Tải bản đầy đủ

Đổi mới phương pháp dạy học văn bản nhật dụng lớp 8 ở trường THCS điện biên đạt hiệu quả cao

1. MỞ ĐẦU
1.1.Lí do chọn đề tài
Năm học 2016- 2017 là năm thứ mười bốn dạy học sinh theo sách giáo khoa
Ngữ văn mới trên phạm vi cả nước, cũng là năm thứ mười đổi mới chương trình
Ngữ văn lớp 8. Trong bối cảnh toàn ngành giáo dục và đào tạo đang nỗ lực đổi
mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học
sinh trong hoạt động học tập để đào tạo ra những con người năng động, sớm
thích ứng với đời sống xã hội đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước; đòi hỏi đội ngũ giáo viên chúng ta phải không ngừng đổi mới nội
dung phương pháp, để trong mỗi tiết dạy bình thường ở trường trung học cơ sở,
học sinh chúng ta được hoạt động nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn và quan trọng
là được suy nghĩ nhiều hơn trong con đường chủ động chiếm lĩnh nội dung
học tập.
Xuất phát từ thực tế đó, là một giáo viên trực tiếp dạy Ngữ văn trong quá
trình giảng dạy từ sự tìm tòi học hỏi của bản thân và sự giúp đỡ của đồng
nghiệp, tôi nhận thấy khi tổ chức hướng dẫn cho học sinh chiếm lĩnh tác phẩm
văn chương, giáo viên cần chú ý đến phương pháp giảng dạy mới như đảm bảo
nguyên tắc tính tích hợp, sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở, đưa học sinh vào
tình huống có vấn đề, tình huống tự bộc lộ ... Vai trò của người thầy trong
phương pháp mới này sẽ là sức hút kỳ diệu biến giờ học văn đơn điệu trước đây
trở nên thi vị hứng thú, phong phú, sâu sắc hơn, khép lại cánh cửa chán học văn

của học sinh ngày nay.
1.2.Mục đích nghiên cứu
Trong môn Ngữ văn phần văn bản luôn chiếm số tiết nhiều hơn cả (2 tiết
một tuần). Phần văn bản thường là những tiết học đầu tiên của mỗi tuần nên thực
sự có ý nghĩa. Nó không chỉ là cơ sở cung cấp ngôn ngữ mới cho phân môn
Tiếng Việt, Tập làm văn mà còn rèn cho học sinh năng lực tổng hợp: nghe, nói,
đọc, viết. Từ năm 2002 - 2003 đến nay trong nội dung thay sách đã đưa vào loại
văn bản mới có ý nghĩa và vị trí quan trọng trong việc giáo dục học sinh đó là
văn bản nhật dụng. Vậy có cần phương pháp dạy kiểu văn bản mới như thế nào
(đặc biệt là phần văn bản nhật dụng lớp 8) để đạt hiệu quả cao là vấn đề nhiều
giáo viên còn băn khoăn, trăn trở. Từ thực tế giảng dạy tôi chọn đề tài "Đổi mới
Phương pháp dạy học văn bản Nhật Dụng lớp 8" làm vấn đề để các đồng
nghiệp nghiên cứu trao đổi.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
- Đối tượng : Học sinh lớp 8C Trường THCS Điện Biên

1


2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận
Nghị quyết số 02/NQ-HNTW khoá VIII của Đảng đã nêu bật yêu cầu:
"Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một
chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học". Luật giáo dục của
nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng nêu rõ: "Phương pháp giáo dục
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tạo tư duy sáng tạo của người học,
bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý thức vươn lên".
Những năm gần đây định hướng đổi mới phương pháp đã được thống nhất
theo tư tưởng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh dưới sự tổ chức
hướng dẫn của giáo viên. Như thế một giáo án giờ văn bản kiểu mới không chỉ
là bản đề cương nội dung chi tiết về cái hay, cái đẹp của áng văn thấy tâm đắc
mà còn là bản thiết kế việc làm của học sinh.
Để có sự đổi mới về phương pháp giảng dạy trước hết phải nói đến cấu
trúc nội dung văn bản của sách giáo khoa. Qua các văn bản các em không chỉ
cảm thụ nội dung nghệ thuật của những hình ảnh cao đẹp, của con người, cuộc
sống mà còn giúp các em đến với những vấn đề vừa hiển nhiên vừa bức thiết
trong thực tiễn đời sống. Kiểu văn bản nhật dụng lần đầu tiên được đưa vào
chương trình Ngữ văn 6, 7, 8 đã thực hiện được sứ mệnh của nó trong con
đường tiếp nhận tri thức của học sinh. Không chỉ khoán vấn đề giáo dục môi
trường cho môn sinh học, giáo dục truyền thống cho môn lịch sử, giáo dục pháp

luật cho môn giáo dục công dân ... môn Ngữ văn không thể đứng ngoài cuộc.
2.2. Thực trạng của vấn đề
Việc đưa văn bản nhật dụng vào chương trình Ngữ văn quả là một việc làm
cấp thiết và hợp lý không chỉ riêng đối với nền giáo dục nước ta mà còn đối với nền
giáo dục của các nước trên thế giới.
Thực tế giảng dạy môn Ngữ văn, nhiều giáo viên chỉ khai thác các văn
bản ở giá trị nội dung, nghệ thuật còn các giá trị về liên hệ thực tế cuộc sống thì
hạn chế, hoặc bị bỏ qua. Một số còn vận dụng phương pháp giảng dạy mới một
cách máy móc, hoặc chưa được thường xuyên, hoặc trở lại với thói quen dạy học
cũ: thầy nói, trò nghe, ghi chép.
Về phía học sinh: vẫn còn thói quen thụ động quen nghe chép ghi nhớ
những gì giáo viên nói chưa có thói quen chủ động tìm hiểu khám phá bài học.
Đa số học sinh chưa chủ động v ận dụng kiến thức kỹ năng của văn học vào thực
tế cuộc sống, ít biết liên hệ giữa thực tế cuộc sống với văn học. Từ đó dẫn đến
việc học sinh ít nắm bắt, quan tâm hoặc thờ ơ với những vấn đề nóng hổi bức
2


thiết của đời sống xã hội trong và ngoài nước. Từ thực tiễn trên có thể nói rằng
việc tìm ra phương pháp tốt nhất để dạy phần văn bản nhật dụng lớp 8 nói riêng
và kiểu văn bản khác nói chung là một việc làm cần thiết trong xu thế phát triển
ở môn Ngữ văn và trong nền giáo dục Việt Nam.
2.3.Các giải pháp và cách thức tổ chức thực hiện
* Cách giải quyết vấn đề
-Thống kê, phân loại.
Với phương pháp này tôi chia phần văn bản Ngữ văn lớp 8 thành các kiểu
bài như:Tự sự, biểu cảm nghị luận, nhật dụng từ đó có cái nhìn toàn diện về kiến
thức phần văn lớp 8 và xác định được vị trí nhiệm vụ kiểu văn bản nhật dụng
căn cứ vào đó nghiên cứu vấn đề cụ thể của đề tài.
- Miêu tả và phân tích.
Dùng phương pháp này để chỉ rõ những phương pháp cơ bản, cấu trúc tiến
hành dạy kiểu văn bản nhật dụng lớp 8. Trên cơ sở miêu tả nội dung của một bài
văn bản nhật dụng lớp 8, đề xuất những nhiệm vụ, yêu cầu cùng với biện pháp
thực hiện cho phù hợp .Trong đề tài này, tôi dựa trên phương pháp dạy văn bản
nói chung để nghiên cứu phương pháp dạy kiểu văn bản nhật dụng lớp 8. Minh
hoạ cụ thể qua bài 10; tiết 39 "thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000".
* Nội dung đề tài.
A. Cấu trúc chương trình VB Nhật dụng Ngữ văn lớp 8: Gồm: 3 bài
* Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000.
* Ôn dịch, thuốc lá
* Bài toán dân số
Hệ thống văn bản Ngữ văn lớp 8 rất phong phú, nhiều thể loại, nhiều bài
với nội dung sâu sắc rất có ý nghĩa cho việc giảng dạy hiện nay. Từ sự kế thừa
và phát triển nâng cao hơn so với hệ thống văn bản nhật dụng lớp 6, lớp 7 phần
văn bản nhật dụng lớp 8 đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa rộng hơn, thiết
thực hơn trong cuộc sống. Mặc dù chỉ có 3 tiết, không nhiều so với các kiểu văn
bản biểu cảm, tự sự, nghị luận song nó lại có vị trí quan trọng thiết yếu trong
việc giáo dục nhân cách cho học sinh.
* Sách giáo khoa và sách giáo viên.
- Sách giáo khoa là tài liệu chính để giáo viên giảng dạy và học tập. Khi
dạy và học giáo viên và học sinh phải biết tận dụng triệt để sách giáo khoa, chú
ý đọc thêm tài liệu để hiểu sách.
- Sách giáo viên: Giáo viên dạy phải hiểu rằng, sách giáo viên không thể
áp dụng máy móc cho bất kỳ đối tượng nào. Giáo viên sử dụng như một tài liệu
3


tham khảo, hướng dẫn, cần cân nhắc, chọn lọc kiến thức cho phù hợp với học
sinh của lớp mình dạy.

* Phương pháp dạy phần văn bản nhật dụng lớp 8.
+ Mục đích, yêu cầu, ý nghĩa của việc dạy và học văn bản nhật dụng.
- Trước hết phải hiểu được thế nào là văn bản nhật dụng; Văn bản nhật
dụng không phải là một khái niệm chỉ thể loại. Nói đến văn bản nhật dụng trước
hết nói đến tính chất của nội dung văn bản. Đó là những bài viết có nội dung gần
gũi bức thiết đối với đời sống trước mắt của con người và cộng đồng trong xã
hội hiện đại như thiên nhiên, môi trường, dân số v.v...
- Mục đích dạy văn bản này là tạo điều kiện tích cực để thực hiện nguyên
tắc giúp học sinh hoà nhập với xã hội, quan tâm đến những vấn đề xã hội có ý
nghĩa lâu dài, đưa học sinh trở lại với những vấn đề vừa quen thuộc, vừa gần gũi
hàng ngày, gắn kết với đời sống thực tế (vấn đề môi trường, dân số, tệ nạn xã
hội). Mỗi văn bản nhật dụng là một cánh cửa mở ra giúp các em có thêm hiểu
biết về thế giới xung quanh, từ đó nâng cao làm phong phú thêm tâm hồn, tình
cảm và nhận thức của các em.
- Dạy văn bản nhật dụng phải từ cái trước mắt có tính cập nhật và thời sự
chỉ ra ý nghĩa lâu dài muôn thuở, từ cái của một nơi chỉ ra cái của mọi nơi, từ
một phương diện chỉ ra mối liên quan với nhiều phương diện.
Ví dụ: ở văn bản "Thông tin Ngày Trái Đất năm 2000". Từ việc giúp các
em nhận rõ tác hại của bao bì nilông đến có hành động và ý thức bảo vệ môi
trường, có suy nghĩ tích cực về các việc tương tự trong vấn đề xử lý rác thải sinh
hoạt, nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường.
-Văn bản "Ôn dịch, thuốc lá" từ việc giúp các em nhận thức được tác hại
to lớn, nhiều mặt của thuốc lá đối với đời sống cá nhân, cộng đồng đến việc tạo
ra cho các em có ý thức quyết tâm phòng chống thuốc lá ở mọi nơi, mọi lúc.

+ Mục giới thiệu bài.
Giới thiệu bài giảng một cách hấp dẫn, nhằm gây hứng thú học tập, thiết
lập mối quan hệ giữa kiến thức đã học và kiến thức mới đưa ra mục tiêu của bài
học cho học sinh. Giáo viên có thể tiến hành hoạt động này dưới nhiều hình thức
khác nhau như kể một câu chuyện, trình bày sinh động một đoạn trích của bài
học mới, đưa một thông tin hấp dẫn, một số tranh ảnh, giáo cụ trực quan có liên
quan đến một phần nội dung nào đó của bài học mới.
Khi dạy bài "Ôn dịch, thuốc lá" giáo viên có thể trích dẫn câu "Thuốc lá
còn đe doạ tính mạng, sức khoẻ con người còn mạnh hơn cả AIDS" để có thông

4


tin đó chúng ta sẽ đi tìm hiểu tác hại của việc hút thuốc lá trong văn bản "Ôn
dịch, thuốc lá".

+ Mục đọc hiểu văn bản.
Trong dạy - học văn, đọc là một khâu rất quan trọng trong hoạt động tiếp
nhận văn bản, bao gồm nhiều cách đọc khác nhau: đọc đúng, đọc thần, đọc
thành tiếng, cơ bản là đọc diễn cảm. Trong chương trình Ngữ văn mới đọc là
một trong bốn kỹ năng mà học sinh phải tương đối thành thạo, cần hướng dẫn
cho học sinh đọc có vận dụng của tư duy, tình cảm, góp phần tái hiện nội dung
văn bản. Điều cốt tử với mọi giờ học văn là từ đọc văn bản giúp học sinh hiểu cảm thụ đúng văn bản thấm thía mối liên hệ khăng khít giữa văn bản với cuộc
sống. Từ khâu đọc cũng có thể hình thành cho học sinh các kỹ năng phân tích,
bình giá, cảm thụ và nghe tốt, nói tốt, viết tốt.
Với văn bản nhật dụng khi đọc không cần nhiều ngữ điệu như các văn bản
tự sự, biểu cảm, yêu cầu đọc rõ ràng mạch lạc chính xác chú ý đến các thuật ngữ
chuyên môn cần phát âm chuẩn xác. Nhấn mạnh, dừng lại lâu hơn ở những cấu
tạo hình thức đặc biệt ví dụ như là dòng chữ in đậm trong "Thông tin Ngày
Trái Đất năm 2000": Một ngày không sử dụng bao bì ni lông hay ở bài "Ôn
dịch, thuốc lá" "nếu giặc đánh như vũ bão thì không đáng sợ, đáng sợ là giặc
gặm nhấm như tằm ăn dâu" những câu cảm có dấu chấm than cần đọc với
giọng phù hợp. Có thể nêu các câu hỏi để học sinh tự tìm ra yêu cầu của mỗi văn
bản.
Ví dụ: Theo em văn bản "Thông tin Ngày Trái Đất năm 2000" chúng ta
cần phải đọc với giọng như thế nào ?
Hãy nêu yêu cầu đọc của văn bản "Ôn dịch, thuốc lá" ?
- phần chú thích, bên cạnh việc giải nghĩa, ở đây còn có những thông tin
khác về lịch sử, xã hội, chính trị ... cần lưu ý học sinh đọc kỹ cả những phần chú
thích đó mới hiểu một cách đầy đủ sâu sắc, ý nghĩa của văn bản. Ngoài các từ trong
phần chú thích sách giáo khoa giáo viên cần giảng thêm các từ ngữ khó khác.
- Ví dụ trong văn bản "Bài toán dân số": giải thích "chàng Ađam và nàng Eva"
theo kinh thánh của đạo Thiên chúa, đó là cặp vợ chồng đầu tiên trên trái đất
được chúa tạo ra và sai xuống trần gian để hình thành và phát triển loài người.
- Tồn tại hay không tồn tại: là câu nói nổi tiếng của nhà văn HămLet trong
vở kịch "HămLet" của U.Sêcxpia (Anh).
Trong VB "Ôn dịch, thuốc lá" giải thích:
- Vi trùng: vi khuẩn gây bệnh

5


- Ký sinh trùng: động vật bậc thấp sống bám vào, nhờ vào một sinh vật
chủ nào đó.

+ Mục phân tích. Theo tôi ở phần này cần chú ý những điểm chính sau:
a. Đảm bảo nguyên tắc tích hợp.
Ngay từ khâu viết sách các nhà biên soạn đã có sự tích hợp, đó là việc
thiết kế bài và hệ thống tiết dạy theo hướng đồng quy.
- lớp 6 nội dung chính của các văn bản nhật dụng viết về các di tích lịch
sử, các danh lam thắng cảnh và thiên nhiên môi trường.
- lớp 7 nội dung chính là những vấn đề về quyền trẻ em, nhà trường, phụ
nữ, văn hoá, giáo dục.
- lớp 8 tập trung vào các nội dung cơ bản như vấn đề dân số, môi truờng
tệ nạn xã hội.
Nguyên tắc tích hợp thể hiện cụ thể ở nội dung từng bài.
Ví dụ: Văn bản "Thông tin Ngày Trái Đất năm 2000" thực chất là một văn
bản thuyết minh về một vấn đề khoa học hiểu được nó một cách cặn kẽ lại
không phải đơn giản muốn dạy đạt kết quả cần tích hợp với những kiến thức
đang và sẽ học về văn bản thuyết minh ở phần tập làm văn, tích hợp với một số
kiến thức khoa học tự nhiên đang và sẽ học như: hoá học, sinh học, địa lý, giáo
dục công dân.
Ví dụ: Nhận xét về cách trình bày bố cục của văn bản ?(Bố cục theo 3
phần: nêu vấn đề, phân tích trình bày cho vấn đề sáng tỏ, kêu gọi mọi người hành
động theo vấn đề đã nêu ⇒ cách trình bày rõ ràng chặt chẽ hợp lý, logíc khoa học:
tích hợp với bố cục đặc điểm của kiểu văn bản thuyết minh.
- Em hiểu gì về đặc điểm tính chất của plastic ? (là chất dẻo nhựa, vật liệu
gồm phân tử pôlime, không tự phân huỷ được).
- Các chất NH2, CH4 (mêtan), H2S (sunphurơ) là những chất như thế nào?
Trong văn bản "Ôn dịch, thuốc lá", "Dân số thế giới", tích hợp với môn lịch
sử, địa lý, giáo dục công dân, phương pháp cách làm của văn bản thuyết minh
nghị luận, tích hợp với phân môn tiếng Việt ở các yếu tố nghệ thuật.
Ví dụ: - Khi nêu tác hại của thuốc lá đối với con người tác giả sử dụng
những phương pháp thuyết minh nào ? (liệt kê, phân tích, giải thích).
- Ngoài ra còn sử dụng phương thức biểu đạt nào khác ?
- Tác dụng của các phương thức biểu đạt đó ?
- Trong văn bản "Bài toán dân số" có mấy luận điểm chính ?

6


- Vấn đề nghị luận được đặt ra trong văn bản này là gì ?
- Em rút ra kinh nghiệm gì về cách viết văn thuyết minh sau khi học VB này ?
Ví dụ: Trong văn bản "Thông tin Ngày Trái Đất năm 2000".
- Để trình bày tác hại của việc sử dụng bao bì nilông tác giả sử dụng biện
pháp nghệ thuật nào ? (liệt kê)
- Dùng biện pháp liệt kê đó có tác dụng gì ? (nêu được tác hại về mọi mặt
của việc sử dụng bao bì nilông).
- Nhận xét về cách sử dụng từ ngữ của văn bản trên ? (ngắn gọn, rõ ràng,
khoa học, chính xác, dễ nhớ dễ hiểu) ⇒ Đặc điểm từ ngữ của kiểu văn bản
thuyết minh.
- Các trình bày câu, trừ ở đoạn cuối của văn bản có gì đặc biệt ? (chữ in
to, sử dụng câu cầu khiến, điệp ngữ).
- Có tác dụng gì ? (nhằm khuyên bảo, yêu cầu đề nghị mọi người hạn chế
sử dụng bao bì nilông giữ gìn sự trong sạch của môi trường trái đất).
Trong văn bản "Ôn dịch, thuốc lá"- Cách trình bày ở tiêu đề văn bản có
gì đặc biệt ? (Dấu phẩy được dùng theo lối tu từ để nhấn mạnh sắc thái biểu cảm
- thái độ của tác giả: rất căm ghét thuốc lá, gây được sự chú ý với người đọc
thấy được nghiện thuốc lá là một bệnh nguy hiểm).
- Nhận xét về cách trình bày và nghệ thuật của câu: "Ôn dịch, thuốc lá đe
doạ tính mạng, sức khoẻ con người còn mạnh hơn cả AIDS ?"
(dòng chữ in nghiêng, biện pháp nghệ thuật so sánh).
- Tác dụng của biện pháp nghệ thuật này ? (nhấn mạnh hiểm hoạ to lớn
của việc hút thuốc lá).Trên đây là một số ví dụ nhỏ về nguyên tắc tích hợp giữa
các phần trong môn Ngữ văn (Văn - Tiếng Việt - Tập làm văn), trong mối quan
hệ với các môn học khác. Khi tìm hiểu văn bản phải bám sát vào các yếu tố hình
thức mà trước hết là thể loại và ngôn từ nghệ thuật để làm sáng tỏ nội dung văn
bản, mở rộng khắc sâu kiến thức Tiếng Việt, Tập làm văn. Khi áp dụng nguyên
tắc tích hợp vào trong giảng dạy môn văn bản cụ thể, giáo viên cần có nghệ
thuật trong việc tạo tình huống để hỏi học sinh. Cách thức tích hợp phụ thuộc
vào nội dung, mức độ thời điểm và năng lực sư phạm của mỗi giáo viên tích hợp
một cách kín đáo nhuần nhuyễn và đạt hiệu quả, tránh gò bó khiên cưỡng. Có
thể tích hợp thông qua các câu hỏi chứa đựng những nội dung tích hợp, thông
qua lời giảng bình của giáo viên, qua phần nội dung tiểu kết từng phần hay tổng
kết cả giờ học.
b- Sử dụng câu hỏi phát huy tính tích cực của học sinh.

7


Muốn phát triển trí sáng tạo của học sinh phải chú ý đặc biệt đến phương pháp
dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh. Tốt nhất là tổ chức những
tình huống có vấn đề, đòi hỏi dự đoán, nêu giả thiết, tranh luận giữa những ý
kiến trái ngược nhau, đưa học sinh vào tình huống tự bộc lộ.
Ví dụ trong văn bản "Ôn dịch, thuốc lá" có thể sử dụng một số câu hỏi như:
- Trước thông tin: "Ôn dịch, thuốc lá còn nặng hơn cả AIDS" em có thái
độ như thế nào ? (Ngạc nhiên, bất ngờ hay không ngạc nhiên? )
- Trong số những thông tin về chiến dịch chống thuốc lá, em chú ý nhất thông
tin nào ? Vì sao ? (Học sinh tự bộc lộ theo nhận thức của từng cá nhân).
- Em dự định sẽ làm gì trong chiến dịch chống thuốc lá rộng khắp hiện nay?
Theo tôi những câu hỏi trên sẽ đưa các em vào tình huống có vấn đề, tự
bộc lộ.Trong tình huống này học sinh không trả lời từng ý bám sát theo câu hỏi
của giáo viên. Các em bày tỏ ý kiến của mình, phản bác ý kiến của các bạn. Các
em trao đổi với nhau do đó cũng chú ý theo dõi sự bình luận đánh giá ý kiến của
nhau. Có em cho rằng thông tin thuốc lá làm suy đồi đạo đức là đáng chú ý nhất
vì con người không có đạo đức sẽ là gánh nặng cho xã hội. Có em dự định sẽ về
giúp bố cai nghiện thuốc lá đầu tiên. Có em dự định sẽ mang tuyên truyền bài
"Ôn dịch, thuốc lá" đến từng gia đình nơi em ở vì thực chất theo em đó có rất
nhiều người cứ hút mà không biết đến tác hại của nó.
- Thế giới lấy ngày 31/5 hằng năm làm ngày không hút thuốc lá.
Không chỉ các em được phát biểu trước lớp mới là tự bộc lộ, phát huy khả
năng nhận thức của mình mà ngay cả những em chưa mạnh dạn xin nói trước
lớp mới chỉ dám trao đổi nhỏ với các bạn bên cạnh, ngay cả các em chỉ ngồi im,
chăm chú theo dõi cuộc trao đổi nhỏ, ngay cả một cử chỉ xua tay, một tiếng cười
đồng tình, một tiếng la phản đối ... cũng là hình thức tự bộc lộ khác nhau của
học sinh; Giáo viên phải biết điều khiển, khơi gợi sự tự bộc lộ mình của các em
đó. Người giáo viên phải biết tổ chức nuôi dưỡng và kích thích sự phát triển tình
huống và biết cách kết thúc đúng lúc là cần thiết. Giáo viên nên nói ít chỉ nên có
những gợi ý nhỏ thúc đẩy cuộc thảo luận, tránh không phê phán hoặc uốn nắn
ngay ý kiến của các em mà khéo léo khêu gợi để các em tự nhận xét, phản bác.
Sau khi thấy các ý kiến bắt đầu lặp lại, giáo viên cho dừng cuộc thảo luận và dẫn
giải, bình luận các ý kiến đã phát biểu. Giáo viên nên thừa nhận nhiều khả năng
và không áp đặt buộc học sinh theo một khả năng nào. Muốn đưa học sinh vào
tình huống có vấn đề cách thành công, giáo viên phải tạo được không khí thuận
lợi của lớp học, làm cho học sinh thích thú, mong đợi đến giờ học, phải tạo ra sự
giao tiếp cởi mở, thân mật giữa thầy với trò. Bằng trình độ chuyên môn và

8


nghiệp vụ của mình, giáo viên tạo được uy tín cao. Bằng tác phong gần gũi thân
mật giáo viên chiếm được sự tin cậy của học sinh. Bằng cách tổ chức và điều
khiển hợp lý các hoạt động của từng cá nhân và tập thể học sinh, giáo viên sẽ tạo
được hứng thú cho cả lớp và niềm vui học tập của từng học sinh.
Để phát huy tính tích cực của học sinh theo tôi giáo viên nên sử dụng cả
những câu trắc nghiệm trong giờ học.
Ngoài những câu hỏi quen thuộc như phát hiện, gợi tìm, suy luận ... việc
đưa những câu hỏi trắc nghiệm trong khi giảng dạy là cần thiết (không nhất thiết
cứ phải giờ kiểm tra, đánh giá mới sử dụng). Câu hỏi trắc nghiệm được xây
dựng theo các dạng câu hỏi lựa chọn đúng sai, câu hỏi nhiều lựa chọn (thường là
4 lựa chọn) câu hỏi điền khuyết, câu hỏi đối chiếu, cặp đôi ... Những câu hỏi này
sẽ góp phần rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, năng lực đọc hiểu văn bản,
nắm vững và sử dụng các kiến thức kỹ năng từ ngữ ngữ pháp cho học sinh; hạn
chế được thói quen học tư học lệch của học sinh, học sinh phải bỏ nhiều thời
gian đọc và suy nghĩ trước khi trả lời.
Ví dụ: ở bài "Bài toán dân số"
- Theo em nguyên nhân chính của sự gia tăng dân số là gì ?
A. Do khả năng sinh con trong thực tế của người phụ nữ rất lớn
B. Do kinh tế thấp kém
C. Do không có biện pháp kế hoạch hoá gia đình
D. Do con người, nhất là phụ nữ chưa được hưởng quyền lợi giáo dục.
Tóm lại: có rất nhiều phương pháp giảng dạy để phát huy tính tích cực
của học sinh, song giờ dạy chỉ dừng lại ở những câu hỏi gợi tìm, suy luận, khái
quát đánh giá thì chưa đủ. Để có không khí học tập sôi nổi, huy động được nhiều
học sinh tham gia theo tôi giáo viên cần đặc biệt chú ý đến cách đưa học sinh
vào những tình huống có vấn đề để học sinh tự bộc lộc.
Một trong những mục tiêu giảng dạy của phần văn bản nhật dụng không thể
thiếu được đó là giáo viên phải giúp học sinh soi sáng những kiến thức đã học
vào thực tiễn cuộc sống. Trong văn bản: "Thông tin Ngày Trái Đất năm 2000"
nếu chỉ tập trung phân tích tác hại của việc sử dụng bao bì nilông thì chưa đủ.
Bao bì nilông chỉ là một hiện tượng có liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường,
nói rộng hơn liên quan đến sứ mệnh trái đất, ngôi nhà chung của chúng ta. Bởi
vậy từ cách đặt vấn đề cũng như kết thúc vấn đề cần luôn liên hệ đến những vấn
đề khác của rác thải sinh hoạt, của bảo vệ môi trường nâng được tầm suy nghĩ
của học sinh, mới thể hiện được ý nghĩa của việc học tập văn bản nhật dụng.

9


Ví dụ: Em dự định sẽ làm gì để "Thông tin Ngày Trái Đất năm 2000" đi
vào đời sống biến thành hành động cụ thể ?.
- Chỉ sử dụng bao bì nil ông khi thật cần thiết
- Đề nghị mọi người trong gia đình hãy hạn chế sử dụng bao bì nilông
- Gom nhặt bao bì nilông vào nơi quy định
- Vẽ những bức tranh thể hiện tác hại của việc sử dụng bao bì nlông
Đứng trước thực trạng môi trường đang bị huỷ hoại dần em có suy nghĩ
như thế nào ?
ở văn bản "Bài toán dân số" có thể liên hệ: Em có hiểu biết gì về sự gia
tăng dân số ở địa phương em ? Nó có tác động gì tới đời sống kinh tế xã hội ?
(Vẫn còn nhiều gia đình sinh con thứ ba, có gia đình sinh con thứ năm đời
sống vật chất khó khăn, nhiều người trong họ trong khu đân cư phải trợ giúp,
đến nhà trường phải miễn giảm học phí, không có điều kiện cho con ăn ngon
mặc đẹp, nuôi dạy chúng trưởng thành cũng rất khó khăn).
Theo em tại sao ở địa phương em vẫn có người sinh con thứ ba ?
(Vì muốn có con trai có nhiều con cháu mới có nhiều phúc, tư tưởng thích
đông con nhiều cháu ...)
- Giả sử gia đình em bố mẹ chỉ sinh được 2 con gái, bây giờ có ý định
sinh con thứ ba em sẽ làm gì để khuyên bố mẹ đừng sinh đẻ nữa ?
Ví dụ: Trong văn bản "Ôn dịch, thuốc lá".
- Em sẽ làm gì nếu trong gia đình em có người nghiện hút thuốc lá ?(Dẫn
chứng những tác hại của thuốc lá mà em biết sau khi học xong văn bản, khuyên
người đó bỏ thuốc bằng nhiều cách, có thể hút ít dần rồi bỏ hẳn, dùng kẹo cai
nghiện ...)
- Giải thích tại sao trên bao bì thuốc lá lại ghi: "Hút thuốc lá có hại cho sức
khoẻ"?
Có rất nhiều cách đưa ra những câu hỏi giúp học sinh liên hệ với thực tế
cuộc sống, có thể đưa ra những tình huống giả định hoặc những câu hỏi chứa
đựng những thông tin nhận thức về thực tế cuộc sống của các em. Có liên hệ với
thực tế có đưa học sinh trở về với những vấn đề bức thiết của cuộc sống, khẳng
định vai trò vị trí của các em trong hiện tại, tương lai mới thể hiện được giá trị
của văn bản nhật dụng.
c. Sử dụng kênh hình minh hoạ.
Trong chương trình cải cách sách giáo khoa, nhiều văn bản có tranh ảnh
minh hoạ, theo tôi điều đó rất xác thực, song trong 3 văn bản nhật dụng ở lớp 8
10


đều viết về những vấn đề bức thiết của cuộc sống lại không có tranh ảnh minh
hoạ. Mặc dù những vấn đề được đề cập đến các em đã được chứng kiến ở thực
tế rất nhiều song nếu kết hợp giữa bài dạy lý thuyết với những tranh ảnh minh
hoạ sẽ làm bài dạy phong phú sâu sắc hơn rất nhiều. Hiện nay không phải nhà
trường nào cũng có tranh ảnh minh hoạ cho các tiết dạy văn bản nhật dụng. Vì
vậy, giáo viên phải biết sưu tầm hoặc tự vẽ tranh minh hoạ. khả năng mình .
(Nhất thiết không sử dụng những hình vẽ cẩu thả, tuỳ tiện, phi sư phạm làm đồ
dùng dạy học).. Có thể sử dụng kênh hình điện tử, sử dụng máy chiếu.
Trong văn bản có rất nhiều cảnh, chi tiết giáo viên có thể dựa vào đó mà
vẽ, sưu tầm tranh ảnh minh hoạ. Nhưng không thể minh hoạ hết những cảnh ấy
vì vô hình chung đã biến giờ dạy văn thành giờ trưng bày tranh ảnh. Chỉ nên sử
dụng tranh ảnh minh hoạ cho những hình ảnh, chi tiết tiêu biểu, điển hình, mà từ
đó giúp giáo viên có thể đặt ra nhiều câu hỏi gợi mở nhằm khai thác ý nghĩ, nội
dung, tư tưởng giá trị nghệ thuật của văn bản, có thể phát huy được tư duy, óc
tưởng tượng phong phú của học sinh, giúp các em chiếm lĩnh mọi giá trị của văn
bản tốt hơn. Theo tôi tranh ảnh minh hoạ phải đảm bảo tính mỹ thuật, tính chính
xác, tính sư phạm, phải đúng cảnh, đúng người, đúng tình tiết phù hợp với nội
dung văn bản.
Ví dụ: Khi dạy bài "Ôn dịch, thuốc lá", tôi sử dụng bức tranh vẽ biểu
tượng cấm hút thuốc lá, bức tranh một người đang cầm điếu thuốc lá hút dở và
đang ho rũ rượi kèm theo những câu hỏi như: Bức tranh vẽ cảnh gì ? Nêu mục
đích ý nghĩa của bức tranh? Khi dạy bài "Thông tin Ngày Trái Đất năm 2000"
tôi sưu tầm những bức ảnh minh hoạ trong báo tạp chí, tập san về khoa học môi
trường để minh hoạ cho bài giảng của mình, như ảnh chụp một góc Hồ Gươm Hà Nội do việc vứt túi nilông bừa bãi trên mặt hồ làm nhiều loài cá tôm chết nổi
lên. Với bức ảnh này tôi đặt câu hỏi: Bức ảnh miêu tả cảnh gì ? ý nghĩa của bức
ảnh ? Giả sử em là một khách du lịch đến Hà Nội nhìn thấy cảnh đó em có suy nghĩ
và hành động gì ?
? GV lấy ví dụ cụ thể về vấn đề sử lí rác thải ở Thành phố Thanh Hóa, Trường
THCS Điện Biên….
Tranh ảnh minh hoạ là công cụ cần thiết giúp giáo viên dạy có hiệu quả
hơn song giáo viên phải biết sử dụng hệ thống câu hỏi hợp lý để tranh ảnh minh
hoạ trở nên như một cảnh sống động thực sự.
+ Mục luyện tập.
Trong một tiết văn bản phần luyện tập chiếm thời gian rất ít (3 đến 5 phút).
Vì vậy theo tôi giáo viên nên có cách luyện tập nhẹ nhàng vừa đảm bảo thời
gian vừa tạo sự thoải mái, khắc sâu được kiến thức cho học sinh. Phần kiến thức
11


lý thuyết của văn bản nhật dụng rất phong phú và có tính chất mở rộng cao, nếu
sử dụng hệ thống bài tập, hệ thống câu hỏi của phần luyện tập ở cuối mỗi bài sẽ
mất nhiều thời gian. Vậy theo tôi ở phần luyện tập của văn bản nhật dụng nên sử
dụng bài tập củng cố, phát hiện bằng cách đưa ra những câu hỏi trắc nghiệm có
tính chất khái quát nội dung toàn bài, hoặc dùng phiếu học tập để học sinh làm
theo từng nhóm giúp học sinh khắc sâu được kiến thức cơ bản của tiết học.
Ví dụ:

Khi dạy bài "Bài toán dân số"

- ý nào nói đúng nhất nội dung của phần kết văn bản ?
A. Tác giả bất bình trước sự gia tăng dân số quá nhanh
B. Tác giả cho rằng trong một vài năm nữa, chỗ ở của mỗi người chỉ bằng diện
tích một hạt thóc.
C. Tác giả đưa ra những giải pháp để hạn chế sự gia tăng dân số trên thế giới.
D. Tác giả khuyến cáo loài người cần hạn chế sự gia tăng dân số.
Ví dụ: Trong bài "Ôn dịch, thuốc lá"
- Nhận định nào nói đúng nhất nội dung của văn bản ?
A. Nói đến tính chất của tệ nghiện thuốc lá: rất dễ lây lan.B. Nói đến tính
chất của tác hại thuốc lá gây nên: là những tác hại không dễ kịp thời nhận biết.
C. Nói đến tác hại nhiều mặt của thuốc lá với gia đình xã hội.
D. Cả ba nội dung trên.

+. Hướng dẫn về nhà.
Ngoài yêu cầu các em phải nắm vững giá trị nghệ thuật nội dung của văn
bản, giáo viên cho sử dụng các bài tập phần luyện tập cho về nhà, tích hợp với
tập làm văn thuyết minh để ra đề cho học sinh tự làm ở nhà, dành bài tập phân
tích bài tập sáng tạo để nâng cao mở rộng kiến thức cho học sinh.
Ví dụ: ở bài "Ôn dịch, thuốc lá"
- Nếu là học sinh nam em hãy viết bản quyết tâm cụ thể xác định cho
mình không bao giờ hút thuốc lá ?
- Nếu là học sinh nữ em hãy viết một bài vận động thuyết phục, động viên
những người thân trong gia đình mình từ bỏ thuốc lá ?
Ví dụ: ở bài "Bài toán dân số"
- Sưu tầm những thành ngữ, tục ngữ Việt Nam mà các em biết về sinh đẻ, dân số
? Em suy nghĩ gì về những kinh nghiệm cổ truyền đó ?

* Thiết kế một giáo án cụ thể ( Ngữ văn 8)
12


Tiết 39
VĂN BẢN: “ THÔNG TIN VỀ NGÀY TRÁI ĐẤT NĂM 2000”
I. MỤC TIÊU
1. Kiến thức
+ Thấy được tác hại, mặt trái của việc sử dụng bao bì nilông
+ Thấy được tính thuyết phục trong cách thuyết minh về tác hại của việc
sử dụng bao bì nilông.
+ Tích hợp với bài tìm hiểu chung, phương pháp làm bài văn thuyết minh,
tích hợp với Tiếng Việt ở cách dùng từ ngữ, biện pháp tu từ khác, tích hợp với
môn hoá, địa, sinh ...
2. Kĩ năng
+ Rèn kỹ năng đọc hiểu và phân tích một văn bản nhật dụng dưới dạng văn bản
thuyết minh một vấn đề khoa học.
3. Thái độ
+ Có suy nghĩ tích cực về vấn đề xử lý rác thải sinh hoạt.
II. CHUẨN BỊ
- Giáo viên: Giáo án, SGK, tranh ảnh minh hoạ, máy chiếu, phiếu học tập.
- Học sinh: bài soạn sách giáo khoa, sưu tầm tranh ảnh minh hoạ.
III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC.
Hoạt động của Thầy
1. Kiểm diện.
2. Kiểm tra bài cũ: Em hiểu gì về đặc
điểm tính chất của văn bản nhật dụng ?

Hoạt động của Trò

Ở lớp 6, 7 em đã học những văn bản nhật
dụng nào ? Các văn bản đó nói về những
vấn đề gì ?
3. Bài mới:
I. Tìm hiểu chung
Nếu văn bản thuyết minh nhằm trình bày tri
thức về các hiện tượng và sự vật trong tự
nhiên và xã hội thì theo em "thông tin Ngày
Trái Đất năm 2000" có thuộc kiểu văn bản
thuyết minh không ? Vì sao

1. Thể loại
Là văn bản thuyết minh vì văn bản này
đã cung cấp tri thức về tác hại của việc
sử dụng bao bì nilông và việc hạn chế sử
dụng chúng.

Vấn đề xã hội được đặt ra ở văn bản này là Vấn đề bảo vệ sự trong sạch của môi
13


gì ?
trường
- Hướng dẫn học sinh đọc văn bản, chú 2. Đọc , Chú thích
thích.
Với văn bản này các em nên đọc với giọng Yêu cầu: đọc mạch lạc, rõ ràng, chính
như thế nào ?
xác, diễn cảm. Chú ý nhấn mạnh ở từ
- GV giải nghĩa thêm một số từ khó hiểu ngữ chuyên môn, câu mệnh lệnh.
(plastic, ô nhiễm, môi trường ...)
- Hướng dẫn học sinh tìm hiểu bố cục.
3. Bố cục: 3 phần
Văn bản có thể chia làm mấy phần ?

? Nội dung chính của từng
phần ?

- Phần 1: Từ đầu đến "một ngày không
sử dụng bao bì nilông". Thông báo về
ngày trái đất.
- Phần 2: Tiếp ... Môi trường: tác hại và
biện pháp trong việc sử dụng bao bì
nilông.
- Phần 3: Còn lại kiến nghị về việc bảo vệ
môi trường.

Em có nhận xét gì về cách trình bày bố cục ⇒ Bố cục rõ ràng chặt chẽ, hợp lý.
của văn bản (đây cũng là đặc điểm về bố
cục của kiểu văn bản chứng minh)
Mở bài: Nêu vấn đề
Thân bài: Phân tích, chứng minh, cho vấn
đề sáng tỏ.
Kết luận: Kết thúc vấn đề: (Nêu yêu cầu
hoặc đề nghị)
Hoạt động 4: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu II. Tìm hiếu chi tiết văn bản
phần 1.
1) Thông báo về ngày trái đất .
? Phần mở bài đã thông báo cho em biết - Ngày 22/4 hàng năm là ngày trái đất
được những sự kiện nào ?
bảo vệ môi trường.
- Đã có 141 nước tham dự
- Việt Nam tham gia năm 2000 với chủ
đề "Một ngày không sử dụng bao bì
? Tác giả đã trình bày những sự kiện trên nilông"
bằng cách nào ? (Gợi ý ? Cách sử dụng - Dùng số liệu cụ thể
câu, từ ...)
- Từ thông tin khái quát đến cụ thể.
14


- Lời thông báo rõ ràng cụ thể.
- Người đọc, nghe: dễ nhớ, dễ hiểu, dễ
quan tâm đến.
? Qua phần đầu văn bản đã cung cấp cho - Thế giới đang rất quan tâm đến vấn đề
môi trường.
chúng ta kiến thức gì ?
- Việt Nam đã tỏ rõ sự quan tâm chung .
? Khi chưa đọc văn bản này em thấy việc 2) Tác hại của việc sử dụng bao bì ni
sử dụng bao bì nilông có lợi gì và có hại gì lông.
? Có lợi nhiều hay có hại nhiều hơn .

- Giảm mỹ quan đường phố

? Qua đoạn văn bản của phần thân bài em - Tắc cống dẫn nước thải ⇒ gây úng lụt
thấy được những tác hại nào của việc sử lây truyền dịch bệnh.
dụng bao bì nilông
- Làm ô nhiễm thực phẩm gây ung thư.
? Đó là những chất có tính chất đặc điểm gì - Khi đốt thải ra chất điôxin, gây ung
thư, dị tật bẩm sinh.
- Rác đựng trong túi sẽ khó phân huỷ ⇒
? Nguyên nhân nào dẫn đến những tác hại amôniắc, mê tan, sunfurơ (chất độc,
thối, khai)
của nilông .
? Để trình bày tác hại của việc sử dụng bao - Do tính không phân huỷ của nhựa
bì ni lông tác giả dùng những phương pháp plastic.
nào ?
- Liệt kê, Phân tích, Giải thích
? Có tác dụng gì ?
-> Nêu được tác hại về nhiều mặt,
thuyết phục được nhiều người đọc,
người nghe.
?Nhận xét về cách sử dụng từ ngữ ở đoạn - Ngôn ngữ ngắn gọn
văn trên?Tác dụng của cách sử dụng từ ngữ - Dễ nhớ, dễ hiểu, dễ chú ý.
Hàng năm có 100.000 con chim thú biển
chết do nuốt phải túi nilông.
Học sinh tự bộc lộ
- Giới thiệu ảnh chụp trên báo (được phóng
to) chụp cảnh những túi nilông thả cá bị vứt
xuống Hồ Gươm vào ngày 23/12/2003.
? Bức ảnh chụp cảnh gì? Mục đích, ý nghĩa
Làm ô nhiễm môi trường
của bức ảnh ?
? Giả sử em là khách du lịch đến Hà Nội Huỷ hoại sức khoẻ của loài người, sự
phát triển của sinh vật khác.
15


nhìn thấy cảnh đó em có suy nghĩ và hành Học sinh tự bộc lộ
động gì ?
- Vứt bừa bãi vào các nguồn nước, chợ,
Tóm lại: Qua văn bản và thực tế của cuộc vườn, nơi công cộng.
sống em thấy sử dụng bao bì nilông gây ra - Vứt vào thùng rác công cộng.
những hiểm hoạ gì ?
- Chôn lấp thành bãi lớn (ở Sóc Sơn,
? Theo em có cách nào tránh được hiểm Việt Trì)
hoạ đó ?
- Đốt, tái chế
? Ở Việt Nam đang xử lý bao bì bằng
những cách nào ? có những hạn chế gì ?
Tóm lại, việc xử lý bao bì nilông đang là 3) Các biện pháp hạn chế dùng bao bì
vấn đề phức tạp chưa có hiệu quả, chỉ có nilông
thể đề ra các biện pháp hạn chế việc dùng Học sinh tự bộc lộc
bao bì này.
- Hướng dẫn học sinh tìm hiểu các biện - Hãy thay đổi thói quen và giảm sử
pháp hạn chế dùng bao bì nilông
dụng bao bì nilông.
? Đoạn văn tiếp theo nêu những biện pháp - Hãy không sử dụng bao bì nilông khi
nào hạn chế dùng bao bì nilông ?
không cần thiết.
? Cách trình bày ở đoạn văn bản trên có gì - Hãy dùng giấy, lá gói thực phẩm.
đặc biệt ?
- Hãy nói cho mọi người biết tác hại của
? Tác giả dùng nghệ thuật gì ? Các biện bao bì ni lông.
pháp nghệ thuật ấy có tác dụng như thế - Điệp từ: hãy, câu cầu khiến
nào?
- Nhấn mạnh, đề nghị thuyết phục mọi
? Các biện pháp nêu trên có thực hiện được người thực hiện.
không?
- Có khả năng thực hiện vì chủ yếu tác
? Các biện pháp đó đã triệt để giải quyết động vào ý thức người sử dụng.
tận gốc vấn đề chưa ?
- Chưa triệt để
? Em hãy liên hệ việc sử dụng bao bì Học sinh tự bộc lộc
nilông của bản thân và gia đình em ?
? Tác giả đưa ra những kiến nghị nào ?

*Kiến nghị về việc bảo vệ môi trường.

Tại sao chủ đề của Việt Nam tham gia ngày - Vì một hộ gia đình sử dụng một bao bì
môi trường lại là "Một ngày không sử dụng ni lông/ ngày thì cả nước là 25 triệu bao
bao bì nilông" ?
bì ni lông/ngày và một năm sẽ là 9 tỉ
? Nhận xét về cách trình bày từ ngữ, câu ở bao ni lông vứt vào môi trường
đoạn cuối

- Sử dụng câu cầu khiến bằng chữ in to.
- Điệp ngữ
16


? Tác dụng của các biện pháp trên ?

- Hướng dẫn học sinh tổng kết

- Nhấn mạnh, đề nghị, yêu cầu, thuyết
phục mọi người hạn chế sử dụng bao bì
nilông.
III. Tổng kết
1- Nội dung

? Sau khi học xong VB em đã rút ra được Mọi người phải biết phê phán lên án
những điều gì cho bản thân
những hành vi huỷ hoại môi trường như:
? Ngoài ra văn bản này còn đề cập đến vấn Vứt rác bừa bãi, đốt phá rừng.
đề nào khác ?

- Phải luôn có suy nghĩ để tìm ra các xử
lý rác thải một cách khoa học có hiệu
quả nhất.
? Học xong văn bản này em sẽ làm gì để -Trồng cây xanh, quét dọn nhà cửa,
góp phần bảo vệ môi trường ?
đường phố, thu gom rác vào nơi quy
? Gia đình và địa phương em đã và sẽ làm định…
gì để bảo vệ môi trường ?
2 - Nghệ thuật
? Sau khi học xong văn bản này em rút ra - Ngôn ngữ: ngắn gọn, chính xác, chặt
bài học gì khi viết một văn bản thuyết minh chẽ, giàu sức thuyết phục.
về vấn đề khoa học ?
- Bố cục rõ ràng chặt chẽ hợp lý.
Học sinh đọc- Ghi nhớ
- Phương pháp: liệt kê, giải thích, phân
Giáo viên khái quát toàn bài, chuyển ý.
tích phù hợp.
- Hướng dẫn hs luyện tập: Sử dụng phiếu 4. Luyện tập
học tập,các nhóm nhận phiếu và làm bt.
- Nắm giá trị nghệ thuật nội dung của VB .

5.Hướng dẫn học sinh học bài ở nhà

- Làm các bài tập trong SGK và SBT.

- Viết một bài văn thuyết phục dân cư
nơi em ở cần phải bảo vệ môi trường.

- Soạn: Ôn dịch, thuốc lá...
IV.Rút kinh nghiệm:

……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………….
2.4.Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Ở khối 6, 7 khi tôi chưa sử dụng đầy đủ các bước của phương pháp này
thì kết quả sau khi kiểm tra phần văn bản nhật dụng ở lớp 8C như sau:

17


Lớp


số

8C

39

Số dự Điểm
Ksát 0,1,2
39

3

Điểm
3,4

Điểm
5,6

Điểm
7,8

8

22

6

Điểm Điểm Tbình
9,10
0

28

Trên đây là kết quả khảo sát khi chưa thực hiện đề tài. Nhìn chung kết quả chưa
cao vì ít điểm 7, 8 chủ yếu là điểm trung bình, riêng điểm 9, 10 không có. Qua
đó cho thấy việc vận dụng kiến thức văn bản nhật dụng vào thực tế chưa sâu đặc
biệt là việc tích hợp giữa các phân môn còn nhiều hạn chế.
Kết quả khảo sát chất lượng sau khi áp dụng đề tài ở 8C năm học 2016- 2017
Như sau:

Lớp

Sĩ số

8C

39

Số dự Điểm
Ksát 0,1,2
39

0

Điểm
3,4

Điểm
5,6

Điểm
7,8

2

17

18

Điểm Điểm Tbình
9,10
Trở lên
4

37

Đối chiếu kết quả tôi thấy sau khi áp dụng đề tài, chất lượng môn văn tăng lên rõ
rệt, số điểm khá tốt (8, 9, 10) có nhiều hơn, số điểm dưới trung bình rút đi. Điều
đó chứng tỏ rằng các em đã hiểu được vai trò vị trí, ý nghĩa cũng như mục đích
của việc học văn bản nhật dụng, các em đã biết liên hệ thực tế, biết tích hợp với
phân môn tập làm văn - tiếng việt ở nhiều phương diện khác nhau.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Với "Phương pháp dạy - học văn bản nhật dụng lớp 8" có thể áp dụng
với phần dạy văn bản nhật dụng nói chung và các kiểu văn bản khác như văn
bản tự sự, nghị luận.

18


- Qua các giờ dạy áp dụng đề tài chúng tôi nhận thấy rằng không phải sử
dụng ở lớp nào cũng như nhau, ở lớp khá có thể nâng cao hơn những câu hỏi
đưa học sinh vào tình huống tự bộc lộ, ở lớp trung bình có thể sử dụng hạn chế
hơn những câu hỏi trên.
- Giáo viên phải thực sự đầu tư trong việc chuẩn bị, soạn bài chu đáo, tìm
hiểu suy nghĩ, tham khảo nhiều sách báo, am hiểu thực tế xã hội ... để tạo được
hệ thống câu hỏi hợp lý, lý thú cho các em tìm hiểu bài. Thái độ của thầy trong
giờ giảng phải cởi mở, thân mật, tạo được sự thân mật, gần gũi đối với học sinh.
Trên đây là một vài suy nghĩ và kinh nghiệm nhỏ của tôi về "Đổi mới
phương pháp dạy học văn bản nhật dụng lớp 8". Tôi đã áp dụngvào thực tế
lớp 8C trường THCS Điện Biên trong quá trình giảng dạy và bước đầu đã có
hiệu quả rất mong sự đóng góp ý kiến của các cấp và anh chị em đồng nghiệp .
Để tôi có một kinh nghiệm giảng dạy tốt nhất giúp các em học sinh học tập đạt
kết quả cao nhất .
Tôi xin chân thành cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Điện Biên, ngày 20 tháng 3 năm 2017
CAM KẾT KHÔNG COPY
Tác giả

Vũ Thị Hồng Thúy

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×