Tải bản đầy đủ

Kinh nghiệm dạy học tích hợp liên môn trong giờ học môn ngữ văn ở trường THCS

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GD & ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
……………………………..&……………………………..

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

KINH NGHIỆM DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN
TRONG GIỜ HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS

Người thực hiện : Nguyễn Thị Loan
Chức vụ : Bí thư Chi bộ, Tổ trưởng chuyên môn
Đơn vị công tác : Trường THCS Trần Mai Ninh
SKKN thuộc lĩnh vực (môn) Ngữ văn

THANH HÓA NĂM 2017


MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:………………………………………………………...Trang 2

2. Mục đích nghiên cứu:……………………………………………………Trang 4
3. Đối tượng nghiên cứu:…………………………………………………...Trang 5
4. Phương pháp nghiên cứu: :…………………………………………......Trang 5
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:……………………………...Trang 5
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:……...Trang 11
3. Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn
đề:……………………………………………………………………..........Trang 12
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường:………………………………………..Trang
17
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
1. Kết luận:………………………………………………………………...Trang 18
2. Kiến nghị: ………………………………………………………………Trang 19

2


I. MỞ ĐẦU:
1. Lí do chọn đề tài:
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo
dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan
tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được
cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công
việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách
học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm
chất; đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí
nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề và các
tình huống trong thực tiễn cuộc sống.
Nằm trong lộ trình đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá
ở các trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực của học sinh trên tinh
thần Nghị quyết 29 - NQ/TƯ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, sau
khi Quốc hội thông qua Đề án đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông, Bộ
GD-ĐT tiếp tục chỉ đạo các cơ sở giáo dục tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng
lực cho đội ngũ giáo viên sẵn sàng đáp ứng mục tiêu đổi mới, trong đó tăng cường
năng lực dạy học theo hướng “tích hợp liên môn” là một trong những vấn đề cần ưu
tiên. Tuy nhiên, trên thực tế, đối với nhiều giáo viên, đây là khái niệm hoàn toàn
mới và thật sự gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong việc truyền đạt kiến thức cho
học sinh. Và cũng chính vì vậy, Dạy học tích hợp liên môn là khái niệm được đưa
ra bàn luận sôi nổi trong thời gian vừa qua thông qua các hội thảo chuyên đề ở các

cấp trong toàn quốc cũng như trên các diễn đàn khác.
Hiện nay, việc giao quyền chủ động xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà
trường và tập huấn giáo viên về các phương pháp dạy học tích cực đã tạo nhiều
thuận lợi cho nhà trường và giáo viên dạy kiến thức liên môn hướng tới mục tiêu
tích hợp. Nhiều giáo viên đã thực hiện tốt việc dạy học theo chủ đề tích hợp liên
môn, thể hiện qua kết quả Cuộc thi dạy học theo chủ đề tích hợp dành cho giáo
viên trung học mà Bộ GD-ĐT tổ chức trong những năm qua. Khó khăn của giáo
viên khi dạy tích hợp liên môn không nằm nhiều ở vấn đề nội dung mà ở vấn đề
phương pháp dạy học. Dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn đòi hỏi giáo viên
phải có năng lực trong tổ chức hoạt động học tích cực, tự lực và sáng tạo cho học
sinh, mà các hoạt động ấy phải được tổ chức ở trong lớp, ngoài lớp, trong trường,
ngoài trường, ở nhà và cộng đồng, đặc biệt quan tâm đến hoạt động thực hành và
ứng dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn. Nếu trong dạy học đơn
3


môn, giáo viên đã sử dụng được các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực để
tổ chức hoạt động học của học sinh, thay vì dạy học theo lối truyền thụ kiến thức
thì khó khăn này có thể vượt qua được.
Qua thực tế giảng dạy nhiều năm trong nhà trường THCS, bản thân tôi nhận
thấy mặc dù đội ngũ giáo viên trong các nhà trường đã được tập huấn về đổi mới
phương pháp dạy học; công tác chỉ đạo, quản lý của các cấp cũng đã có những
chuyến biến tích cực. Tuy nhiên, hầu hết giáo viên còn e ngại khám phá, vận động
và còn nhiều lúng túng trong sự đổi mới, đặc biệt là trong vấn đề dạy học theo chủ
đề tích hợp liên môn. Trong các giờ học, giáo viên vẫn còn nặng về việc truyền đạt
kiến thức hàn lâm khoa học, học sinh vẫn còn thụ động, máy móc với những kiến
thức trong sách vở; giờ học đơn điệu, nhàm chán, học sinh không phát huy được
tính tích cực, chủ động, khả năng vận dụng thực hành giải quyết tình huống trong
thực tiễn bị hạn chế.
Sau khi được tiếp thu các chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học cũng
như qua quá trình tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và qua thực tế trải
nghiệm trong quá trình giảng dạy bộ môn Ngữ văn và bộ môn Giáo dục công dân,
bản thân tôi tự nhận thấy chương trình giáo dục nào cũng bao hàm những nội dung
kiến thức liên môn. Vì vậy, việc dạy học tích hợp liên môn cần phải và có thể thực
hiện được ngay trong chương trình hiện hành, mặc dù việc thiết kế, sắp xếp các nội
dung dạy học trong chương trình, trong SGK chưa thật sự tạo nhiều thuận lợi cho
mục tiêu đó. Đặc biệt đối với môn Ngữ văn, do đặc thù là một môn học thuộc nhóm
khoa học xã hội, điều đó nói lên tầm quan trọng của nó trong việc giáo dục quan
điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Môn Ngữ văn còn là một môn học thuộc
nhóm công cụ. Điều đó nói lên mối quan hệ giữa Ngữ văn và các môn khác. Hơn
nữa, Ngữ Văn cũng là môn học góp phần hình thành nên những kiến thức cơ bản và
quan trọng nhất là hình thành nhân cách con người, chuẩn bị cho các em một hành
trang để bước vào đời, là chiếc chìa khóa mở cửa cho tương lai. Cụ thể trong
chương trình Ngữ văn cấp THCS có những bài dạy có thể tích hợp được với các
chủ đề giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh như : Học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, vấn đề bảo vệ môi trường, giữ gìn biển đảo quê
hương,…và có thể tích hợp với các bộ môn khác để giải quyết vấn đề đặt ra trong
bài học hay trong thực tiễn đời sống.
Với những lí do nói trên và dựa trên cơ sở kết quả đạt được trong cuộc thi “Dạy
học theo chủ đề tích hợp dành cho giáo viên trung học”: giải Nhất cấp Thành phố,
giải Ba cấp Tỉnh (năm học 2014 – 2015) và giải Nhì cấp Thành phố, giải Nhất cấp
Tỉnh, dự thi cấp Bộ trong năm học 2016 - 2017. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi

4


xin được trình bày một chút kinh nghiệm nhỏ của bản thân “Kinh nghiệm dạy học
tích hợp liên môn trong giờ học môn Ngữ văn ở trường THCS” . Và bài dạy cụ
thể mà tôi đã thực hiện đó là Tiết 39 – Bài 10 : “Thông tin về Ngày Trái Đất năm
2000” (Ngữ văn 8).
2. Mục đích nghiên cứu:
Mục đích chung mà bài viết này muốn hướng tới, đó là đóng góp một tiếng nói
chung cho sự thành công của công cuộc đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và
kiểm tra, đánh giá ở các trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực của
học sinh trên tinh thần Nghị quyết 29 - NQ/TƯ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo.
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, mục đích của người viết còn muốn hướng tới
cho đội ngũ giáo viên và học sinh nhận thức được một cách đầy đủ, rõ ràng hơn về
khái niệm dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn, cũng như bản chất, hiệu quả của
những giờ dạy theo chủ đề tích hợp khi mà vấn đề này đang còn nhiều tranh luận,
bàn cãi, cũng như hầu hết giáo viên đang còn lúng túng, chưa định hình rõ.
Với đề tài sáng kiến kinh nghiệm này, mục đích của người viết cũng mong
muốn được trình bày những nhận thức, suy nghĩ, việc làm của mình để trao đổi
cùng anh chị em, bạn bè đồng nghiệp để góp phần tháo gỡ những vướng mắc, khó
khăn trong quá trình thực hiện. Đồng thời đây cũng chính là cách tự bồi dưỡng, rèn
luyện nâng cao năng lực chuyên môn của bản thân.
Việc nghiên cứu đề tài này cũng nhằm mục đích tìm ra phương pháp, cách thức
hữu hiệu nhất nhằm phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá
trình tiếp nhận kiến thức và tăng khả năng thực hành, vận dụng giải quyết tình
huống trong thực tiễn đời sống. Bởi các chủ đề liên môn, tích hợp có tính thực tiễn
nên sinh động, hấp dẫn, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho
học sinh. Học các chủ đề tích hợp liên môn, học sinh được tăng cường vận dụng
kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến
thức một cách máy móc.
Việc chọn tiết dạy thử nghiệm : Tiết 39 – Bài 10 “Thông tin về Ngày Trái Đất
năm 2000” trong chương trình Ngữ văn lớp 8, mục đích của người viết muốn tích
hợp với chủ đề “Bảo vệ môi trường” nhằm giảm thiểu việc sử dụng bao bì ni lông
giữ cho môi trường xanh – sạch – đẹp – an toàn; đồng thời trong nội dung bài học
có thể tích hợp kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề: Môn GDCD (giáo dục ý
thức bảo vệ môi trường), môn Ngữ văn (viết bài thuyết minh, bài văn nghị luận),
môn Sinh học và môn Hóa học (giải thích đặc tính và tác hại của bao bì ni lông),
môn Tin học (làm Clip tư liệu truyền thông), môn Toán học (tính toán thống kê số

5


liệu điều tra thực tế), môn Mĩ thuật (vẽ tranh tuyên truyền cổ động), môn Công
nghệ (sản phẩm khéo tay sử dụng chất thải ni lông). Thông qua tiết dạy này, giáo
viên giúp học sinh vận dụng kiến thức liên môn để tiếp thu bài học một cách tích
cực, chủ động và biết vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống trong
thực tiễn “Làm thế nào để giảm thiểu sử dụng bao bì ni lông giữ cho môi trường
xanh – sạch – đẹp – an toàn ?”
3. Đối tượng nghiên cứu:
* Đối tượng dạy học :
- Số lượng : 55 học sinh của lớp 8B, trường THCS Trần Mai Ninh, TP Thanh Hóa.
* Nội dung nghiên cứu:
- Cơ sở lí luận chung về Dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn và đối với môn
Ngữ văn nói riêng ở trường THCS.
- Bài dạy: Tiết 39 – Bài 10 : “Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000” trong
chương trình Ngữ văn lớp 8.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Trên cơ sở thu thập, nghiên
cứu tài liệu trên mạng Internet, qua việc rà soát chương trình, lựa chọn tiết dạy với
chủ đề tích hợp liên môn.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp thu thập thông tin qua các tài liệu: Lựa chọn,
sắp xếp hệ thống cơ sở lý luận chung của bài viết; nội dung tư liệu phục vụ cho tiết
dạy.
- Phương pháp thuyết trình kết hợp phỏng vấn, đàm thoại: thực hiện trong giờ dạy
thử nghiệm.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế: thực trạng trước khi áp dụng SKKN (đối
tượng, nội dung nghiên cứu)
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: qua các hoạt động nhóm của học sinh, kiểm
tra, đánh giá sau khi áp dụng SKKN.
Trong giờ dạy thử nghiệm có sử dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát
huy tính tích cực, chủ động của học sinh như tổ chức hoạt động nhóm, đại diện học
sinh thuyết trình theo sự phân công chuẩn bị, tổ chức cho học sinh thảo luận, sử
dụng Bản đồ tư duy để hệ thống kiến thức bài học,...
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:
1.1. Quan điểm tích hợp liên môn trong dạy học nói chung:
* Thế nào là dạy học "tích hợp liên môn"?

6


Dạy học tích hợp liên môn là dạy học những nội dung kiến thức liên quan đến
hai hay nhiều môn học. "Tích hợp" là nói đến phương pháp và mục tiêu của hoạt
động dạy học còn "liên môn" là đề cập tới nội dung dạy học. Đã dạy học "tích hợp"
thì chắc chắn phải dạy kiến thức "liên môn" và ngược lại, để đảm bảo hiệu quả của
dạy liên môn thì phải bằng cách và hướng tới mục tiêu tích hợp.
+ Dạy học tích hợp có nghĩa là đưa những nội dung giáo dục có liên quan vào quá
trình dạy học các môn học như: tích hợp giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp
luật; giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển đảo; giáo dục sử dụng năng
lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông...
+ Dạy học liên môn là phải xác định các nội dung kiến thức liên quan đến hai hay
nhiều môn học để dạy học, tránh việc học sinh phải học lại nhiều lần cùng một nội
dung kiến thức ở các môn học khác nhau. Đối với những kiến thức liên môn nhưng
có một môn học chiếm ưu thế thì có thể bố trí dạy trong chương trình của môn đó
và không dạy lại ở các môn khác.
Trường hợp nội dung kiến thức có tính liên môn cao hơn thì sẽ tách ra thành các
chủ đề liên môn để tổ chức dạy học riêng vào một thời điểm phù hợp, song song
với quá trình dạy học các bộ môn liên quan.
Dạy học tích hợp liên môn xuất phát từ yêu cầu của mục tiêu dạy học phát
triển năng lực học sinh, đòi hỏi phải tăng cường yêu cầu học sinh vận dụng kiến
thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn.
Khi giải quyết một vấn đề trong thực tiễn, bao gồm cả tự nhiên và xã hội, đòi
hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp, liên quan đến nhiều môn học. Vì
vậy, dạy học cần phải tăng cường theo hướng tích hợp liên môn.
* Ưu điểm của việc dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn:
- Đối với học sinh:
Trước hết, các chủ đề liên môn, tích hợp có tính thực tiễn nên sinh động, hấp
dẫn, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho học sinh.
Học các chủ đề tích hợp liên môn, học sinh được tăng cường vận dụng kiến
thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một
cách máy móc.
Điều quan trọng hơn là các chủ đề tích hợp liên môn giúp cho học sinh không
phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau, vừa
gây quá tải, nhàm chán, vừa không có được sự hiểu biết tổng quát cũng như khả
năng ứng dụng của kiến thức tổng hợp vào thực tiễn.
- Đối với giáo viên:

7


Một là, trong quá trình dạy học môn học của mình, giáo viên vẫn thường xuyên
phải dạy những kiến thức có liên quan đến các môn học khác và vì vậy đã có sự am
hiểu về những kiến thức liên môn đó.
Hai là, với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, vai trò của giáo viên
không còn là người truyền thụ kiến thức mà là người tổ chức, kiểm tra, định hướng
hoạt động học của học sinh cả ở trong và ngoài lớp học; vì vậy, giáo viên các bộ
môn liên quan có điều kiện và chủ động hơn trong sự phối hợp, hỗ trợ nhau trong
dạy học.
Như vậy, dạy học theo các chủ đề liên môn không những giảm tải cho giáo
viên trong việc dạy các kiến thức liên môn trong môn học của mình mà còn có tác
dụng bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và kỹ năng sư phạm cho giáo viên, góp phần
phát triển đội ngũ giáo viên bộ môn hiện nay thành đội ngũ giáo viên có đủ năng
lực dạy học kiến thức liên môn, tích hợp. Thế hệ giáo viên tương lai sẽ được đào
tạo về dạy học tích hợp liên môn ngay trong quá trình đào tạo giáo viên ở các
trường sư phạm.
* Nguyên tắc dạy học tích hợp liên môn:
Trên quan điểm dạy học tích hợp liên môn, giáo viên cần chú ý tới các nguyên
tắc dạy học như sau:
+ Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu giáo dục phổ thông, đảm bảo mục tiêu giáo
dục môn học, đặc biệt đảm bảo chuẩn kiến thức và kỹ năng cho từng môn học.
+ Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học.
+ Nguyên tắc đảm bảo tính nội dung: không làm tăng tải nội dung chương trình,
không tích hợp ngược. Nội dung trong chủ đề yêu cầu học sinh khai thác, vận dụng
kiến thức của môn chính với các môn liên quan phải tương đồng để phát hiện và
giải quyết vấn đề một cách chủ động, sáng tạo, hợp tác…
+ Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi: chủ đề tích hợp liên môn phải gắn với thực tiễn,
tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh, phù hợp
với năng lực của học sinh, phù hợp với điều kiện khách quan của từng trường hiện
nay. Các chủ đề tích hợp liên môn đảm bảo để tổ chức cho học sinh học tập tích
cực, giúp học sinh khai thác kiến thức môn, phát hiện một số kỹ năng, năng lực
chung.
* Các bước xây dựng chủ đề tích hợp liên môn:
Bước 1: Xác định chủ đề tích hợp: rà soát và phân tích nội dung chương
trình của từng môn để tìm ra những nội dung chung có liên quan với nhau, bổ
sung, hỗ trợ cho nhau nhưng lại được trình bày riêng biệt ở mỗi bộ môn.

8


Bước 2: Xác định mục đích tích hợp: đảm bảo đúng mục tiêu trong chuẩn
kiến thức và kỹ năng của môn học và các môn liên quan khác.
Bước 3: Tìm các nội dung tích hợp: lựa chọn nội dung gắn với thực tiễn đời
sống và phù hợp với năng lực của học sinh, đồng thời đảm bảo chuẩn kiến thức và
kỹ năng cho từng môn học.
Bước 4: Xác định mức độ tích hợp như cần đạt được những nội dung gì?
thời lượng bao nhiêu? Phù hợp với hoàn cảnh nhà trường, địa phương và năng lực
của học sinh...
Bước 5: Tổ chức dạy học theo nội dung tích hợp đã xác định.
* Để thực hiện được các tiết dạy học tích hợp liên môn, giáo viên cần trang bị
những gì ?
Giáo viên không phải trang bị thêm nhiều về mặt kiến thức vì bản chất vẫn là
dạy học môn học mà mình đang dạy. Mặt khác, trong những năm qua giáo viên
cũng đã được trang bị thêm nhiều kiến thức mới về phương pháp và kỹ thuật dạy
học tích cực.
Vấn đề bây giờ là phải vận dụng những kiến thức đó để: xây dựng các chủ đề
dạy học; xác định những năng lực có thể phát triển cho học sinh trong mỗi chủ đề;
biên soạn các câu hỏi, bài tập để đánh giá năng lực của học sinh trong dạy học;
thiết kế tiến trình dạy học thành các hoạt động học của học sinh; tổ chức dạy học để
dự giờ, phân tích, rút kinh nghiệm trong sinh hoạt tổ/nhóm chuyên môn.
1.2. Quan điểm tích hợp liên môn trong dạy học Ngữ văn:
Thiết kế bài dạy học Ngữ văn theo quan điểm tích hợp không chỉ chú trọng nội
dung kiến thức tích hợp mà cần thiết phải xây dựng một hệ thống việc làm, thao tác
tương ứng nhằm tổ chức, dẫn dắt học sinh từng bước thực hiện để chiếm lĩnh đối
tượng học tập, nội dung môn học, đồng thời hình thành và phát triển năng lực, kỹ
năng tích hợp, tránh áp đặt một cách làm duy nhất. Giờ học Ngữ văn theo quan
điểm tích hợp phải là một giờ học hoạt động phức hợp đòi hỏi sự tích hợp các kỹ
năng, năng lực liên môn để giải quyết nội dung tích hợp, chứ không phải sự tác
động các hoạt động, kỹ năng riêng rẽ lên một nội dung riêng rẽ thuộc “nội bộ phân
môn”.
Thực tế cho thấy, lâu nay từ khi thay đổi chương trình, cấu trúc SGK Ngữ văn ở
cấp THCS vốn đã có sự tích hợp giữa 3 phần Đọc – hiểu văn bản, Tiếng Việt và
Tập làm văn. Tuy nhiên theo tinh thần Dạy học theo hướng tích hợp liên môn này,
quan điểm tích hợp cần được hiểu mở rộng ra là hình thức tìm tòi những nội dung,
những chủ đề giao thoa giữa các môn học với nhau, những khái niệm, tư tưởng
chung giữa các môn học, tức là con đường tích hợp những nội dung từ một số môn

9


học có liên hệ với nhau làm cho nội dung học trong chủ đề có ý nghĩa hơn, thực tế
hơn và học sinh có thể tự hoạt động nhiều hơn để tìm ra kiến thức và vận dụng vào
thực tiễn.
Cụ thể trong chương trình Ngữ văn cấp THCS có những bài dạy có thể tích
hợp được với các chủ đề giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh và có
thể tích hợp với các bộ môn khác để giải quyết vấn đề đặt ra trong bài học hay
trong thực tiễn đời sống:
Ví dụ 1 : Văn bản “Phong cách Hồ Chí Minh” (Ngữ văn 9) có thể lồng kết chủ
đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, tích hợp với môn Giáo
dục công dân (Đức tính giản dị), môn Lịch sử (Con đường hoạt động cách mạng
của Bác),…
Ví dụ 2: Văn bản “Bức thư của thủ lĩnh da đỏ” (Ngữ văn 6) có thể lồng ghép
chủ đề “Bảo vệ môi trường”, tích hợp môn Giáo dục công dân 6 (Bài 7 “Yêu thiên
nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên”),…
Ví dụ 3: Bài “Ôn tập văn thuyết minh” (Ngữ văn 8, tập 2) với 4 nhóm đề bài
thực hành phân công cho 4 nhóm học sinh chuẩn bị. Mỗi đề thuyết minh có sử
dụng kiến thức liên môn như : Thuyết minh về một loài thực vật (cây bóng mát trên
sân trường) sử dụng kiến thức môn Sinh học; Thuyết minh về một danh lam thắng
cảnh (sử dụng kiến thức về Địa lí, Lịch sử); Thuyết minh về một thể loại văn học
(sử dụng kiến thức môn Ngữ văn); Thuyết minh về một phương pháp (Phương
pháp điều chế ô xi) sử dụng kiến thức môn Hóa học,…
Giáo viên cần phải xây dựng hệ thống nội dung tích hợp liên môn ở từng bài,
từng chương, từng chủ đề cụ thể. Giáo viên cần lưu ý không phải nhất thiết bài nào
cũng sử dụng tích hợp liên môn mà chỉ sử dụng tích hợp liên môn với những bài có
nội dung liên quan từ các môn học khác.
Trong việc vận dụng kiến thức liên môn vào dạy, giáo viên cần phải sàng lọc kĩ,
phải phù hợp và bám sát với mục tiêu bài học. Khâu đầu tiên, quan trọng trong thiết
kế bài học là phải xác định được mục tiêu và nội dung trọng tâm, có cách thức hợp
lí sao cho chắt lọc được kiến thức từ các môn và rút ngắn được thời gian học tập
mà vẫn đạt được mục tiêu dạy học, tránh trùng hợp và quá xa đà vào việc giảng giải
những nội dung kiến thức từ các môn học khác khiến cho nội dung bài học trở nên
dàn trải, lan man và không thực hiện được mục tiêu dạy học.
Ví dụ : Khi dạy bài “Con Rồng cháu Tiên”(Ngữ văn 6)
- Để tạo hứng thú ngay từ lúc bắt đầu tiết học thì giáo viên sẽ cho học sinh xem
video ca nhạc với các chủ đề viết về cội nguồn dân tộc để giới thiệu bài. Những bài

10


hát được có thể sử dụng là: Lời ru Âu Lạc, Huyền sử Âu Lạc, Dòng máu Lạc Hồng,
Nổi trống lên các bạn ơi…
- Khi kết thúc phần tìm hiểu nội dung giáo viên có thể cho học sinh xem phim hoạt
hình về truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” để chuyển sang phần tổng kết.
- Trong quá trình giảng dạy, để giúp học sinh hiểu được thời đại lịch sử buổi đầu
dựng nước thì giáo viên đặt câu hỏi tích hợp với kiến thức môn Lịch sử lớp 6 bài
12 tiết 13 “Nước Văn Lang”.
Giáo viên hỏi: Hãy cho biết truyền thuyết mà chúng ta đang tìm hiểu nói về thời
đại nào của nước ta?
- Học sinh trả lời: Thời đại Hùng Vương
- Giáo viên hỏi: Đất nước ta thời ấy có tên gọi là gì?
- Học sinh trả lời: Hùng Vương lên ngôi đặt tên nước là Văn Lang.
* Tích hợp kiến thức Địa lí:
- Giáo viên hỏi: Kinh đô thời ấy đặt ở đâu? Địa danh ấy ngày nay là
phường, thành phố nào?
- Học sinh trả lời: Đóng đô ở Phong Châu ngày nay là phường Bạch Hạc,
thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
* Tích hợp kiến thức môn GDCD lớp 6 tuần 7 tiết 7 bài 6 (Biết ơn):
- Giáo viên hỏi: Hằng năm nhân dân ta vẫn nhớ đến ngày giỗ Tổ Hùng
Vương và rất nhiều người đã hành hương về với đất Tổ, về thăm Đền Hùng. Ngày
giỗ Tổ Hùng Vương là ngày nào? Câu ca nào nói đến điều này?
- Học sinh trả lời:
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng 10 tháng 3
Hay câu ca dao : Ai về Phú Thọ cùng ta/ Nhớ ngày giỗ Tổ tháng ba mồng
mười.
* Tích hợp học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh:
- Giáo viên hỏi: Để nhắc nhở về trách nhiệm, lòng tự hào dân tộc, Bác Hồ đã có
câu nói nổi tiếng nào khi đến thăm Đền Hùng ngày 19-9-1954, trong buổi nói
chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308 ( Đại đoàn quân Tiên Phong)?
- Học sinh trả lời: “Ngày xưa các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay Bác
cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.” Câu nói của Bác có tác dụng giáo dục truyền
thống yêu nước, ý thức dân tộc, nâng cao tinh thần đại đoàn kết, nguồn sức mạnh to
lớn chi phối toàn bộ quá trình phát triển của lịch sử dân tộc; là động lực cổ vũ lớn
lao tinh thần đoàn kết của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng
dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.

11


Tóm lại, đây là quan điểm tích hợp mở rộng kiến thức trong bài học với các
kiến thức của các bộ môn khác, các ngành khoa học, nghệ thuật khác, cũng như
các kiến thức đời sống mà học sinh tích lũy được từ cuộc sống cộng đồng, qua đó
làm giàu thêm vốn hiểu biết và phát triển nhân cách, rèn luyện kỹ năng thực hành
cho học sinh.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Trước khi thực hiện tiết dạy tích hợp liên môn, với đối tượng học sinh lớp 8B
trường THCS Trần Mai Ninh, tôi thấy có những thuận lợi, khó khăn như sau:
1. Thuận lợi:
- Đối với giáo viên:
+ Trong quá trình dạy học môn học của mình, theo nội dung kiến thức của bài
học có chứa đựng những kiến thức liên môn, giáo viên vẫn thường xuyên phải dạy
những kiến thức có liên quan đến các môn học khác và vì vậy đã có sự am hiểu về
những kiến thức liên môn đó hay nói cách khác đội ngũ giáo viên chúng ta đã dạy
tích hợp liên môn từ lâu rồi nhưng chúng ta chưa đi sâu và chưa có khái niệm tên
gọi cụ thể mà thôi .
+ Với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, vai trò của giáo viên không
còn là người truyền thụ kiến thức mà là người tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt
động học của học sinh cả ở trong và ngoài lớp học; vì vậy, giáo viên các bộ môn
liên quan có điều kiện và chủ động hơn trong sự phối hợp, hỗ trợ nhau trong dạy
học.
+ Trong những năm qua giáo viên cũng đã được trang bị thêm nhiều kiến thức
mới về phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực: như phương pháp bàn tay nặn
bột hoặc kỹ thuật khăn trải bàn, dạy học theo dự án ……..
+ Môi trường " Trường học kết nối” rất thuận lợi để giáo viên đổi mới trong dạy
tích hợp liên môn.
+ Nhà trường đã đầu tư nhiều phương tiện dạy học có thể đáp ứng một phần đổi
mới phương pháp dạy học hiện nay.
- Đối với học sinh:
Học sinh có hứng thú tìm hiểu kiến thức các bộ môn nhất là các bộ môn tự
nhiên ngày càng nhiều hơn, sách giáo khoa được trình bày theo hướng “ mở ”nên
cũng tạo điều kiện, cơ hội cũng như môi trường thuận lợi cho học sinh phát huy tư
duy sáng tạo.
Đặc biệt với học sinh trường THCS Trần Mai Ninh nói chung và học sinh lớp
8B nói riêng, hầu hết là những học sinh được tuyển chọn có chất lượng tốt, nên khi
giáo viên đặt vấn đề, định hướng nội dung, cách thức chuẩn bị cho tiết học, các em

12


rất hào hứng, tích cực hưởng ứng. Bên cạnh đó có sự đồng thuận của phụ huynh
trong sự phối hợp triển khai một số hoạt động ngoài giờ lên lớp.
2. Khó khăn:
- Đối với giáo viên:
+ Giáo viên phải tìm hiểu sâu hơn những kiến thức thuộc các môn học khác nên
có sự vất vả, đầu tư nhiều về thời gian, công sức.
+ Vấn đề tâm lý chủ yếu vẫn quen dạy theo chủ đề đơn môn nên khi dạy theo
chủ đề tích hợp liên môn, các giáo viên sẽ vất vả hơn, phải xem xét, rà soát nội
dung chương trình, sách giáo khoa (SGK) hiện hành để loại bỏ những thông tin cũ,
lạc hậu, đồng thời bổ sung, cập nhật những thông tin mới, phù hợp. Nội dung
của phương pháp dạy tích hợp liên môn cũng yêu cầu giáo viên thay đổi cấu trúc,
sắp xếp lại nội dung dạy học trong chương trình hiện hành theo định hướng phát
triển năng lực học sinh nên không tránh khỏi làm cho giáo viên có cảm giác ngại
thay đổi, e sợ giờ dạy không thành công.
+ Để thực hiện được các tiết dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn như đã nói ở
trên, với đơn vị trường THCS Trần Mai Ninh, trong nhiều năm qua, chưa mấy ai
thực hiện được. Tài liệu tham khảo, các tiết dạy mẫu chưa phải là nhiều và phổ biến
rộng khắp, nên việc học tập, triển khai có những khó khăn nhất định trong các nhà
trường.
+ Điều kiện cơ sở vật chất (thiết bị thông tin, truyền thông) phục vụ cho việc
dạy học trong nhà trường thực ra cũng chưa thật đầy đủ, hiện đại.
- Đối với học sinh:
+ Dạy tích hợp là cả một quá trình từ tiểu học đến THPT nên giai đoạn đầu này,
đặc biệt là thế hệ học sinh hiện tại đang quen với lối mòn cũ nên khi đổi mới học
sinh thấy lạ lẫm và khó bắt kịp.
+ Do xu thế chọn ngành nghề theo thực tế xã hội nước ta hiện nay và việc quy
định các môn thi trong các kì thi tuyển sinh nên đa số các học sinh và phụ huynh
kém mặn mà (coi nhẹ) với các môn không thi, ít thi (môn phụ).
+ Trong lớp 8B vẫn con một số em chưa thật hào hứng, nhiệt tình lắm để đầu tư
thời gian, công sức vào việc sưu tầm tư liệu, khảo sát thực tế, thực hành theo sự
hướng dẫn của cô.
3. Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn
đề:
Các giải pháp đã thực hiện và hiệu quả:
1. Giải pháp chung:

13


- Tìm tư liệu, nghiên cứu về bản chất, phương pháp, nguyên tắc, quy trình thực hiện
tiết dạy theo chủ đề, tích hợp liên môn.
- Lựa chọn chủ đề, tiết dạy thử nghiệm:
+ Tiết 8 – Bài 7: Yêu thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên (Giáo dục công
dân lớp 6) tích hợp với chủ đề “Biến đổi khí hậu và hành động của chúng ta” đã
thực hiện trong năm học 2014 – 2015.
+ Tiết 39 – Bài 10: “Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000”) (Ngữ văn lớp 8, tập
1) tích hợp chủ đề: “Bảo vệ môi trường”, giúp học sinh vận dụng kiến thức giải
quyết vấn đề trong thực tiễn “Làm thế nào để giảm thiểu việc sử dụng bao bì ni
lông giữ cho môi trường xanh – sạch –đẹp – an toàn”.
- Thiết kế nội dung tổ chức các hoạt động học của học sinh trước và sau các tiết
dạy: Phân công cho các tổ, nhóm sưu tầm tư liệu, điều tra thực tế, viết bài thuyết
trình, làm các sản phẩm Video Clip tư liệu truyền thông, trình chiếu trên giáo án
PowerPoin, tranh vẽ, sản phẩm khéo tay sử dụng các phế liệu chất thải; tổ chức
công tác tuyên truyền, các hoạt động ngoại khóa cho học sinh trong lớp, Chi đội,
Liên đội và trong toàn trường,…
- Hướng dẫn học sinh xây dựng các dự án tham gia cuộc thi “Vận dụng kiến thức
liên môn để giải quyết các tình huống trong thực tiễn”.
2. Giải pháp cụ thể:
Thực hiện tiết dạy thử nghiệm: Tiết 39 – Bài 10: “Thông tin về Ngày Trái Đất
năm 2000”) (Ngữ văn lớp 8, tập 1) (Thiết kế bài dạy trong phần Phụ lục kèm theo
Bản SKKN này)
2.1. Đối tượng dạy học: Học sinh lớp 8B trường THCS Trần Mai Ninh – TP Thanh
Hóa.
2.2. Thiết bị dạy học, học liệu:
- Giáo án PowerPoin.
- Video Clip tư liệu truyền thông (sản phẩm của học sinh).
- Máy chiếu, màn hình, laptop…
- Tư liệu giáo dục về vấn đề bảo vệ môi trường, vấn đề sử dụng bao bì ni lông.
2.3. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh:
- Giáo viên:
+ Thiết kế bài dạy, SGK.
+ Các thiết bị, học liệu (như đã nói ở trên)
- Học sinh:
+ Soạn bài theo hệ thống câu hỏi, bài tập ở SGK.

14


+ Các bài thuyết trình (theo sự phân công cho các nhóm của giáo viên): Các em sẽ
sưu tầm tài liệu, vận dụng kiến thức liên môn, điều tra thực tế ở địa phương kết hợp
với nội dung của văn bản để soạn bài thuyết trình kết hợp với hình ảnh minh họa
trên giáo án PowerPoint.
Nhóm 1: Thuyết trình về thực trạng sử dụng bao bì ni lông
Nhóm 2: Thuyết trình về tác hại của bao bì ni lông
Nhóm 3: Thuyết trình về giải pháp giảm thiểu việc sử dụng bao bì ni lông
+ Làm Video Clip tư liệu truyền thông (tổng hợp 3 nội dung nói trên)
2.4. Hoạt động dạy học và tiến trình dạy học:
Hoạt động 1: Kiểm tra việc chuẩn bị bài của học sinh (các bài thuyết trình của các
nhóm đã phân công ở tiết học trước).
Hoạt động 2: GV nêu mục tiêu, cách thức, quy trình thực hiện giờ học -> dẫn dắt,
giới thiệu vào bài.
Hoạt động 3: Tổ chức cho học sinh thảo luận, đại diện các nhóm lên thuyết trình
phần đã chuẩn bị, giáo viên tổng hợp ý kiến, đánh giá, rút ra kết luận cho bài học
với các đơn vị kiến thức trọng tâm học sinh thu nhận được như sau:
1. Nguyên nhân ra đời của bản thông điệp ?
2. Thực trạng sử dụng bao bì ni lông hiện nay.
3. Tác hại của bao bì ni lông.
4. Những giải pháp hạn chế việc sử dụng bao bì ni lông.
5. Lời kêu gọi hành động cụ thể.
Hoạt động 4: Tổng kết nội dung bài học -> cho HS xem Video Clip tư liệu truyền
thông về chủ đề “Giảm thiểu việc sử dụng bao bì ni lông cho một môi trường xanh
– sạch – đẹp – an toàn”.
Hoạt động 5: Hướng dẫn HS tự học ở nhà với những nội dung sau:
- Nắm được những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của văn bản “Thông tin
về Ngày Trái Đất năm 2000”.
- Tìm hiểu thực trạng vấn đề rác thải ở địa phương em tuyên truyền và vận động
cho gia đình, hàng xóm thực hiện“Một ngày không sử dụng bao bì ni lông”, “Nói
không với bao bì ni lông” giữ cho môi trường xanh – sạch – đẹp – an toàn;
- Viết bài văn thuyết minh về tác hại của bao bì ni lông và giải pháp giảm thiểu việc
sử dụng bao bì ni lông; vẽ tranh với chủ đề “Nói không với bao bì ni lông”, làm các
sản phẩm khéo tay từ chất thải ni lông để giảm thải ra môi trường.
2.5. Kiểm tra đánh giá kết quả học tập:
Bảng mô tả cách thức, tiêu chí đánh giá kết quả học tập của học sinh:
Nội dung
Nhận biết
Thực
Nhận biết qua

Thông hiểu

Vận dụng thấp

Vận dụng cao

15


trạng sử
dụng bao
bì ni
lông.

Tác hại
của bao
bì ni
lông.

Giải
pháp hạn
chế việc
sử dụng
bao bì ni
lông

tài liệu sách
vở, qua phần
thuyết trình
của bạn, qua
hình ảnh trên
màn
chiếu,
qua sự quan
sát, nhận biết
từ thực tế đời
sống ở trường,
lớp học, địa
bàn sinh sống.
- Nhận thức, hiểu
rõ được tác hại
của bao bì ni lông
(hiểu biết từ thực
tế đời sống, qua
các môn học như
Hóa học, Sinh
học…; qua phần
thuyết trình của
bạn, qua hình
ảnh, tư liệu sách
vở)
- Nêu những việc
làm thiết thực của
bản thân góp phần
giảm thiểu việc sử
dụng bao bì ni lông.
- Trả lời các câu hỏi
kiểm tra về kiến
thức bài học và chủ
đề về bảo vệ môi
trường xanh – sạch
– đẹp – an toàn.

Đề bài: Hãy viết một bài văn thuyết minh
pháp hạn chế việc sử dụng bao bì ni lông.
* Kết quả bài kiểm tra viết:
Lớp Sĩ số
Điểm giỏi
Điểm khá
SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ
8B
55
22 44,4% 30 50,1%

- Viết bài hùng biện, thuyết
minh, vẽ tranh về vấn đề
“Giảm thiểu việc sử dụng
bao bì ni lông cho một môi
trường xanh – sạch – đẹp –
an toàn”.
- Làm sản phẩm sáng tạo
khoa học kĩ thuật, sản
phẩm khéo tay tận dụng từ
các chất thải bao bì ni lông.
- Tập làm báo cáo viên,
tuyên truyền viên.

về tác hại của bao bì ni lông và giải

Điểm TB
SL Tỉ lệ
3
5,5%

Điểm Yếu
SL Tỉ lệ
0
0

Điểm kém
SL Tỉ lệ
0
0
16


Kết quả chấm bài cho thấy ngoài kiến thức trong văn bản ở Sách giáo khoa, các
em đã có sự tìm tòi, tra cứu tài liệu để mở rộng thêm kiến thức và thể hiện khá rõ
quan điểm, thái độ của mình qua bài viết. Đồng thời qua bài viết, các em đã có sự
hiểu biết, nhận thức đúng đắn về vấn đề và đề ra những giải pháp thiết thực để giảm
thiểu việc sử dụng bao bì ni lông nhằm hướng tới xây dựng một môi trường xanh –
sạch – đẹp – an toàn. Với kết quả nêu trên cho thấy những giờ dạy theo hướng tích
hợp chủ đề, tích hợp liên môn như thế này có hiệu quả rõ rệt. Qua những giờ dạy
như thế này giúp các em biết kết hợp giữa việc tiếp thu kiến thức với thực hành
trong cuộc sống, đồng thời cũng là hình thức tăng cường rèn luyện kỹ năng sống
cho học sinh, các em đã biết vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết được những
tình huống trong thực tiễn.
2.6. Tác dụng, hiệu quả của giờ dạy (có minh chứng cụ thể ở phần Phụ lục kèm
theo bản SKKN này)
- Đối với thực tiễn dạy học:
+ Giờ học trở nên sinh động, hấp dẫn hơn. Các em học sinh tích cực, sôi nổi
thảo luận trong giờ học, trình bày những kết quả làm việc của nhóm theo sự phân
công của cô giáo. Các em được thể hiện sự hiểu biết của chính mình trên cơ sở vận
dụng kiến thức liên môn để giải quyết các vấn đề nêu trong bài học và giải quyết
các vấn đề trong thực tiễn đời sống.
+ Các em được làm việc theo nhóm: tích cực điều tra thực tế; tham khảo, sưu
tầm tư liệu, tranh ảnh; soạn bài thuyết trình, soạn phần trình chiếu trên giáo án
PowerPoint; thiết kế biên soạn clip tư liệu truyền thông; vẽ tranh; làm sản phẩm
khéo tay từ chất thải bao bì ni lông,…
+ Các em tự tin hơn khi được hùng biện, thuyết trình trước tập thể chi đội, liên
đội và trước toàn trường.
+ Sau tiết học, các em nắm vững kiến thức, vận dụng giải quyết tốt các bài tập
ở SGK cũng như đạt kết quả cao trong bài kiểm tra viết.
+ Các em đã tích cực tham gia cuộc thi “Vận dụng kiến thức liên môn để giải
quyết tình huống trong thực tiễn” bằng những bài viết, tranh vẽ, sản phẩm khéo tay
làm từ các vật liệu phế thải bao bì ni lông có chất lượng tốt; tham gia các Hoạt
động ngoại khóa, sinh hoạt theo chủ đề,…
- Đối với thực tiễn đời sống xã hội:
+ Học sinh biết vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các vấn đề trong thực
tiễn đời sống xã hội.
+ Đóng góp cho công tác truyền thông đạt hiệu quả cao hơn.

17


+ Từ nội dung bài học, các em đã có nhận thức và hành động thiết thực chung tay
bảo vệ, giữ gìn môi trường xanh – sạch – đẹp – an toàn ngay chính nơi các em đang
sinh sống, vui chơi và học tập.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường:
4.1. Đối với hoạt động giáo dục:
- Đóng góp một tiếng nói chung cho sự thành công của công cuộc đổi mới đồng bộ
phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá ở các trường phổ thông theo định
hướng phát triển năng lực của học sinh trên tinh thần Nghị quyết 29 - NQ/TƯ về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
- Góp phần xây dựng và chuẩn hóa nội dung giáo dục phổ thông theo hướng hiện
đại, tinh gọn, bảo đảm chất lượng, tích hợp cao ở các lớp học dưới và phân hóa dần
ở các lớp học trên.
- Bên cạnh đó, học sinh hứng thú với những tiết học hơn, dễ hiểu và hiểu sâu nội
dung bài học. Đặc biệt các em sẽ có những chuyển biến rõ rệt trong khả năng vận
dụng kiến thức, kỹ năng vào thực tiễn, tăng cường khả năng vận dụng tổng hợp,
khả năng tự học, tự nghiên cứu.
- Khắc phục được thói quen truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kỹ năng rời rạc, phiến
diện và thụ động, máy móc.
4.2. Đối với bản thân, đồng nghiệp:
- Thực tế cho thấy giảng dạy tích hợp liên môn đem lại lợi ích là kích thích giáo
viên tư duy và không ngừng trau dồi kiến thức ở nhiều lĩnh vực, bộ môn khác nhau
để có một phông kiến thức sâu, rộng đủ để đáp ứng với những đòi hỏi ngày càng
cao của dạy học hiện nay. Và đối với bản thân tôi đã có thể tự tin, vững vàng hơn
về chuyên môn, sẽ thực hiện được nhiều hơn, tốt hơn các tiết dạy học tích hợp liên
môn. Ngoài tiết dạy ở môn Ngữ văn, tôi cũng đã thực hiện được một tiết dạy ở môn
Giáo dục công dân lớp 6 (năm học 2014 – 2015) đạt hiệu quả tốt. Đồng thời với các
tiết dạy học tích hợp liên môn, tôi còn hướng dẫn cho 4 học sinh làm bài dự thi
“Vận dụng kiến thức liên môn giải quyết vấn đề trong thực tiễn” đạt giải Nhất cấp
Thành phố trong năm học 2014 – 2015 và trong thời gian vừa qua có 2 em đạt giải
Nhất cấp Thành phố, cấp Tỉnh, dự thi cấp Bộ.
- Với tiết dạy thử nghiệm nêu ra trong bài viết, qua dự giờ, đóng góp ý kiến, anh
chị em đồng nghiệp trong nhà trường đã nhận thức được rõ hơn bản chất của dạy
học tích hợp liên môn và định hình được các tiết dạy để có thể thực hiện trong thời
gian tới.
4.3. Đối với nhà trường, cộng đồng xã hội:

18


Dạy học tích hợp liên môn là một trong những nhiệm vụ chuyên môn trọng
tâm trong các nhà trường hiện nay. Việc thực hiện được các tiết dạy học như thế
này cũng chính là thúc đẩy phong trào thi đua của tập thể, đơn vị.
Đồng thời với chủ đề “Bảo vệ môi trường”, “giảm thiểu sử dụng bao bì ni
lông” đã được nhân rộng, trở thành một hoạt động ngoại khóa trong toàn trường,
được giáo viên và học sinh trong toàn trường tích cực hưởng ứng. Đây còn là nội
dung giáo dục liên quan đến các vấn đề thời sự của địa phương, đất nước…
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
1. Kết luận:
Việc áp dụng kiến thức liên môn là một nội dung phong phú, để sử dụng được
phương pháp này cho phù hợp với đặc điểm từng môn học đòi hỏi người giáo viên
cần có kiến thức và thời gian nghiên cứu bài dạy để phù hợp với nội dung của bài.
Với học sinh, các kiến thức liên môn áp dụng trong bài học sẽ tạo hứng thú cho
các em, để các em vừa hiểu được nội dung bài học lại vừa hiểu thêm những kiến
thức của các môn học khác, đồng thời có thể vận dụng các kiến thức đó để giải
quyết các vấn đề trong thực tiễn, từ đó các em phát triển toàn diện hơn về mọi mặt:
đức- trí- thể- mĩ.
Phương pháp dạy học tích hợp liên môn không phải là mới, nhưng nếu biết vận
dụng hợp lý, người giáo viên sẽ làm cho bài giảng thêm sinh động, có tính hấp dẫn
với học sinh. Qua kết quả thực nghiệm của bản thân, tôi thấy vận dụng nguyên tắc
liên môn trong dạy học Ngữ văn theo phương pháp tích hợp đã kích thích hứng thú
học tập trong học sinh, giúp các em lĩnh hội bài tốt nhằm nâng cao hiệu quả của bài
học. Việc vận dụng phương pháp trên kết hợp với các hình thức dạy học tích cực
khác sẽ làm học sinh thêm yêu thích môn Ngữ văn, truyền cho các em lòng yêu
nước, tự hào với truyền thống dân tộc, từ đó có ý thức hơn trong việc xây dựng và
bảo vệ đất nước.
Với nội dung nghiên cứu và đưa vào áp dụng cụ thể sáng kiến kinh nghiệm
trên, bản thân tôi đã rút ra được những bài học kinh nghiệm cụ thể như sau :
- Về phía học sinh :
+ Học sinh sẽ dành thời gian đọc, tiếp cận văn bản nhiều hơn. Buộc các em phải
tìm tòi tư liệu kiến thức liên môn, suy nghĩ, nghiên cứu bài học, chuẩn bị bài có
hiệu quả cao hơn.
+ Tạo cho học sinh tính nhạy bén, năng động, sáng tạo và hứng thú với giờ học
Văn.
+ Mặt khác, các em biết chủ động hòa nhập với cộng đồng, vận dụng kiến thức
vào thực tế cuộc sống, giải quyết những vấn đề trong thực tiễn.

19


- Về phía giáo viên :
+ Thúc đẩy giáo viên đầu tư nhiều hơn trong công tác chuẩn bị, thiết kế giáo án
cho phù hợp với tinh thần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng “lấy học sinh
làm trung tâm”.
+ Đầu tư nghiên cứu kiến thức liên môn có liên quan để cùng hợp tác với học
sinh giúp các em chiếm lĩnh nội dung bài học.
+ Làm tốt công tác đầu tư cho tiết dạy sẽ giúp giáo viên chủ động, linh hoạt
trong khâu tổ chức, hướng dẫn học sinh tự khai thác và chiếm lĩnh tri thức; mặt
khác sẽ tránh được sự lúng túng bị động khi học sinh chất vấn về những thông tin
liên quan.
+ Áp dụng có hiệu quả phương pháp dạy học tích hợp thì khi lên lớp giáo viên
sẽ đỡ vất vả vì không phải làm việc nhiều.
2. Kiến nghị:
Để khắc phục những khó khăn trong quá trình thực hiện các tiết dạy tích hợp
liên môn, kiến nghị với Sở GD – ĐT Thanh Hóa và Phòng GD – ĐT Thành phố
Thanh Hóa cần có nhiều văn bản hướng dẫn cụ thể hơn nữa về dạy học tích hợp
liên môn. Cung cấp cho giáo viên chúng tôi các tài liệu tham khảo, các báo cáo hội
thảo, các giáo án mẫu ,… Đồng thời tạo điều kiện về thời gian, cơ sở vật chất, kinh
phí… trong việc triển khai và thực hiện các chủ đề tích hợp. Bên cạnh đó, để dạy
học theo các dự án, chủ đề huy động nhiều môn thì công tác xã hội hóa giáo dục
cần được quan tâm nhiều hơn nữa.
Nhà trường cần tạo mọi điều về cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị dạy học và
thúc đẩy phong trào thi đua dạy học theo chủ đề tích hợp, liên môn bằng việc tổ
chức các hội thảo, hội thi giáo viên giỏi; trong sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn cần
tập trung xây dựng được các giờ dạy học tích hợp, liên môn, triển khai thực hiện,
dự giờ, đúc rút kinh nghiệm.
Đối với giáo viên: Cần chủ động trong việc tiếp cận chủ đề dạy học tích hợp
liên môn; tích cực tìm hiểu các kiến thức có liên quan đến nội dung bài học của
môn mình dạy. Vận dụng kiến thức liên môn cho hài hoà tránh tích hợp một cách
khiên cưõng, máy móc làm mất đi nội dung kiến thức của bài học.
Đối với học sinh: Chủ động làm quen với tiết học tích hợp chủ đề, sưu tầm các
nội dung môn học có liên quan đến kiến thức; tích cực tham gia các cuộc thi liên
quan đến chủ đề tích hợp, liên môn mà Bộ GD – ĐT đã phát động.
Trên đây là kết quả nghiên cứu và thực nghiệm bước đầu của đề tài sáng kiến
kinh nghiệm “Kinh nghiệm dạy học tích hợp liên môn trong giờ học môn Ngữ
văn ở trường THCS”

20


Rất mong nhận được ý kiến nhận xét, đánh giá và đóng góp của Hội đồng khoa
học nhà trường cũng như các đồng nghiệp để đề tài từng bước được hoàn chỉnh và
áp dụng có hiệu quả hơn nữa. Xin chân thành cảm ơn./.
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 15 tháng 3 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác
Người viết

Nguyễn Thị Loan

21


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ giáo dục và Đào tạo, Chương trình THCS môn ngữ văn, NXB GD, Hà Nội,
2002.
2. Một số vấn đề về phương pháp dạy- học Văn trong nhà trường, NXBGD, 2001.
4. Ngữ văn 8, tập 1, NXB GD, Hà Nội, 2001.
5. Sách giáo viên Ngữ văn 8, tập 1, NXB GD, 2002.
6. Học liệu “Một số vấn đề chung về dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn”
(truonghocketnoi.edu.vn/data/thuvien/DongPhD/hoclieu_3650611_1446867073.pd
f)
7. Các bài viết, tranh ảnh tư liệu truyền thông về vấn đề môi trường, rác thải ni
lông; thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000 trên mạng Internet.

22


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ XẾP
LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN

Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Loan
Chức vụ: Bí thư Chi bộ, Tổ trưởng chuyên môn.
Đơn vị công tác: Trường THCS Trần Mai Ninh – Thành phố Thanh Hóa
TT

1

2
3
4

5
6

Tên đề tài SKKN

Vận dụng phương pháp dạy học
nêu vấn đề trong môn Văn cấp
THCS
Giảng dạy các bài mở rộng vốn yếu
tố Hán – Việt ở cáp THCS
Một số kinh nghiệm xây dựng hệ
thống bài Tập làm văn ở cấp THCS
Tổ chức hoạt động ngoại khóa
VHDG trong nhà trường cấp
THCS
Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy
học môn Ngữ văn cấp THCS
Tổ chức cho học sinh tham gia có
chất lượng các hoạt động phong
trào “Xây dựng trường học thân
thiện, học sinh tích cực”

Cấp đánh giá
xếp loại

Kết quả
đánh giá

Năm học
đánh giá xếp
loại

Sở GD&ĐT

B

1995 - 1996

Sở GD&ĐT

B

1996 – 1997

Sở GD&ĐT

A

2000 – 2001

Sở GD&ĐT

B

2010 – 2011

Sở GD&ĐT

C

2011 – 2012

PhòngGD&ĐT

B

2012 - 2013

Ngày 15 tháng 3 năm 2017
Người viết

Nguyễn Thị Loan

23


PHẦN PHỤ LỤC
1. THIẾT KẾ BÀI DẠY THEO CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP:

Ngày soạn : 26 / 10 / 2016
Tiết 39:
Văn bản : THÔNG TIN VỀ NGÀY TRÁI ĐẤT NĂM 2000
I. MỤC TIÊU:
1. Kiến thức:
- Mối nguy hại đến môi trường sống và sức khỏe con người của thói quen dùng túi
ni lông.
- Tính khả thi trong những đề xuất được tác giả trình bày.
- Việc sử dụng từ ngữ dễ hiểu, sự giải thích đơn giản mà sáng tỏ và bố cục chặt
chẽ, hợp lí đã tạo nên tính thuyết phục của văn bản.
- Tích hợp với chủ đề : Bảo vệ môi trường xanh – sạch – đẹp – an toàn.
2. Kỹ năng:
- Tích hợp với phần Tập làm văn để tập viết bài văn thuyết minh, bài văn nghị
luận.
- Tích hợp kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề: Môn GDCD (giáo dục ý thức
bảo vệ môi trường), môn Ngữ văn (viết bài thuyết minh, bài văn nghị luận), môn
Sinh học và môn Hóa học (giải thích đặc tính và tác hại của bao bì ni lông), môn
Tin học (làm Clip tư liệu truyền thông), môn Mĩ thuật (vẽ tranh), môn Công nghệ
(sản phẩm khéo tay sử dụng chất thải ni lông).
- Đọc – hiểu một văn bản nhật dụng đề cập đến một vấn đề xã hội bức thiết.
- Kỹ năng làm việc theo nhóm, thuyết trình vấn đề.
3. Thái độ:
- Hiểu rõ được tác hại của việc sử dụng bao bì ni lông, tích cực tìm giải pháp
khắc phục tình trạng sử dụng bao bì ni lông.
- Tích cực tuyên truyền, vận động gia đình, hàng xóm thực hiện “Một ngày không
sử dụng bao bì ni lông”, “Nói không với bao bì ni lông” giữ cho môi trường xanh
– sạch – đẹp – an toàn.
II. CHUẨN BỊ
1. Chuẩn bị của giáo viên:
- Tài liệu sgk, Thiết kế bài dạy, Tư liệu truyền thông.
- Chuẩn bị thiết bị, đồ dùng dạy học: laptop, máy chiếu.
2. Chuẩn bị của học sinh:
- Chuẩn bị kiến thức (hướng dẫn học sinh từ giờ trước):
Các em sẽ sưu tầm tài liệu, vận dụng kiến thức liên môn, điều tra thực tế ở địa
phương kết hợp với nội dung của văn bản để soạn bài thuyết trình kết hợp với hình
ảnh minh họa trên giáo án PowerPoint.
24


+ Nhóm 1: Thuyết trình về thực trạng sử dụng bao bì ni lông
+ Nhóm 2: Thuyết trình về tác hại của bao bì ni lông
+ Nhóm 3: Thuyết trình về giải pháp giảm thiểu việc sử dụng bao bì ni lông
- Đọc, trả lời các câu hỏi, làm bài tập ở SGK.
III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
1. Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra việc chuẩn bị bài của học sinh (sản phẩm bài thuyết
trình của các nhóm).
2. Bài mới:
GV giới thiệu: Như các em đã biết, do tính tiện lợi, túi ni-lông hiện nay đã trở
thành một loại bao bì được ưa chuộng ở nhiều nước và cả ở Việt Nam. Giờ đây, khi
mua bất kỳ đồ vật gì, người mua luôn được phục vụ túi ni-lông để bọc, gói, đựng,
lót…Túi ni-lông còn được dùng đựng canh, đựng nước mía, đựng dưa muối, cà
muối, đựng các loại thực phẩm dạng lỏng để mang đi xa. Cuộc sống có vẻ sẽ khó
khăn nếu như một ngày nào đó không còn túi ni-lông. Nhưng có ai biết được rằng
đằng sau sự tiện lợi, thói quen đó là cả một mối nguy cơ tiềm ẩn đang đe dọa hủy
hoại môi trường sống cũng như tính mạng, sức khỏe của con người. Để thấy rõ tầm
quan trọng của vấn đề này, cô cùng các em sẽ đến với văn bản “Thông tin về Ngày
Trái Đất năm 2000”.
Hoạt động của GV và HS
Nội dung cần đạt
Hoạt động 1: Hướng dẫn HS tìm hiểu chung I- Tìm hiểu chung:
về văn bản
GV hướng dẫn cách đọc: Mạch lạc, rõ ràng, 1- Đọc – giải thích từ khó::
chú ý đến các thuật ngữ chyên môn.
- Cho 1-2 học sinh đọc văn bản?
- Chú ý các chú thích sau:
+ Phân hủy: Chia thành những chất khác
nhau, không còn mang tính chất ban đầu.
+ Plac-tic: Chất dẻo
+ Đi-ô-xin: Chất rắn, không màu, rất độc.
+ Giảm thiểu: Bớt đi một ít, giảm bớt.
+ Giải pháp: Cách giải quyết một vấn đề
+ Ô nhiễm: Nhiễm bẩn, làm bẩn, gây hại.
? Nhận xét về kiểu văn bản, phương thức 2- Kiểu văn bản - phương thức biểu
biểu đạt.
đạt::
HS trả lời
- Văn bản nhật dụng thuyết minh một
GV giới thiệu và cho học sinh biết sẽ học thể vấn đề khoa học tự nhiên.
loại thuyết minh sau.
? Tìm bố cục cho văn bản
4- Bố cục: 3 phần
HS trả lời
GV trình chiếu:
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×