Tải bản đầy đủ

Bồi dưỡng năng lực cảm thụ thơ văn cho học sinh lớp 9

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT VÀI KINH NGHIỆM VỀ CÁCH THỨC TỔ CHỨC
GIỜ DẠY HỌC TIẾNG VIỆT LỚP 9 NHẰM PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC HỌC SINH
(HỌC SINH LỚP 9C TRƯỜNG THCS MINH KHAI,
TP THANH HÓA)

Người thực hiện: Trần Thị Chung
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường Trung học cơ sở Minh Khai
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn

THANH HÓA NĂM 2017



MỤC LỤC
Trang
1. PHẦN MỞ ĐẦU

1

2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận

3

2.2. Thực trạng vấn đề

3

2.3.Các giải pháp đã sử dụng

4

2.3.1. Tạo tình huống thực tiến, khoa học, hấp dẫn

4

2.3.2. Tổ chức trò chơi

6

2.3.3. Tổ chức thảo luận nhóm

8

2.3.4. Sử dụng sơ đồ tư duy

10

2.3.5. Sử dụng phương tiện trực quan

14

2.4. Hiệu quả của sáng kiến


17

3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

19

TÀI LIỆU THAM KHẢO

22

PHỤ LỤC

23

DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ
ĐƯỢC XẾP LOẠI

26



1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Xu hướng giáo dục quốc tế hiện nay là chương trình giáo dục theo định
hướng năng lực, chú trọng năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn nhằm chuẩn
bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề
nghiệp, gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành. Để bắt kịp với xu hướng
của thời đại và phù hợp với tình hình đất nước đang có nhiều thay đổi lớn hiện
nay thì đổi mới trong giáo dục là một điều tất yếu. Việc đổi mới căn bản, toàn
diện Giáo dục - Đào tạo là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự
thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thực hiện mục tiêu “dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành
Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa XI xác định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và
đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát
triển phẩm chất, năng lực học sinh”.
Nhằm đáp ứng những yêu cầu đổi mới về phương pháp, đáp ứng tốt hơn
những tiêu chuẩn về kiến thức và kĩ năng mà mục tiêu môn học đã đề ra, tạo
không khí hứng thú trong giờ học, giúp học sinh yêu thích say mê môn học kiểu
như: “có thích mới nhích tư duy” thì phải xem dạy học là một nghệ thuật và giáo
viên là một nghệ sĩ. Bản chất của hoạt động dạy học là sự kết hợp của khoa học
công nghệ với nghệ thuật của người dạy. Vì vậy trong dạy học giáo viên ngoài
vốn hiểu biết sâu rộng và có phương pháp dạy học phù hợp với đặc thù bộ môn
cũng cần có những sáng tạo nghệ thuật trong dạy học. Trên cơ sở đó tôi đã mạnh
dạn áp dụng “Một vài kinh nghiệm về cách thức tổ chức giờ dạy học Tiếng
Việt lớp 9 nhằm phát triển năng lực học sinh” (Lớp 9C trường THCS Minh
Khai – Thành phố Thanh Hóa). Hi vọng đề tài này sẽ góp một phần nhỏ vào
việc cải tiến phương pháp dạy học theo xu thế đổi mới hiện nay.

1


1.2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Một vài kinh nghiệm về cách thức tổ chức giờ dạy
học Tiếng Việt lớp 9 nhằm phát triển năng lực học sinh” nhằm góp phần nâng
cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt và phát triển năng lực cho học sinh lớp 9.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi tiến hành nghiên cứu dạy học phần Tiếng Việt
lớp 9 và tiến hành thực nghiệm ở học sinh lớp 9C trường THCS Minh Khai.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài sáng kiến kinh nghiệm chúng tôi kết hợp vận dụng
tổng hợp các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích, phân loại tài liệu liên quan đến việc dạy học
Tiếng Việt.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: Thống kê hứng thú, kết quả học tập
của học sinh trước và sau khi áp dụng phương pháp trong dạy học Tiếng Việt để
đối chứng.

2


2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2. 1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Trong dạy học Ngữ văn không thể thiếu phần Tiếng Việt. Nếu tác phẩm
văn chương tác động nhiều đến tình cảm thì dạy học Tiếng Việt tác động nhiều
đến tư duy học sinh. Dạy học Tiếng Việt phải hình thành ở học sinh năng lực sử
dụng thành thạo tiếng Việt với bốn kỹ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết để qua
đó rèn luyện tư duy. Sau đó, giúp học sinh những hiểu biết nhất định về tri thức
tiếng Việt và ngôn ngữ (từ, câu, đoạn…) để có ý thức sử dụng Tiếng Việt đúng
đắn và trong sáng. Trên cơ sở đó mà làm cho các em yêu quí Tiếng Việt, có ý
thức giữ gìn, bảo vệ, phát triển tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách, bồi
dưỡng tư tưởng, tình cảm. Tuy nhiên phân môn Tiếng Việt lại vừa khô vừa khó.
Một đơn vị kiến thức Tiếng Việt đưa vào bài học thường ngắn nhưng tiếp thu và
hiểu thấu đáo, chuẩn xác về nó thì không đơn giản. Vì vậy để phát huy hiệu quả
giờ dạy học Tiếng Việt tôi thiết nghĩ chúng ta không nên áp dụng một cách máy
móc mà cần sử dụng cách thức dạy học linh hoạt và có sự sáng tạo nghệ thuật
trong dạy học. Có như thế mới lôi cuốn hấp dẫn, kích thích được tư duy của học
sinh, đưa học sinh vào vai trò trung tâm của hoạt động học.
2. 2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1. Việc giảng dạy của giáo viên
Thực tế hiện nay nhiều giáo viên đã có ý thức vận dụng các phương pháp,
kĩ thuật dạy học mới nhưng chưa nắm vững đặc trưng của môn Tiếng Việt, chưa
nắm chắc mục tiêu cuối cùng của quá trình dạy học các tri thức Tiếng Việt vì
vậy mục đích chính mà giáo viên hướng tới chủ yếu là học sinh tiếp thu được
kiến thức gì (học cái gì) chứ không phải là học như thế nào. Khi hướng dẫn học
sinh thực hành nhiều giáo viên còn mang tâm lí “sợ” thoát li kiến thức từ sách
giáo khoa, ít mở rộng phần luyện tập, thiếu tính độc lập sáng tạo trong việc tổ
chức dạy học. Một bộ phận giáo viên chưa thật sự tâm huyết, đam mê với nghề,
lên lớp chưa có sự linh hoạt, sáng tạo chỉ tái hiện sách giáo khoa một cách đơn
điệu, dạy xuôi một chiều nên hiệu quả đạt được chưa cao. Trong tiết dạy người
3


thầy là trung tâm, dạy theo lối cung cấp, truyền thụ cho học sinh kiến thức sẵn
có trong sách giáo khoa và thường áp đặt luôn kiến thức vào học sinh buộc học
sinh phải công nhận luôn kiến thức đó. Học sinh tiếp nhận và làm theo như một
cái máy mà không hiểu thực chất của vấn đề. Ý thầy nói luôn trở thành "chân lý"
mà học sinh chỉ biết tuân theo và chấp nhận. Như vậy, học sinh ít có cơ hội sáng
tạo, ý chí muốn vươn lên của học sinh có nhiều khả năng bị hạn chế. Học sinh
không phát huy được năng lực vốn có của mình. Dần dần dẫn đến "mòn" trí tuệ
của bản thân. Nhiều giờ dạy học còn rất nặng nề khô cứng thậm chí căng thẳng
hoặc mờ nhạt.
2.2.2. Việc học tập của học sinh
Căn cứ việc quan sát hứng thú và kết quả học tập của học sinh khi học
Tiếng Việt ở lớp 9 chúng tôi thấy rằng thực chất sự thành công trong một giờ
dạy học Tiếng Việt không chỉ có sự nỗ lực từ phía giáo viên mà quan trọng là
cần có sự hưởng ứng tích cực từ phía học sinh. Thói quen học thụ động, đối phó
của các em học sinh là một rào cản lớn đối với quá trình đổi mới phương pháp
dạy học. Một số ít các em học sinh còn mang tính thực dụng, tức thời, cho rằng
học chủ yếu để phục vụ cho các kì thi mà điểm số phân môn Tiếng Việt ít nên
còn học đối phó. Học theo phương pháp mới đòi hỏi phải dành nhiều thời gian
để làm bài tập, tham khảo tài liệu, thu thập xử lí thông tin khoa học…Tuy nhiên
các em chưa có sự đầu tư thích đáng cho môn học, chưa hình thành được tư duy
phản biện, độc lập trong học tập, chưa vận dụng được vào thực tế đặc biệt là
chưa thực sự hứng thú trong học tập.
Từ thực trạng đó chúng tôi thấy rằng cần có những giải pháp phát huy
điểm mạnh, khắc phục khó khăn nhằm đạt mục tiêu dạy học, phát triển năng lực
học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục bằng việc sử dụng một số cách
thức dạy học Tiếng Việt theo tinh thần đổi mới.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1. Tạo tình huống thực tiễn, khoa học, hấp dẫn
a. Khái niệm và vai trò
4


Tình huống là hệ thống các sự thực của cuộc sống, trong đó người học được
kiến tạo tri thức qua việc giải quyết các vấn đề có tính xã hội của việc học tập.
Trong giờ học, thông qua việc giải quyết tình huống, người học vừa nắm
bắt tri thức một cách nhẹ nhàng vừa có khả năng vận dụng vào thực tiễn và khả
năng thích ứng tốt nhất với môi trường xã hội đầy biến động.
b. Yêu cầu
- Tình huống xây dựng phải phù hợp và phục vụ cho việc thực hiện mục
đích, nội dung bài học.
- Nội dung tình huống phải đảm bảo tính chính xác khoa học, bám sát kiến
thức chuẩn từ sách giáo khoa.
- Tình huống phải có tính thực tế gắn liền với sự kiện liên quan đến đời
sống hàng ngày giúp học sinh có thể liên hệ với bài học một cách dễ dàng.
- Tình huống phải hấp dẫn, khơi dậy sự hứng thú, khơi dậy khả năng tự học
và yêu thích bộ môn.
- Tình huống phải mang tính khả thi, đảm bảo điều kiện cần và đủ để đưa
đến giải pháp hợp lí, dễ chấp nhận.
- Tình huống phải vừa sức, phải phù hợp với trình độ người học.
c. Biện pháp cụ thể
* Giáo viên tạo tình huống
- Sử dụng các nguồn kiến thức có tính thực tiễn.
- Sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ …kết nối với tình huống.
- Sử dụng những mẩu chuyện vui, có kịch tính để đưa đến tình huống.
* Học sinh: Nhận thức tình huống để tìm cách giải quyết và phát hiện vấn đề
một cách nhẹ nhàng nhất.
Ví dụ: Dạy bài “Nghĩa tường minh và hàm ý” Tiết Ngữ văn 9 tập 2, để
giúp học sinh phân biệt nghĩa tường minh và hàm ý giáo viên có thể đặt học sinh
vào tình huống: Nếu trong giờ học Toán bạn bên cạnh muốn mượn em cái thước
nhưng không muốn cho bạn mượn em sẽ nói thế nào? Sau đó giáo viên gọi vài
bạn trả lời. Học sinh sẽ đưa ra một số cách trả lời. A: “Tớ đang dùng”; B:
5


“Không mượn được”; C: “Cô đang nhìn kìa”…Giáo viên tiếp tục hỏi: Trong
các cách trả lời trên, cách trả lời của bạn nào nội dung thông báo được diễn đạt
trực tiếp bằng từ ngữ trong câu, cách trả lời nào phần thông báo phải suy ra từ
những từ ngữ trong câu đã nói? Học sinh sẽ trả lời được bạn B đã diễn đạt trực
tiếp nội dung thông báo bằng từ ngữ trong câu. Từ đó giáo viên chốt kiến thức
bài học: Cách trả lời của bạn B là dùng theo nghĩa tường minh, cách trả lời của
bạn B và C là theo nghĩa hàm ý.
Như vậy bằng việc tạo ra tình huống là ngữ liệu gần gũi với thực tế để giúp
học sinh làm quen với những tình huống giao tiếp thường gặp trong cuộc sống.
Tình huống này đã tạo được không khí học tập thoải mái, học sinh sẽ giải tỏa
được gánh nặng về tâm lí và tích cực tham gia vào quá trình tìm hiểu tri thức,
nhu cầu giao tiếp sẽ nảy sinh một cách tự nhiên.
2.3.2. Tổ chức trò chơi
a. Khái niệm và vai trò
- Trò chơi không chỉ là một “công cụ” dạy học mà nó còn là con đường
sáng tạo xuyên suốt quá trình học tập của học sinh. Trò chơi học tập là một hoạt
động được tổ chức có tính chất vui chơi, giải trí. Thông qua trò chơi học tập học
sinh có điều kiện “học mà chơi, chơi mà học”.
- Kết hợp sử dụng trò chơi trong học tập tạo không khí lớp học vui vẻ, thoải
mái; giờ học bớt nặng nề, khô khan, việc ghi nhớ, khắc sâu kiến thức nhẹ nhàng,
bền vững hơn. Vận dụng trò chơi trong hoạt động dạy học là một trong những
bện pháp tăng cường, tích cực hóa trong hoạt động học tập của học sinh, làm
tăng thêm tình cảm yêu thích môn học, tạo không khí thân thiện của thầy và trò.
b. Yêu cầu
- Nội dung trò chơi phải phù hợp với đơn vị kiến thức bài học. Tên trò chơi
phải ẩn chứa mục tiêu bài học và gây sự tò mò chú ý của học sinh.
- Nội dung trò chơi phải phù hợp với điều kiện thực tế, khả năng của học
sinh. Trò chơi phải khuyến khích được mọi đối tượng học sinh tham gia.
- Không sử dụng quá nhiều hình thức chơi trong một tiết học.
6


- Giáo viên phải nêu rõ thể lệ cuộc chơi và qui định thời gian, đối tượng,
cách chơi; đánh giá việc thực hiện trò chơi của học sinh phải toàn diện, công
bằng, khách quan.
c. Biện pháp cụ thể
Trò chơi thường được sử dụng khi kiểm tra bài cũ, củng cố và luyện tập
thực hành. Hình thức thực hiện trò chơi học tập cũng rất phong phú đa dạng đòi
hỏi giáo viên phải lựa chọn hình thức chơi hiệu quả nhất với từng tiết học. Trong
giờ dạy học Tiếng Việt lớp 9 chúng ta có thể lựa chọn một số hình thức tổ chức
trò chơi như:
- Trò chơi “tiếp sức”: Giáo viên chia lớp thành 2 đội có số người bằng
nhau, trình độ giỏi, khá, trung bình tương đương và ra câu hỏi. Trong thời gian
3 phút đội nào tìm được nhiều câu đúng sẽ thắng. Chẳng hạn khi dạy xong bài
“Ôn tập Tiếng Việt” (Tiết 73, Ngữ văn 9, tập 1) tôi yêu cầu học sinh 2 nhóm kể
tên các câu ca dao, tục ngữ có liên quan đến các phương châm hội thoại đã học
và cho biết đó là phương châm hội thoại gì. Đại diện từng nhóm lên trình bày
trên bảng khi không tìm ra thì nhanh chóng về chỗ để bạn khác lên thay. Cứ thế
đến hết giờ. Đội nào tìm được nhiều câu đúng hơn và không trùng nhau là thắng
cuộc.
- Trò chơi giải ô chữ: Giáo viên kẻ bảng ô chữ, đánh số thứ tự hàng ngang
và hàng dọc. Hàng dọc là từ khóa lớn nhất cần tìm cho 5 điểm, các từ khóa hàng
ngang tìm được cho 1 điểm. Học sinh được phép đoán ô chữ hàng dọc khi chưa
trả lời hết câu hỏi tìm ô chữ hàng ngang nếu phát hiện ra. Tổng điểm của bạn
nào được nhiều nhất sẽ nhận phần thưởng là điểm 10 và một tràng pháo tay. Ví
dụ giải đáp ô cho bài “Các thành phần biệt lập” (Tiết 104, Ngữ văn 9, tập 2).
1
2
3 C
4
5

H

A
C

N
A

H
H
M

B
I
E
T
L

Â
N

U
H

Ơ
N

I
H

H
O

A
P

N
9

A

U

7


6
7
1
2
• Ô chữ hàng ngang
1.

3

4

5

A
P
6

H
7

U
8

C
9

H
10

U
11

Ô chữ hàng ngang số 1 (5 chữ cái): Thành phần gọi đáp trong câu “Bầu
ơi, thương lấy bí cùng” là từ ngữ nào?

2.

Ô chữ hàng ngang số 2 (7 chữ cái): Giữa 2 từ “Chắc chắn” và “Hình như”
từ nào chỉ mức độ tin cậy thấp hơn?

3.

Ô chữ hàng ngang số 3 (6 chữ cái): Tìm thành phần biệt lập trong câu
“Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đổ đốn đến thế.”.

4.

Ô chữ hàng ngang số 4 (6 chữ cái): Thành Phần được dùng để bộc lộ tâm
lí của người nói (vui, buồn…) là thành phần?

5.

Ô chữ hàng ngang số 5 (5 chữ cái): Tìm thành phần phụ chú trong câu:
“Bạn Nam, lớp 9A, học rất giỏi.”.

6.

Ô chữ hàng ngang số 6 (1 chữ cái): Tìm thành phần cảm thán trong câu:
“A, Mẹ đã về!”.

7.

Ô chữ hàng ngang số 7 (6 chữ cái): Cụm từ “Em tôi” trong câu “Nga, em
tôi, rất ngoan” là thành phần gì của câu?

• Ô chữ hàng dọc
Ô số 6 (7 chữ cái): Thành phần câu không phải là thành phần chính, không
phải là thành phần phụ thì đó là thành phần gì?
Bằng việc tổ chức trò chơi giáo viên đã làm cho không khí lớp học thoải mái,
kích thích được tinh thần học tập của học sinh đặc biệt với những em học yếu,
nhút nhát. Học sinh được rèn luyện tư duy, tác phong nhanh nhẹn, xử lí tình
huống linh hoạt, chủ động.
2.3.3. Tổ chức thảo luận nhóm
a. Khái niệm và vai trò
- Dạy học nhóm là một hình thức của xã hội học tập trong đó học sinh của
mỗi lớp được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian nhất định, mỗi
nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác
8


làm việc, kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước
lớp.
- Thảo luận nhóm nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, tự lực của học
sinh. Phát triển năng lực cộng tác theo tinh thần đồng đội. Từ đó học sinh sẽ
phát triển năng lự giao tiếp, biết lắng nghe, chấp nhận và phê phán, tự tin hơn.
Đặc biệt hoạt động nhóm sẽ tăng cường tri thức và hiệu quả học tập.
b. Yêu cầu
- Hình thành nhóm học sinh phải linh hoạt. Tùy thuộc vào từng tiết học,
phạm vi vấn đề, thời gian được trao đổi mà số lượng đơn vị nhóm có cơ cấu
khác nhau.
- Giáo viên cần định hướng, giám sát, đưa ra câu hỏi phù hợp và quản lí
học sinh làm việc.
- Mỗi thành viên trong nhóm phải có ý thức tìm tòi, làm việc tích cực theo
sự phân công của nhóm trưởng, không ỷ lại.
- Không tổ chức hoạt động nhóm theo kiểu hình thức, làm cho có.
c. Biện pháp cụ thể
- Chia nhóm học tập cũng là một nghệ thuật đòi hỏi tài năng sư phạm của
mỗi giáo viên. Có nhiều kiểu nhóm học tập như: chia nhóm theo cặp ngẫu nhiên,
nhóm theo năng lực, nhóm hoạt động trà trộn…Chúng tôi thường phân nhóm
làm việc theo cặp ở vấn đề nhỏ; nhóm 4 – 5 học sinh để giải quyết lượng tri thức
nhiều, tiết kiệm thời gian; có nhiều vấn đề cần thảo luận ở nhiều mức độ thì sử
dụng nhóm theo năng lực; khi phải nhớ khái niệm đã học của nhiều bài học
trong giờ ôn tập thì sử dụng nhóm kim tự tháp…
- Giáo viên thực hiện các thao tác thảo luận nhóm: lựa chọn vấn đề, chia
nhóm, chọn nhóm trưởng, giao nhiệm vụ, quan sát hỗ trợ học sinh, nhận xét
đánh giá kết quả hoạt động.
- Học sinh có 3 thành phần với nhiệm vụ riêng. Nhóm trưởng là người có
tố chất nổi bật hơn, khéo léo, biết khơi dậy sự hứng thú tham gia của các thành
viên trong nhóm. Các thành viên trong nhóm chuẩn bị thu thập dữ liệu, biết lắng
9


nghe và tôn trọng người khác, tự chủ trong phát biểu. Thư kí là người biết tóm
tắt ý người khác, chữ viết rõ ràng.
Ví dụ: Khi làm bài tập tiết 123 “Nghĩa tường mình và hàm ý” (Ngữ văn
9, kì 2) chúng tôi tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm trà trộn nhiều đối tượng.
Nhưng với bài “Tổng kết về Ngữ pháp” (Ngữ văn 9, tập 2) chúng tôi tổ chức
cho học sinh hoạt động nhóm theo kiểu kim tự tháp. Chúng tôi nêu vấn đề: Kể
tên các từ loại Tiếng Việt đã học trong chương trình THCS, nêu khái niệm và
cho ví dụ cụ thể? Đầu tiên chúng tôi cho học sinh làm việc độc lập. Sau đó ghép
2 học sinh thành một cặp để chia sẻ ý kiến. Kế đến các cặp sẽ tập hợp thành
nhóm 8, nhóm 16 …Cuối cùng cả lớp sẽ có một bảng tổng kết các ý kiến dể giải
quyết câu hỏi giáo viên đã đưa ra.
Thông qua hoạt động nhóm học sinh nắm vững, nhớ sâu kiến thức bài
học, không bị sa vào thói quen học thụ động, phát huy tính năng động sáng tạo;
tạo không khí đoàn kết tượng trợ lẫn nhau trong học tập. Đặc biệt thông qua
hoạt động nhóm giáo viên có thể kịp thời uốn nắn, bổ sung kiến thức cho học
sinh.
2.3.4. Sử dụng sơ đồ tư duy
a. Khái niệm, vai trò
Sơ đồ tư duy hay còn gọi là Lược đồ tư duy, Bản đồ tư duy (Mind Map) là
phương pháp dạy học chú trọng đến cơ chế ghi nhớ, dạy cách học, cách tự học
nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một
mạch kiến thức,...bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét,
màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực để mở rộng và đào sâu các ý tưởng.
Sơ đồ tư duy là một trong những kĩ thuật dạy học tích cực có thể làm
“sống dậy” niềm đam mê môn Ngữ văn nói chung, phần Tiếng Việt nói riêng.
Việc sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học giúp học sinh dễ hình dung các đơn
vị kiến thức, dễ ghi nhớ những vấn đề phức tạp khi nó được đưa lên sơ đồ từ đó
các em hiểu vấn đề một cách có hệ thống. Tạo cho học sinh thói quen nhận thức
thế giới bằng lối tư duy quan hệ, tính logic của một vấn đề. Với sản phẩm độc
10


đáo “kiến thức + hội họa” cách học này còn phát triển được năng lực riêng của
từng học sinh về trí tuệ, hệ thống hóa kiến thức (huy động những điều đã học
trước đó để chọn lọc các ý để ghi), đồng thời còn phát triển khiếu thẩm mĩ, óc
hội họa, bởi đó là “sản phẩm kiến thức hội họa”do chính các em tự làm ra, lại
vừa phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của các em trong học tập, không rập
khuôn một cách máy móc, các em dễ dàng vẽ thêm các nhánh để phát triển ý
tưởng riêng của mình, vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống.
Vì thế,sẽ tạo một không khí sôi nổi, hào hứng, say mê cho học sinh trong học
tập. Sử dụng phương tiện dạy học và các thủ thuật dạy học phù hợp sẽ giúp tiết
kiệm thời gian để truyền tải hết nội dung cần thiết.
b. Yêu cầu
- Không phải ở hoạt động nào trong một bài cũng vận dụng sơ đồ tư duy. Ta hãy
từng bước vận dụng hình thức tổ chức kiến thức bằng sơ đồ tư duy để hỗ trợ khi
cần thiết và thấy hợp lí nhất, tránh lạm dụng.
- Chú ý dùng màu sắc, đường nét, hình ảnh hợp lý để vừa làm rõ các ý trong sơ
đồ đồng thời tạo sự cân đối, hài hòa, cuốn hút cho sơ đồ.
- Không ghi quá dài dòng, hoặc ghi những ý rời rạc, không cần thiết.
- Cần chuẩn bị chu đáo dụng cụ.
- Sơ đồ tư duy là sơ đồ mở, vì vậy giáo viên cần tôn trọng sự sáng tạo của học
sinh. Giáo viên chỉ nên chỉnh sửa cho các em về mặt kiến thức, góp ý thêm chứ
không nên phủ nhận chê bai về đường nét vẽ, màu sắc, hình thức... Cần khuyến
khích, tuyên dương những sơ đồ tư duy đảm bảo kiến thức trọng tâm, trình bày
khoa học, đẹp, hài hòa về dường nét, màu sắc.
c. Biện pháp cụ thể
- Sơ đồ tư duy có thể sử dụng nhiều khâu trong dạy học Tiếng Việt từ
khâu kiểm tra bài cũ, đến khâu dạy học kiến thức mới, hay khâu củng cố kiến
thức sau mỗi tiết học, rồi ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi
học kì, kể cả việc kiểm tra bài cũ, kiểm tra 15 phút...

11


- Tùy theo từng khâu của bài học mà đối tượng thiết kế sơ đồ tư duy có
thể là giáo viên hoặc học sinh trực tiếp thực hiện.
+ Giáo viên có thể chọn vẽ sơ đồ tư duy theo mạch kiến thức bài học để
vừa hướng dẫn học sinh cách vẽ sơ đồ tư duy vừa giúp học sinh tiếp thu kiến
thức một cách cô đọng, nhanh gọn, sau đó cho các em dựa vào sơ đồ tư duy đã
vẽ thuyết trình lại nội dung bài học. Mục đích cuối cùng là học sinh tự vẽ sơ đồ
tư duy (tự đặt từ khóa hoặc từ khóa giáo viên cho sẵn).
+ Giáo viên có thể giúp học sinh thiết kế sơ đồ tư duy khi vận dụng vào
khâu dạy học bài mới,bài ôn tập tổng kết ngay trên lớp: Qua hệ thống câu hỏi
dẫn dắt của giáo viên học sinh rút ra kết luận. Giáo viên lần lượt chốt lại vấn đề
bằng sơ đồ tư duy. Sử dụng bản đồ tư duy sẽ giúp học sinh dần dần hình thành
cách ghi chép có hiệu quả.
+ Học sinh tự thiết kế sơ đồ tư duy theo ý tưởng của mình để trình bày
kiến thức ở khâu kiểm tra bài cũ, củng cố kiến thức sau mỗi bài học hoặc khi
làm bài kiểm tra. Sơ đồ tư duy củng cố kiến thức sau mỗi bài học có thể được
thực hiện ngay trên lớp hoặc giao cho học sinh về nhà tự vẽ, tiết học sau trình
bày khi kiểm tra bài cũ. Học sinh tự làm được điều này có nghĩa là giáo viên đã
thực sự đạt mục đích khi áp dụng kĩ thuật dạy học bằng sơ đồ tư duy.
Ví dụ 1: Học bài “Trau dồi vốn từ” tiết 35, Ngữ văn 9 tập 1. Giáo viên ghi từ
khóa “Trau dồi vốn từ”. Cho học sinh đọc, phân tích ví dụ trong sách giáo
khoa. Qua việc tìm hiểu ví dụ giáo viên chốt kiến thức theo từng phần cho học
sinh: Muốn trau dồi vốn từ trước hết cần phải làm gì? Em hiểu nắm vững nghĩa
của từ và cách dùng từ là gì? Cần rèn luyện như thế nào để làm tăng vốn từ?
Sau đó giáo viên giúp các em vẽ nhánh chính, nhánh phụ và ghi bài trên sơ đồ tư
duy. Học sinh có thể vẽ theo mô hình sơ đồ tư duy trên bảng hoặc trên cơ sở
kiến thức đã hệ thống tự vẽ sơ đồ tư duy theo ý tưởng của mình.

12


HÌNH 1:SƠ ĐỒ MINH HỌA CHO BÀI “TRAU DỒI VỐN TỪ”
Ví dụ 2: Khi dạy xong bài “Sự phát triển của từ vựng” tiết 25 Ngữ văn 9 tập 1,
giáo viên yêu cầu học sinh tóm tắt lại nội dung bài học trên sơ đồ câm hoặc tự
vẽ một sơ đồ tư duy. Trên cơ sở đó học sinh đã rèn cho mình kĩ năng khái quát
hóa, hệ thống hóa kiến thức đã học một cách ngắn gọn, cô đọng, súc tích nhất.
Học sinh sẽ ghi nhớ kiến thức lâu hơn, phát huy được tính sáng tạo riêng.

13


HÌNH 2: SƠ ĐỒ MINH HỌA CHO BÀI “SỰ PHÁT TRIỂN TỪ VỰNG”
Có thể nói, sử dụng sơ đồ tư duy là kĩ thuật dạy học hiệu quả. Sơ đồ tư
duy giúp học sinh “học ít hiểu nhiều”, lấy người học làm trung tâm thay vì
“khủng bố” người học bằng sách vở, lí thuyết... Người học nhớ thông tin quan
trọng, hiểu rõ cấu trúc bài học và tiếp tục sáng tạo về bài học, phát huy được tính
tích cực chủ động trong học tập.
2.3.5. Sử dụng phương tiện trực quan
a. Khái niệm, vai trò
14


Phương tiện trực quan được biết đến như một tập hợp những đối tượng
vật chất, thiết bị kĩ thuật được giáo viên sử dụng để hướng dẫn học sinh quan sát
sự vật, hiện tượng hay hình ảnh của chúng để trên cơ sở đó mà hình thành khái
niệm.
Phương tiện trực quan có vai trò quan trọng đối với việc cung cấp, hệ
thống những tri thức về hệ thống tiếng Việt, rèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng
Việt (Nghe, nói, đọc, viết) cho học sinh, giáo dục quan điểm thẩm mĩ trong hoạt
đông nói năng, giao tiếp…
b. Yêu cầu
- Sử dụng phương tiện trực quan phải căn cứ mục tiêu, yêu cầu, nội dung
bài học để lựa chọn phương tiện thích hợp là tranh ảnh, bảng biểu hay các thiết
bị hỗ trợ như: băng, đĩa, máy chiếu…
- Phải phát huy tính tích cực , tạo hứng thú, rèn luyện khả năng thực hành
sáng tạo ở học sinh.
- Kết hợp giữa lời nói và việc trình bày phương tiện trực quan. Trong dạy
học Tiếng Việt lời nói của giáo viên cũng chính là một phương tiện trực quan
sinh động.
- Sử dụng phương tiện trực quan đúng lúc, đúng chỗ, đúng cường độ tránh
lạm dụng.
c. Biện pháp cụ thể
Việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học Tiếng Việt được thể
hiện ở mức độ, tính chất khác nhau, từ việc sử dụng bảng biểu, mô hình trên
bảng để trực quan hóa cấu trúc, chức năng của đơn vị Tiếng Việt đến việc sử
dụng phương tiện hỗ trợ như phim, ảnh…
- Phương tiện trực quan phải căn cứ vào sự phân loại để dùng cho hợp lí,
đạt kết quả. Chẳng hạn sơ đồ, bảng biểu thường sử dụng vào đầu giờ, cuối giờ,
trong bài ôn tập, tổng kết; thiết bị máy chiếu, nghe, nhìn…trình chiếu xong phải
chốt kiến thức trên bảng để thuận tiện cho việc ghi chép, tiếp nhận kiến thức;
đóng vai diễn kịch phải phù hợp.
15


* Ví dụ : khi dạy bài “Xưng hô trong hội thoại” (Tiết 18, Ngữ văn 9, tập
1), chúng tôi cho học sinh xem đoạn phim ngắn về cuộc đối đáp giữa chị Dậu
với tên Cai Lệ trong bộ phim “Chị Dậu” chuyển thể từ tiểu thuyết “Tắt đèn”
của Ngô Tất Tố. Học sinh nhận xét vị thế xã hội, thái độ, tính cách của từng
nhân vật qua cách xưng hô để nắm được việc sử dụng từ ngữ xưng hô cho thích
hợp với hoàn cảnh giao tiếp.
Qua việc sử dụng phương tiện trực quan tôi thấy lớp học sôi nổi hơn, tiết
kiệm được thời gian, kiến thức bài học sâu hơn, sát với thực tế hơn nên phát
triển được năng lực của học sinh trong hoạt động giao tiếp.

GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM
(Phần phụ lục)

2.4. Hiệu quả của sáng kiến
Sử dụng các cách thức tổ chức dạy học Tiếng Việt đòi hỏi bản thân mỗi
giáo viên phải dày công đầu tư sâu để hiểu tỉ mỉ, đầy đủ hơn nên đã giúp giáo
16


viên chúng tôi nâng cao được trình độ chuyên môn nghiệp vụ, hiểu được đặc
trưng phương pháp bộ môn.
Sử dụng các cách thức tổ chức dạy học Tiếng Việt lớp 9 sẽ giúp học sinh
nâng cao kĩ năng hợp tác, hoàn thành các nhiệm vụ học tập một cách sáng tạo,
linh hoạt phù hợp với thực tế cuộc sống và thêm yêu thích môn học. Sau khi áp
dụng cách thức tổ chức trong dạy học Tiếng Việt lớp 9, chúng tôi thấy kết quả
thu được tương đối khả quan. Đa số học sinh tỏ ra hứng thú, chủ động, tích cực,
sáng tạo khi được tham gia thảo luận để tìm ra kiến thức mới. Một vài học sinh
ban đầu còn tỏ ra lúng túng nhưng đã kịp thời lấy lại sự tự tin khi có sự khích lệ
của giáo viên và các bạn trong lớp. Không khí lớp học khá sinh động, sôi nổi.
Giáo viên và học sinh có sự cởi mở, thân thiện, gần gũi. Học sinh hiểu bài nhanh
hơn, hiệu quả hơn, hứng thú và chất lượng học tập của học sinh đã chuyển biến
tích cực.
*Kết quả cụ thể:
Qua thực nghiệm dạy học ở lớp 9C Trường THCS Minh Khai – Thành phố
Thanh Hóa, kết quả khảo sát và kiểm tra chúng tôi thu được như sau:
- Về hứng thú học tập
+ Khi chưa sử dụng các cách thức tổ chức dạy học như trên:
Lớp
9C

Số học
sinh

Thích(%)

Các mức độ
Bình thường(%)

45

30

50

Không thích(%)
21

+ Khi đã sử dụng các cách thức tổ chức dạy học như trên
Lớp
9C

Số học
sinh
45

Thích(%)

Các mức độ
Bình thường(%)

80

Không thích(%)

20

0

- Về kết quả học tập
+ Khi chưa sử dụng cách thức tổ chức dạy học như trên:
Đối



tượng số

Điểm

Điểm

Điểm

Điểm

Điểm

02

2  4,9

5,0  6,4

6,5  7,9

8,0 10,0
17


Số
lượng

%

Số
lượng

%

Số
lượng

%

Số
lượng

Lớp

45 0
0 14
32 20
45 11
9C
+ Khi đã sử dụng các cách thức tổ chức dạy học như trên
Đối



tượng số

%
23

Số
lượng
0

%
0

Điểm

Điểm

Điểm

Điểm

Điểm

02
Số

2  4,9
Số

5,0  6,4
Số
%
lượng

6,5  7,9
Số

8,0 10,0
Số
%
lượng

14

21

lượng

%

lượng

%

lượng

%

Lớp
9C

45

0

0

0

0

32

48

10

20

Hiệu quả của việc dạy học Tiếng Việt không phải chỉ đánh giá qua
một số tiết dạy mà phải căn cứ và áp dụng qui trình đó trên nhiều đối tượng học
sinh, qua nhiều bài học khác nhau. Song, với những kết quả bước đầu rất khả
quan đã giúp chúng tôi tin vào khả năng ứng dụng của đề tài trong thực tế dạy
học Tiếng Việt ở trường THCS.

3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Muốn truyền lửa đến tâm hồn người học thì bản thân người dạy phải có
lửa trong trái tim mình. Ngọn lửa trí tuệ và nhân cách người thầy có ảnh hưởng
đến nhân cách, tác động đến người học ý thức về sự đam mê, tự khám phá. Phát
18


huy tính chủ động trong việc học của học sinh, công việc của người thầy không
chỉ dừng lại ở việc cung cấp tri thức một cách nghèo nàn, tẻ nhạt. Người thầy
bên cạnh việc trau dồi để có kiến thức vững vàng thì cũng cần phải có phương
pháp dạy - học tốt. Người thầy có phương pháp dạy - học phù hợp, hiệu quả sẽ
giống như có được chiếc chìa khóa vạn năng mở ra cách cửa tri thức, giúp học
sinh đến với chân trời tri thức bao la một cách nhẹ nhàng và đầy lí thú. Định
hướng của phương pháp dạy học mới là phát triển năng lực học sinh.
Phương pháp dạy học dựa trên một số cách thức tổ chức giờ dạy - học môn
Tiếng Việt lớp 9 là phương pháp phát huy tính "tích cực" của học sinh. Sự tích
cực này thể hiện ở chỗ nó có chiều sâu, nó tạo cơ hội cho học trò phát huy được
trí thông minh của mình. Nó đánh thức những gì còn đang "ngủ yên" ở mỗi học
trò, đòi hỏi trò phải suy nghĩ tìm tòi và phát huy tư duy đến mức cao nhất, gọi
dậy trong con người mình, thậm chí trong tiềm thức của mình cái gì có thể giải
quyết được vấn đề đặt ra, học sinh luôn có hứng thú trong tiết học (điều mà
người giáo viên băn khoăn cho rằng tiết Tiếng Việt bao giờ cũng khô khan, học
sinh rất ngại học). Như vậy, phương pháp này giúp thầy nhận thức đánh giá
được trò. Đồng thời tạo niềm ham mê với môn học của học sinh.
Qua một số bài thử nghiệm, tôi nhận thấy học sinh có hứng thú trong tiết
học, học sinh tiếp thu kiến thức nhanh và hiểu sâu. Trên cơ sở những hiểu biết
về phương pháp, nắm bắt thực trạng dạy học Tiếng Việt ở trường THCS, chúng
tôi đã thấy được tính khoa học, cấp thiết của đề tài “Một vài kinh nghiệm về
cách thức tổ chức giờ dạy học Tiếng Việt lớp 9 nhằm phát triển năng lực học
sinh” (Lớp 9C trường THCS Minh Khai – Thành phố Thanh Hóa)”.
Việc dạy cho học sinh cách thức học tập, dạy cho các em kĩ năng tự khám
phá, chiếm lĩnh kiến thức để trở thành con người chủ động, sáng tạo, biết ứng
dụng kiến thức vào thực tế là việc làm thiết thực mà các nhà làm công tác giáo
dục cần quan tâm. Dạy học Tiếng Việt theo phương pháp mới đòi hỏi phải có sự
đổi mới đồng bộ trong đó cần có sự nỗ lực đầu tư rất lớn từ phía nhà trường, tinh

19


thần trách nhiệm cao của đội ngũ nhà giáo và sự ham học, cầu tiến của các em
học sinh.
3.2. Kiến nghị
- Nhà nước và các cấp quản lí giáo dục cần tăng cường đầu tư cơ sở vật
chất, trang thiết bị giáo dục hiện đại: Phòng học đúng chuẩn, bàn ghế đầy đủ,
thư viện có đầy đủ sách vở, đồ dùng dạy học...
- Phòng Giáo dục và Đào tạo, nhà trường cần tổ chức nhiều hình thức hoạt
động nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, khích lệ sự đổi mới phương pháp
dạy học của giáo viên: Tổ chức các chuyên đề thảo luận về việc vận dụng các
cách thức tổ chức dạy học Tiếng Việt, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, hội thi
giờ dạy giỏi…
Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là quá trình lâu dài, đòi hỏi công
sức, trí tuệ của nhiều người. Với những thành công bước đầu của đề tài này,
chúng tôi xin được chia sẻ với tất cả các đồng nghiệp để việc dạy - học phân
môn Tiếng Việt nói riêng, môn Ngữ văn nói chung ngày càng hiệu quả. Kính
mong nhận được sự góp ý chân thành của các đồng nghiệp để sáng kiến được
hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG Thanh Hóa, ngày 15 tháng 04 năm 2017
ĐƠN VỊ

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết

20


Trần Thị Chung

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán (1997), Phương pháp dạy học
Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội.
21


2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục
THCS môn Ngữ văn, NXB Giáo dục.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ
năng môn Ngữ văn Trung học cơ sở, NXB Giáo dục.
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lí và giáo
viên về biên soạn đề kiểm tra, xây dựng thư viện câu hỏi và bài tập môn Ngữ văn cấp
THCS, NXB Giáo dục.
5. Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên)(2004), Sách giáo viên Ngữ văn 9, Tập 2,
Nxb Giáo dục Việt Nam.
6. Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên)(2004), Bài tập Ngữ văn 9, Tập 2, Nxb
Giáo dục Việt Nam.
7. Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên)(2011), Ngữ văn 9, Tập 2, Nxb Giáo dục
Việt Nam.
8. Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên)(2011), Ngữ văn 9, Tập 1, Nxb Giáo dục
Việt Nam.
9. Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên)(2004), Sách giáo viên Ngữ văn 9, Tập 1,
Nxb Giáo dục Việt Nam.
10. Bùi Minh Toán (1992), “Về quan điểm giao tiếp trong giảng dạy Tiếng Việt”,
Nghiên cứu Giáo dục, (5), tr. 24-25.
11. Tài liệu tập huấn chuyên môn do phòng giáo dục đào tạo tổ chức.
12. Nguyễn Thế Truyền, Vui trong Tiếng Việt dành cho học sinh THCS,
Nxb Giáo dục 2007.

PHỤ LỤC
GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM
22


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×