tả, bài văn miêu tả cảm xúc, tình cảm là một
yếu tố cực kì quan trọng. Để có một đoạn văn miêu tả hay, người viết không chỉ tài
quan sát và thể hiện bằng các từ ngữ, hình ảnh, bằng lối nói so sánh, ví von độc
đáo, mà còn phải có tình. Cái tình ấy có thể là căm ghét cái ác, cái xấu, cái lố lăng,
kịch cởm ở đời. Không có cái tình, mọi sự miêu tả dù ngôn ngữ có sắc sảo, phong
phú và mới mẻ đến bao nhiêu cũng chỉ là làm xiếc ngôn ngữ. Trong trường hợp
này bài văn miêu tả chỉ là cái xác không hồn, không gây được xúc động trong lòng
người đọc.
* Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn miêu tả
Thứ nhất đó là kĩ năng quan sát, ghi chép. Đối tượng của văn miêu tả những
sự vật, sự việc, là thiên nhiên, là con người và cuộc sống của con người. Có thể coi
đó là một thế giới hết sức mới lạ và đa dạng, phức tạp và sống động đang diễn ra
quanh ta, thay đổi từng ngày, từng giờ. Vì vậy, phải quan sát, ghi chép.
Tất nhiên các em không thể có ngay được kĩ năng ấy và sử dụng nó thành
thạo như các nhà văn vẫn làm. Tất cả đối với các em chỉ mới là bước đầu tập dượt :
7


Tập quan sát, tập ghi chép, tập phát hiện ra những đặc điểm của các sự vât, hiện
tương quanh mình. Từ đó, có vốn để làm văn miêu tả, viết một đoạn văn miêu tả.
+ Kĩ năng tưởng tượng:
Có thể khẳng định rằng, nếu không có kĩ năng tưởng tượng thì bài văn miêu tả
chắc chắn sẽ không hay được, dù là văn tả thực. Vì vậy, cần tưởng tượng và sáng
tạo thêm để bổ sung những hình ảnh phù hợp, làm cho bức tranh miêu tả trở nên
phong phú và sinh động hơn.
Không có trí tưởng tượng, chắc chắn nhà văn Tô Hoài không thể xây dựng
được bức tranh phong phú về thế giới loài vật như trong tác phẩm “ Dế Mèn phiêu
lưu kí”.
Không có tưởng tượng chắc chắn nhà văn Vũ Tú Nam không thể viết được
trang văn miêu tả thay đổi kì diệu màu nước biển trong “ Biển đẹp”.
Vậy khi làm văn miêu tả, trí tưởng tượng được dùng với vai trò gì?
Có thể nói rằng vai trò của trí tưởng tượng rất lớn. Nó không chỉ là yếu tố tạo
nên sự phong phú cho các hình ảnh trong bức tranh miêu tả mà còn giúp cho người
làm văn miêu tả tìm được những từ ngữ và các biện pháp nghệ thuật phù hợp để
bài văn, đoạn văn hấp dẫn hơn.
+ Kĩ năng so sánh:
So sánh là hệ quả của quá trình liên tưởng, tưởng tượng. Chính sự liên tưởng,
so sánh này làm cho trang văn miêu tả hay hơn và đối tượng miêu tả hiện rõ hơn,
đẹp hơn, hấp dẫn hơn.
Nếu xét về đối tượng, hiện tượng so sánh trong văn miêu tả hết sức đa dạng và
phong phú:
Có thể so sánh người với người, so sánh người với các con vật, đồ vật, so
sánh người với với cây cối, so sánh người với các hiện tượng tự nhiên. Có thể so
sánh vật với vật, cảnh với cảnh. Có thể so sánh vật với con người.
Và nếu xét về cách thức so sánh thì có những hiện tượng so sánh sau:
So sánh theo hướng thu nhỏ. So sánh theo hướng phóng đại. So sánh theo
hướng cụ thể hoá. So sánh theo hướng trừu tượng hoá.

8


Tuy nhiên, khi sử dụng kĩ năng so sánh, cần lưu ý là phải biết sáng tạo, biết
tìm điểm mới, điểm riêng. Không nên lặp đi lặp lại những hình ảnh so sánh đã quá
cũ, quá sáo mòn.
+ Kĩ năng nhận xét:
Viết văn miêu tả, bao giờ người viết cũng để lại dấu ấn chủ quan của mình.
Dấu ấn chủ quan ấy chính là sự cảm nhận riêng của mỗi người là cách biểu lộ thái
độ, tình cảm riêng của con người đối với đối tượng được miêu tả. Một nhà văn
Pháp viết: “Một trăm thân cây bạch dương giống nhau cả trăm, một trăm ánh lửa
giống nhau cả trăm. Mới nhìn tưởng thế nhưng nhìn kĩ thì cây bạch dương nào
cũng khác nhau, ngọn lửa nào cũng khác. Trong đời ta gặp bao nhiêu người phải
thấy ra mỗi người mỗi khác, không ai giống ai”. (Dẫn theo Tô hoài- Một số kinh
nghiệm viết văn miêu tả).
Vấn đề là phải vận dụng cách nhận xét như thế nào để tạo sự hấp dẫn cho bài
văn miêu tả.
Trước hết, có thể nhận xét bằng những lời bình, những câu cảm thán, những
hình ảnh so sánh: “Chà ! Chà ! Béo ơi là béo ! Gớm ! Béo đâu có béo lạ béo lùng
thế. (Nguyễn Công Hoan).
Và cũng có thể bộc lộ một cách kín đáo qua việc lựa chọn hình ảnh miêu tả.
Đây là thái độ mỉa mai, giễu cợt của nhà nhà văn Nguyễn Công Hoan khi miêu tả
hình ảnh của một “bà chủ” : “ Vậy thì bà nằm đó. Nhưng thoạt trông, Đố ai giám
bảo là một người. Nếu người ta chưa nom rõ cái mặt phị, cái cổ rụt, cái thân nung
núc và bốn chân tay ngắn chùn chùn, thì phải bảo là một đống hai ba cái chăn bông
cuộn lại với nhau, sắp đem cất đi”. Còn đây là thái độ ngạc nhiên thích thú của
nhà văn Vũ Tú Nam khi quan sát và miêu tả hình ảnh những trái mướp lớn nhanh
như thổi: “Rồi quả thi nhau chòi ra, bằng ngón tay, bằng con chuột. Rồi bằng con
cá chuối to”.
2.3.1.2 Cách dựng đoạn trong văn miêu tả
- Cách dùng từ ngữ, hình ảnh.
Việc lựa chọn từ ngữ trong văn miêu tả là yêu cầu quan trọng, đòi hỏi phải
được đặt ra một cách nghiêm túc. Muốn làm tốt yêu cầu này thì người viết văn
9


trước hết phải có một vốn từ phong phú. Vấn đề tích lữy vốn từ cần được tiến hành
thường xuyên và dưới nhiều hình thức: thông qua các giờ Văn- Tiếng Việt, thông
qua giao tiếp hàng ngày, quá trình đọc sách, đọc tài liệu tham khảo có liên quan tới
văn miêu tả.
Ví như tả cảnh sóng biển có nhịều từ ngữ gợi hình, gợi thanh: cuồn cuộn, nhấp
nhô, lăn tăn, rì rầm, rì rào, lô nhô. Nhưng không phải là sóng lúc nào cũng dùng
được tất cả các từ ấy. Từ sóng biển lúc trời động thì phải dùng từ “cuồn cuộn”; Lột
tả tiếng sóng biển vỗ vào bờ đá thì phải dùng từ “ì oạp”, tả tiếng sóng biển vọng lại
trong đêm mà nghe xa thì dùng từ “rì rầm”
Tả cây cối cũng có nhiều từ ngữ chỉ màu xanh khác nhau: “xanh um”, “xanh
rì”, “xanh non”.
Nhưng khi đi vào thực tế mỗi loại cây sẽ có một loại xanh riêng, không lẫn
lộn: cây rau cải trong vườn hay cây lúa đang thì con gái thì phải là “xanh mơn
mởn”, “xanh rờn”; Cây cối trong rừng rậm rạp thì phải là “xanh rì”, “xanh tốt”.
Bên cạnh việc lựa chọn từ ngữ, vấn đề tạo hình ảnh trong văn miêu tả cũng
không kém phần quan trọng. Có thể thấy rõ câu văn miêu tả giàu hình ảnh bao
nhiêu thì sức gợi cảm của nó sẽ lớn bấy nhiêu. Tuy nhiên khi sử dụng các nghệ
thuật bên trong bài văn miêu tả, chúng ta cần lưu ý những nghệ thuật ấy chỉ thực
sự có tác dụng nếu được dùng đúng lúc, đúng chỗ, hợp văn cảnh.
- Cách đặt câu, dựng đoạn văn miêu tả
Cũng như văn tự sự, cách đặt câu trong văn miêu tả đòi hỏi người viết phải lựa
chọn sắp xếp rất công phu.
Ngoài việc đặt câu, cách dựng đoạn và liên kết đoạn trong một bài văn miêu tả
cũng rất cần được quan tâm. Thông thường khi làm văn, học sinh chia làm ba
phần: mở bài, thân bài, kết bài.
Chúng ta cần xác định những ý cần triển khai trong nội dung bài văn miêu tả
để chia các phần trong bài thành các đoạn văn tương ứng. Có nhiều cách để chia
đoạn trong bài văn miêu tả.
Chia đoạn theo trình tự thời gian: người làm bài đặt đối tượng miêu tả vào các
khoảng thời gian khác nhau. Trong một năm thì theo bốn mùa xuân - hạ - thu 10


đông, trong một ngày, thì có sáng - trưa - chiều - tối; Trong một quá trình thì có bắt
đầu - diễn biến - kết thúc.
Chia theo trình tự không gian: người làm bài quan sát đối tượng miêu tả ở
nhiều góc độ và từ hướng khác nhau: từ xa nhìn lại, từ ngoài nhìn vào, từ trong
nhìn ra, từ trên nhìn xuống, từ dưới nhìn lên, nhìn bên trái, bên phải, phía trước,
phía sau, nhìn toàn cảnh, nhìn chi tiết.
Chia đoạn theo đặc điểm, tính cách của đối tượng được miêu tả: mỗi đặc điểm
tính chất có thể được tách ra để miêu tả trong một đoạn văn độc lập.
Chia đoạn theo số lượng được miêu tả: có thể sử dụng cách chia đoạn này cho
kiểu bài tả cảnh thiên nhiên, tả cảnh sinh hoạt, tả thế giới loài vật, đồ vật. Ví dụ: tả
cảnh thiên nhiên có bầu trời, không trung, mặt đất; cảnh khu vườn, ngoài đồng.
Thông thường mở rộng ý theo một hướng sau:
Mở rộng ý bằng cách liên tưởng, so sánh đối tượng đang miêu tả với những
đối tượng khác, hoặc đặt đối tượng đang miêu tả trong các quan hệ với những đối
tượng xung quanh.
Mở rộng ý bằng cách đi vào miêu tả thật tỉ mỉ, thật chi tiết từng đường nét,
hình dáng, đặc điểm của đối tượng.
Mở rộng ý bằng cách đan xen vào những câu văn miêu tả là những câu văn
nêu cảm xúc, suy nghĩ, nhận xét.
Mở rộng ý bằng cách kết hợp miêu tả đặc điểm với những lời giới thiệu về giá
trị, về công dụng của đối tượng được miêu tả.
- Cách viết đoạn mở bài, thân bài và kết bài
Mô hình bố cục của bài văn miêu tả thông thường gồm có ba phần rõ rệt.
Mở bài: giới thiệu đối tượng miêu tả ( đối tượng gì ? có quan hệ như thế nào
đối với người miêu tả ? hoàn cảnh tiếp xúc, gặp gỡ với đối tượng ấy có gì đặc biệt.
Thân bài : lần lượt dựng lại hình ảnh hoặc khung cảnh được miêu tả với
những nét đặc điểm chung, riêng.
Kết bài : nêu cảm nghĩ về đối tượng được miêu tả.
Theo mô hình này thì văn miêu tả chỉ mở bài bằng việc giới thiệu đối tượng và
kết bài bằng cách nêu cảm nghĩ của người viết. Như vậy là quá đơn điệu, rập
11


khuôn. Thậm chí, có một số em học sinh dùng cái khuôn ấy để lắp ghép cho tất cả
các bài văn miêu tả khác nhau.
Ví dụ: khi tả một cây ăn quả thường các em hay đi theo cách mở bài và kết
như sau:
Mở bài: Trong vườn, Bà em trồng nhiều thứ cây ăn quả. Nhưng em thích nhất
là cây bưởi đào.
Kết luận: Em rất yêu khu vườn (yêu cây bưởi đào). Hoặc em muốn được chăm
sóc cho khu vườn này ngày càng tươi tốt hơn ( chăm sóc cây bưởi đào để nó tiếp
tục đơm hoa kết trái ở những mùa sau).
Ví dụ: khi làm văn miêu tả cây cối trong vườn vào một thời điểm cụ thể ta có
thể chia thân bài thành một số đoạn ứng với một số đối tượng miêu tả như sau:
Đoạn một: Tả một cây có đặc điểm tiêu biểu và gây ấn tượng nhất trong vườn
( lớn nhất, đặt ở vị trí quan trọng nhất), khi tả phải giới thiệu được vị trí, miêu tả
hình dáng đặc điểm của thân, lá, rễ, hoa, quả, tầm quan trọng của nó đối với con
người, đối với các cây cối khác trong vườn. Có trường hợp nêu thêm lai lịch của ai
( ai trồng ? Trồng lúc nào ? với chủ nhân khu vườn).
Đoạn hai: Tả loài cây cho hoa, cho hương, liệt kê một số loài hoa (hoa nhài,
hoa hồng nhung). Đồng thời miêu tả cụ thể vị trí, hình dáng, đặc điểm, cấu tạo của
từng loại cây (thân, lá, hoa, hương vị).
Đoạn ba: Tả loài cây cho quả- liệt kê một số loài cây tiêu biểu (cam, bưởi, na,
ổi). Sau đó tập trung miêu tả vị trí, qui trình ra hoa kết trái, cấu tạo, công dụng của
từng loại cây.
Lưu ý: Trong quá trình tả, có thể đặt đối tượng được tả trong mối quan hệ với
nắng, với gió, với chim chóc, ong bướm, với con người để toàn cảnh khu vườn
hiện lên sống động và đẹp hơn.
Để kiểm chứng kỹ năng viết đoạn văn miêu tả của học sinh, tôi tiến hành các
bước như sau:
Đối tượng kiểm chứng là: học sinh lớp 6 (đủ 3 đối tượng)
Cơ sở vật chất: đủ 2 phòng học, bàn ghế, ánh sáng phục vụ dạy học đầy đủ.
- Sự chuẩn bị của giáo viên ở 2 lớp là như nhau.
12


- Sự chuẩn bị của học sinh: SGK, vở bài tập, vở nháp, các tài liệu có liên quan.
- Về thời gian: dạy - học 4 tiết/ lớp, được bố trí dạy học vào 3 buổi xen kẽ các
môn học khác.
- Đề kiểm tra khảo sát: mang tính vừa sức, tính khoa học, tính chính xác, phù
hợp với 3 đối tượng học sinh lớp 6.
GIÁO DỤC THỰC NGHIỆM
Lớp 6B - Tôi thực hiện các bước sau:
Hoạt động 1: Khởi động bằng việc kiểm tra sự chuẩn bị ở nhà của các em và
GV chọn một bài văn miêu tả cho HS đọc trước lớp rồi xác định các phần trong
bài làm của người viết - Trình bày các ý chính trong mỗi phần: Mở bài, Thân bài,
Kết bài.
Hoạt động 2: GV tổ chức cho HS ôn tập các đơn vị kiến thức đã học về văn
miêu tả. Cụ thể:
I/ Khái niệm văn miêu tả.
II/ Đặc điểm của văn miêu tả.
III/ Các yêu cầu khi làm bài văn miê tả.
Hoạt động 3: GV tổ chức cho người học viết các đoạn văn miêu tả theo yêu
cầu của người dạy.
Hoạt động 4: GV cho lớp tiến hành thảo luận và nhận xét, đánh giá các đoạn
văn của HS.
Hoạt động 5: GV củng cố kiến thức và tiến hành khảo sát bằng đề bài sau:
Đề bài: Em hãy viết đoạn văn ngắn (10- 15 câu) miêu tả cảnh chợ hoa ngày tết.
ĐÁP ÁN
Về hình thức:

1.0 điểm)

- Viết đúng theo yêu cầu: một đoạn văn ngắn (10 – 15 câu), đầu dòng lùi vào viết
hoa, kết thúc là dấu chấm cuối dòng.
- Viết đúng kiểu bài miêu tả.

13


- Từ ngữ lựa chọn phải phù hợp với kiểu bài miêu tả, làm nổi bật đặc điểm của sự
vật được miêu tả.
- Diễn đạt rõ ràng, trong sáng, không mắc lỗi chính tả.
Về nội dung:
- Câu mở đoạn: giới thiệu chợ hoa ngày tết (Có thể là câu chủ đề). ( 0.5 điểm)
- Các ý triển khai câu mở đoạn: tả cảnh mua bán xen với tả cây cảnh, cây hoa ngày
tết.

(8.0điểm)

- Câu kết đoạn: Nhận xét, cảm tưởng về chợ hoa ngày tết.

( 0.5 điểm)

Hoạt động 6: GV thu bài và dặn dò HS.
2.3.1.3. Một số đoạn văn tiêu biểu
Đoạn mở bài.
1. Khi những ngày hè gần hết thì cây bưởi trong vườn nhà ông tôi cũng vào
mùa quả chín. Được ngắm nhìn cây bưởi, lúc ấy mới thấy được vẻ đẹp riêng của
nó.
2. Rằm trung thu năm nay thật đẹp. Tôi và các bạn đi rước đèn ông sao về thì
thấy mẹ đã đón sẵn ở cửa, đôi mắt mẹ lấp lánh niềm vui. Giọng mẹ có vẻ bí mật:
Đố các con mẹ sẽ có quà gì ? Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau; cái gì nhỉ ? Đèn ông
sao ư ? Măt nạ ư ? Chúng tôi vào trong nhà. Chao ôi ! Trên bàn là một mâm cỗ
trung thu đầy ngút. Cả bọn reo lên khiến cho gương mặt mẹ tôi càng thêm rạng rỡ.
3. Chiều quê. Đó có lẽ là lúc mà ta cảm nhận được rõ nhất sự yên ả và thanh
bình.
Đoạn thân bài.
1. Mùa hè đến, Sầm Sơn vui hơn, đông hơn và sôi động hơn. Biển lại chuyển
mình, hoà reo trên những lớp sóng trắng xoá. Biển Sầm Sơn lúc nào cũng đẹp.
2. Ngày nay chợ đã khác xưa nhiều. Một số mặt hàng cũ đã được thay thế
bằng những thứ hàng mới phù hợp với nhu cầu của cuộc sống hiện đại. Nhưng về
cơ bản, chợ vẫn giữ được nét xưa. Người dân trong vùng vẫn nhớ đi chợ theo sáu
phiên như một thói quen đã ăn sâu vào trong tiềm thức.
3. Hoàng hôn xuống ! Mẹ mặt trời vội vã gọi đàn con nắng trở về. Mặt biển lại
hiền hoà và lặng lẽ, lóng lánh giọt ánh sáng còn sót lại. Mặt trời đỏ lự xuống biển.
14


Em cùng các bạn đi dạo trên bãi biển, lắng nghe tiếng sóng rì rào, tiếng trở mình
thở dài của biẻn cả khoan khoái trong làn gió mát lạnh đưa hơi thở mặn mà của
biển vào đất liền.
Đoạn kết bài.
1.Căng lồng ngực hít thở bầu không khí trong lành. Tôi thấy trong lòng dâng
lên một tình yêu sâu nặng đối với thành phố quê hương. Tình yêu ấy, tôi sẽ mang
theo suốt đời, không bao giờ phai nhạt, có lẽ vậy chăng ?
2. Đêm hôm đó tôi ngủ thật ngon lành trong vòng tay của ông nội. Trong giấc
mơ tôi thấy mình đang cùng thằng An và cu Tí lạc vào một xứ sở thần tiên. Ở đó
có đầy đủ các thành viên của đại gia đình chúng tôi. Quê hương tôi đó chăng ? Vừa
xa vời, vừa gần gũi biết bao.
3. Được tắm dưới mưa quả là thú vị. Cơn mưa rào ấy đã qua lâu rồi mà tôi còn
nhớ mãi. Nhớ mãi. Ước sao có một lần được về quê, được cùng bọn trẻ làng đùa
giỡn trong mưa.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến
Phân

Giỏi

Khá

Trung bình

yếu, kém

loại
Lớp
6A = 32

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

1

3,1

4

12,5

26

81,3

1

3,1

6B = 33

2

6,1

5

15,2

25

75,7

1

3

Cộng: 65

3

4,6

9

13,8

51

78,5

2

3,1

Qua quá trình Dạy - Học và tiến hành khảo sát thực nghiệm theo phương pháp
tích cực, bản thân tôi thấy kết quả đạt được vẫn chưa cao.
Đối với việc tổ chức Dạy - Học ở lớp 6B - khi chưa vận dụng triệt để phương
pháp tích cực theo chuyên đề đổi mới (thay SGK THCS) và các bước tiến hành
như đã trình bầy trên đây chúng ta thấy: Số bài khá, giỏi chiểm tỉ lệ vẫn còn thấp.
Số bài điểm yếu, kém vẫn chiếm tỉ lệ lệ cao.
Rõ ràng nếu không có sự nghiên cứu, đầu tư các cách dạy học, ôn luyện cho
HS thì hiệu quả thực hành viết đoạn văn trong văn bản của các em là rất thấp. Nếu
15


không tổ chức các buổi ôn tập một cách bài bản, khoa học đúng theo phương pháp
đổi mới thì sẽ không tạo cho các em sự hứng thú, say mê, tích cực trong giờ làm
văn.
Ngược lại khi đã vận dụng triệt để các bước dạy học Tập làm văn (như đã thực
hiện ở lớp 6A và 6B) thì học sinh hoàn toàn chủ động tìm hiểu, chiếm lĩnh kiến
thức và vận dụng các kĩ năng làm văn vào quá trình xây dựng đoạn văn - tạo lập
văn bản. Và tất yếu HS sẽ thích học phân môn Tập làm văn. Hiệu quả dạy học sẽ
cao hơn.
Qua đây, chúng ta thấy: Thời lượng giành cho luyện tập viết đoạn văn trong
tiết dạy chính khoá là quá ít. Vì vậy, học sinh chưa được rèn luyện nhiều để viết
đoạn, tạo lập văn bản.
Điều cốt lõi là làm sao đó trên mỗi trang giáo án, mỗi tiết dạy học thực hành,
rèn kĩ năng làm văn cho học sinh đều thể hiện tính nghiêm túc của người dạy và
những nét tình cảm nghề nghiệp, tình yêu con trẻ, những dấu ấn cảm xúc cá nhân
trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, soạn giảng.
Qua tiết học, ta nắm được ưu thế của học sinh và phát huy được những khả
năng làm văn của các em. Từ đó, học sinh có dịp để uốn nắn điều chỉnh, hạn chế
những lệch lạc trong nhận thức, đời sống tư tưởng, tình cảm của của các em.
Hạn chế nữa là trong chương trình SGK Ngữ Văn THCS học sinh không được
học các nội dung trình bày trong đoạn văn theo các đặc điểm, cấu trúc diễn dịch,
qui nạp, song hành, móc xích. Do đó, khi xây dựng đoạn văn, học sinh rất lúng
túng trong việc đặt vị trí câu chủ đề trong đoạn.
Hơn nữa, trong quá trình luyện viết các đoạn văn, học sinh còn lúng túng
trong việc tìm hiểu đề, xác định ý, xây dựng câu chủ đề, dùng từ ngữ không trong
sáng, thiếu trau chuốt, từ ngữ không có tính lôgic.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ :
3.1. Kết luận:
Để thực hiện được các bước dạy học như trên, đòi hỏi sự nhạy cảm của thầy
trước yêu cầu thực hành, trước những thao tác và kĩ năng thực hành của học sinh.
16


Yêu cầu giáo viên dày công luyện tập cho các em, kiên trì trong việc đánh giá kết
quả, không nên nóng vội, có tinh thần trách nhiệm cao. Tuỳ từng đối tượng ở các
khối lớp, tuỳ từng vùng để có phương pháp vận dụng đúng đắn. Với phương châm
là người truyền đạt kiến thức và chủ thể tiếp nhận kiến thức và mục đích cuối
cùng là viết được các đoạn văn sáng tạo với đầy đủ các kĩ năng mà các em tiếp thu
được.
Mọi sự chuẩn bị chu đáo, kỹ càng của người dạy sẽ mang lại những hiểu biết,
những thao tác thuần thục, nhẹ nhàng và tự tin trong các em học sinh thân yêu!
Vì vậy, chúng ta cần quan tâm hơn nữa để phát huy “Những tài năng sẵn có
còn tiềm ẩn trong mỗi cá nhân học sinh”, giúp các em hoàn thiện hơn trong nhân
cách người học, phát huy vốn tri thức của nhân loại làm giàu cho quê hương đất
nước trong thời kỳ hội nhập, đổi mới và phát triển.
3.2. Kiến nghị:
Đối với Phòng giáo dục và đào tạo:
Hàng năm nên tổ chức các lớp chuyên đề đổi mới về phương pháp dạy, đặc biệt
là chuyên đề về phân môn Tập làm văn.
Trên đây là kinh nghiệm: “ Phương pháp rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn
cho học sinh lớp 6 bậc THCS”, rất mong được sự đóng góp ý kiến của bạn bè
đồng nghiệp để bản thân được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị

Thọ Xuân, ngày 20 tháng 5 năm 2017
Tôi xin cam đoan Sáng kiến kinh nghiệm trên là
do bản thân tôi làm, không sao chép nội dung
của người khác. Có gì tôi xin chịu hoàn toàn
trách nhiệm.
Người thực hiện

Hà Sỹ Sơn

17


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phan Trọng Luận – Phương pháp dạy học Văn – NXBGD,1995.
2. Lê Xuân Soan – Giảng dạy TLV ở trường THCS – NXB Đại học Quốc gia –
Thành phố Hồ Chí Minh, 2006.
3. Đỗ Ngọc Thông, Phan Minh Diệu – Văn miêu tả trong nhà trường phổ thông –
NXBGD, năm 2003.
4. Tài liệu thay SGK Ngữ văn THCS (Bộ GD&ĐT).

18


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH
GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP
CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: HÀ SỸ SƠN
Chức vụ và đơn vị công tác: Hiệu trưởng- Trường THCS Xuân Vinh- Thọ XuânThanh Hóa

TT
1.

Tên đề tài SKKN
Một số kinh nghiệm xây dựng
trường THCS đạt chuẩn Quốc

Cấp đánh
giá xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)
Phòng
GD&ĐT

Kết quả
đánh giá
Năm học đánh
xếp loại
giá xếp loại
(A, B,
hoặc C)
A

2013-2014

gia

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×