Tải bản đầy đủ

Một số kinh nghiệm dạy tiết luyện nói thuyết minh một thứ đồ dùng

A. MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Môn Ngữ Văn là môn học có vị thế quan trọng trong chương trình phổ thông
bởi môn học góp phần rèn luyện, bồi dưỡng, xây dựng nhân cách tốt đẹp cho các
em, định hướng cho các em những tình cảm trong sáng đẹp đẽ nhất giúp các em
luôn hướng đến lối sống đẹp có ích cho đời, biết yêu thương gia đình, yêu quê
hương, tự hào vẻ đẹp truyền thống của đất nước, góp phần hoàn thiện nhân cách
các em. Để làm được điều này thì một phần nhờ những tiết dạy chương trình địa
phương trong môn Ngữ Văn.
Văn học địa phương có vị trí và vai trò quan trọng đối với việc hình thành
nhân cách và phát triển năng lực của người học ở các địa phương khác nhau.Qua
chương trình địa phương, học sinh được bổ sung vốn hiểu biết về Ngữ văn và Văn
hóa địa phương, từ đó sẽ góp phần quan trọng trong việc bồi dưỡng, giáo dục học
sinh tình cảm yêu thương, tự hào về quê hương xứ sở của mình; giáo dục cho các
em tinh thần trách nhiệm và thái độ hòa nhập tích cực, chủ động với địa phương,
với quê hương ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Đồng thời giáo dục ý thức
tìm hiểu, giữ gìn, phát huy truyền thống văn học, văn hóa cũng như tinh thần, ý
thức và hành động giữ gìn và bảo vệ truyền thống văn hóa nơi các em học sinh
đang sinh sống
Nhưng trong thực tế dạy - học chương trình Ngữ văn từ trước đến nay, vẫn
còn gặp rất nhiều khó khăn, từ nội dung đến cách thức tiến hành, trong đó khó khăn

lớn nhất là nội dung dạy - học. Tài liệu phục vụ công tác dạy và học chưa phong
phú. Học sinh không có điều kiện để sưu tầm tài liệu phục vụ cho tiết học của
mình. Phần kiểm tra đánh giá còn nhẹ nên một phần nhỏ giáo viên có tư tưởng
xem nhẹ các tiết dạy chương trình địa phương
Mặt khác trong quá trình giảng dạy giáo viên cũng đã nỗ lực cố gắng kết
hợp các phương pháp giảng dạy và kĩ thuật dạy học tích cực vào bài giảng nhưng
bên cạnh một số kết quả đã đạt được thì tiết học vẫn còn nhiều hạn chế, chưa phát
huy được hết tính tích cực và khơi dậy được hứng thú học tập của học sinh. Điều
này ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng của dạy và học, ảnh hưởng tới nhận thức
hiểu biết và tinh thần, lòng tự hào của các em về truyền thống, về lịch sử, về phong
tục tập quán, những thói quen, đặc điểm ngôn ngữ…..
Để đảm bảo cho việc nắm bắt những kiến thức về Văn học địa phương, khơi
dậy niềm hứng thú với môn học, bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước, đặc biệt
là có sự hiểu biết sâu sắc hơn về quê hương Yên Định nơi các em sinh ra và lớn lên,
vì vậy bằng kinh nghiệm của bản thân tôi xin được trình bày sáng kiến “Tổ chức
hoạt động ngoại khóa nhằm nâng cao chất lượng dạy học chương trình Ngữ văn địa
phương”. Sáng kiến kinh nghiệm đã được thực hiện ở trường THCS Lê Đình Kiên
trong năm học 2016 – 2017 với sự hỗ trợ của các đồng nghiệp. Mong rằng bằng
một vài kinh nghiệm của mình sẽ góp phần nhỏ vào việc giảng dạy
chương trình địa phương Ngữ văn ở trường THCS .
1


II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Nhằm giúp giáo viên và học sinh THCS có tài liệu tham khảo để hỗ trợ quá trình
tiếp nhận và bổ sung kiến thức về chương trình địa phương Ngữ văn.
- Khơi gợi cho các em niềm hứng thú, say mê với môn Văn nói chung và chương
trình Ngữ văn địa phương nói riêng
- Rèn luyện cho học sinh những kĩ năng: làm việc nhóm, kĩ năng làm việc độc lập,
kĩ năng thuyết trình, kĩ năng sống ….
- Giúp học sinh biết vận dụng kĩ năng làm bài văn thuyết minh để giới thiệu về một
di tích hoặc thắng cảnh của quê hương Yên Định nói riêng và quê hương Thanh
Hóa nói chung.
- Bổ sung kiến thức đang học cho học sinh, thay đổi hình thức học tập nhằm phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
- Bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu quý, tự hào, giữ gìn và bảo vệ các giá trị văn
hóa của quê hương.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
-Hoạt động ngoại khóa; các trò chơi dân gian; giới thiệu tục ngữ, ca dao – dân ca
Thanh Hóa; viết bài giới thiệu về một di tích lịch sử văn hóa hoặc danh lam thắng

cảnh Thanh Hóa; tìm hiểu tác giả, tác phẩm văn học ở Thanh Hóa và viết về Thanh
Hóa sau năm 1975 và một số nội dung ở các phần đọc thêm cũng như những nội
dung kiến thức bổ sung thêm về quê hương Yên Định, Thanh Hóa …..để trình bày
trong sáng kiến này.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phân tích và tổng hợp
- Thống kê
- Sưu tầm tư liệu
- Trò chơi
- Và các phương pháp khác.

2


B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN .
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII xác định mục tiêu việc đổi mới phương
pháp giáo dục đào tạo: “ Khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp
tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến vào
quá trình dạy- học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học”. Nghị quyết của Đảng
cũng đã khẳng định: “Sự nghiệp Cách mạng luôn đổi mới vì thế công tác giáo dục
cũng phải đổi mới”. Chính vì vậy bản thân chúng ta cũng phải đổi mới chương
trình cũng như phương pháp dạy học để tiết học phong phú, hấp dẫn hơn.
Đối với dạy văn học địa phương việc cung cấp cho học sinh tri thức, kĩ
năng, kĩ xảo đầy đủ về các đối tượng học tập là một vấn đề hết sức quan trọng.
Trong quá trình dạy học, giáo viên cần vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy
học nhất là các phương pháp mang tính hiện đại đổi mới như ứng dụng công nghệ
thông tin vào mỗi nội dung, mỗi bài học cụ thể một cách hợp lí, sáng tạo và có hiệu
quả cao.
Để phục vụ tốt công tác giảng dạy Văn học địa phương thì hoạt động bổ trợ
có hiệu quả đó là hoạt động ngoại khóa. Hoạt động ngoại khoá Văn học theo quan
niệm đổi mới phương pháp dạy học là một hình thức tự học tích cực bổ ích và có
hiệu quả nối liền bục giảng với thực tiễn đời sống; phát huy tính tích cực chủ động
sáng tạo của người học, kiểm tra lại chất lượng dạy học trong giờ chính khoá. Hoạt
động ngoại khoá Văn học vì thế vừa là hoạt động giáo dục vừa là hoạt động thẩm
mỹ "góp phần tạo ra lối sống văn hoá và khả năng hưởng thụ văn hoá nghệ thuật
cho học sinh. Qua hoạt động ngoại khoá Văn học học sinh được phát triển cân đối
về trí tuệ đạo đức thể dục và mĩ dục" (Phan Trọng luận Phương pháp dạy văn Nxb
Đại học Quốc gia 1996 Tr. 381).
Việc Bộ giáo dục đào tạo tiếp tục khuyến khích đổi mới phương pháp dạy
học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường đã tạo tiền đề cho
những đổi mới sáng tạo trong công tác dạy và học, đặc biệt là hoạt động ngoại
khóa.
II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM
Mục tiêu giáo dục không chỉ nhằm cung cấp cho học sinh những tri thức
khoa học một cách có hệ thống mà còn phải hướng tới việc phát triển những năng
lực cần thiết của người lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển của giai đoạn mới.
Việc dạy và học Ngữ văn hiện nay trong trường có rất nhiều những thuận lợi nhưng
cũng gặp không ít khó khăn so với trước. Trường tôi trong những năm qua đã có
nhiều đổi mới dạy và học. Các em học sinh có ý thức học tập tốt nhưng vẫn còn
những khó khăn. Một trong những khó khăn lớn nhất là một bộ phận không nhỏ
học sinh thiếu mặn mà với môn học Ngữ văn, đặc biệt là việc phải sưu tầm tư liệu
về chương trình địa phương. Hiện nay các em rất thờ ơ trước việc học văn, sợ phải
đứng lên trình bày trước lớp, sợ phải học thuộc lòng, lười đọc, không say mê,
3


không hứng thú với môn học mà chỉ chú trọng những môn học mang tính chất thời
đại. Về nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó có rất nhiều:
Về phía học sinh: Lười học,chán học, sợ học lý thuyết, ỷ lại vào gia đình,quá
mải mê vào trò chơi điện tử và những trò chơi hiện đại khác, lười giơ tay phát biểu
nên giờ học Ngữ văn nói chung thiếu sôi nổi, học sinh thụ động trong tiếp thu bài.
Về phía giáo viên: Đa số giáo viên có tình yêu nghề, mến trẻ, tận tụy với
công tác giảng dạy, chăm lo, quan tâm đến học sinh. Bên cạnh đó, nhiều giáo viên
chưa khơi gợi hứng thú, tình yêu đối với môn văn cho học sinh.Trong khi đó muốn
thu hút các em, khuyến khích các em tích cực tham gia vào các hoạt động của tiết
học thì giáo viên cần kết hợp linh hoạt các khâu, tạo môi trường hứng thú cho học
sinh trong các tiết học để các em được chủ động tiếp thu kiến thức, tích cực tham
gia vào các hoạt động trong tiết học do giáo viên đưa ra đồng thời rèn luyện cho
các em sự tự tin khi đứng trước một tập thể lớp nói riêng và ra ngoài xã hôi nói
chung để khi các em ra ngoài đời sẽ được mạnh dạn hơn khi giao tiếp, tự tin hơn
vào những kĩ năng, kiến thức học được.
Tổ chức hoạt động ngoại khoá Ngữ văn địa phương là một công việc vừa có
ý nghĩa thực tiễn vừa có ý nghĩa khoa học. Tuy nhiên để tổ chức tốt hoạt động này
cần phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về khâu tổ chức và nghiên cứu kĩ về chương
trình. Căn cứ vào tình hình thực tế ở nhà trường tôi xin đề xuất một số hình thức tổ
chức hoạt động ngoại khóa cho các khối lớp trong toàn trường nhằm nâng cao
chất lượng giảng dạy, khơi gợi lòng say mê, yêu thích môn học, tạo hứng thú học
tập. Trong năm học qua tôi đã mạnh dạn xây dựng sáng kiến “Tổ chức hoạt động
ngoại khóa nhằm nâng cao chất lượng dạy học chương trình Ngữ văn địa phương”
nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy Ngữ văn trong trường THCS và đặc biệt góp
phần tạo cho học sinh môi trường học tập thoải mái, hứng thú, kích thích sự sáng
tạo của học sinh, tạo sự hứng thú cho người tổ chức, xây dựng chương trình, đồng
thời khích lệ tinh thần, sự tìm tòi, hiểu biết về văn học, văn hóa địa phương, kích
thích khả năng tự làm việc, khả năng hợp tác nhóm, kỹ năng thu thập thông tin, xử
lý tài liệu, kỹ năng trình bày thuyết phục mọi người.
III. CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
Xuất phát từ những nhận thức trên, tôi đã xây dựng chương trình và chịu
trách nhiệm chính phân công công việc kết hợp với các đồng chí trong trường đã tổ
chức thành công chương trình “Hoạt động ngoại khóa về Ngữ văn địa phương” cho
học sinh toàn trường vào dịp kỉ niệm Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
26/3/2017.
Chúng tôi xin được trao đổi cùng các bạn đồng nghiệp toàn bộ công tác tổ
chức hoạt động ngoại khoá này như sau:
1. Công tác chuẩn bị:
1.1. Về nội dung:
4


Chương trình Ngữ văn ở 4 khối lớp có nhiều nội dung. Tuy nhiên, khi lựa
chọn tiến hành hoạt động ngoại khoá phải chú ý đến sự hài hòa trong chương trình
của cả 4 khối lớp để đảm bảo các em đều được tham gia, nắm bắt, củng cố kiến
thức mình được học. Đồng thời tạo không khí vui nhộn, thoải mái sôi nổi cho buổi
hoạt động. Trên cơ sở đó, nội dung của một buổi hoạt động ngoại khoá Ngữ văn địa
phương chúng tôi xây dựng gồm có 5 phần cơ bản, được sắp xếp theo trình tự như
sau:
Phần 1: Văn nghệ chào mừng
Phần 2: Kể tên đất và người quê hương Yên Định, Thanh Hóa qua tục ngữ, ca dao.
Phần 3: Giới thiệu một danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử ở địa phương Thanh
Hóa.
Phần 4: Phần thi năng khiếu: kể chuyện dân gian, ngâm một bài thơ hiện đại trong
chương trình văn học địa phương.
Phần 5: Trò chơi dân gian: Kéo co
Xen kẽ giữa các phần thi là những câu hỏi dành cho khán giả.
a. Phần 1: Văn nghệ.
Mở đầu chương trình ngoại khóa là phần văn nghệ chào mừng. Cần phải
chọn lựa và định hướng các tiết mục văn nghệ đảm bảo được tính giáo dục về văn
hóa địa phương, đồng thời phù hợp, gần gũi với lứa tuổi học sinh để ấn tượng cho
quá trình tiếp nhận thưởng thức.
Mỗi đội chọn một tiết mục hát múa. Học sinh sẽ chuẩn bị các tiết mục văn
nghệ trước một tuần. Các đồng chí giáo viên chủ nhiệm sẽ kiểm tra đôn đốc nhắc
nhở công tác tập luyện của các em, đồng thời có sự hướng dẫn của cô tổng phụ
trách Đội.
- Đội 1: Tiết mục văn nghệ hát múa: Đi cấy
- Đôi 2: Tiết mục văn nghệ hát múa: Bài hát Đường về Thanh Hóa
b. Phần 2: Kể tên đất và người quê hương Yên Định, Thanh Hóa qua tục ngữ,
ca dao.
Trong chương trình Ngữ văn địa phương học sinh đã được tiếp cận với các
bài ca dao, dân ca, tục ngữ xứ Thanh, các em cũng đã biết được những danh nhân,
những vùng đất tiêu biểu, các danh thắng, lịch sử cho nên với phần thi này một lần
nữa củng cố mở rộng để các em có thêm những hiểu biết về con người quê hương
Thanh Hóa nói chung và quê hương Yên Định nói riêng.
Ở phần thi này gồm có 10 câu hỏi dành cho cả hai đội:
5


Câu 1: Kể tên những địa danh cụ thể qua bài ca dao sau:
Ai về nhớ vải Định Hòa
Nhớ cau Hổ Bái, nhớ cà Đan Nê
Nhớ dừa Quảng Hán, Lựu khê
Nhớ cơm chợ Bản, thịt dê Quán Lào
Câu 2: Vùng quê nào của Thanh Hóa được nhắc đến trong câu ca dao sau:
Cơm nếp Hà Trung
Cháo gà núi Ngự
Câu 3 : Địa danh nào được nhắc đến ở đây.
Muốn ăn cơm trắng cá phèn
Thì về Tiến Lộc đi rèn cùng anh
Câu 4 : Vùng đất nào được nói đến ở đây.
Đồn rằng Kẻ Trọng lắm cau
Kẻ Cát lắm mía, Kẻ Mau lắm tiền
Câu 5 Kể tên những vùng đất sau :
Nhất cao là núi Đan Nê
Nhất đông chợ Bản, nhất vui chợ Chùa.
Câu 6: Nhân vật nào được nhắc đến trong bài ca dao sau:
Ru con con ngủ cho lành
Để mẹ múc nước rửa bành con voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu tướng cưỡi voi, đánh cồng
Câu 7 : Câu ca dao này gợi cho em nhớ đến sự kiện nào trong lịch sử
Cao nhất là núi Lam Sơn
Có ông Lê Lợi trong ngàn bước ra”
Câu 8 : Nhân vật dân gian nào được nhắc đến ở đây.
Trạng chết, chúa cũng băng hà
Dưa gang đỏ đít, thì cà đỏ trôn
Câu 9 : Nhân vật dân gian nào được nhắc đến
Văn như Phương Hoa
Câu 10 : Danh nhân nào được ca ngợi trong câu sau :
Tể tướng Vãn Hà thiên hạ âu ca.
c. Phần 3: Giới thiệu một danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử ở địa phương
Thanh Hóa.
Trọng tâm của phần thi này sẽ giao cho học sinh khối 8 sưu tầm, ghi chép,
tổng hợp, bởi vì phần thi này phù hợp với chương trình Ngữ văn địa phương các
em đang học
6


Mục đích của phần thi này: Giúp các em vận dụng kĩ năng làm bài thuyết
minh, tự giác tìm hiểu những di tích, thắng cảnh ở quê hương mình, giúp học sinh
hiểu biết sâu rộng hơn địa phương mình về các mặt đời sống vật chất và văn hoá
tinh thần, truyền thống và hiện nay.Trên cơ sở đó bồi dưỡng tình yêu quê hương,
giữ gìn và phát huy bản sắc và tinh hoa của địa phương mình trong sự giao lưu với
địa phương khác.
Thời gian để học sinh chuẩn bị ít nhất là hai tuần đối với học sinh lớp 8, giáo
viên có thể giao nhiệm vụ cho nhóm hoặc tổ. Giáo viên phải kiểm tra sự chuẩn bị
của học sinh theo từng giai đoạn để từ đó nhắc nhở, đôn đốc các em thực hiện
nhiệm vụ và điều chỉnh những sai sót để tránh tình trạng mất thời gian tìm hiểu
lượng kiến thức thu được không đúng với yêu cầu bài học. Mặt khác giáo viên phải
cho cá nhân, nhóm, tổ thi đua với nhau để các em hăng hái, nhiệt tình thực hiện
nhiệm vụ. Trước khi tiến hành tiết học giáo viên kiểm tra việc chuẩn bị ở nhà của
học sinh để xếp loại và tuyên dương những cá nhân, nhóm, tổ thực hiện tốt nhiệm
vụ và phê bình những cá nhân, nhóm, tổ thực hiện chưa tốt. Bản thân mỗi học sinh
phải có sổ tay riêng để ghi chép được những tư liệu cần phải sưu tầm. Học sinh
thực hiện dự án: thu thập thông tin, xử lí thông tin, trao đổi với các thành viên khác,
xin ý kiến của giáo viên.Tổ trưởng sẽ thường xuyên kiểm tra, báo cáo về tiến trình
thực hiện của các bạn học sinh trong tổ mình để giáo viên có biện pháp giải quyết,
đôn đốc các nhóm thực hiện đúng tiến độ. Giáo viên bổ sung thêm tư liệu hoàn
chỉnh cho các em.
Yêu cầu lớp lập thành 4 nhóm biên tập (mỗi tổ 1 nhóm, tổ trưởng làm nhóm
trưởng), tổng hợp kết quả sưu tầm, sau đó viết bài văn giới thiệu về di tích, thắng
cảnh ở địa phương .
- Nhóm 1,2: giới thiệu về đền thờ Thái bảo Đại vương Lê Đình Kiên .
- Nhóm 3,4: giới thiệu về đền thờ bà Ngô Thị Ngọc Giao.
Sở dĩ tôi chọn hai di tích lịch sử này vì các di tích lịch sử mang tính giáo dục
cao, đều nằm trên địa bàn trên quê hương Yên Định, không quá xa trường để thuận
tiện cho quá trình thu thập tư liệu của các em.
Sau đó giáo viên sẽ chọn 4 bài tiêu biểu nhất của 4 nhóm, đưa ra tổ để thống
nhất, góp ý hoàn thiện và tham gia vào hoạt động ngoại khóa về chương trình địa
phương của nhà trường.
Sau đây là bài giới thiệu về hai di tích lịch sử của các tổ nhóm:
* Về di tích lịch sử đền thờ Thái bảo Đại vương Lê Đình Kiên.
Đền thờ Lê Đình Kiên tọa lạc ở thôn Thiết Đinh – xã Định Tường – Yên
Định, cách trung tâm thị trấn Quán Lào - huyện Yên Định 2 km về phía tây nam,
đền thờ tưởng nhớ Thái bảo Đại vương Lê Đình Kiên. Đại vương Lê Đình Kiên
người Bái Trại (nay là Thiết Đinh) xã Định Tường - huyện Yên Định. Ông sinh
7


ngày 20 tháng 09 năm Tân Dậu (3/11/1621) đời vua Lê Thần Tôn, mất ngày 12/2
năm Giáp Thân (17/3/1704) tại phố Hiến (thọ 84 tuổi) khi cải táng đưa về Mã
Thông quê nhà. Ông thuộc đời thứ 9 dòng họ Lê, ông sinh ra trong một gia đình nề
nếp,gia giáo. Cha là Lê Huệ Hiếu được phong là Đặc Tiến Phụ quốc Thượng tướng
quân (vị tướng cao nhất có công giữ nước). Mẹ là Đặng Thị Thục.
Tuy ông thuộc dòng một cự tộc, một dòng họ tôn quý nhưng cha mất sớm. Vì
vậy ông sống với mẹ một thời gian thì được một ông quan tả tướng Hờn ở Tĩnh Gia
nhận về nuôi, rồi tiến cử vào cung.
Năm Giáp Thìn 1664 ông vâng lệnh triều đình ra Trấn Thủ trấn Sơn Nam.
Công lao lớn nhất của ông là dẹp yên quân Tàu Ô và mở mang phố Hiến, ông được
phong đặc tiến phụ Thượng Tướng quân, trung quân Đô đốc Phủ, Hứa đô đốc thiếu
bản, Tước quận công hàm Thái Bảo. Sau khi chết được tặng Dực báo Trung Hưng
ĐạiVương.
Lê Đình Kiên không những có tài về cai trị mà con giỏi về làm thương
nghiệp, ngoại giao. Suốt 40 năm ông ở trấn Sơn Nam (từ 1664- 1704), dân sống
yên vui, no đủ.
Đền thờ ông Lê Đình Kiên ở Định Tường – Yên Định là một công trình
kiến trúc thế kỷ XVII, được cấu trúc theo lối chữ nhị (=) gồm tiền đường và hậu
cung. Nhà Tiền đường gồm 5 gian, 6 vì kèo được kết cấu theo kiểu “chồng rường,
kẻ bẩy”. Nhà hậu cung 3 gian với 4 vì kèo gỗ. Rồng là đề tài quen thuộc ở đền thờ
Lê Đình Kiên dù các đồ án chạm trổ ở đây có vạm vỡ khỏe mạnh hơn các đình
khác, nhưng vẫn nằm trong các khuôn mẫu có sẵn. Tuy nhiên, khi chạm hoa sen,
chim, phượng, long hóa, trúc hóa, sóc leo cây, cò, cua quấn quýt trong một bức
chạm ta mới thấy hết tài năng của người thợ. Bên cạnh đó thì các đồ thờ ở đây lại
khá phong phú và đặc biệt có giá trị. Đó là hai pho tượng phỗng bằng đá, tạo tác
trên những đá nguyên khối được diễn tả sinh động và hài hòa có giá trị trong việc
nghiên cứu về lịch sử, mỹ thuật. Lư hương đá 3 tầng, lư hương bằng đất nung, bàn
thờ cổ... tất cả như góp phần tôn thêm giá trị của ngôi đền. Bốn cột treo 4 vế đối
trên các tấm ván, nội dung ca ngợi công đức của Đại Vương. (Việc cai trị công
bằng liêm chính từ xưa, công tích đẹp đẽ đã ghi vào sử sách. Đức lớn cho dân được
nhờ cậy, người Trung Quốc và Việt Nam khắc tên sáng vào bia đá).
Cổng gồm một gian rộng, có mái có tường. Hai bên chếch về phía ngoài có
hai cột trụ cao, trên đầu mỗi cột có một con nghê. Hai cánh gà có hai con voi. Hai
bức tường đốc ở phía trong có hai ông Hộ pháp cao to bằng người lớn đứng cầm
gươm vừa như canh giữ, vừa như mời chào quý khách đến viếng Đại vương. Bức
ngang phía trên cửa cổng đắp hai con rồng chầu mặt nguyệt có ba ngọn lửa. Dọc
hai bên cửa có đôi câu đối bằng chữ Hán viết bằng chữ màu vàng trong ô tròn màu
trắng
nổi
lên
trên
nền
đỏ
thắm.
Từ năm 1993 đền thờ Thái Bảo Đại Vương Lê Đình Kiên được ra quyết định
công nhận là di tích lịch sử. Đến năm 1994 được Bộ Văn hóa Thông tin cấp bằng
8


Công nhận di tích lịch sử văn hóa. Diện tích đền thờ đã quy hoạch gồm đất thổ cư
và ao và đã được Nhà nước hai lần trùng tu.
Đền thờ không chỉ có giá trị về kiến trúc, lịch sử mà còn là niềm tự hào của
nhân dân Yên Định.
* Đền thờ bà Ngô Thị Ngọc Giao
Đền thờ Thánh mẫu Quang thục thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, còn có tên
Thừa hoa điện. Thái hậu là con gái Dụ Vương Ngô Từ, đứng hàng 17 trong 19 người
con của Dụ Vương. Sinh ra trong một gia đình vương hầu khanh tướng, thừa hưởng
một nền giáo dục gia giáo theo khuôn vàng thước ngọc của Đạo Khổng - Tử, nên
lớn lên trở thành một cô gái nết na hiền dịu, khuôn mẫu của người con gái Việt
Nam: Công - Dung- Ngôn -Hạnh. Theo chị về kinh thành Thăng long, Ngô Thị
Ngọc Dao người con gái nết na thuỳ mị, xinh đẹp được đưa vào Điện Khánh
Phương làm Tiệp dư và trở thành mẫu hậu vua Lê Thánh Tông.
Toàn bộ ngôi Đền gồm 3 cung xây dựng theo kiến trúc cổ phương đông. Với
những mái cong trạm khắc hình rồng. Đó là một công trình kiến trúc cổ kính, hoành
tráng, độc nhất vô nhị, trong một không gian "Nội công ngoại quốc".
Đền Thánh mẫu còn có tên là Phủ Nhì, toạ lạc trên khu đất chừng 5 mẫu.
Phía Tây (Tây Nam) nằm liền kề với dòng sông Cầu Chày (còn có tên gọi Lường
giang hoặc Chùy Giang thuỷ) bờ tả ngạn, qua khu Điện thị (chợ Đền- hay chợ Nhì)
rộng khoảng 5 sào Trung bộ. Bao quanh khu Đền là ruộng lộc điền vua ban, cây cối
râm mát che phủ và hoa màu tươi tốt quanh năm.
Phía Bắc là núi Si, phía Nam là núi Cẩu sơn (Núi Nội), phía Đông là Núi
Nhì ( còn gọi là Núi Quan Yên). Với thế Tam Sơn như voi nằm, Hổ phục chầu về
đồng Phang tức Động Bàng - Định Hoà bây giờ.
Như vậy tạo thế chân vạc, Đồng phang vững bền như bàn thạch. Khu Đền
mẫu và Phúc Quang Từ Đường nằm giữa 2 làng Nhất - Nhì (Thung Thượng, Thung
Thôn). Phía nam, giáp Thung Thôn làng Ngõ Phủ, giáp với Phủ nhà Lê hướng
đông nam. Nhìn hướng Tây nam, chưa đầy 100m là đình làng Thung thôn.Phía Bắc
giáp Thung thượng liền kề là Ngõ Đền chạy hướng Đông - Tây theo đường chim
bay chừng 100m, hướng Tây bắc là đình làng Thung thượng nằm sát bờ sông Cầu
chày và phía trong một chút là chùa Thiên phúc nằm cạnh hón nước mạn bờ bắc
thuộc địa Phu liễn là đền thờ công chúa Ngọc Phương
Quần thể di tích văn hoá Đồng Phang (Định Hoà) mà trung tâm là Đền thờ
Thánh Mẫu Ngô thị Ngọc Dao, theo lối kiến trúc phương Đông và mang đậm dấu
ấn văn hoá thời Lê, thời phong kiến Việt Nam hưng thịnh. Quần thể di tích này là
một trong những địa danh được tôn kính và ngưỡng mộ, chỉ đứng sau Lam Kinh
một bậc trên đất xứ Thanh. Thời xưa ai đi qua đất này điều phải xuống ngựa ( bất
kể quan hay dân) từ "Thượng Đắc trí đến hạ Bái Càn " điều phải xuống đi bộ dắt
ngựa
Theo gia phả dòng họ Ngô xã Định Hòa, sau khi lên làm vua, Lê Thánh Tông
cho xây Thuận Mậu đường tại xã Định Hòa để làm nơi nghỉ dưỡng mỗi khi mẫu
9


hậu về thăm quê. Sau đó, nhà vua lại đổi tên nơi đây thành Điện Thừa Hoa để đền
ơn trả nghĩa sinh thành và tôn vinh công lao đức hạnh của bà. Sau này, Điện Thừa
Hoa đổi tên thành Đền thờ Thánh Mẫu. Sau gần 600 năm tồn tại, trải qua biết bao
biến cố thăng trầm của thời gian, Điện Thừa Hoa đã bị phá hủy, mất mát đi rất
nhiều tài liệu, hiện vật quý. Việc trùng tu tôn tạo lại điện ngày nay trên nền móng
cũ tuy không được bề thế, khang trang như trước nhưng những gì còn lại đã phản
ánh phần nào diện mạo xưa của nó vốn đã có. Lễ hội nơi đây còn được gọi là lễ hội
Phủ Nhì, xưa là Quốc lễ vì được vua đặc ân ban kinh phí từ lộc điền và tiến lễ hàng
năm. Chính lễ diễn ra vào 26/3 Âm lịch. Một trong những phần hấp dẫn và độc đáo
trong lễ hội là nghi lễ rước bóng Quang Thục Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao
từ ngoài đồng về Điện Thừa Hoa. Điều đặc biệt nghi lễ này chỉ có riêng con gái
mới được tế lễ trong ngày này. Những người tế lễ phải là những người con gái còn
trinh tiết, đức hạnh mới được chọn khiêng kiệu rước bóng của bà.
d. Phần 4: Thi kể chuyện, ngâm thơ về các tác phẩm văn học địa phương.
Trong phần thi này mỗi đội chọn và tham gia một tiết mục thi. Mục đích của
phần thi này giúp các em khắc sâu hơn nội dung các tác phẩm. Đồng thời rèn luyện
kĩ năng trình bày thuyết phục trước đám đông.
Đội 1: Kể chuyện dân gian Thanh Hóa: Ba truyền thuyết về Lê Lợi
Đội 2: Ngâm thơ bài thơ “ Dô tả dô tà” (Mạnh Lê)
Hỗ trợ cho hai phần thi của hai đội là sự kết hợp trình chiếu những hình ảnh
liên quan về khu di tích Lam Kinh, về người anh hùng Lê Lợi. Hình ảnh minh họa
cho bài thi thứ hai là những hình ảnh về tác giả, về sông Mã và con người quê
hương Thanh Hóa.
Kết hợp thêm phần dạo đàn.
e. Phần 5: Trò chơi dân gian: Kéo co
Kéo co là môn thể thao mang tính đồng đội và là môn trọng vào sức mạnh.
Kéo co không chỉ là môn thể thao rèn luyện sức khỏe, mà còn là trò chơi thể hiện
tinh thần và mang tính đồng đội cao, đem lại niềm vui, sự thoải mái cho mọi người
khi tham gia những trò chơi trong các dịp lễ hội. Trong phần thi này bên phía các
lớp mỗi lớp cử 4 đại diện tham gia thi đấu (mỗi đội 20 người), không nhất thiết
phải lấy trong số những bạn tham gia ở phần thi trước..
Trọng tài cho phần thi này là thầy giáo Trịnh Tiến Mạnh – giáo viên Thể dục
của nhà trường. Hỗ trợ giám sát phần thi là các thầy cô trong trường.
* Phần thi dành cho khán giả.
Phần thi này được kết hợp xen kẽ giữa các phần thi của hai đội. Đó là những
câu hỏi về các lễ hội, các địa danh, các câu chuyện dân gian, các tác phẩm văn học
đương đại. Phần thi này gồm 10 câu hỏi.
10


1. Lễ hội có từ thời Nhà Lý, là trò diễn mô phỏng các trận đánh của đội
tượng binh bằng tre, nứa do Tam công Trịnh Quốc Bảo chế tạo.

( Trả lời: Lễ hội Trò Chiềng xã Yên Ninh có từ thời Nhà Lý, là trò diễn mô phỏng
các trận đánh của đội tượng binh bằng tre, nứa do Tam công Trịnh Quốc Bảo chế
tạo đã đánh tan đội tượng binh thật của quân Chiêm Thành. Trò Chiềng được bắt
đầu bằng trò chọi voi và được nâng dần lên thành lễ hội với hệ thống 12 trò diễn,
trong đó có 4 phần rước gồm: rước cỗ vàng, rước cỗ gà, rước thành hoàng làng và
rước phụng hoàn. Sau một thời gian bị mai một ... Thể theo nguyện vọng của nhân
dân và được sự giúp đỡ của các cấp, ngành chức năng, năm 2007, Trò Chiềng xã
Yên Ninh đã dần được khôi phục. Cùng với trò chọi voi, các trò diễn khác như kén
rể, chọi rồng, múa tinh vương, đánh tẩu rủa…cũng đã thể hiện được những nét đặc
sắc riêng có của lễ hội) – Tham khảo nguồn Internet
2. Đây là các trò diễn dân gian mô tả cảnh năm phương đến chầu, đem những
tiết mục múa hát đặc sắc của quốc gia họ để chúc mừng hoàng đế nướcViệt

11


(Trò Xuân Phả là các trò diễn dân gian mô tả cảnh năm phương đến chầu, đem
những tiết mục múa hát đặc sắc của quốc gia họ để chúc mừng Hoàng đế nước
Việt xưa. Trò Xuân Phả được hình thành và phát triển qua hàng nghìn năm để trở
thành một tổ hợp múa dân gian đặc sắc, độc nhất vô nhị chỉ tồn tại ở làng Xuân
Phả nay thuộc xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Trò Xuân Phả
gồm có 5 điệu múa rất đặc biệt với tên gọi Hoa Lang, Tú Huần (Lục Hồn
Nhung), Ai Lao, Ngô Quốc và Xiêm Thành (Chiêm Thành). Trò Xuân Phả thường
diễn ra vào các ngày 10 từ đến 12 tháng 2 âm lịch hàng năm)- Tham khảo nguồn
Internet
3. Đây là lễ hội được diễn ra vào ngày 14,15 tháng 3 Âm lịch hàng năm ở xã
Yên Thọ- Yên Định để suy tôn vị thần có công với đất nước.

(Thần Đồng Cổ hay còn gọi là thần trống đồng, là vị thần được thờ ở đền Đồng Cổ
thuộc núi Đồng Cổ (còn gọi là núi Khả Phong), xã Yên Thọ, huyện Yên Định tỉnh
Thanh Hóa, thuộc Bộ Cửu Chân. Thần đã xin theo giúp Vua Hùng đánh giặc ở Hồ
Tôn. Khi thắng trận trở về, Vua Hùng vào đền làm lễ tạ ơn, cho đúc trống đồng và
phong cho thần là “Đồng Cổ Đại Vương".) Tham khảo nguồn Internet

12


Câu 4: Đền thờ tưởng nhớ vị tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam đỗ tiến sĩ dưới triều
nhà Đường – Trung Quốc ở xã Định Thành – Yên Định

(Đền thờ Khương Công Phụ. Ông dự thi ở Trung Quốc vào thời Đường, đỗ Tiến sĩ
và được vua Đường Đức Tông sử dụng, làm đến Gián nghị đại phu.)
Câu 5. Nhà thơ quê ở phường Đông Vệ - Thành phố Thanh Hóa, nổi tiếng với
những bài thơ Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông.

( Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh tại xã Đông Vệ, huyện Đông
Sơn (nay là phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa), tỉnh Thanh Hóa.Nguyễn Duy
làm thơ rất sớm, khi đang còn là học sinh trường cấp 3 Lam Sơn, Thanh Hóa.
Năm 1973, ông đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ với chùm thơ: Hơi
ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, "Giọt nước mắt và nụ cười", Tre Việt nam trong tập Cát
trắng. Ngoài thơ, ông cũng viết tiểu thuyết, bút ký. Năm 1997 ông tuyên bố "gác
bút" để chiêm nghiệm lại bản thân rồi tập trung vào làm lịch thơ, in thơ lên các
chất liệu tranh, tre, nứa, lá, thậm chí bao tải. Từ năm 2001, ông in nhiều thơ
trên giấy dó.)
Câu 6: Ông sinh năm 1916 tại làng Đông Bích huyện Quảng Xương,
tỉnh Thanh Hóa. Cha ông là Hà Kiến Huân, người gốc Quảng Đông sang sinh
13


sống ở Việt Nam từ khoảng 1890, mẹ Đặng Thị Văn là người Việt, quê ở bến
Ghép, huyện Quảng Xương, Thanh Hóa. Ông được biết nhiều nhất qua tập
thơ Quê ngoại với một giọng thơ nhẹ nhàng, siêu thoát phảng phất hương vị
thơ cổ Trung Hoa.

( Hồ Dzếnh).
1.2. Về đối tượng:
-Về phía Giáo viên:
+ Xây dựng kịch bản và phụ trách nội dung chương trình: đồng chí Trần Thị Tâm –
giáo viên môn Văn, tổ trưởng tổ Xã hội.
+ Dẫn chương trình cho buổi hoạt động ngoại khóa: đ/c Trần Thị Tâm và một học
sinh có chất giọng phù hợp, có kiến thức về Văn học địa phương, linh hoạt ngôn
ngữ trên sân khấu: em Trịnh Thị Tố Uyên – học sinh lớp 9A
+ Hỗ trợ đôn đốc nhắc nhỏ sự chuẩn bị của học sinh, đặc biệt là các bài thuyết minh
về một di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh ở địa phương, duyệt bài, lựa chon bài
để trình bày trong buổi hoạt động ngoại khóa: đồng chí Tâm, và các đồng chí trong
nhóm Văn.
+ Phụ trách âm nhạc và trình chiếu: đồng chí Phạm Yến, đồng chí Len.
+ Thiết kế sân khấu: đồng chí Mạnh, đồng chí Huân
+ Chuẩn bị trang phục, đạo cụ cho các tiết mục văn nghệ, trò chơi: đồng chí Thảo
và các đồng chí trong chi đoàn nhà trường.
- Về phía HS: GV lựa chọn 20 học sinh, chia làm hai đội, mỗi đội gồm 5 lớp. Lấy
tên đội như sau:
Đội 1: Đội Lê Đình Kiên (gồm lớp 9A, 8A, 8B, 7A, 6A)
Đội 2: Đội Đồng Cổ ( gồm lớp 9B, 9C, 8C, 7B, 6B)
Riêng phần thi Kéo co bổ sung thêm 20 em đã được các lớp cử đại diện.
HS tham gia vào hai đội thi phải đảm bảo những yêu cầu:
14


+ HS phải có năng khiếu về môn Văn, có hiểu biết về văn học, văn hóa địa
phương Thanh Hóa nói chung và Yên Định nói riêng
+ HS phải có khả năng giao tiếp tốt, có phản ứng nhanh, có sự tích cực và
chủ động, đáp ứng nội dung buổi hoạt động ngoại khóa. Riêng ở phần thi giới thiệu
về danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử phải chọn được các em học sinh có chất
giọng tốt, có khả năng diễn đạt và biểu cảm, có sự tự tin khi trình bày trước đám
đông.
+ Các tiết mục văn nghệ: GV lựa chọn HS trong hai đội có năng khiếu phù
hợp với phần thi. Phần múa phụ họa sẽ chọn thêm các em đến từ các khối lớp.
1.3. Quá trình chuẩn bị:
a. Hình thành kịch bản chương trình:
Sau khi xác định được 5 nội dung lớn trong chương trình, GV lên kế hoạch
chi tiết thông qua kịch bản chương trình. Kịch bản được xây dựng dựa vào những
nội dung cụ thể của các phần thi, song vẫn là một kịch bản mở, bởi còn có những
tình huống, những câu hỏi mà học sinh hay khán giả đề ra.
Kịch bản xây dựng với thời lượng cho hoạt động ngoại khóa chương trình
Ngữ văn địa phương khoảng 1,5 đến 2 tiếng
Xây dựng kịch bản và dẫn chương trình: đ/c Trần Thị Tâm.
b. Kinh phí tổ chức hoạt động.
- Trang trí sân khấu, loa đài, trang phục biểu diễn, phần thưởng cho các đội thi và
khán giả lấy từ nguồn quỹ Hỗ trợ các hoạt động Đoàn Đội, dự tính hai triệu đồng.
c. Về bài trí sân khấu:
Đây là chương trình hoạt động ngoại khoá Văn học địa phương nên phông
nền sân khấu phải mang những hình ảnh đặc trưng của xứ Thanh (Trống đồng
Đông Sơn, sông Mã, đền thờ ông Lê Đình Kiên .... Trên phông chính của sân khấu
là tiêu đề của trường, tên gọi của chương trình.
Bố trí máy chiếu và màn hình máy chiếu để hạn chế ánh sáng nhưng vẫn
đảm bảo không che khuất tầm nhìn của học sinh. Trên sân khấu, thiết kế phần
phông rạp để hạn chế ánh sáng cho phần trình chiếu được rõ hơn. Phía trước (dưới
sân khấu) là nơi để máy chiếu, máy tính và các thiết bị phụ trợ.
Hai bên cánh gà dưới sân khấu là bàn ghế chỗ ngồi dự thi của hai đội. Hai
đội thi ngồi chếch nhìn lên sân khấu và màn hình.
Phía dưới sân trường là dãy bàn vị trí của Ban giám khảo, thư kí, các khách
mời và tập thể giáo viên trong trường.
15


2. Hình thức và thực tế tổ chức hoạt động ngoại khóa.
2.1 Hình thức tổ chức:
- Hoạt động được tổ chức dưới hình thức cuộc thi tìm hiểu kiến thức bổ trợ cho
chương trình Ngữ văn địa phương của hai đội đại diện đến từ các khối lớp.
- Các đội sẽ được nghe phổ biến thể lệ cuộc thi.
+ Giám khảo cuộc thi gồm có các thầy cô giáo trong Ban giám hiệu nhà trường , bí
thư Đoàn, tổng phụ trách Đội, tổ trưởng và các thầy cô giáo trong trường.
2.2 Thời gian tổ chức.
Bắt đầu tổ chức hoạt động ngoại khóa vào 7 giờ 30 phút ngày 26/3/2017 tại
trường THCS Lê Đình Kiên, kết thúc vào 9 giờ 30 phút.
2.3 Chương trình được diễn ra với những nội dung và tiến trình cụ thể như
sau
a. Mở đầu chương trình người dẫn chương trình công bố khai mạc, ý nghĩa và tiến
trình tổ chức hoạt động ngoại khoá chương trình Ngữ văn địa phương để tất cả HS
có thể chuẩn bị tâm thế tham gia vào buổi hoạt động.
b. Dẫn chương trình công bố thể lệ, nội dung các phần thi, giới thiệu Ban giám
khảo, thư kí cuộc thi, giới thiệu đội chơi và hình thức tính điểm cho mỗi phần thi.
c. Cuộc thi diễn ra như sau:
1 - Phần thi Văn nghệ đến từ hai đội. Múa hát bài dân ca Đông Anh - Đi cấy;
múa hát bài Đường về Thanh Hóa.
2- Kể tên đất và người xứ Thanh qua các câu ca dao tục ngữ.
Ở phần thi này người dẫn chương trình đọc câu hỏi, đội nào có tín hiệu
trước sẽ được trả lời. Mỗi câu trả lời đúng là 10 điểm, những câu trả lời còn thiếu
thông tin hoặc chưa thật chính xác thì Ban giám khảo quyết định số điểm.
Sau đó người dẫn chương trình nhận xét, giới thiệu thêm thông tin, kết hợp
với trình chiếu hình ảnh liên quan để các em biết được những danh nhân, những
vùng đất tiêu biểu, các danh thắng, di tích lịch sử, củng cố mở rộng để các em có
thêm những hiểu biết về con người quê hương Thanh Hóa nói chung và quê hương
Yên Định nói riêng.
Ở phần thi này gồm có 10 câu hỏi dành cho cả hai đội:
*Xen kẽ là ca khúc “Yên Định quê Thanh” đến từ giọng hát của thầy Trịnh Văn
Kiện
3 - Giới thiệu một danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử ở địa phương Thanh
Hóa. ( điểm cho mỗi tiết mục là 50 điểm)
16


- Chọn 2 bài tiêu biểu nhất, mỗi đội cử hai thành viên kết hợp trình bày bài giới
thiệu về di tích lịch sử.
- Kết hợp phần trình chiếu những tư liệu, hình ảnh liên quan đến di tích lịch sử đó.
Một lần nữa chúng ta thêm hiểu sâu sắc hơn về những danh nhân, những di
tích lịch sử và vẻ đẹp của các công trình kiến trúc trên quê hương Yên Đinh.
* Phần thi dành cho khán giả.
Phần thi này là những câu hỏi về các lễ hội, các địa danh, các câu chuyện dân
gian, các tác phẩm đương đại.
Các câu hỏi kết hợp trình chiếu hình ảnh, các đoạn phim tư liệu.
Các thầy cô trong chi đoàn nhà trường hỗ trợ để chuyển mix đến tận từng
học sinh. Khán giả trả lời đúng được nhận một phần quà.
Các câu trả lời xuất sắc của các em một lần nữa thể hiện vốn kiến thức về
văn học, văn hóa, hiểu biết về phong tục, tập quán của nhân dân địa phương.
4- Thi kể chuyện, ngâm thơ về các tác phẩm văn học địa phương ( điểm cho
mỗi tiết mục là 30 điểm)
Đội Lê Đình Kiên thể hiện phần năng khiếu kể chuyện của mình qua hai
giọng kể Huyền Trang và Vy Anh với truyện dân gian Thanh Hóa: Ba truyền
thuyết về Lê Lợi.
Đội Đồng Cổ với giọng ngâm thơ của Như Quỳnh bài thơ “Dô tả dô tà”
(Mạnh Lê)
Hỗ trợ cho hai phần thi của hai đội là sự kết hợp trình chiếu những hình ảnh
liên quan về khu di tích Lam Kinh, về người anh hùng Lê Lợi. Với bài dự thi thứ
hai là những hình ảnh về tác giả, về sông Mã và con người quê hương Thanh Hóa.
Kết hợp thêm phần dạo đàn.
* Giao lưu: Cảm nhận về vẻ đẹp của bài thơ Dô tả dô tà qua lời bình của em
Nguyễn Phương Huyền ( giải Ba môn Văn cấp Tỉnh)
5 - Trò chơi dân gian: Kéo co
Kết thúc buổi hoạt động ngoại khóa Ngữ văn địa phương là trò chơi dân gian
Kéo co. Trò chơi đem lại niềm vui, không khí vui nhộn, hào hứng cho những
người tham gia buổi hoạt động. Đội thắng trong phần thi này sẽ giành 50 điểm.
d. Tổng kết, nhận xét và phát phần thưởng cho 2 đội.
- Ban giám hiệu phát biểu ý kiến, nhận xét, tổng kết, rút kinh nghiệm cho
buổi hoạt động ngoại khóa, trao phần thưởng cho hai đội
Buổi ngoại khóa¸ kết thúc trong không khí phấn khởi, vui vẻ, ấn tượng.
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
17


Sau quá trình thực hiện sáng kiến kinh nghiệm của mình về hoạt động ngoại
khóa chương trình địa phương ở trường THCS, tình hình học Ngữ văn nói chung
các bài chương trình địa phương nói riêng ở những lớp tôi dạy đã có rất nhiều
chuyển biến và mang lại hiệu quả thiết thực: Các em không cảm thấy tiết chương
trình địa phương tẻ nhạt, nhàm chán nữa mà giờ học trở nên sôi nổi.Việc rèn kĩ
năng nói của các em hiệu quả hơn rất nhiều và đặc biệt đã phát huy được tính tích
cực, chủ động, sáng tạo, phát triển tư duy logic, năng lực của học sinh. Trong giờ
học các em tích cực tham gia đóng góp xây dựng bài nhiều hơn.
Đồng thời qua hoạt động này học sinh có cơ hội được rèn luyện các kĩ năng:
thu thập, xử lý thông tin, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng diễn đạt trước đám đông
đồng thời có những hiểu biết phong phú sâu sắc hơn với văn học, văn hóa địa
phương.
Với chương trình hoạt động này đã thổi một làn gió mới vào đổi mới trong
sinh hoạt chuyên môn tạo tiền đề cho những đổi mới hiệu quả khác.
Đây cũng là tài liệu để đồng nghiệp trong trường tham khảo về cách tổ chức,
cách xây dựng kịch bản và những nội dung liên quan để đảm bảo một buổi hoạt
động ngoại khóa đảm bảo hiệu quả.

18


C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Để buổi hoạt động ngoại khóa về chương trình Ngữ văn địa phương thành
công thì giáo viên phụ trách và các nhóm tổ được phân công phải chuẩn bị thật chu
đáo. Bản thân học sinh cũng phải có tâm thế tốt, hào hứng, chuẩn bị những phần
việc được giao.
Qua việc tổ chức hoạt động ngoại khóa tôi nhận thấy học sinh yêu thích hơn
bộ môn Văn và đặc biệt là thật sự hào hứng với các tiết học Ngữ văn địa phương.
Bản thân các em được rèn luyện nhiều kĩ năng, kỹ năng nói, kỹ năng giao tiếp
lưu loát hơn trước tập thể. Các em có những kiến thức thực tế về văn học, văn hóa
địa phương. Hình thành, bồi dưỡng cho các em niềm tự hào và sự gắn bó sâu sắc
với quê hương mình sinh ra lớn lên.
Đối với giáo viên dạy Văn, hoạt động ngoại khoá rất quan trọng và cần
thiết sẽ giúp họ nâng cao chất lượng giảng dạy. Giáo viên được bồi dưỡng thêm
vốn sống, vốn hiểu biết thực tế và giờ dạy không còn nghèo nàn, khô khan nữa.
2. Kiến nghị
Về phía nhà trường: Muốn tổ chức tốt hoạt động ngoại khoá phải có
nguồn kinh phí vững vàng để hỗ trợ cho hoạt động.
Trong thư viện nên có các tạp chí như tạp chí văn học nghệ thuật, tạp chí
văn hóa để giáo viên và học sinh tham khảo, cập nhật thông tin văn học mà có được
những tri thức về văn học địa phương.
Về phía đồng nghiệp: Trong những giờ văn học địa phương, giáo viên cần
giao việc cụ thể cho các em thực hiện, nhất là khâu chuẩn bị như thu thập, xử lý
thông tin theo hệ thống (thời gian, đề tài, chủ đề), sưu tầm, giới thiệu... Và có
những định hướng để các em tìm hiểu, khám phá và tiếp nhận văn học địa phương.
Cần có sự hỗ trợ đặc biệt là tinh thần trách nhiệm của những đồng chí được
phân công công việc.
Yên Định, ngày 10 tháng 4 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh nghiệm
của mình viết, không sao chép của bất kì ai.
Người viết
19


Trần Thị Tâm
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hướng dẫn và thiết kế dạy học Ngữ văn địa phương, NXB Thanh Hóa
2. Các bài viết về đền thờ Lê Đình Kiên, đền thờ Ngô Thị Ngọc Giao, về các lễ hội
trên Internet
3. Cổng thông tin điện tử huyện Yên Định.

20


MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
II. Mục đích nghiên cứu
III. Đối tượng nghiên cứu
IV. Phương pháp nghiên cứu

Tran
g
1
2
3
3

B. NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận
II. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
III. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
1. Công tác chuẩn bị
1.1. Về nội dung
1.2. Về đối tượng
1.3. Quá trình chuẩn bị
2. Hình thức và thực tế tổ chức hoạt động ngoại khóa
2.1. Hình thức tổ chức
2.2. Thời gian tổ chức
2.3. Chương trình được diễn ra với những nội dung và tiến trình cụ thể
IV. Hiệu quả của SKKN

C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
I. Kết luận
*Tài liệu tham khảo

3
4
4
5
5 14
14
-15
15
-16
16
16
16
16
-18
18

1819
20
21


22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×