Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh lớp 6 trong bài luyện nói kể chuyện

MỤC LỤC
Nội dung
Trang
Mục lục ……………………………………………………………….
1
1. Mở đầu ..…………………………………………………..….…….
2
1.1. Lí do chọn đề tài……………………………………….................
2
1.2. Mục đích nghên cứu….……………………………………...…...
2
1.3. Đối tượng nghiên cứu ……...…………………………….….......
3
1.4. phương pháp nghiên cứu…..……………………………………..
3
2. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm ……………………………...
3
2.1.Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm..………………….. . . …
4
2.2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm ……
4

2.3. Các giải pháp đã sử dụng ….……………………………………..
4
2.4 Hiệu quả thực hiện ………………..………………………………
8
3. Kết luận, kiến nghị………………………………………………. ..
9
Tài liệu tham khảo ……………………………………………………
11

1


1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
Ông bà ta xưa thường có câu: “ Học ăn, học nói, học gói, học mở”, hay “ Lời
nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Như vậy lời nói là
phương tiện dùng để giao tiếp, là kĩ năng để diễn đạt, muốn diễn đạt được tốt cần
phải có quá trình rèn luyện để giúp cho việc nói đạt hiệu quả cao.
Trong văn chương cũng vậy, muốn viết một bài văn hay cần phải rèn luyện kĩ
năng viết thông qua cách diễn đạt bằng ngôn ngữ vì vậy tiết "Luyện nói" là một tiết
học vô cùng quan trọng đối với học sinh THCS, nhất là học sinh lớp 6. Qua tiết
luyện nói, giáo viên luyện cho học sinh biết vận dụng từ ngữ và các quy tắc ngữ
pháp cơ bản đã học để nói đúng, viết đúng, biết diễn đạt ý tưởng chính xác, rõ ràng,
trong sáng. Hơn nữa, giáo viên còn rèn cho học sinh các mặt cụ thể về lời nói (phải
rõ nghĩa, rõ ý), giọng nói (phải vừa nghe, vừa cố gắng truyền cảm) và tư thế nói
(phải mạnh dạn, tự tin giúp cho lời nói có sức thuyết phục hơn). Nói năng tốt có ý
nghĩa rất quan trọng đối với các em không chỉ trong thời gian học ở trường mà còn
trong suốt cuộc đời, đặc biệt là khi các em trưởng thành gắn với hoạt động giao tiếp
thực tế. Rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh là một việc làm khó, nhưng dù khó thế
nào, yêu cầu kĩ năng nói cũng phải luôn luôn được coi trọng. Nếu như nghe và đọc
là hai kĩ năng quan trọng của hoạt động tiếp nhận thông tin, thì nói và viết là hai kĩ
năng quan trọng của hoạt động bộc lộ, truyền đạt thông tin cần được rèn luyện và
phát triển trong nhà trường.
Luyện nói trong nhà trường là giúp học sinh có thói quen nói trong những
môi trường giao tiếp khác nhau. Nó được thực hiện một cách có hệ thống, theo
những chủ đề nhất định, gắn với những vấn đề quen thuộc trong cuộc sống hàng
ngày. Văn nói phát triển cho học sinh kĩ năng lựa chọn từ ngữ, kiểu câu mang
phong cách khẩu ngữ. Tập làm văn nói rất có ích cho người đọc, người học, giúp
học sinh có khả năng độc thoại theo đề tài thường gặp trong đời sống (như phát
biểu ý kiến của mình về một vấn đề nào đó, hay trong thảo luận hoặc trong giao

tiếp hằng ngày) [1]. Giáo viên quan tâm đến việc luyện nói cho học sinh là đã góp
phần phát triển ngôn ngữ cho các em thực hành giao tiếp. Với các em lớp 6, việc
rèn kĩ năng nói là đã góp phần phát triển ngôn ngữ cho các em vào việc thực hành
giao tiếp, đây là việc làm vô cùng quan trọng. Giúp các em phát âm chuẩn, diễn đạt
đúng ý định của bản thân thông qua các tiết luyện nói. Nếu đọc, nói không đúng,
không rõ ràng thì quá trình giao tiếp sẽ gặp khó khăn; người nghe khó hiểu trọn
vẹn được ý định của người nói. Nhiệm vụ đặt ra cho người giáo viên là để thực
hiện các bài luyện nói cho các em cần lựa chọn phương pháp nào? Biện pháp nào
giúp các em mạnh dạn hơn trước tập thể lớp, trước thầy cô và trước mọi người
xung quanh, biết diễn đạt được những điều mình muốn nói. Vấn đề đặt ra là làm thế
nào để qua việc dạy các bài luyện nói theo sách giáo khoa Ngữ Văn để góp phần
dạy các em giao tiếp hàng ngày của cuộc sống. Những trăn trở này chính là lí do tôi
chọn đề tài: “ Một số biện pháp rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 6 trong bài
luyện nói kể chuyện” ở trường THCS Hoằng Đông.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Với các em lớp 6, việc rèn kĩ năng nói là đã góp phần phát triển ngôn ngữ
cho các em vào việc thực hành giao tiếp, đây là việc làm vô cùng quan trọng. Giúp
2


các em phát âm chuẩn, diễn đạt đúng ý định của bản thân thông qua các tiết luyện
nói. Nếu đọc, nói không đúng (hay không rõ ràng) thì quá trình giao tiếp sẽ gặp
khó khăn, khó có thể đạt được như mong muốn. Người nghe khó hiểu trọn vẹn
được ý định của người nói.
Đặc biệt việc rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh, theo tôi còn là việc tháo gỡ
vướng mắc, xóa đi mặc cảm ngại học văn của một số học sinh. Thầy cô phải suy
nghĩ, tìm tòi, thâm nhập, hiểu được những khó khăn, vướng mắc mà các em lâu nay
chưa làm được. Thầy cô hãy động viên, nâng niu những gì mà các em tạo được với
tính kiên trì nhất.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh là đối tượng chính. Nhưng để đạt hiệu
quả cao, vấn đề đặt ra còn là các kĩ năng khác như: tìm hiểu đề, tìm ý; dựng đoạn
trong văn kể chuyện; diễn đạt bằng lời văn, đoạn văn trong bài văn nói.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: trên cơ sở lí thuyết chung
về đặc trưng bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông, đặc biệt là dựa vào đặc
trưng của kiểu bài văn nói thực hiện trong một tiết học.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: khảo sát thực tế bài
văn nói cho đối tượng học sinh khối 6 tại nhà trường. Ngoài ra có sự thu thập thông
tin, tham khảo thêm kinh nghiệm của đồng nghiệp trong trường và ngoài nhà
trường.
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: cụ thể qua các bài luyện nói của học sinh
khối 6 qua các mặt cụ thể về yêu cầu cần đạt khi thực hiện tiết học.
- Phương pháp so sánh: từ việc điều tra, khảo sát thực tế để có số liệu đến tiến
hành xử lí số liệu để có phép so sánh bằng con số cụ thể. Thông qua đó để thấy
được tác dụng thực tiễn của đề tài nghiên cứu.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lý luận:
Văn học là một bộ môn nghệ thuật sáng tạo ngôn từ đầy giá trị. Có thể coi
mỗi một tác phẩm văn học là một viên ngọc trong cuộc sống, nó bay bổng tạo nên
những khúc nhạc làm cho cuộc sống đời thường thêm chất thơ. Vậy làm thế nào
cho học sinh mình cảm nhận được chất thơ của cuộc sống đời thường để rồi từ đó
các em nói ra, viết ra những điều mà các em đã học, đã cảm nhận trong cuộc sống
xung quanh thường ngày; tự các em tạo nên những tác phẩm nghệ thuật “ bé con”
giá trị? Tôi nghĩ đó là một việc làm mà mọi thầy cô giáo đang tìm cách đi nhẹ
nhàng nhất và có hiệu quả nhất cho riêng mình.
Nhìn nhận vấn đề một cách cụ thể hơn chúng ta thấy rằng, chương trình Ngữ
văn lớp 6 so với chương trình tiểu học mà các em đã làm quen và có nhiều những
khái niệm còn trừu tượng. Giữa học và làm là cả một thao tác, một khoảng cách
khó. Riêng kĩ năng luyện nói đòi hỏi các em phải cố gắng nhiều hơn, biết vận dụng
từ lí thuyết vào thực hành giúp cho vốn từ của các em giàu hơn, các em có thể tự
tin hơn trong giao tiếp. Việc rèn kĩ năng luyện nói chính là giúp các em phát triển
tốt ngôn ngữ Tiếng Việt trong thực hành giao tiếp.
Trong chương trình của sách giáo khoa hiện nay đặc biệt chú trọng và nhấn
mạnh "Trọng tâm của việc rèn luyện kĩ năng Ngữ văn cho học sinh là làm cho học
3


sinh có kĩ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt khá thành thạo theo các kiểu văn bản
và có kĩ năng sơ giản về phân tích tác phẩm văn học, bước đầu có năng lực cảm
nhận và bình giá văn học"[2]. Người giáo viên phải phát huy được tính tích cực
trong học tập cho học sinh thông qua việc luyện nói chính là cách để các em rèn
luyện ngôn ngữ, cách diễn đạt trước tập thể và trước đám đông tạo nên tâm thế tự
tin cho các em.
Qua việc trang bị và rèn luyện các tri thức và kĩ năng Ngữ văn, môn học này
góp phần quan trọng vào mục tiêu chung của nhà trường phổ thông: hình thành,
phát triển nhân cách, tư tưởng và tâm hồn con người. Qua mỗi giờ Ngữ văn, người
học có ý thức sống ngày một tốt hơn, đẹp hơn, đúng như nhà văn Nga, M. Gorơki
đã viết: “ Mỗi cuốn sách là một bậc thang nhỏ, giúp tôi tách khỏi con thú để tiến
dần đến với con người”[3].
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Học sinh ở trường THCS Hoằng Đông là một xã ở xa trung tâm, các em đều xuất
thân và sinh sống ở vùng nông thôn, ít có dịp đi đây, đi đó để mở rộng tầm nhìn nên
thường có tâm lí e dè, ngại nói hoặc không tự tin khi nói trước đông người. Không
những thế ngoài giờ học, các em quen nói tự do, còn trong giờ tập nói, các em phải
trả lời, phải suy nghĩ, trình bày lời nói của mình dưới sự giám sát của giáo viên.
Học sinh phát âm chưa tốt, nói sai nhiều, do ảnh hưởng của từ ngữ địa
phương. Khi trả lời học sinh có thói quen lặp lại từ, diễn đạt vụng về, thiếu mạch
lạc, tác phong chưa mạnh dạn, không dựa vào đề cương để nói mà thường là đọc.
Vốn từ ngữ ở học sinh còn hạn chế nên các em lúng túng trong việc diễn đạt,
nhiều em hiểu đề nhưng khi vận dụng vào thực hành các em không diễn đạt được vì
nghèo vốn từ.
Thời gian cho một tiết luyện nói không đủ để giáo viên có thể cho số lượng
học sinh lên nói được nhiều, vì lớp có sĩ số học sinh khá đông cho yêu cầu của một
tiết luyện nói.
Sách giáo viên chỉ mới đưa ra yêu cầu chung chung cho tiết học, việc áp dụng
khi tổ chức giờ dạy cụ thể cho đối tượng học sinh trong trường còn nhiều khó khăn.
Sách chuẩn kiến thức kĩ năng chưa có định hướng rõ ràng trong việc giúp
người dạy tổ chức các tiết luyện nói.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
Để hoàn thành những định hướng đã đề ra, dựa trên thực tế giảng dạy của
mình, tôi xin trình bày những biện pháp chính đã áp dụng như sau:
- Chương trình sách giáo khoa đã đổi mới theo khuynh hướng quan tâm tới
việc rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh, phân phối chương trình Ngữ văn 6 đều có
tiết luyện nói ở cả hai học kì, cụ thể ở học kì I gồm các tiết:
+ Tiết 29: Luyện nói kể chuyện
+ Tiết 43: Luyện nói kể chuyện
- Dạy tiết luyện nói phải kết hợp lí thuyết và thực hành, coi trọng thực hành
về nói. Muốn cho học sinh nói được nhiều, giáo viên phải chuẩn bị từ khi ra đề,
hướng dẫn học sinh chuẩn bị ở nhà. Dạy luyện nói phải gây hứng thú học tập của
học sinh, phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh. Giờ luyện nói là giờ
thể hiện cá tính, là giờ học sinh được làm chủ mình hơn cả, giáo viên đừng gò bó
4


các em, đừng vội vàng phê phán các biểu hiện chưa tốt của các em, vấn đề là phải
tạo những điều cần và đủ để các em nói.
- Dạy một tiết luyện nói theo tôi cần phải kết hợp việc rèn luyện kĩ năng với
việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, tư duy cho học sinh; giáo dục lòng yêu mến tự
hào về tiếng Việt, tự hào về dân tộc ta. Dạy luyện nói không chỉ dạy lời nói, dáng
điệu nói... mà phải dạy chiều sâu của tâm hồn, tư tưởng của học sinh mà cụ thể hơn
là dạy nếp sống có văn hóa, nói năng tốt, chống thói quen nói năng xấu đang có
nguy cơ lan tràn trong học sinh hiện nay như nói tục, nói trống không, nói tiếng
lóng ...
Để giúp cho các em luyện nói bài kể chuyện được tốt theo tôi cần áp dụng
các biện pháp sau:
Biện pháp thứ nhất: Hướng dẫn việc chuẩn bị bài ở nhà cho học sinh:
Muốn một giờ luyện nói đạt kết quả tốt, ngoài việc hướng dẫn cho học sinh
đi đúng yêu cầu của một giờ luyện tập trên lớp thì việc cho các em chuẩn bị bài ở
nhà cũng rất quan trọng. Muốn các em chuẩn bị bài tốt, có chất lượng thì sự chuẩn
bị, hướng dẫn của giáo viên cũng phải chu đáo. Trong sách giáo khoa thường có
một số đề bài để giáo viên lựa chọn, vậy nên cần lựa chọn đề bài nào cho phù
hợp, và có hiệu quả cao cho đối tượng học sinh của mình. khi đã chọn được đề phù
hợp rồi, giáo viên phải phân việc cụ thể cho từng đối tượng học sinh (có thể phân
theo dãy bàn, tổ, nhóm) để học sinh chuẩn bị kĩ lưỡng, tránh đối phó qua loa, đại
khái.
Ví dụ: Trong tiết 43 luyện nói kể chuyện ở lớp 6 có đề bài: kể về một chuyến
ra thành phố.
Với đề bài này dàn ý có thể lập như sau:
a, Mở bài
Lí do ra thành phố
b, Thân bài
- Lòng háo hức khi được ra thành phố
- Những điều tai nghe, mắt thấy ở thành phố
+ Quang cảnh chung của thành phố( xe cộ, nhà cửa, người đi lại…)
+ Quang cảnh của một khu phố cụ thể đã đi qua.
+ Cảnh một siêu thị hiện đại, sang trọng, người mua bán tấp nập
+ Cảnh một công viên đẹp đẽ, trẻ em đông vui nhộn nhịp.
+ Em được chụp ảnh kỉ niệm, mua sách vở, đồ dùng học tập.
c. Kết bài:
Chia tay- cảm xúc về chuyến đi
Giáo viên phải phân nhóm cho học sinh( mỗi nhóm từ 4-5 em) như sau:
+ Nhóm chuẩn bị phần mở bài
+ Nhóm chuẩn bị phần kết bài
+ Sáu nhóm chuẩn bị phần thân bài với sáu ý
( Giáo viên yêu cầu học sinh chia ý lớn thứ hai phần thân bài làm năm ý nhỏ)
Biện pháp thứ hai: Giáo viên phải nắm vững yêu cầu của tiết dạy:
Chúng ta phải hiểu rằng đây là tiết giúp học sinh "luyện nói" thì học sinh
phải được nói. Phải thực sự luyện trên lớp cho từng em được nói. Trước khi luyện
nói theo tôi giáo viên phải nêu thật rõ yêu cầu của tiết cần ghi tóm tắt lên bảng.
5


Khi học sinh lên bảng trình bày, giáo viên phải đứng ở vị trí cuối lớp để nắm bắt và
nhận xét đúng khả năng thành tích đạt được của các em trong quá trình luyện nói
( trình bày một vấn đề bằng miệng). Đồng thời cần định hướng cho học sinh đi
đúng yêu cầu, nói chứ không phải là đọc. Đã nói thì phải vận dụng đúng ngôn ngữ,
nói thể hiện rõ nhất là ngữ điệu trong sử dụng thành văn. Ngoài ra, các em còn thể
hiện qua cử chỉ, nét mặt, sắc thái tình cảm, thái độ khi trình bày.
Ví dụ: Kể về một chuyến đi thăm thành phố ( Hoặc kể về một cuộc đi thăm
di tích lịch sử)
Khi cho học sinh luyện nói đề bài này, giáo viên cần phải cho các em xác
định và nắm vững các bước làm một bài văn tự sự, cần cho học sinh xác định được
phần tìm hiểu đề, tìm ý; giáo viên có thể đặt câu hỏi cho học sinh định hướng nội
dung bài luyện nói. Chẳng hạn: đề yêu cầu các em làm gì? Với đề này các em cần
trình bày những nội dung nào? Bố cục của bài luyện nói gồm mấy phần? Sau đó
giáo viên sẽ chỉnh sửa lại cho phù hợp và yêu cầu học sinh trình bày bài luyện nói
của mình.
Biện pháp thứ ba: Cả lớp đều tham gia luyện nói:
- Làm thế nào để cả lớp tham gia luyện nói theo đúng nghĩa của nó? Đó là
yêu cầu quan trọng của tiết dạy. Thường thì những giờ luyện nói như thế này giáo
viên không khéo léo thì một số em lơ là, không tham gia luyện tập, ỷ lại chỉ chờ kết
quả của các thành viên khác trong nhóm mà không chịu tư duy. Vì vậy tôi cần phải
tìm ra những biện pháp tốt nhất mà trong đó không thể bỏ qua việc các em tham gia
nhận xét, đánh giá sự trình bày của bạn. Vấn đề đặt ra là giáo viên phải hướng cho
học sinh biết đánh giá thế nào là đúng. Tôi có thể yêu cầu các em như sau:
Ví dụ:
? Em hãy nhận xét phần trình bày của bạn? Theo em bạn nói đã đúng nội
dung bài hay chưa? (bạn đọc hay nói?) Phần trình bày nội dung có cần bổ sung
thêm những ý nào không?
? Cử chỉ, thái độ, giọng điệu của bạn trình bày đã phù hợp hay chưa? (cử chỉ,
thái độ, giọng điệu biểu hiện như thế nào?)
Muốn đạt được những yêu cầu này, trước hết tôi phải đặt ra những yêu cầu
đối với các em như: biết nhận xét đúng, sai của bạn tức là mình đã có sự chuẩn bị
bài ở nhà hoặc tôi có thể khuyến khích các em về những lời khen đã có sự chuẩn bị
bài tốt hoặc có thể dùng phần thưởng bằng điểm số hoặc quà cho cả em được tham
gia nói và cả em tham gia nhận xét.
Biện pháp thứ tư: Rèn luyện nội dung, hình thức và tác phong nói.
Khi dạy bài này, giáo viên có thể cho các em được xem trên máy chiếu một
bài văn nói làm mẫu. Sau đó , tổ chức cho học sinh xung phong trình bày các vấn
đề hoặc có thể gọi các đối tượng giỏi, khá, trung bình, yếu, kém trình bày. Giáo
viên căn cứ vào bài nói của học sinh để rút kinh nghiệm cho các em lần sau nói tốt
hơn lần trước.
* Rèn luyện nội dung nói:
- Học sinh nói phải có nội dung, nói có suy nghĩ, điều chỉnh kịp thời nội
dung để đáp ứng yêu cầu người nghe.
- Nói theo đề cương mà nội dung đã chuẩn bị.
- Nói tập trung vào vấn đề, chọn dẫn chứng tiêu biểu.
6


- Điều chỉnh nội dung nói: nhắc lại điều người nghe chưa hiểu, lướt những
điều người nghe đã rõ.
- Kết hợp đúng mực nội dung và ngữ điệu, không để cho ngữ điệu lấn át nội
dung.
Ví dụ: Kể về một chuyến ra thăm thành phố
Với đề bài này, các em cần phải trình bày được :
a, Mở bài
- Lời chào
- Lí do ra thành phố
b, Thân bài
- Lòng háo hức khi được ra thành phố
- Những điều tai nghe, mắt thấy ở thành phố
+ Quang cảnh chung của thành phố( xe cộ, nhà cửa, người đi lại…)
+ Quang cảnh của một khu phố cụ thể đã đi qua.
+ Cảnh một siêu thị hiện đại, sang trọng, người mua bán tấp nập.
+ Cảnh một công viên đẹp đẽ, trẻ em đông vui nhộn nhịp
+ Em được chụp ảnh kỉ niệm, mua sách vở, đồ dùng học tập.
c. Kết bài:
- Chia tay- cảm xúc về chuyến đi
- Cảm ơn mọi người đã chú ý lắng nghe.
* Rèn luyện hình thức và tác phong nói:
- Nắm vững đề tài cần nói, huy động nhanh vốn từ đúng, từ hay, đặt câu đúng
và hay, cách dựng đoạn.
- Bài nói phải rõ ràng, mạch lạc, phát âm chuẩn, tránh dùng từ ngữ địa
phương.
- Vận dụng nét mặt, cử chỉ, dáng điệu phù hợp với nội dung nói.
- Có thái độ khiêm tốn, chân tình với người nghe, quán xuyến theo dõi thái
độ người nghe.
+ Tạo cho các em có nhu cầu muốn nói, muốn được bộc lộ:
Khi tiếp xúc với các em lần đầu tiên, tôi thấy cần thiết lập tốt mối quan hệ,
giúp học sinh thấy được sự gần gũi, thân tình nơi giáo viên điều này là cơ sở giúp
học sinh dễ dàng bộc lộ với giáo viên hơn trong những giờ sau. Giáo viên có thể
làm quen với các em bằng cách giới thiệu về mình cũng là cơ sở để các em theo đó
mà tự giới thiệu bản thân về những điều đơn giản như họ, tên, tuổi, sở thích ... Điều
này không kém phần quan trọng, vì nếu làm được như vậy thì giáo viên đã góp
phần vào giúp học sinh bắt đầu tập làm quen với việc phát biểu miệng.
+ Phát huy kĩ năng nói trong các giờ học, kết hợp với việc rèn luyện các kĩ
năng khác:
Trong các tiết học, giáo viên nên chú trọng kĩ năng nói cho học sinh thông
qua những lần phát biểu đóng góp xây dựng bài. Đặt những câu hỏi kích thích tư
duy và sự phản xạ của học sinh. Câu hỏi nên đi từ đơn giản đến phức tạp để tập cho
các em biết suy nghĩ trước khi nói, nói đúng vấn đề cần trao đổi, khi nói cần bình
tĩnh, tự tin ... Giáo viên cần khuyến khích, động viên học sinh phát biểu suy nghĩ
trong khi phát biểu và cả trong khi thảo luận, ngay cả khi ý kiến đó là sai hoặc chưa
hoàn toàn chính xác. Bên cạnh đánh giá việc trình bày của học sinh, giáo viên cũng
7


nên lưu ý cho học sinh những lỗi cần tránh về chính tả và hướng c edẫn cám nói
diễn cảm, ngắn gọn, súc tích, hấp dẫn cho người nghe. Do đó giáo viên phải giúp
học sinh chuẩn bị tốt nội dung bài nói, bao gồm các vấn đề:
- Nói cái gì? (Xác định đề tài)
- Nói với ai? (Xác định đối tượng giao tiếp)
- Nói trong hoàn cảnh nào? (Xác định hoàn cảnh giao tiếp)
- Nói như thế nào? (Cách thức giao tiếp để thuyết phục người nghe)
Có lời chào khi bắt đầu nói, giới thiệu đề tài sắp nói, tránh đọc lại hoặc thuộc
lòng để đọc lại bài văn chi tiết đã chuẩn bị.
Giọng nói rõ ràng, cao độ vừa phải, đúng chuẩn ngữ âm, truyền cảm và
thuyết phục người nghe (thể hiện cảm xúc chân thành, tự nhiên, không gò bó, áp
đặt). Tác phong tự nhiên, phản xạ ngôn ngữ nhanh nhạy, mắt nhìn thẳng mọi người.
Không nói ra ngoài những gì mà đề bài yêu cầu. Có lời chào khi kết thúc bài nói.
+ Tạo cho học sinh hoàn cảnh giao tiếp thuận lợi trong giờ luyện nói:
Trước mỗi giờ luyện nói, tôi cần cho học sinh chuẩn bị đề tài trước khoảng
một tuần. Có thể giao cho các em cùng một đề tài hay chia lớp từ 4 đến 6 nhóm,
mỗi nhóm một đề tài (nếu tiết học có đề tài nhiều).
Vào giờ học, tôi cho thời gian để các em có thể chuẩn bị tư thế trước khi lên
nói. Có thể là cá nhân tự chuẩn bị, có thể là cho nhóm thảo luận để chọn đại diện
lên nói, nên hướng cho học sinh có thái độ cùng nhau hợp tác, thời gian thảo luận là
5 phút.
Không khí của giờ luyện nói nên tạo được sự hào hứng cho lớp học, cho từng
em học sinh, làm cho các em phấn khởi, mong muốn được lên trình bày bài nói của
mình. Để tạo hứng thú cho học sinh học tập tôi đã đánh giá khen ngợi, khuyến
khích bằng cách cho điểm, tặng những tràng pháo tay động viên sau mỗi bài nói tốt.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục của
bản thân, đồng nghiệp, nhà trường.
Trước khi chưa áp dụng các biện pháp rèn kĩ năng luyện nói cho học sinh,
tôi đã kiểm tra thái độ các em. Tôi nhận thấy các em cũng rất thích học môn học
này và học cũng rất sôi nổi, nhưng vận dụng được luyện nói, nói hai chiều, nói hay,
nói biểu hiện giọng điệu, ánh mắt thì chưa có. Giáo viên chưa phát huy được điều
đó cho các em. Trong quá trình dạy học năm 2016- 2017 ở các lớp 6A và 6B với
trình độ ngang nhau, nhưng cách diễn đạt của các em còn hạn chế. Cụ thể như sau:
Ở bài luyện nói kể chuyện tiết 29

Lớp
6A
6B

Sĩ số
29
30

Số HS chưa biết
cách nói

Số HS nói theo
hướng đúng mẫu

Số HS nói có lời
nói hay

SL

%

SL

%

SL

%

19
15

65,5
50

8
11

27,5
36,7

2
4

6,9
13,3

Sau khi áp dụng những phương pháp như đã nêu trên thì học sinh có sự
chuyển biến tương đối khá tốt.
Các em không còn rụt rè, e ngại, thiếu tự tin khi đứng trước đám đông để
luyện nói mà theo vào đó là sự tự tin, thái độ cởi mở hơn.
8


Không khí lớp học có sự hào hứng, sôi nổi, các em thích được học những
tiết luyện nói hơn.
Bài nói do có sự chuẩn bị chu đáo nên khi trình bày các em không có sự ngập
ngừng, ấp úng, nội dung cũng trọn vẹn, đầy đủ. Do đó, đa số bài nói đều hoàn
chỉnh hơn lúc trước.
Kĩ năng nói của các em đã có sự tiến bộ, các em biết chào khi mở đầu và khi
kết thúc, biết giới thiệu đề tài, cách nói cũng trôi chảy, gãy gọn, đúng chính tả, biết
kết hợp cử chỉ, nét mặt, thái độ, ...
Dưới dây là kết quả tôi khảo sát được sau khi áp dụng kinh nghiệm( ở bài
luyện nói kể chuyện tiết 43)

Lớp
6A
6B

Sĩ số
29
30

Số học sinh chưa
biết cách nói
SL
9
5

%
31
16,7

Số học sinh nói
theo hướng đúng
mẫu
SL
%
14
48,3
15
50

Số học sinh nói
có lời nói hay
SL
6
10

%
20,7
33,3

3. Kết luận, kiến nghị
Từ những thành công qua các biện pháp trên, bản thân tôi rút ra những bài
học kinh nghiệm sau đây:
Trước hết người giáo viên dạy văn phải thấy được tầm quan trọng của tiết
luyện nói ở lớp 6 nói riêng và ở bậc THCS nói chung. Người giáo viên phải có sự
tìm tòi và đem hết trách nhiệm của mình để đạt kết quả cao nhất cho tiết học này.
Muốn giờ luyện nói đạt kết quả tốt, người giáo viên phải có sự chuẩn bị chu
đáo. Trước hết là chuẩn bị giáo án, sau đó là chuẩn bị cụ thể, tỉ mỉ cho việc hướng
dẫn sự chuẩn bị bài của học sinh. Có như vậy cả giáo viên và học sinh mới thực
hiện tốt việc luyện nói trên lớp.
Trong giờ luyện tập, giáo viên phải phát huy trí tuệ của học sinh, áp dụng
những biện pháp tốt nhất để cả lớp tham gia luyện tập. Từ đó giúp các em hiểu
được yêu cầu của tiết luyện tập cũng như nâng cao kĩ năng trình bày nói trước tập
thể học sinh.
Thông qua tiết luyện nói, giáo viên giáo dục cho học sinh lòng tự hào được
nói tiếng Việt, biết tôn trọng và giữ gìn sắc thái ngữ âm độc đáo của tiếng Việt.
Lòng tự hào về tiếng Việt của học sinh phải thể hiện: học tập, xây dựng tiếng nói và
chống những cách nói không đúng, không lành mạnh.
Rất mong Bộ giáo dục, Sở giáo dục, Phòng giáo dục tiếp tục tổ chức hội thảo
chuyên đề cho giáo viên bộ môn Ngữ văn trong từng năm để giáo viên có dịp trao
đổi kinh nghiệm, bàn luận tìm ra biện pháp tối ưu, tích cực nâng cao chất lượng dạy
học môn văn, và đặc biệt là dạng bài luyện nói. Từ đó, có những chương trình thiết
thực với chúng tôi về ứng dụng đổi mới phương pháp dạy và học Ngữ văn trong
các chuyên đề Bồi dưỡng thường xuyên theo chu kì.
Hi vọng đề tài nhận được sự quan tâm góp ý của bạn bè đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
9


XÁC NHẬN CỦA THỦ
TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Hoằng Đông, ngày 10 tháng 5 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người viết

Nguyễn Thị Hồng

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1, Sách giáo khoa Ngữ Văn 6( Tập 1) - Nhà xuất bản Giáo dục
2, Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS môn Ngữ văn 6
(Bộ GD & ĐT)
3, Sách thiết kế bài giảng Ngữ văn 6( Nhà xuất bản Hà Nội)
4, Sách hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng môn Ngữ văn THCS- Tập
1( Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam)
5, Sách giáo viên Ngữ văn 6( Nhà xuất bản giáo dục)
6, Sách để học tốt Ngữ văn 6 tập 1+ tập 2( Nhà xuất bản văn hóa thông tin)
7, Sách Bồi dưỡng Ngữ văn 6( Nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh)
8, Bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn THCS quyển 1( Đỗ Ngọc Thống, Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam)
10


TRÍCH DẪN TÀI LIỆU THAM KHẢO
[ 1]- Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS môn Ngữ văn

6 (Bộ GD & ĐT)
[ 2]- Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS môn Ngữ văn
6 (Bộ GD & ĐT)
[ 3]- Bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn THCS quyển 1( Đỗ Ngọc Thống, Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam)

DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH
GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP
CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Hồng
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS Hoằng Đông- Hoằng HóaThanh Hóa
TT

Tên đề tài SKKN

Cấp đánh Kết quả Năm học đánh
giá xếp loại đánh giá
giá xếp loại
(Phòng, Sở, xếp loại
11


Tỉnh...)
1.

2.

(A, B,
hoặc C)

Thực trạng làm bài và những

Phòng GD
& ĐT
giải pháp nhằm nâng cao chất
huyện Ngọc Xếp loại
A
lượng bài văn cho học sinh
Lặc- Thanh
Hóa
lớp 8
Phương pháp giúp học sinh
Phòng GD
& ĐT
làm tốt bài tập làm văn nghị
Xếp loại
huyện
C
luận lớp 7
Hoằng HóaThanh Hóa

2010- 2011

2014-2015

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×