Tải bản đầy đủ

Một số kinh nghiệm dạy tác phẩm trữ tình trong chương trình ngữ văn bậc THCS ở trường THCSTHPT như thanh

MỤC LỤC
Trang
A. MỞ ĐẦU:.....................................................................................................1
I. Lí do chọn đề tài:..............................................................................................1
II. Mục đích nghiên cứu:.....................................................................................1
III. Đối tượng nghiên cứu:..................................................................................3
IV. Phương pháp nghiên cứu:............................................................................3

B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:....................................3
I. Cơ sở lí luận:....................................................................................................3
II. Thực trạng:.....................................................................................................4
III. Các giải pháp:...............................................................................................4
IV. Hiệu quả:......................................................................................................17

C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:....................................................................18
I. Kết luận:..........................................................................................................18
II. Kiến nghị:......................................................................................................18

1



A. MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài.
Nhà văn Nga, M.Goóc-ky từng nói “Văn học là nhân hoc” - học văn là học
làm người. Chính vì thế, dạy văn không chỉ là truyền đạt kiến thức mà còn dạy
các em cách cảm, cách nghĩ, cách ứng xử trong cuộc sống thông qua việc phân
tích các nhân vật văn học. Từ đó hình thành những phẩm chất, nhân cách tốt đẹp
cho học sinh. Là giáo viên dạy văn nên tôi rất tâm đắc điều đó. Thế nhưng một
điều khiến tôi luôn trăn trở lâu nay đó là việc dạy- học Ngữ văn ở trường Trung
học cơ sở hiện vẫn chưa thật sự hiệu quả.
Thực tế hiện nay rất nhiều học sinh không thích học Văn dù là những tác
phẩm trữ tình rất hay.Tìm cách nào để tháo gỡ vấn đề này là điều tôi luôn trăn
trở. Nhiều câu hỏi tôi tự đặt ra để tìm hiểu xem nguyên nhân tại sao. Cứ nhiều
lần như thế, rồi một ý tưởng mới nảy ra trong tôi là tìm cách lôi cuốn học sinh
bằng các tác phẩm trữ tình. Bởi vì đây là thể loại văn học rất giàu cảm xúc. Yếu
tố trữ tình đã mang lại cho các tác phẩm những âm điệu mượt mà, sâu lắng, dễ đi
vào lòng người. Đó là những tiếng nói về tình yêu quê hương đất nước, tình cảm
con người, là tiếng đập nhẹ của con tim trước vẻ đẹp của thiên nhiên, của tình
người mà bất cứ học sinh nào cũng cần được học tập, bồi dưỡng để mở rộng tâm
hồn, tình cảm, nâng cao mơ ước và hình thành nhân cách tốt đẹp. Cho nên muốn
tạo niềm say mê học Văn cho học sinh thì nên bắt đầu khơi nguồn cảm xúc cho
các em từ các tác phẩm trữ tình..
Thế nhưng làm thế nào để cho thơ trữ tình có sức sống mãnh liệt, có sức gợi
cảm và thực sự đi vào lòng học sinh ? Làm sao để tạo được niềm say mê cho các
thế hệ học sinh với việc học tác phẩm trữ tình nói riêng và học văn nói chung
quả là một vấn đề rất khó khăn mà tôi cũng như các đồng nghiệp phải tìm cách
tháo gỡ. Từ những trăn trở của mình về thực trạng học văn qua các năm, tôi
mạnh dạn thực hiện đề tài: “Một số kinh nghiệm dạy tác phẩm trữ tình trong
chương trình Ngữ Văn bậc THCS ở trường THCS&THPT Như Thanh”, với
mong muốn được trao đổi kinh nghiệm cùng với bạn bè đồng nghiệp để từng
bước nâng cao chất lượng giờ dạy tác phẩm trữ tình nói riêng và hiệu quả đối với
việc dạy học Ngữ văn nói chung. Để góp phần thiết thực vào việc nâng cao chất
lượng dạy học, đáp ứng yêu cầu giáo dục của thời kì công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
II. Mục đích nghiên cứu:
Thông qua đề tài “Một số kinh nghiệm dạy tác phẩm trữ tình trong chương
trình Ngữ Văn bậc THCS ở trường THCS&THPT Như Thanh” giúp cho việc dạy
môn Ngữ văn nói chung và dạy thơ trữ tình nói riêng giúp học sinh có hứng thú
trong học Văn, có phương pháp tiếp nhận thơ trữ tình một cách khoa học và sáng
2



tạo, biết khai thác nội dung và nghệ thuật của những bài thơ trữ tình. Qua đó,
giáo dục cho học sinh lòng yêu cái đẹp, có những rung cảm nhẹ nhàng mà sâu
lắng trước thiên nhiên và cuộc sống con người, luôn hoàn thiện bản thân, hướng
tới Chân – Mĩ – Thiện.
III. Đối tượng nghiên cứu:
Với phạm vi đề tài này, tôi tập trung nghiên cứu kinh nghiệm để dạy một tác
phẩm trữ tình trong chương trình Ngữ văn cho học sinh THCS.
IV. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu.
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Trong đổi mới phương pháp dạy học văn, trước hết người giáo viên phải
biết sử dụng các biện pháp hình thức phù hợp với từng thể loại, từng bài. Với các
tác phẩm trữ tình lại có nét đặc thù riêng chính là ở chỗ giàu cảm xúc. Nhưng
không vì thế mà ai đọc lên cũng cảm nhận được ngay nội dung trữ tình trong tác
phẩm. Do đó giáo viên cần phải lựa chọn những phương pháp tối ưu để khơi gợi
cảm xúc ở học sinh có hiệu quả nhất.
Đọc diễn cảm và bình giảng thơ là hai hoạt động không thể thiếu khi dạy tác
phẩm trữ tình. Đọc cũng là phần đồng cảm với bài thơ. Cũng nhờ đọc mà học
sinh như vừa được chứng kiến vừa được thể nghiệm.Vì thế, đọc tái hiện hình
tượng thơ là hoạt động không thể coi nhẹ trong quá trình dạy - học thơ trữ tình.
Bình giảng thơ (tổ chức để học sinh thảo luận, phân tích các ý thơ, hình ảnh
thơ rồi cảm nhận nghệ thuật và nội dung) để từng bước đưa học sinh cảm nhận
sâu hơn trên cơ sở khái quát tác phẩm, nâng cao vấn đề và rút ra những bài học
cần thiết.
Đó là những phương pháp chung, nhưng nếu cứ lặp đi lặp lại mãi một cách
thì sẽ dẫn đến nhàm chán. Để cuốn hút học sinh say mê với việc học văn thì
những sáng tạo mới cña người giáo viên trong quá trình dạy học là vô cùng cần
thiết.
Từ những cơ sở lí luận trong phương pháp dạy- học đó, người giáo viên phải
thật sáng tạo để áp dụng phù hợp với đối tượng học sinh của mình, sắp đặt có hệ
thống loại hình kiến thức, phương pháp, giúp học sinh tiếp thu kiến thức một
cách hiệu quả.

3


II. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Về phía học sinh: Rất nhiều học sinh không thích học Văn, không chú trọng
việc học Văn kể cả những tác phẩm giàu cảm xúc như tác phẩm trữ tình. Qua
quá trình tìm hiểu thực tế học tập của học sinh và từ các đồng nghiệp, tôi nhận ra
rằng không chỉ những lớp tôi dạy mà hầu như ở tất cả các lớp, thậm chí ở những
trường khác nữa cũng có chung tình trạng này. Dù thầy cô nhắc nhở thường
xuyên, giám sát chặt chẽ thế nhưng khi kiểm tra bài cũ rất nhiều em không học
bài và không soạn bài ở nhà. Trong số có soạn bài thì nhiều em soạn để đối phó
chứ không vì mục đích học tập.
Các tác phẩm trữ tình không phải là khái niệm mới đối với học sinh lớp 8 thế
nhưng học sinh hiểu về thể loại còn rất sơ sài . Tôi xin đơn cử một ví dụ nhỏ như
sau: khi gợi cho học sinh nhớ lại đặc điểm thể loại tôi hỏi: Tác phẩm trữ tình có
điểm gì khác với tác phẩm tự sự? Câu hỏi này rất đơn giản nhưng đa số các em
đã quên kiến thức, chỉ có một vài học sinh khá trả lời được. Qua đó tôi muốn nói
rằng sự cảm nhận của học sinh về nội dung văn bản cũng như thể loại còn rất mờ
nhạt. Từ đó dẫn đến nhanh quên kiến thức. Bị hổng kiến thức nhiều khiến các em
càng không thích học.
Về phía giáo viên: Hầu hết giáo viên thường gặp nhiều khó khăn, vướng
mắc trong quá trình dạy những tác phẩm trữ tình; lúng túng khi dẫn dắt học sinh
khám phá nội dung và nghệ thuật hoặc truyền thụ một cách áp đặt, sơ sài, không
phát huy được tính sáng tạo của học sinh khi học tác phẩm trữ tình; làm mất đi
vẻ đẹp vốn có của một dạng tác phẩm văn học.
Kết quả khảo sát khi cho học sinh khi học các tác phẩm trữ tình của lớp 8A
năm học 2015-2016 trường THCS & THCS Như Thanh như sau:
KẾT QUẢ KIỂM TRA KHẢO SÁT
Lớp
8A(26HS)

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

kém

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

0

0

2

7,7

7

26,9

14

53,9

3

11,5

Đó là những thực trạng chung trong việc học Văn, đặc biệt là học các tác
phẩm trữ tình của học sinh trường THCS&THPT Như Thanh. Sau đây là những
giải pháp khắc phục thực trạng trên mà tôi đã đúc rút trong giảng dạy.
III. CÁC GIẢI PHÁP.
1.Tiếp cận tác phẩm:
1.1 Đọc diễn cảm.

4


Đối với tác phẩm trữ tình, đọc diễn cảm cũng là một phần đồng cảm với bài
thơ. Đây là bước tạo điều kiện cho việc tái hiện hình ảnh. Tôi đã nghiên cứu kỹ
từng văn bản để tìm ra giọng điệu, tìm ra cách đọc phù hợp với từng bài thơ khác
nhau làm sao để tái hiện hình tượng rõ nét nhất và gây ấn tượng sâu sắc cho học
sinh, điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với những bài thơ Đường - một thể loại
được xem là khó.
Thực ra, không phải bài thơ nào ta cũng đọc thật nhẹ nhàng, tình cảm, cảm
xúc dạt dào mới gọi là diễn cảm mà tuỳ vào từng bài thơ, tâm trạng của nhân vật
trữ tình để lựa chọn giọng điệu. Có khi là một khí phách hào hùng, có khi là
giọng trầm buồn u uất, có bài thì da diết nhớ thương … Có thể nói, đọc diễn cảm
cũng là một sáng tạo nghệ thuật theo cách đi từ ngôn ngữ đến tư tưởng. Âm vang
của lời đọc sẽ kích thích quá trình tri giác, tưởng tượng, đến tái hiện hình ảnh.
Cảm xúc bắt đầu hình thành từ việc đọc và được phát triển trong quá trình đọc .
Khi dạy bài thơ: “Đêm nay Bác không ngủ ”của Minh Huệ - Ngữ văn 6
tập II, tôi lựa chọn giọng điệu chủ đạo là giọng nhẹ nhàng tình cảm đồng thời
chọn lựa các từ ngữ cần nhấn mạnh để làm toát lên tâm tư tình cảm của nhân vật
trữ tình. Chẳng hạn ở khổ thơ thứ nhất:
Anh đội viên thức dậy
Thấy trời khuya lắm rồi
Mà sao Bác vẫn ngồi
Đêm nay Bác không ngủ.
Ngay ở khổ thơ đầu với cách đọc diễn cảm sẽ giúp cho việc tái hiện hình ảnh
Bác đang trăn trở trong đêm đã về khuya. Những từ ngữ được nhấn giọng sẽ kích
thích học sinh tư duy: Vì sao Bác không ngủ? Bác ngồi để làm gì vậy?
Những câu hỏi đó sẽ còn đeo đuổi các em khi tôi tiếp tục nhấn giọng ở
những khổ thơ sau như để truyền cho các em sự giật mình hoảng hốt của anh Đội
viên.
Lần thứ ba thức dậy
Anh hốt hoảng giật mình
Bác vẫn ngồi đinh ninh …..
Đến đây đã bắt đầu khơi gợi ở học sinh tình cảm mến phục và mong muốn
được lý giải. Càng thôi thúc các em hơn khi làm rõ được thái độ vồn vã, sốt ruột
của anh Đội viên ở khổ thơ tiếp theo.
Với khổ thơ này tôi lại chuyển sang nhịp thơ ngắn, tiết tấu nhanh thể hiện sự
khẩn cầu rất tha thiết giúp cho học sinh hiểu tình cảm của anh Đội viên với Bác
rất đỗi gần gũi, trìu mến như tình cha con.Từ đó các em củng cố thêm tình cảm
ban đầu của mình.
Mời bác ngủ bác ơi!
Trời sắp sáng mất rồi
Bác ơi ! Mời bác ngủ!
5


Đến khổ thơ :
Bác thương đoàn Dân công
Đêm nay ngủ ngoài rừng
Giải lá cây làm chiếu
Manh áo phủ làm chăn
Thì tôi gợi cho các em đọc giọng nhẹ nhàng biểu lộ cảm xúc của chính
mình cũng là để khơi gợi sự đồng cảm trong lòng học sinh. Khắc sâu điều này
chính là các em đã trả lời được câu hỏi ban đầu: Vì sao Bác không ngủ ? Càng
làm nhân lên tình cảm yêu quý, kính phục Bác, trân trọng những tình cảm thiêng
liêng của Bác với những người Đồng chí trong chiến đấu. Qua đó, giáo dục tình
cảm đạo đức cho các em. Sau khi đọc mẫu tôi tiếp tục gọi 3 đến 4 em đọc theo
từng đoạn.
Đọc diễn cảm là làm cho tiếng nói của nhà văn trở nên gần gũi với học sinh
hơn. Cũng với phương pháp này tôi có thể vận dụng vào nhiều tác phẩm trữ tình
khác như: “Hai chữ nước nhà” Ngữ văn 8 tập I, “Bếp lửa”của Bằng Việt- Ngữ
văn 9 tập 2… Với những bài thơ giàu cảm xúc như thế mà việc đọc và tái hiện
hình tượng không thực hiện tốt thì khó mà đạt được hiệu quả.
1.2. Ngâm thơ :
Phương pháp tiếp cận văn bản phổ biến nhất hiện nay là giáo viên đọc sau
đó yêu cầu học sinh đọc tiếp. Nhưng tôi lợi dụng âm điệu nhẹ nhàng, mượt mà,
dạt dào cảm xúc của thơ trữ tình để vận dụng phương pháp một cách linh hoạt.
Với những bài thơ như thế thì tôi có thể thu hút học sinh hướng đến tác phẩm
bằng cách ngâm một đoạn hoặc cả bài thơ. Thực ra tôi cũng không thật sự có
năng khiếu trong lĩnh vực nghệ thuật này nhưng bằng lòng nhiệt tình và tâm
huyết với nghề nghiệp, tôi cố gắng học tập, rèn luyện cho mình những kỹ năng
cần thiết để áp dụng vào việc giảng dạy sao cho đạt hiệu quả .
Ví dụ: Khi dạy bài “Cảnh khuya” - Ngữ văn 7 tập I.
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.
Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
(Hồ Chí Minh)
Ngâm thơ chỉ là một hoạt động nhằm thu hút sự chú ý, sự nhập tâm của học
sinh vào nội dung văn bản chứ không thay thế cho hoạt động đọc văn bản .
Những lời thơ ngâm càng làm tăng thêm âm điệu trữ tình mượt mà, sâu lắng,
kích thích khả năng ghi nhớ cho người nghe hơn quá trình đọc, giọng ngâm ngân
nga và mới lạ sẽ lôi cuốn sự chú ý của học sinh hơn .
Phương pháp này tôi cũng có thể vận dụng vào dạy bài: “ Khi con tu hú "Ngữ văn 8 tập II.

6


Với văn bản này nếu không nghiên cứu kỹ học sinh sẽ cảm nhận một cách
sơ sài theo ý kiến chủ quan rằng: Bài thơ chỉ đơn thuần nói về cảnh thiên nhiên
lúc vào hè, thế thì dễ rồi cần gì phải nghiên cứu kỹ và có thể các em sẽ lơ là ít
chú ý. Khi tôi hướng dẫn các em tìm hiểu xong tôi ngâm một đoạn thơ thì học
sinh rất chăm chú lắng nghe. Nhìn ánh mắt sáng ngời đầy hứng thú của học sinh
sinh như đang chiêm nghiệm lại những kiến thức vừa học, tôi nhận thấy giờ học
đã có hiệu quả .
1.3. Hát những bài thơ đã phổ nhạc :
Trong chương trình ngữ văn trung học cơ sở có rất nhiều bài thơ hay đã
được các nhạc sĩ phổ nhạc. Âm nhạc là món ăn tinh thần quan trọng trong đời
sống con người. Các em học sinh vốn rất thích được nghe các thầy cô giáo hát.
Không hẳn là thầy cô hát hay các em mới thích nghe mà vì khi thầy cô giáo hát
là thể hiện cảm xúc vui tươi, phấn khởi, gần gũi các em hơn . Điều đó có ý nghĩa
rất lớn trong việc kích thích tinh thần ham học tập, say mê tìm tòi khám phá kiến
thức và yêu thích môn học hơn .
Ví dụ : Khi dạy bài “Đồng Chí” ngữ văn 9 tập I, bài “Mùa Xuân nho nhỏ” Ngữ văn 9 tập II, bài “Viếng lăng bác"-Ngữ văn 9 tập II, tôi có thể vận dụng triệt
để và hiệu quả phương pháp này.
Có thể với bài này giáo viên cho các em nghe nhưng với bài khác tôi lại yêu
cầu một vài học sinh hát hoÆc tôi sử dụng máy chiếu có lời hát của các ca sĩ
đối với những bài hát quá khó... Các em cũng rất hứng thú với hoạt động này, bởi
vì khi đã tạo thành thói quen, đã lôi cuốn được sự say mê của học sinh thì việc
thực hiện thao tác này sẽ mang lại không khí vui tươi, nhẹ nhàng cho giờ học.
Học sinh không cảm thấy nhàm chán, mà ngược lại sẽ tạo cho các em niềm say
mê cũng như sự mong muốn được tiếp thu kiến thức truyền dạy từ giáo viên.
2.Tìm hiểu nhân vật trữ tình.
2.1. Khai thác qua hệ thống ngôn ngữ.
Trong dạy tác phẩm trữ tình thì việc tìm hiểu nhân vật trữ tình ở các khía
cạnh: tâm trạng, cảm xúc, tình cảm là khâu then chốt Với đặc điểm nổi bật của
thơ là phản ánh trực tiếp đối tượng, trực tiếp mô tả các hiện thực khách quan
thông qua các ngôn ngữ và hình ảnh gợi cảm. Điều đó rất thuận lợi cho việc tìm
hiểu tính cách, tâm trạng của nhân vật trữ tình.
Ví dụ: Khi dạy bài thơ “Khi con tu hú” của Tố Hữu.
Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần.
Chỉ với việc miêu tả cảnh vật thiên nhiên lúc vào hè tưởng như rất bình
thường nhưng thông qua các từ ngữ gợi âm thanh, hình ảnh như: tu hú gọi bầy,
ve ngân, nắng đào, lúa chín…lại cho người đọc hiểu được tâm hồn phóng
khoáng, yêu đời, tình cảm vui tươi của nhân vật trữ tình.

7


Nhưng ở bốn câu cuối vẫn là âm thanh tu hú kêu, không gian mùa hè nhưng
kết hợp với những động từ mạnh, cảm giác mạnh như: đạp, ngột, chết uất …lại
bộc lộ một cung bậc tình cảm khác của nhân vật trữ tình. Qua đó giúp học sinh
cảm nhận được sức gợi và ý nghĩa biểu hiện của ngôn từ Tiếng Việt. Từ đó, tạo
cho các em sự ham mê tìm tòi, nghiên cứu thêm các tác phẩm khác.
2.2. Khai thác các nhân vật trữ tình trong cùng hệ thống.
Một phương pháp giúp học sinh khắc sâu kiến thức là cho các em so sánh các
nhân vật trữ tình trong cùng hệ thống, cùng chủ đề.
Ví dụ: khi dạy bài “Qua Đèo Ngang- Ngữ văn 7 tập I .Tôi yêu cầu học sinh:
Hãy tìm những bài thơ có nội dung trữ tình hướng về quê hương đất nước mà em
biết? Học sinh có thể kể một số tác phẩm như: “Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh”,
“Buổi chiều đứng ở Phủ Thiên Trường trông ra”….
Các nhân vật trữ tình trong các tác phẩm có điểm gì khác nhau về cảm xúc?
Theo em, vì sao lại có sự khác nhau đó?
Những câu hỏi này vừa có tác dụng kích thích khả năng tư duy vừa giúp học
sinh ôn lại kiến thức cũ và khắc sâu kiến thức mới.
3. Khai thác nghệ thuật thơ.
3.1. Tính tương xứng.
Tính tương xứng trong ngôn ngữ thơ không chỉ tạo cho thơ một vẻ đẹp đặc
biệt mà còn góp phần quan trọng trong việc thể hiện cụ thể đặc điểm của nhân
vật trữ tình.
3.1.1. Tương xứng về âm thanh.
Dạy tác phẩm thơ sẽ chưa thành công nếu chưa giúp học sinh cảm nhận được
sự tương ứng về thanh điệu. Đặc biệt ở các bài thơ bảy chữ.
Ví dụ:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát / mặc dầu /tay / kẻ nặn,
Mà em /vẫn gữ /tấm /lòng son.
(Hồ Xuân Hương)
Sự cân xứng đều đặn về thanh điệu của từng chữ trên câu thơ 3, 4 tạo nên sự
chặt chẽ về cấu trúc bài thơ, góp phần không nhỏ vào cái việc bộc lộ cảm xúc
của nhân vật trữ tình mà học sinh đang tìm hiểu.
3.1.2. Tương xứng về ý nghĩa ngôn ngữ.
Sự tương xứng này còn gọi là phép đối ý trong thơ. Những phát hiện này
thường tạo nên sức hấp dẫn lớn đối với học sinh, đặc biệt là khi các em hiểu
được ý nghĩa của chúng trong từng văn bản.
Ngoài các bài thơ có sự tương xứng rõ nét như: “Qua Đèo Ngang”, “Bánh
trôi nước” mà các em đã học ở chương trình Ngữ Văn 7, giáo viên nên tìm thêm
những câu thơ khác tạo sự mới lạ sẽ hấp dẫn học sinh hơn trong quá trình học
tập.
8


Ví dụ:

Thẹn đèn / hổ lửa / đau lòng mẹ
Nay thét /mai gầm / rát cổ cha
(Lê Quý Đôn)
Các từ ở thế cân xứng bổ sung cho nhau về nghĩa từ vựng: thẹn/ hổ, đèn/
lửa, nay/ mai, thét/ gầm. Đây cũng là cách kích thích học sinh tư duy.
3.2. Tính nhạc.
Một âm tiết Tiếng Việt luôn được biểu thị bằng một vài nốt nhạc luyến láy
với nhau. Tôi thường nhấn mạnh đặc điểm tính nhạc trong thơ cho học sinh cảm
nhận vì ngôn ngữ thơ vốn giàu nhịp điệu, ngữ điệu hoà âm hơn văn xuôi. Tính
nhạc có vai trò tạo nên những thanh âm cộng hưởng với các cung bậc cảm xúc,
tình cảm đẹp của nhân vật trữ tình, góp phần không nhỏ tạo nên yếu tố trữ tình
trong thơ. Giúp các em dễ cảm nhận, dễ thuộc.
Ví dụ:
“Mùa xuân tôi xin hát
Câu nam ai nam bình
Nước non ngàn dăm tình
Nhịp phách tiền đất Huế”.
(Thanh Hải)
Tôi đã giúp cho học sinh hiểu được rằng tính nhạc là yếu tố mà ít nhiều đều
có ở hầu hết các bài thơ. Không chỉ các bài thơ đã được phổ nhạc mà cả các bài
thơ chưa được phổ nhạc nữa. Ví dụ như bài thơ “Ông Đồ” Ngữ văn 8 tập II cũng
là tác phẩm giàu tính nhạc.
3.3. Các biện pháp tu từ:
Trong thơ trữ tình nói riếng và Văn học nói chung thì các biện pháp tu từ
đóng một vai trò quan trọng trong việc thể hiện nội dung tư tưởng mà tác giả
muốn gửi tới độc giả. Chẳng thế mà có ý kiến cho rằng: “Cái làm nên sự kì diệu
của ngôn ngữ đó chính là các phương tiện, biện pháp tu từ”. Thật chí lí thay!
Theo tác giả Đinh Trọng Lạc thì có tới 99 phượng tiện và biện pháp tu từ (Theo
“99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt”- Đinh Trọng Lạc – NXB Giáo
dục năm 2000). Trong chương trình giáo dục Phổ thông, học sinh được học 9
biện pháp tu từ từ vựng, đó là: Nhân hóa, so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nói giảm nói
tránh, điệp ngữ, liệt kê, chơi chữ, nói quá.
Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói
các phương tiện ngôn ngữ không kể là có màu sắc tu từ hay không trong một ngữ
cảnh rộng để tạo ra hiệu qủa tu từ (tức tác dụng gây ấn tượng về hình ảnh, cảm
xúc, thái độ, hoàn cảnh).
Biện pháp tu từ là những cách kết hợp ngôn ngữ đặc biệt trong một hoàn
cảnh cụ thể, nhằm một mục đích tu từ nhất định. Nó đối lập với biện pháp sử
dụng ngôn ngữ thông thường trong mọi hoàn cảnh, nhằm mục đích diễn đạt lí trí.
Căn cứ vào cấp độ ngôn ngữ của các phương tiện ngôn ngữ được phối hợp
sử dụng, các biện pháp tu từ được chia ra: biện pháp tu từ từ vựng, biện pháp tu
9


từ ngữ nghĩa, biện pháp tu từ cú pháp, biện pháp tu từ văn bản, biện pháp tu từ
ngữ âm – văn tự.
Trong suốt gần 15 qua đứng trên bục giảng, tôi luôn chú ý đến việc khai
tác, tìm hiểu các biện pháp tu từ khi dạy thơ trữ tình. Có thể phân tích các biện
pháp tu từ có trong bài thơ, đoạn thơ, câu thơ để tìm ra nội dung ý nghĩa của bài
học. Nhờ có “con thuyền” tu từ này mà nội dung được truyền tải tới người đọc
một cách hấp dẫn, nhẹ nhàng và sâu lắng, đọng lại dư âm mãi mãi. Một cách
khác là ta có thể cho học sinh tìm hiểu xong nội dung và sau đó rút ra các biện
pháp tu từ để giúp học sinh thấy được cái giàu đẹp của Tiếng Việt, sự tài tình,
điêu luyện của nhà thơ; biết cách vận dụng vào viết văn, làm thơ.
Chẳng hạn khi dạy đến đoạn thơ trong bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của
Thanh Hải:
“Đất nước bốn nghìn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước”
Tôi sẽ đạt câu hỏi: Em hãy chỉ ra biện pháp tu từ trong đoạn thơ trên? Tác
dụng của biện pháp tu từ đó? Với câu hỏi đó học sinh sẽ khai thác được nghệ
thuật và nội dung của đoạn thơ: Đất nước Việt Nam ta được nhân hóa như con
người đã trải qua muôn vàn những thử thách, giao lao, không trang sử nào không
viết bằng máu và nước mắt. Đặc sắc nhất là biện pháp tu từ so sánh đất nước với
vì sao. Đây là một hình ảnh so ánh đẹp và đầy ý nghĩa. Sao là nguồn sáng lấp
lánh, là vẻ đẹp vĩnh hắng của bầu trời, là sự vĩnh cửu với thời gian và không
gian. Phép tu từ đó đã thể hiện được niềm tự hào của nhà thơ về đất nước, con
người Việt Nam, đồng thời thể hiện niềm tin bất diệt về sức mạnh đi lên của dân
tộc, về sự trường tồn của đất nước. Vậy là, với một câu hỏi gợi mở về biện pháp
tu từ nội dung tư tưởng của khổ thơ đã được bật sáng trước sự thích thú, niềm
say mê của học sinh.
3.4. Không gian và thời gian.
“Thơ ca là sự cảm nhận thế giới và con người thì thời gian, không gian
chính là hình thức để con người cảm nhận thế giới và con người”(Trần Đình Sử).
Đúng vậy, mọi sự vật, hiện tượng đều được gắn với hệ tọa độ không – thời gian
xác định, nên những cảm nhận của con người về thế giới đều bắt đầu tự sự đổi
thay của không gian, thời gian. Và từ sự đổi thay của không gian, thời gian con
người nhận ra sự thay đổi trong chính mình.
Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính trong cuốn “Thi pháp ca dao” thì: “Thời
gian và không gian là những mặt của hiện thực khách quan được phản ánh trong
tác phẩm tạo thành thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Thời gian nghệ thuật,
không gian nghệ thuật một mặt thuộc phương diện đề tài, mặt khác thể hiện

10


nguyên tắc cơ bản của của việc tổ chức tác phẩm của từng tác giả, từng thể loại,
từng hệ thống nghệ thuật”.
Thông qua hai ý kiến trên, ta đã thấy được ý nghĩa, tầm quan trọng của
thời gian và không gian trong một tác phẩm văn chương nói chung và tác phẩm
thơ trữ tình nói riêng trong việc biểu đạt nội dung tư tưởng mà tác giả muốn
truyền tải đến độc giả. Vì lẽ đó mà trong các tiết dạy thơ trữ tình tôi luôn chú
trọng đến thời gian và không gian, xem đó là một nghệ thuật đặc sắc không thể
không khai thác.
Chẳng hạn, khi dạy bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy trong Ngữ Văn
9, ta cần chú ý đến những khoảng thời gian:
Thời gian trong quá khứ: với hai kỉ niệm thời ấu thơ và đời lính của nhân
vật trữ tình. Hai kỉ niệm này đều gắn với ánh trăng tình nghĩa.
Thời gian hiện tại: với cuộc sống sung túc, đầy đủ hiện đại con người đã
quên ánh trăng năm nào. Đồng thời là tâm trạng “giật mình ”đáng quý của con
người.
Thời gian tương lai (dự báo): nhân vật trữ tình sẽ sống ra sao sau cái “giật
mình”, sau khi thấy mình cần phải thay đổi cách sống, phải biết trân trọng quá
khứ tươi đẹp và lịch sử đáng tự hào của dân tộc.
Chỉ với việc khai thác thời gian nghệ thuật như trên, nội dung bài thơ đã
được lật mở trước những con mắt thích thú của học sinh mà không cần nhiều các
thao tác nghị luận rườm rà nào cả.
Hay khi hướng dẫn học sinh phân tích đoạn thơ thứ hai trong bài thơ
“Sang thu” của nhà thơ Hữu Thỉnh:
“Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu”
Tôi cho học sinh ngắm bức tranh thiên nhiên trong khoảnh khắc giao mùa
giữa mùa hạ và mùa thu trong khổ thơ này. Bức tranh ấy được Hữu Thỉnh phác
họa bằng thơ với nhiều tầng bậc không gian: Dưới thấp thì có con sông đang
chảy chậm chạp, thong thả, êm trôi sau những ngày hè vất vả. Ở khoảng không
bức tranh là những đàn chim đang vội vã bay đi tránh rét. Và trên bầu trời là một
đám mây mùa hạ “Vắt nửa mình sang thu” với một nửa rực nắng của mùa hạ và
nửa kia là sự dịu mát của sắc thu. Chính không gian nghệ thuật ấy đã cho thấy
được tâm hồn nhạy cảm, sự quan sát tinh tế, sự sáng tạo của nhà thơ trong việc
lựa chọn hình ảnh trong đoạn thơ.
4. Tổ chức cho học sinh trình bày cảm nhận:
Tôi thiết nghĩ để cho những câu thơ, bài thơ sống mãi trong trái tim của
học sinh thì phải tổ chức cho các em thể hiện, trình bày những cảm nhận của cá
nhân. Vậy nên, trong các tiết thơ trữ tình, tôi luôn chú trọng đến phương pháp
11


này. Thông thường, sau mỗi bài học, tôi thường ra những bài tập rèn luyện kĩ
năng cảm thụ cho học sinh để các em tự trình bày những cảm nhận của riêng
mình sau một quá trình chiêm nghiệm và học tập.
Thông thường, sau phần tìm hiểu chi tiết (đọc – hiểu) thường có phần
luyện tập. Đây là dạng bài tập yêu cầu học sinh trình bày ý kiến, cảm nhận chung
về một vấn đề nào đó của bài học; là dạng bài tập vận dụng, yêu cầu học sinh
phải có tính sáng tạo, có sự rung động thật sự thì mới làm tốt được. Có thể cho
học sinh nêu cảm nhận ngay tại lớp hoặc để cho học sinh “thấm” bài học rồi về
nhà làm bài tập viết đoạn thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của mình.
Ví dụ, sau khi dạy xong tiết đọc thêm “Con cò” của Chế Lan Viên, tôi yêu
cầu các em về nhà làm bài tập cảm thụ:
Bài tập 1: (Cho những đối tượng học sinh trung bình):
Qua bài thơ em có suy nghĩa gì về những lời hát ru?
Bài tập 2: (Cho những đối tượng học sinh Khá giỏi):
Suy nghĩ của em về tấm lòng của người mẹ qua hai bài thơ:
“Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.”
Với hai bài tập sẽ giúp các em trình bày những cảm nhận sâu sắc của mình về
ý nghĩa của lời ru và tình mẹ đối với cuộc đời mỗi con người.
* BÀI DẠY VẬN DỤNG.
Ngữ văn: Tiết 78.
Văn bản:

KHI CON TU HÚ
(Tố Hữu)

I. MỤC TIÊU:
1. Kiến thức:
- Những hiểu biết bước đầu về tác giả Tố Hữu.
- Nghệ thuật khắc họa hình ảnh (thiên nhiên, cái đẹp của cuộc đời tự do).
- Niềm khát khao cuộc sống tự do, lí tưởng cách mạng của tác giả.
2. Kĩ năng:
-Đọc diễn cảm một tác phẩm thơ thể hiện tâm tư người chiến sĩ cách mạng bị
giam giữ trong ngục tù.
- Nhận ra và phân tích được sự nhất quán về cảm xúc giữa hai phần của bài thơ;
thấy được sự vận dụng tài tình thể thơ truyền thống của tác giả ở bài thơ này.
3. Thái độ:
- Yêu quý, trân trọng những gì mình đang được hưởng thụ.
4. Năng lực:
- Thu thập thông tin liên quan đến văn bản
- Giải uyết những tinh huống đặt ra trong các VB
- Năng lực đọc-hiểu thơ trữ tình theo đặc điểm thể loại
- Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩ của VB
12


- Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung và nghệ thuật của VB.
II. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
1. Chuẩn bị của GV:
- Nghiên cứu kĩ bài, soạn giảng.
2. Chuẩn bị của HS:
- Chuẩn bị bài cũ,bài mới
III. TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC.
1. Ổn định lớp
2.Kiểm tra bài cũ:
Với tiết học này thầy không kiểm tra bài cũ mà kiểm tra sự chuẩn bị bài
của cả lớp. Thu vở chấm để rèn cho các em ý thức tự học, soạn bài ở nhà nghiêm
túc.
* Giới thiệu bài mới: Giáo viên lựa chọn cách vào bài phù hợp.
3. Tiến trình bài học:
HOẠT ĐỘNG CỦA GV&HS
Hoạt động 1: Hướng dẫn học sinh đọc tìm
hiểu chung.
HS đọc chú thích*SGK
?Nêu những nét chính về cuộc đời và sự
nghiệp của tác giả?
?Cho biết hoàn cảnh sáng tác của bài thơ?
(GV giới thiệu thêm về hoàn cảnh chung của
đất nước lúc này)
? Cả bài thơ kết hợp phương thức biểu đạt
nào? (Phương thức biểu đạt :Miêu tả biểu cảm)
? Xác định thể thơ? ( lục bát)
? Xác định bố cục của bài thơ? Nội dung của
từng phần ?

NỘI DUNG CHÍNH
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả:
-Tố Hữu: 1920-2002
- Quê: Thừa Thiên Huế.
2. Tác phẩm :
Bài thơ viết tháng 7/1939 khi
tác giả bị bắt giam ở nhà lao
Thừa Phủ.

3. Bố cục: 2phần
-6 Câu đầu : Bức tranh mùa hè
? Theo em, nhân vật trữ tình là ai?( “ta”)
-4 Câu cuối : Tâm trạng người
? Nhân vật trữ tình có mối quan hệ như thế nào tù .
với tác giả? (đồng nhất với tác giả.)
Hoạt động 2: Hướng dẫn phân tích bài thơ.
-GV giới thiệu đặc điểm của thể thơ lục bát.
-hướng dẫn cách đọc : Đọc diễn cảm , miêu tả II. Phân tích
được độ cao thấp về mặt âm thanh của tùng
câu thơ. Ở 6 câu đầu giọng diễn cảm tha thiết
phấn chấn. 4 câu sau đọc nhấn giọng ở những
từ ngữ diễn tả niềm uất hận cảnh tù đày .
13


-HS đọc diễn cảm đoạn thơ thứ nhất, nhấn
mạnh các từ gợi tả màu sắc và âm thanh.
? Mùa hè được gợi tả bằng những âm thanh
nào ?
?Âm thanh đó báo hiệu điều gì?
- HS trả lời theo cảm nhận.
?Một sự sống như thế nào được gợi lên từ
những âm thanh ấy ? (cuộc sống rộn rã, tưng
bừng.)
? Hãy so sánh âm thanh tiếng “tu hú” bài này
với tiếng “tu hú” trong bài thơ “Bếp Lửa” của
Bằng Việt ,có gì giống và khác nhau?
* HS thảo luận nhóm, trả lời:
- Giống : Tiếng tu hú đều gợi không gian đồng
quê gần gũi, thân thuộc.
-Khác: Trong thơ Bằng Việt tu hú gợi nhớ về
những kỉ niệm.
Còn trong thơ Tố Hữu, tiếng tu hú là âm thanh
báo hiệu mùa hè sôi động.
? Những màu sắc nào được nhắc đến?
?Nhận xét về màu sắc? (tươi đẹp, lộng lẫy)
?Những sản vật điển hình nào của mùa hè
được gợi nhắc?
?Các sản vật ấy gợi lên sự sống như thế nào?
(cuộc sống no ấm)
? Không gian mùa hè được gợi lại là không
gian như thế nào ?
?Tác giả sử dụng nghệ thuật gì khi ghi lại toàn
bộ bức tranh? (trong 6câu đầu)
?Qua đó giúp em hình dung được bức tranh
mùa hè ở đây như thế nào ?
? Từ bức tranh đó giúp em hiểu tâm trạng tác
giả như thế nào ?(Thèm khát cuộc sống tự do )
? Cho thấy năng lực cảm nhận của nhà thơ
như thế nào? (Nhạy cảm với mọi biến động
của cuộc đời.)
GV: Ngoài ra tiếng chim tu hú còn là biểu
tượng cho sự tung hoành và khát vọng tự do.
?Qua 6 câu thơ trên cho em cảm nhận được tác
giả phải là người có tình cảm như thế nào với

1. Bức tranh mùa hè :
*Âm thanh: -Tiếng tu hú
-Ve sầu ngân

* Màu sắc:
- Vàng (của bắp)
- Hồng (của nắng)
- Xanh (của trời)
* Sản vật :
Lúa chiêm, trái cây, bắp…
* Không gian ;
- rộng, cao
* Nghệ thuật : Miêu tả,
⇒ Bức tranh lộng lẫy, sống
động, rộn rã, tươi đẹp ,trào
dâng sức sống, phóng túng tự
do.
14


quê hương?( yêu quê hương tha thiết)
-Yêu cầu học sinh đọc diễn cảm lại 6 câu thơ
đầu.
? Những câu thơ này gợi cho em nghĩ đến điều
gì? (nghĩ đến hình ảnh quê hương em)
2. Tâm trạng người tù.
GV chuyển ý.
Gọi một HS đọc diễn cảm 4 câu thơ tiếp, chú
ý ngắt nhịp ở các câu 8(6-2), câu 9(3-3), câu
10(6-2). Nhấn mạnh các từ: “đạp tan”, “chết
uất” làm toát lên tâm trạng của nhân vật trữ
tình..
?Khi nhà thơ viết :Ta “nghe” hè dậy bên
lòng...em hiểu nhà thơ đã đón nhận cảnh tươi
đẹp của mùa hè bằng thính giác hay bằng sức
mạnh của tâm hồn?
- (GV bình)
? Từ đó có thể hình dung trạng thái tâm hồn
tác giả như thế nào? (Nồng nhiệt với cuộc
sống, yêu tự do)
? Chi tiết nào biểu hiện tâm trạng, tình cảm
của nhà thơ khi nghe hè dậy bên lòng?
? Em hiểu như thế nào về giá trị biểu hiện của
các động từ ngữ trên?( bộc lộ trực tiếp mức độ
cảm xúc của tác giả rất căng thẳng, cao độ.)
?Em có nhận xét gì về nghệ thuật được sử
dụng? nhịp thơ? (Miêu tả, chọn lọc từ ngữ,
động từ mạnh, từ ngữ cảm thán, nhịp thơ thay
đổi bất thường)
?Từ những hình thức nghệ thuật đó em cảm
nhận được tâm trạng gì của tác giả?
? Qua bài thơ em cảm nhận như thế nào về các
cung bậc cảm xúc của nhân vật trữ tình? (hai
cảm xúc đối lập nhưng đều góp phần bộc lộ
những phẩm chất tốt đẹp đáng quý, đáng học
tập.)
? Em học tập được điều gì ở nhân vật trữ tình?
( gắn bó tha thiết với quê hương, có khát vọng,
có ý chí.)

- Cảm nhận bằng sức mạnh tâm
hồn, bằng tấm lòng.

- đạp tan phòng
- ngột, chết uất

⇒ Đau khổ, uất ức, ngột ngạt.

-Khát khao tự do, ý chí quyết
tâm trở về cuộc sống bên ngoài
.

15


? Em biết những bài thơ nào mà nhân vật trữ
tình có cùng hoàn cảnh?(Ngắm trăng, Tâm tư
trong tù, Vào nhà ngục Quảng Đông cảm
tác...)
? Ở các nhân vât đó có điểm gì giống nhau?
-HS trao đổi, trả lời theo cảm nhận.
?Khép lại bài thơ chúng ta đươc bắt gặp âm
thanh gì ? -> “tu hú cứ kêu”
?Mở đầu và kết thúc bài thơ gắn với tiếng tu
hú .Vậy tiếng chim ở đầu và ở cuối bài thơ có
ý nghĩa giống nhau không hãy lí giải? ( khác
nhau)
? Có ý kiến cho rằng : Bài thơ được kết thúc
theo kiểu “đầu cuối tương ứng” Theo em ý
kiến đó đúng hay sai?
* Thảo luận nhóm: trình bày kết quả.
HS: Đúng, mở đầu bằng tiếng tu hú, kết thúc
cũng bằng tiếng tu hú, rất tự nhiên, hài hoà.
? Mỗi cặp câu thơ trong bài đều thể hiện sự
cân xứng về ? (ở mỗi cặp câu, âm thanh của
câu 6 bổng , câu 8 trầm, tạo nên sự hài hoà,
cân đối, tạo nên mối liên kết ràng buộc
giữa các dòng thơ và sự chặt chẽ về kết cấu bài
thơ.
Hoạt động 3. Tổng kết.
?Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ?
?Qua nghệ thuật nổi bật nôi dung gì ?
GV: Bài thơ còn ghi lại một nét đẹp, một bức
chân dung tinh thần tự họa của người thanh
niên cộng sản Tố Hữu thuở ấy .

* Ý nghĩa khác nhau:
- Mở đầu : Tiếng chim hòa hợp
với mùa hè đầy ắp sức sống.
- Kết thúc: tiếng chim có phần
như thiêu đốt, giục giã người tù
tháo cũi sổ lồng .
⇒ Khát vọng tung phá để
giành tự do.

III. Tổng kết :
1. Nghệ thuật.
Miêu tả đối lập tả, đối lập chọn
lọc từ ngữ, hình ảnh gợi tả, gợi
cảm, kết cấu đầu cuối tương
ứng ,thể thơ lục bát giàu nhạc
điệu.
2. Nội dung:
“Khi con tu hú” là khúc ca
ân tình, là tiếng gọi đàn, hướng
về đồng quê và bầu trời tự do
với tất cả tình yêu và sự khát
khao cháy bỏng.
IV. Luyện tập.
Yêu cầu HS đọc diễn cảm bài
thơ.

Hoạt động 4. Hướng dẫn luyện tâp.
?Phát phiếu học tập để trắc nghiệm bài dạy.
16


?Sau khi học song bài thơ em có suy nghĩ gì về
tiêu đề bài thơ?(HS tự thảo luận)
-Gọi một HS đọc diễn cảm bài thơ.
GV ngâm đoạn đầu bài thơ để HS cảm nhận
sâu hơn về tính nhạc và ghi nhớ bài thơ.
IV. TỔNG KẾT VÀ HƯỚNG DẪN HỌC TẬP
1. Tổng kết: - Giáo viên đánh giá lại nội dung và nghệ thuật bài thơ.
- Học sinh nêu cảm nhận của mình về bức tranh mùa hè qua tâm
tưởng của người tù cách mạng.
2. Hướng dẫn học tập
- Học thuộc bài thơ, nắm vững những cung bậc cảm xúc khác nhau của nhân vật
trữ tình.
- Soạn văn bản: Tức cảnh Pác Bó.
-Luyện giọng đọc dõng dạc, hào hùng mà nhẹ nhàng vui tươi.
-Tìm hiểu cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình.
V. RÚT KINH NGHIỆM:...........................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................

IV. HIỆU QUẢ:
Qua các năm vận dụng cách làm của mình, quan sát thực tế học tập của học
sinh, tôi nhận thấy có sự chuyển biến rõ rệt. Các em rất hào hứng với hoạt động
mà tôi yêu cầu. Tình trạng không thuộc bài cũ đặc biệt là việc học thuộc thơ
cũng tiến bộ trông thấy. Sau khi tiến hành giờ dạy vận dụng bài vào bài “Khi con
tu hú”, tôi nhận thấy với phương pháp này đã thu được kết quả cao hơn. Học
sinh chú ý và hiểu bài hơn. Qua mỗi lần kiểm tra kết quả bài làm của các em lại
cho tôi một sự bất ngờ thú vị. Các em có sự tiến bộ rõ rệt.
Tuy số học sinh viết văn hay chưa nhiều nhưng như vậy là tôi đã bước đầu
thu được thành công. Những ngày đầu năm học tôi thật sự lo lắng vì kết quả
khảo sát nhiều môn rất thấp trong đó có môn Ngữ văn. Tôi thật mừng khi kết quả
cuối năm thu được như sạu:
Kết quả kiểm tra khảo sát
Lớp
8A(26HS)

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

kém

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

2

7,7

6

23,0

17

65,5

1

3,8

0

0

17


C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
1. Kết luận:
Sinh thời Bác Hồ kính yêu đã từng căn dặn những “người lái đò” trên dòng
sông tri thức: “Vì lợi ích mười năm trồng cây - Vì lợi ích trăm năm trồng người.”
Và giờ đây tôi đang thực hiện nhiÖm vụ thiêng liêng, cao cả ấy. Dạy học là
quá trình trồng người lâu dài và không ít khó khăn. Để gặt hái được những thành
công đòi hỏi mỗi giáo viên phải kiên trì và phấn đấu không mệt mỏi. Tích cực
lao động sáng tạo. “Tất cả vì học sinh thân yêu”.
Kiến thức và phương pháp dạy học là cái vốn mà bất cứ Nhà giáo nào cũng
mang trong hành trang của mình. Nhưng sử dụng nó có triệt để và có sáng tạo
hay không có tạo được niềm say mê cho học sinh hay không là nghệ thuật riêng
của mỗi người. Dựa vào thực tế giảng dạy cùng quá trình tiếp cận đối tượng học
sinh, tôi tìm tòi nghiên cứu và đúc rút được những kinh nghiệm nho nhỏ. Đó là
mong muốn đem lại sự hứng thú học tập cho học sinh đối với mảng thơ trữ tình.
Đồng thời làm nền tảng lôi cuốn các em say mê với môn Ngữ văn nói chung.
Góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn trong xu thế đổi mới hiện nay. Đây
cũng là một bước nhỏ nhưng cần thiết trong công tác giáo dục đạo đức hoc sinh.
2. Kiến nghị: Bên cạnh việc tự bản thân không ngừng hoàn thiện trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ và tự sáng tạo đồ dùng dạy học, tôi kính đề nghị Bộ giáo
dục và đào tạo cùng các ban ngành có liên quan đầu tư thêm các trang thiết bị
dạy học cho môn Ngữ văn. Đồng thời cần tổ chức cho giáo viên có những buổi
dự giờ chéo giữa các trường theo cụm hoặc Phòng thường xuyên tổ chức các lớp
bồi dưỡng nghiệp vụ, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy giữa giáo viên giỏi các cấp
với các giáo viên ở các trường để chúng tôi có điều kiện trao đôi kinh nghiệm
học hỏi lẫn nhau. Đặc biệt, các Tổ chuyên môn phải chú trọng hơn nữa việc Sinh
hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học để cùng đưa ra những phương pháp
dạy phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh nhà trường.
Trên đây là những kinh nghiệm nhỏ của bản thân được được đúc kết trong
quá trình dạy học chắc chắn không tránh được những thiếu sót. Vì vậy tôi rất
mong được sự đóng góp ý bổ sung của Hội đồng khoa học và đồng nghiệp để đề
tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Phượng Nghi, ngày 10 tháng 05 năm 2017
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
NGƯỜI THỰC HIỆN

Nguyễn Bá Phóng
18


19


20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×