Tải bản đầy đủ

Bồi dưỡng năng lực cảm thụ thơ trữ tình hiện đại cho học sinh lớp 9 THCS

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GD&ĐT NHƯ THANH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ THƠ TRỮ TÌNH
HIỆN ĐẠI CHO HỌC SINH LỚP 9 – THCS.

Người thực hiện: Nguyễn Thị Thủy
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS TT Bến Sung
SKKN thuộc môn: Ngữ văn

THANH HÓA NĂM 2017


MỤC LỤC
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ THƠ TRỮ TÌNH HIỆN ĐẠI CHO
HỌC SINH LỚP 9 – THCS..............................................................1
.....................................................................................................2

1. MỞ ĐẦU..................................................................................3


1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài.
Văn học là cuộc đời. Cuộc sống của chúng ta sẽ như thế nào nếu thiếu đi
các tác phẩm văn chương. Mỗi người chúng ta cảm thấy cuộc đời đẹp hơn, đáng
yêu hơn, sống tốt hơn khi chúng ta được học Văn.
Nhưng để cảm thụ và hiểu hết được tư tưởng của một tác phẩm văn học
nhất là thơ trữ tình không phải là đơn giản đối với học sinh THCS. Bởi thơ trữ
tình là loại hình được cấu trúc bởi một kiểu ngôn ngữ đặc biệt khác hẳn ngôn
ngữ đời thường và ngôn ngữ văn xuôi. Là tiếng nói của tình cảm mãnh liệt, là
sản phẩm của những rung động đột xuất độc đáo - thơ trữ tình là tiếng lòng của
người nghệ sĩ. Làm thế nào để cảm nhận được tiếng lòng ấy thật đầy đủ, thật sâu
sắc là cả một vấn đề lớn trong quá trình dạy học thơ trữ tình. Nó phụ thuộc vào
nhiều yếu tố trong đó phải kể đến năng lực cảm thụ văn chương của học sinh.
Nói đến năng lực cảm thụ văn chương là nói đến khả năng hiểu được cái
hay cái đẹp của các tác phẩm văn học. Nhưng trong lĩnh vực nghệ thuật hiểu
không phải chỉ là chuyện của lí trí mà còn là vấn đề tình cảm, cảm xúc. Ở đây
nhận thức đối tượng bao hàm những phản ứng nào đấy về tình cảm, cảm xúc
trước đối tượng. Người ta còn gọi đó là năng lực cảm thụ thẩm mĩ. Năng lực
cảm thụ của mỗi người không giống nhau, cũng không phải tự nhiên vốn sẵn có
mà phải qua quá trình hình thành bồi dưỡng nhất là đối với các em học sinh. Với
những học sinh lớp 9 quan hệ với nghệ thuật dần mang tính thẩm mĩ có ý thức.
Đến tuổi này các em hướng nội nhiều hơn thời thơ bé. Vì thế mà hứng thú với
nghệ thuật trở nên sâu sắc và ổn định hơn. Việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn
chương cho các em có một ý nghĩa vô cùng quan trọng . Nó giúp cho các em có
những nhận thức đúng đắn và những tình cảm tốt đẹp với cuộc sống.Với ý nghĩa
ấy, tôi mạnh dạn đưa ra vấn đề: “Bồi dưỡng năng lực cảm thụ thơ trữ tình
hiện đại cho học sinh lớp 9-THCS”. Với phạm vi rất hạn hẹp là các tiết dạy thơ
hiện đại cho đối tượng là học sinh hai lớp 9A, 9B năm học 2015 – 2016 của
Trường trung học cơ sở Thị trấn Bến Sung cộng với quá trình tích luỹ kinh
nghiệm qua những năm dạy học tôi hi vọng sẽ nhận được sự góp ý của đồng
nghiệp để mình có thể tích lũy được những kinh nghiệm quí báu phục vụ cho
công tác giảng dạy.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nói đến bồi dưỡng năng lực cảm thụ thơ văn là nói đến một vấn đề
mang tính chiến lược trong quá trình dạy- học Văn. Bản thân mỗi tác phẩm văn
chương đã có khả năng tạo cho người đọc sức hấp dẫn để rồi bằng nhiều con
đường, người ta được tìm hiểu về nó. Nhưng ở đây, điều tôi muốn nói đến thiên

về những việc làm của thầy và trò trong quá trình chuẩn bị và thực hiên đọchiểu văn bản thơ trữ tình. Làm thế nào để có thể bồi dưỡng năng lực cảm thụ thơ
văn cho các em qua từng bài dạy. Đây là việc làm khó nó đòi hỏi sự kiên trì, bền
bỉ của cả thầy và trò. Vì vậy chúng ta cần phải có những nghiên cứu mạnh dạn
thử nghiệm để mang lại hiệu qủa thiết thực. Từ nhận thức đó tôi đã tiến hành
3


một số công việc trong quá trình dạy học thơ trữ tình hiện đại để bồi dưỡng năng
lực cảm thụ văn chương cho các em.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài này tôi đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu khả năng cảm thụ thơ trữ
tình hiện đại của học sinh qua các tiết học. Trên cơ sở đó có cách thức bồi dưỡng
năng lực cảm thụ văn chương cho các em.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lí luận chung cộng với kinh nghiệm thực tiễn trong giảng dạy khi
làm đề tài này tôi sử dụng một số phương pháp như sau:
1. Phương pháp khảo sát thống kê: Khảo sát năng lực cảm thụ văn chương của
học sinh qua giờ học, qua bài viết.
2. Phương pháp đọc tài liệu: Từ nghiên cứu thực tế kết hợp với việc đọc tài liệu
SGK, SGV, sách bài soạn, sách bình giảng văn học, sách bồi dưỡng học sinh
năng khiếu, các tài liệu có liên quan để từ đó đúc kết thành kinh nghiệm bồi
dưỡng năng lực cảm thụ thơ trữ tình hiện đại cho học sinh.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận của SKKN:
2.1.1. Quan niệm về năng lực văn học :
Trong nhà trường phổ thông Văn học được coi là một bộ môn khoa họckhoa học về văn. Năng lực văn học là năng lực chiếm lĩnh khoa học về văn (bao
gồm nhiều lĩnh vực : Văn học sử, lí luận văn học, khả năng cảm thụ, phân tích
tác phẩm văn học). Hiểu như vậy để chúng ta có sự phân biệt giữa hai khái niệm
năng lực văn học và năng khiếu văn chương dù sự phân biệt này chỉ là tương
đối. Năng lực cảm thụ văn chương thuộc về năng khiếu của con người. Đã gọi là
năng khiếu thì đó là tài năng “thiên bẩm” không phải là cứ qua đào tạo là có
được. Nếu như năng khiếu văn chương là chuyện “trời sinh” và người sáng tạo
ra những áng văn chương đích thực “không thể học tập mà thành được” (Thạch
Lam) thì năng lực văn học có thể đào tạo được.[1] Năng lực văn học của một
học sinh được thể hiện trên những mặt sau đây :
1. Năng lực biết cảm nhận và chỉ ra được cái hay, cái đẹp của tác phẩm
văn học một cách chính xác.
2. Khả năng nắm vững hệ thống kiến thức cơ bản về văn học bao gồm :
Kiến thức về lịch sử văn học, kiến thức về lí luận văn học, kiến thức về tác phẩm
văn học cụ thể.
3. Khả năng biết diễn đạt và trình bày những suy nghĩ và tình cảm cũng
như những hiểu biết của mình về văn học một cách sáng sủa, mạch lạc và có sức
thuyết phục theo yêu cầu của của một kiểu loại văn bản nào đó trong nhà trường.
[2] .
1

[] Mục 2.1.1. đoạn từ ''Nếu như năng khiếu ........ có thể đào tạo được'' trích trong Làm văn từ lí thuyết đến thực
hành NXBGD-1997.tr.9. của tác giả Đỗ Ngọc Thống
2
[] Mục 2.1.1. đoạn từ ''Năng lực văn học …… trong nhà trường'' Trích trong Bồi dưỡng vặn năng khiếu của tác
giả Nguyễn Đăng Mạnh- Đỗ Ngọc Thống- NXBĐHQG Hà Nội-2000- Tr.13

4


Như vậy, một trong những yếu tố quan trọng nhất của năng lực văn học
hiểu được cái hay, cái đẹp của một tác phẩm văn học và biết thể hiện những điều
mình cảm nhận được một cách mạch lạc,rõ ràng.
2.1.2. Quá trình hình thành năng lực cảm thụ văn chương :
Tác phẩm văn học là một văn bản ngôn từ nghệ thuật. Ngôn từ trong văn
học được coi là một thứ ngôn từ đặc biệt vừa được sử dụng như một tín hiệu
thẩm mĩ vừa là cái biểu đạt cho các tín hiệu thẩm mĩ . Quá trình dạy - học Văn
trong nhà trường phổ thông là quá trình đi khám phá các tín hiệu thẩm mĩ ấy để
hướng các em đến cái Chân - Thiện - Mĩ . Nguyên tắc dạy học bộ môn cũng chỉ
ra rằng: Dạy học văn chương phải vừa dạy bộ môn khoa học vừa dạy môn nghệ
thuật bởi văn học vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Vì thế việc cảm thụ tác
phẩm phải dựa trên cả tính khoa học, nghệ thuật và tính nhà trường. Rõ ràng
việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ thơ văn, nhất là qua các tiết học văn bản thơ
trữ tình là một việc đòi hỏi tính liên kết khá cao.
Như trên đã nói thơ trữ tình là loại hình được được cấu trúc bởi một kiểu
ngôn ngữ đặc biệt, là tiếng nói của thế giới tình cảm nên để hiểu được tiếng nói
tình cảm của nhà thơ đòi hỏi người tiếp nhận phải có những rung động, những
khao khát khám phá và chiếm lĩnh cái đẹp. Những văn bản thơ trữ tình hiện đại
mà các em được học trong chương trình lớp 9 phần lớn đề cập đến những tình
cảm đẹp đẽ của con người rất phù hợp với tâm lí của các em. Nhưng để cảm để
hiểu cho hết những điều mà nhà thơ gửi gắm vào trong mỗi đứa con tinh thần
của mình không phải là chuyện một sớm một chiều. Và cũng không phải là
chuyện mổ xẻ, cắt nghĩa mọi vấn đề một cách tách bạch rõ ràng là xong. Nói
như thế để thấy rằng bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn chương cho học sinh trong
nhà trường phổ thông là công việc quan trọng cần phải được tiến hành một cách
bài bản, liên tục thì mới mong đem lại hiệu quả .
2.2. Thực trạng của vấn đề:
Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn chương cho học sinh là một việc làm
quan trọng mang tính chiến lược trong quá trình dạy - học Văn song trên thực tế
nó chưa được giáo viên quan tâm đúng mức vì một số lí do sau:
- Hoạt động thưởng thức văn chương của học sinh trong nhà trường là có
giới hạn nhất định về thời gian kể cả trong chính khoá và ngoại khoá; có sự
hướng dẫn của giáo viên, có sự kích thích tác động lẫn nhau của những người
cùng thưởng thức, được khuyến khích phát hiện thưởng thức những cái hay, cái
đẹp theo một cách riêng nhưng chủ yếu phải thưởng thức, tiếp nhận cái hay, cái
đẹp là những kiến thức có tính mục tiêu khái quát về tác phẩm. Người giáo viên
phải chịu nhiều sức ép về thời gian, phương pháp, mục tiêu bài học... nên
thường xem nhẹ hoặc bỏ qua việc này.
- Một số giáo viên còn quan niệm bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn
chương là công việc của bồi dưỡng học sinh giỏi. Và như vậy hoạt động này chỉ
diễn ra ở trường chuyên, lớp chọn với một bộ phận rất nhỏ giáo viên và học
sinh.

5


- Về mặt phương pháp luận hiện nay chưa có một giải pháp nào là tối ưu
nhất, một mô hình cố định cho hoạt động này. Tất cả đều phụ thuộc kinh nghiệm
và sự nhiệt huyết của giáo viên .
Về phía học sinh, năng lực cảm thụ văn chương của các em cũng còn
nhiều điều đáng phải bàn. Qua thực tế dạy học và đặc biệt là theo dõi trên hai
lớp 9A và 9B Trường THCS Thị trấn Bến Sung tôi thấy còn có những tồn tại
như sau :
- Các em rất ngại đọc tác phẩm chứ chưa nói đến là thuộc thơ. Thơ trữ
tình hiện đại trong chương trình lớp 9 mà các em được học là những bài thơ hay,
dễ nhớ, dễ thuộc nhưng khi kiểm tra tôi không khỏi giật mình có những em chưa
đọc tác phẩm một lần trước khi học bài mới . Đó là trường hợp của em Trịnh
Hữu Thắng, Lê Thế Linh, Tạ Văn Minh lớp 9B. Số còn lại hầu như các em chỉ
đọc tác phẩm một lần, số em đọc từ 2- 3 lần rất ít. Việc thuộc thơ cũng vậy. Tổng
số các bài thơ trữ tình hiện đại mà các em được học trong chương trình lớp 9 kể
cả bài đọc thêm gồm 11 bài nhưng khi dạy tiết 127 "Ôn tập về thơ" tôi kiểm tra
mức độ thuộc thơ của các em thì kết quả là:
Số HS thuộc cả 11 bài thơ : Lớp 9A : 5/ 29 em
Lớp 9B: 2/ 31 em
Có những bài thơ ngắn dễ học dễ nhớ dễ thuộc như bài "Sang thu'' ,
"Viếng lăng Bác" các em cũng không thuộc.
- Việc chuẩn bị bài ở nhà của các em chưa chu đáo còn mang tính chất đối
phó là chính. Vì sợ cô giáo phê bình, sợ điểm kém nên các em có soạn bài song
đó chỉ là sao chép lại những gợi ý từ trong sách “Học tốt Ngữ văn 9”, sách “Bồi
dưỡng Ngữ văn 9” sao chép không cần suy nghĩ, miễn sao có đủ bài. Tình trạng
này diễn ra phổ biến ở học sinh .Thế nên mới có tình trạng học sinh chuẩn bị
bài rất đầy đủ nhưng khi hỏi tên bài học hôm nay là gì, nội dung cơ bản của bài
học là gì thì học sinh không trả lời được hoặc trả lời sai.
Như vậy ngay ở khâu đầu tiên tiếp xúc với văn bản các em đã không có kĩ
năng đọc- hiểu thì làm thế nào mà cảm thụ được văn chương.
- Trong quá trình dạy - học ở trên lớp năng lực cảm thụ văn chương của
các em cũng rất hạn chế. Các em không biết tìm ra những tín hiệu nghệ thuật để
phân tích hoặc không hề rung động trước bất cứ một hình ảnh , một tâm trạng,
một cảm xúc nào của nhân vật trữ tình trong bài thơ. Kĩ năng đọc đã yếu, kĩ
năng phát hiện và cảm nhận các tín hiệu nghệ thuật trong một bài thơ ở các em
lại càng yếu. Vì thế giờ học thường rơi vào tình trạng giáo viên tự hỏi tự trả lời,
hoặc là giáo viên diễn xuôi, diễn nôm nội dung, ý nghĩa bài thơ cho hết tiết.
- Một điều đáng nói nữa là ở bậc THCS các em chưa được học lí luận văn
học nên không nắm được đặc trưng của thơ trữ tình. Hình tượng trong thơ trữ
tình là hình tượng tâm sự. Tiếng nói trong tác phẩm trữ tình là tiếng nói của
những tâm trạng. Thơ trữ tình chứa đầy tâm trạng, cảm xúc và tâm trạng đó
được thể hiện qua từ ngữ, nhịp điệu, hình ảnh, âm thanh. Không phát hiện được
những tín hiệu nghệ thuật và không có khả năng hiểu được ý nghĩa của những
tín hiệu ấy thì không thể nào hiểu được tâm trạng của nhà thơ. Việc hiểu tâm
6


trạng trong thơ để đồng điệu cũng rất khó. Hiểu không đúng dễ dàng dẫn đến
cảm nhận cũng lơ mơ, không đúng hướng.
Kết quả khảo sát năng lực cảm thụ thơ qua bài kiểm tra 15 phút :
Nội dung

Lớp

Lớp 9A

Lớp 9B

- Năng lực phát hiện các tín hiệu nghệ thuật.
12/29
8/31
- Năng lực cảm thụ thơ.
8/29
4/31
- Năng lực diễn đạt.
8/29
4/31
Như vậy thực trạng của vấn đề còn có nhiều điều đáng nói, đòi hỏi trong
quá trình thực hiện dạy - học văn bản thơ trữ tình cần phải giải quyết để đạt
được mục tiêu của môn học: Làm thế nào để khơi gợi, định hướng được những
rung động thẩm mĩ cho học sinh? Làm thế nào để kích thích được những “điểm
trơ”, “điểm ỳ” thậm chí cả “điểm chết” trong tâm linh của các em học sinh, để
giúp các em hình thành một vốn liếng tri thức, để làm bừng lên niềm đam mê
cuộc sống mà chỉ có đặc trưng bộ môn này mới làm được [3] ?Đó là nhiệm vụ
của tất cả những người giáo viên dạy Văn.
Căn cứ vào tình hình thực tế, khả năng tiếp nhận của học sinh, bám sát
đặc điểm loại thể thơ trữ tình thông qua một số tiết dạy cụ thể, tôi đã tiến hành
các giải pháp sau để bồi dưỡng năng lực cảm thụ thơ trữ tình cho học sinh.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
2.3.1. Sử dụng phương pháp dạy học phù hợp với đặc trưng bộ môn, dạy
-học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại.
Có bốn phương pháp lớn trong dạy học văn : Phương pháp đọc sáng tạo,
phương pháp gợi tìm, phương pháp nghiên cứu và phương pháp tái tạo.Thực tế
đã chỉ ra rằng trong dạy-học không có một phương pháp nào là tối ưu cả. Người
giáo viên phải biết khéo léo vận dụng cả bốn phương pháp trong một giờ học thì
mới mong đem lại hiệu quả. Thơ trữ tình là tác phẩm được ra đời trong những
hoàn cảnh đặc biệt - sự giao cảm linh diệu giữa số phận con người và tự nhiên,
xã hội vào giây phút thăng hoa của ý thức và vô thức thích hợp với năng khiếu
nghệ sĩ.[4] Như vậy thơ trữ tình xuất hiện vào lúc tâm linh cao sáng, suy nghĩ, tư
tưởng, tình cảm, cảm xúc của con người biểu hiện thật nhất để vươn vươn đến
xung quanh. Khi dạy tác phẩm thơ trữ tình việc đầu tiên cần phải quan tâm tới
việc đọc. Tác phẩm “chỉ được bắt đầu mở ra cho bạn đọc khi nó vang lên trong
tâm hồn như một sự độc thoại bên trong” (V.G.Marantxman)
Vì vậy, hơn ở bất kì thể loại nào phương pháp “đọc sáng tạo” và biện pháp
“đọc diễn cảm” có một vị trí đặc biệt quan trọng gần như chủ công, thiếu nó
hoặc có mà chưa đủ thì xem như giờ dạy học tác phẩm trữ tình có xác mà chưa
có hồn[5]. Bên cạnh đó người thầy cũng cần phải chú ý đến cảm hứng chủ đạo,
mạch cảm xúc, khoái cảm nghệ thuật…để hướng dẫn học sinh chủ động tiếp
3

[] Mục 2.2. đoạn từ ''Những ''điểm trơ''. ….. mới làm được'' trích trong Phương pháp dạy học tác phẩm văn
chương theo loại thể- Nguyễn Viết Chữ- NXBĐHSP- Tr17.
4
[] Mục 2.3.1. Đoạn từ '' Thơ trữ tình ….. năng khiếu nghề sĩ'' trích trong Phương pháp dạy học tác phẩm văn
chương theo loại thể NXBĐHSP-2003-Tr134 của tác giải Nguyễn Viết Chữ
5
[] Mục 2.3.1. Đoạn từ '' hơn ở bất kì thể loại nào……. có hồn" trích trong Phương pháp dạy học tác phẩm
văn chương theo loại thể NXBĐHSP-2003.Tr135-136 Tác giả Nguyễn Viết Chữ

7


cận, khai thác tác phẩm thì mới tạo ra được sự cộng hưởng giữa nhà thơ- người
dạy- người học với nhau. Và khi đó người thầy mới kích thích để cái đẹp trong
văn học được phát triển và sinh sôi nảy nở trong tâm hồn mỗi học sinh.
2.3.2. Đảm bảo tính tích hợp giữa ba phân môn Văn, Tiếng Việt và Tập làm
văn
- Mối quan hệ giữa ba phân môn Văn, Tiếng Việt và Tập làm văn là mối quan
hệ mật thiết, hữu cơ có tác động qua lại lẫn nhau. Phân môn Tiếng Việt từ lớp 6
đến lớp 9 đã cung cấp cho các em các kiến thức về từ vựng, ngữ pháp, biện pháp
tu từ giúp các em có có kiến thức để “tiếp nhận văn bản” đặc biệt là văn bản
nghệ thuật. Ứng dụng các kiến thức Tiếng Việt các em sẽ phát hiện và phân tích
bình giá các tín hiệu nghệ thuật để hiểu và cảm thụ bài thơ sâu sắc. Giáo viên
cần đặt việc dạy học Tiếng Việt trong mối quan hệ với việc học Văn .Với mỗi
bài, các em phải được hướng dẫn ôn tập thường xuyên để củng cố kiến thức và
tăng cường kỹ năng phát hiện, vận dụng phân tích.
- Phân môn Tập làm văn trong nhà trường phổ thông giúp các em có kĩ năng tạo
lập văn bản theo những phương thức biểu đạt nhất định. Vốn kiến thức về Tiếng
Việt, về tác phẩm văn học là “nguyên liệu” để các em sử dụng trong quá trình
“sản sinh văn bản” đặc biệt là văn bản nghị luận văn học. Thực tế đã chỉ ra rằng
đối với học văn việc nhận biết và chỉ ra được cái hay, cái đẹp của tác phẩm thì
công việc coi như mới chỉ được một nửa. Nửa còn lại phụ thuộc vào khả năng
biết diễn đạt và thể hiện đáp số đã tìm ra. Vì vậy, sau mỗi một tiết dạy - học thơ
trữ tình cần có bài tập viết đoạn văn trình bày cảm thụ để học sinh luyện cách
diễn đạt. Đó cũng là cách để các em có kĩ năng làm bài văn nghị luận về đoạn
thơ, bài thơ. Phần luyện tập này không nhất thiết phải yêu cầu học sinh làm ngay
trên lớp. Phần vì để đảm bảo thời gian, phần vì để cho học sinh có độ “ngấm”
sâu hơn giáo viên nên cho các em về nhà làm bài tập viết đoạn (vào giấy) và kiểm
tra lại bằng cách cho các em nộp lại cho giáo viên đánh giá.
2.3.3. Bồi dưỡng hứng thú tiếp nhận tác phẩm trữ tình.
Tác phẩm nghệ thuật là sự tập trung và kết tinh cao độ cuộc sống hết sức
phong phú và phức tạp. Nó còn là kết quả của sự thăng hoa về tâm hồn, và trí
tuệ của người nghệ sĩ. Nhận thức tác phẩm tức là học sinh phải trực tiếp đối diện
với tác phẩm và từ đó có nhu cầu và niềm say mê thưởng thức, khám phá. Với
những tác phẩm thơ trữ tình, muốn nhận thức về tác phẩm thì các em phải có sự
giao tiếp, sự cộng hưởng cảm xúc với nhà thơ, tiếp nhận những thông điệp thẩm
mỹ của tác giả qua tác phẩm. Để học sinh thực sự có hứng thú học tập, trở thành
chủ thể tiếp nhận tác phẩm, trong giờ học giáo viên cần phải:
- Khơi gợi hứng thú đọc tác phẩm: Đọc là khâu đầu tiên và cũng là khâu quan
trọng trong quá trình chiếm lĩnh tác phẩm. Lần đọc đầu tiên bao giờ cũng rất
quan trọng. Giáo viên cần khơi gợi để các em có hứng thú đọc tác phẩm. Có thể
gợi hứng thú bằng lời giới thiệu thật ấn tượng về bài thơ; có thể bằng cách đọc
thật diễn cảm một đoạn trong bài thơ ấy; có thể bằng cách cho các em nghe bài
hát được phổ nhạc từ bài thơ…Những cách ấy sẽ gợi lên trong các em một khao
khát, một mong muốn là được tiếp xúc, được đọc, được thể hiện bài thơ. Những
8


cảm nhận trực giác ban đầu về bài thơ sẽ là cơ sở để các em tiếp tục đọc lần 2
lần 3…Lần đọc sau sẽ khác với lần đọc trước các em đọc bằng cả tâm hồn và trí
tuệ. Thông qua đọc mà tạo ấn tượng , khơi gợi cảm xúc . Làm sao để khi bước
vào giờ học, các em như mong muốn được thể hiện giọng đọc, sự đồng sáng tạo
của mình, muốn trình bày, muốn tranh luận những điều cảm thụ, nhận thức được
về tác phẩm. Thưởng thức nghệ thuật chỉ thực sự bắt đầu khi có nhu cầu về thỏa
mãn về tình cảm, tâm hồn, trí tuệ, những nhu cầu từ bên trong.
Với chương trình Ngữ Văn 9, những bài thơ trữ tình được đưa vào dạy học phần lớn đề cập đến những tình cảm đẹp đẽ của con người, rất phù hợp với
tâm lý tuổi mới lớn của các em như: tình đồng chí đồng đội, tình bà cháu, tình
cha con, tình mẹ con, tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước . Người giáo
viên phải bám sát “tiếng nói tình cảm” của các bài mà hướng các em vào việc
đọc, tìm hiểu, tạo cho các em sự đồng cảm cùng nhà thơ để đạt hiệu quả cảm
thụ.
- Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài một cách cụ thể, kĩ lưỡng: Thực tế cho
thấy vì thời gian có hạn nên phần này giáo viên chỉ nhắc qua loa chiếu lệ.
Thường là các em chỉ trả lời câu hỏi theo định hướng trong SGK còn giáo viên
không hướng dẫn cụ thể. Dạy thơ nhất là thơ trữ tình rất cần sự hướng dẫn của
giáo viên. Để làm được điều này giáo viên cần dành thời gian từ 3 - 5 phút cuối
giờ dặn dò, hướng dẫn các em. Ngoài những câu hỏi hướng dẫn học bài trong
SGK giáo viên cần hướng dẫn các em tìm hiểu về:
+ Hoàn cảnh, thời gian ra đời của bài thơ.
+ Bài thơ được khơi nguồn từ cảm xúc gì? Mạch cảm xúc trong bài thơ
được phát triển như thế nào?
+ Bài thơ được làm theo thể thơ nào? Hiệu quả biểu đạt của thể thơ đó?
+ Đọc kĩ nhiều lần bài thơ để phát hiện những từ ngữ , hình ảnh thơ đặc
sắc? Giá trị biểu đạt của ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ ấy là gì?
Khi chuẩn bị bài theo hệ thống câu hỏi định hướng như trên học sinh đã
bước đầu khám phá văn bản, bước đầu hiểu được “tiếng nói tình cảm” của nhân
vật trữ tình . Đến lớp dưới sự hướng dẫn của giáo viên kết hợp với sư phân tích,
bình giảng các em sẽ tiếp tục khám phá những tầng nghĩa sâu hơn, phong phú
hơn của hình tượng thơ. Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy rằng đối với những
học sinh mà năng lực cảm thụ văn chương còn hạn chế thì bước đầu tiên là phải
"hiểu" rồi mới "cảm" được.
- Trong quá trình tổ chức giờ học ở trên lớp giáo viên cần tạo được không
khí của một giờ Văn. Văn học là một môn học mang tính nghệ thuật vì thế mà
giờ học Văn phải khác với những giờ học khác. Nếu như ở những giờ học khác
như Toán, Lí, Hóa, Sinh, Địa,…các em tiếp nhận kiến thức bằng lí trí, bằng tư
duy thì ở giờ Văn các em phải tiếp nhận kiến thức bằng cả tư duy và cảm xúc
trong đó cảm xúc đóng vai trò chủ đạo.Vì vậy giáo viên phải tạo được không khí
của một giờ Văn bằng nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào khả năng và nghệ
thuật sư phạm. Tùy vào từng bài dạy mà có thể tạo không khí bằng cách vào bài
thật ấn tượng; có thể bằng cách tái hiện lại không khí thời đại lịch sử mà tác
9


phẩm ra đời; có thể bằng cách đọc diễn cảm; có thể bằng cách tái hiện hình
tượng…Bằng những cách ấy giáo viên đã tạo điều kiện cho các em được sống
trong thế giới của tác phẩm, được tiếp xúc với hình tượng nghệ thuật để từ đó
làm sống dậy hiện thực thế giới khách quan và thế giới tình cảm mà nhà văn gửi
gắm và phản ánh.
- Trong giờ học, giáo viên cần hướng dẫn các em tự phát hiện các tín hiệu
nghệ thuật , thưởng thức tác phẩm, khuyến khích các em có những cảm nhận,
những phát hiện riêng nhưng không suy diễn tuỳ tiện, có những điều trăn trở vấn
vương của các em về tác phẩm cần được nói ra để thầy cô giúp đỡ giải đáp kịp
thời. Sau tiết học, các em được mở ra những khả năng mới để tiếp tục thưởng
thức, khám phá tác phẩm ở mức sâu, rộng hơn, các em như cảm nhận được
những biến đổi, vận động phong phú hơn trong tâm hồn mình. Với ưu thế dễ
đọc, dễ nhớ và tình cảm sâu lắng, các bài thơ trữ tình đầy đủ khả năng tạo ra
hứng thú cho các em. Người giáo viên bám sát đặc trưng thể loại kết hợp với
khéo léo khơi dậy tình cảm tiềm ẩn trong mỗi học trò sẽ từng bước bồi dưỡng
được năng lực cảm thụ tác phẩm cho các em trong quá trình dạy- học.
2.3.4. Giúp học sinh tích lũy vốn sống:
Có một thực tế phổ biến hiện nay là đời sống tâm hồn các em rất nghèo nàn
nên khi tiếp xúc với một bài thơ các em thường không có một chút rung động nào
hoặc có thể cảm thấy là có rung động nhưng mơ hồ thoáng chợt đến rồi lại mất đi.
Điều đó phụ thuộc vào vốn sống, vốn hiểu biết của các em. Vì vậy giáo viên cần
hướng dẫn các em tích lũy vốn hiểu biết và cảm xúc của bản thân thông qua sự
hoạt động và quan sát hàng ngày. Có những người, những việc diễn ra quanh ta
tưởng chừng như rất quen nhưng nếu ta không chú ý không quan sát để có cảm
xúc và ghi nhớ thì chúng ta không thể làm giàu vốn hiểu biết về cuộc sống xung
quanh . Có quan sát thường xuyên các em mới lắng nghe được tiếng nói của cuộc
sống từ đó mới có thể cảm nhận được vẻ đẹp của thơ ca một cách sâu sắc.
Ngoài ra các em còn có thể tích lũy vốn sống thông qua con đường đọc sách
thường xuyên. Giáo viên cần giúp các em chọn tìm đọc những cuốn sách phù hợp
với lứa tuổi có ích cho việc học tập. Đọc sách các em sẽ được sống cùng với
những vui , buồn, sướng, khổ…của các nhân vật. Từ đó mà các em có một tâm
hồn nhạy cảm, biết yêu, ghét, buồn, vui, khát khao, mơ mộng….Đó chính là yếu
tố quan trọng để hình thành năng lực cảm thụ văn chương cho các em.
2.4.3. Một số việc làm cụ thẻ:
a. Bồi dưỡng năng lực cảm thụ thông qua hoạt động đọc:
Như trên đã nói, đọc là phương pháp đặc biệt được sinh ra từ chính đặc trưng
bộ môn. Cần phải hiểu rằng việc đọc ở đây không chỉ là việc”tập đọc” hiểu theo
nghĩa đơn giản mà được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau. Mức thấp nhất là
đọc đúng, đọc cho tròn vành rõ chữ; mức cao hơn là đọc diễn cảm (đọc diễn tả
sự cảm thụ); mức cao nhất là đọc nghệ thuật (đọc hay). Khi dạy tác phẩm trữ
tình việc đầu tiên mà người thầy cần phải quan tâm tới là việc đọc. Đọc thơ trữ
tình phải chú ý đến câu, từ, nhịp điệu…đọc phải cho “vang nhạc, sáng hình”. Đó
là những yếu tố gây cảm xúc và kích thích hoạt động hình dung tưởng tượng, là
10


cơ sở để học sinh biết phân tích, đánh giá, thưởng thức tác phẩm. N.I.Kuđriasep
khẳng định: “Thiếu người đọc thì hoạt động văn học chẳng khác gì một tiếng
kêu vô vọng vang lên giữa cánh đồng hoang mọc đầy cỏ dại”. Với tác phẩm trữ
tình, đọc vừa là đồng cảm, vừa là diễn cảm. Cũng nhờ đọc mà học sinh vừa
được chứng kiến, vừa được thể nghiệm. Vì thế đọc - tái hiện, tri giác hình tượng
thơ là hoạt động không thể coi nhẹ trong quá trình dạy - học thơ trữ tình. Tái
hiện hình tượng trong thơ không những là một thao tác tư duy để đi vào tác
phẩm mà còn là một bí quyết truyền thụ nữa.
Ví dụ như khi dạy bài thơ “Bếp lửa” tôi chú trọng hướng dẫn học sinh đọc
trước ở nhà. Đọc thể hiện được dòng cảm xúc đang dạt dào tuôn chảy trong
dòng hoài niệm của nhà thơ. Đọc hình dung được hình ảnh bếp lửa lung linh
trong màn sương kí ức. Đọc hình dung được hình ảnh người bà tần tảo nắng
mưa, bà tận tình chăm sóc, dạy dỗ, bảo ban cháu. Bằng việc đọc trước ở nhà học
sinh đã có những cảm nhận ban đầu về bài thơ. Đến lớp bằng giọng đọc truyền
cảm của giáo viên, kết hợp với việc đọc trong quá trình phân tích học sinh sẽ có
những cảm nhận sâu sắc hơn.
Với những bài thơ khác như bài “Đồng chí ”, “Bài thơ về tiểu đội xe
không kính”, “Mùa xuân nho nhỏ”, “Viếng lăng Bác” là những bài thơ đã được
phổ nhạc thì bên cạnh việc đọc, tôi còn cho các em nghe các bài hát hoặc nghe
ngâm thơ để kích thích sự hình dung tưởng tượng của các em.
b. Bồi dưỡng năng lực cảm thụ thông qua phát hiện và bình giá các tín hiệu
nghệ thuật.
Thơ là nghệ thuật ngôn từ. Tư tưởng, tình cảm , nghệ thuật của bài thơ được
thể hiện qua ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu. Để cảm thụ được cái hay, cái đẹp về
nội dung và nghệ thuật của bài thơ phải bắt đầu từ những khám phá về vẻ đẹp và
ý nghĩa biểu đạt của ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu. Đồng thời phải khai thác
giá trị của các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ.
Điều đáng chú ý đầu tiên của hình thức nghệ thuật trong thơ là nhịp điệu.
Thơ là văn bản được tổ chức bằng nhịp điệu của ngôn từ. Nhịp điệu thơ được tổ
chức đặc biệt để thể hiện nhịp điệu tâm hồn, nhịp điệu cảm nhận thế giới một
cách thầm kín. Nhà thơ Hoàng Cầm đã nhận xét "Âm điệu là cỗ xe chuyên chở
điệu hồn thi phẩm". Vì vậy, khi khám phá một tác phẩm thơ trữ tình cần hướng
học sinh chú ý đến nhịp điệu của bài thơ. Ví dụ như khi dạy bài "Viếng lăng
Bác" của nhà thơ Viễn Phương giáo viên cần cho học sinh thấy được nhịp điệu
của bài thơ là chậm rãi, lắng sâu. Nhịp điệu ấy là tiếng lòng thiết tha, thành kính,
trang nghiêm của nhà thơ và cũng là của nhân dân ta đối với Bác. Nhịp điệu
cũng phụ thuộc vào mạch cảm xúc. Ví như bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ" của nhà
thơ Thanh Hải : nhịp điệu nhanh, phấn chấn ở ba khổ thơ đầu nhưng đến hai khổ
tiếp theo thi nhịp chậm, trầm lắng, suy tư. Nhịp điệu ấy cho chúng ta cảm nhận
được niềm vui say sưa, náo nức, rạo rực , phấn chấn của nhà thơ trước vẻ đẹp,
sức sống của mùa xuân thiên nhiên, mùa xuân đất nước. Khi bày tỏ suy nghĩ và
ước nguyện về mùa xuân của cuộc đời mỗi con người thì nhịp thơ lại thiết tha,
trầm lắng.
11


Cùng với nhịp điệu là hình ảnh. Hình ảnh trong thơ trực tiếp truyền đạt sự
cảm nhận thế giới một cách chủ quan. Hình ảnh thơ thường gợi sự ngâm ngợi và
liên tưởng. Hình ảnh trong thơ là yếu tố được sử dụng với nhiều chức năng khác
nhau (có khi là những nhân tố trực tiếp của nội dung, là bức tranh nhỏ của cuộc
sống, có khi có được qua sự so sánh). Khi dạy các bài thơ trữ tình, cần cho học
sinh phát hiện và phân tích các hình ảnh, giá trị biểu đạt của các hình ảnh để các
em cảm thụ nội dung đầy đủ hơn. Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh cách
phát hiện và cảm thụ ý nghĩa của hình ảnh thơ. Có những dạng câu hỏi đặt ra
cho học sinh như: Có hình ảnh nào là hình ảnh xuyên suốt bài thơ? Bài thơ có
hình ảnh nào là độc đáo, khác lạ? Hình ảnh thơ đó mang ý nghĩa gì? Sáng tạo ra
những hình ảnh ấy nhà thơ muốn nói điều gì? Trả lời được những câu hỏi ấy là
các em có năng lực phát hiện và cảm thụ hình ảnh thơ. Cũng cần cho các em biết
rằng hình ảnh thơ bao giờ cũng được khơi gợi từ những hình ảnh có thực trong
đời sống nhưng khi được nhà thơ sáng tạo thì bao giờ nó cũng mang ý nghĩa
biểu trưng, khái quát gợi những liên tưởng , tưởng tượng phong phú. Có những
hình ảnh thơ không thể cắt nghĩa một cách trắng đen rõ ràng mà chỉ nắm bắt lấy
cái thần, cái hồn mà thôi . Hiểu như thế để khi cảm thụ hình ảnh thơ là phải đi từ
nghĩa thực cho đến nghĩa khái quát và liên tưởng tưởng tượng cũng phải có cơ
sở không suy diễn tùy tiện.
Ví dụ khi dạy bài "Bếp lửa" GV cần cho HS phát hiện hình ảnh xuyên suốt
bài thơ là hình ảnh bếp lửa. Đó là hình ảnh thực gắn liền với đời sống của mỗi
gia đình Việt Nam với công việc của những người bà, người mẹ. Đó là hình ảnh
gắn liền với những năm tháng tuổi thơ với bao gian khổ nhọc nhằn của người
cháu. Bên bếp lửa cháu được nghe bà kể chuyện, được bà dạy dỗ, bảo ban. Bếp
lửa đã sưởi ấm bà và cháu để có thể vượt qua những ngày tháng "đói mòn đói
mỏi", qua những lần "giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi". Bếp lửa và bà đều là
những gì gắn bó thân thương nhất với cháu. Ở phương trời xa nỗi nhớ đầu tiên
của cháu là nhớ về "bếp lửa củi rơm" và "tình bà" ấm áp. Nhớ về bà là nhớ về tổ
ấm gia đình với niềm vui sum họp, nhớ về bếp lửa là nhớ về quê nhà. Vì thế bếp
lửa là hiện diện của tình bà ấm áp, là hình ảnh của quê hương đất nước. Hình
ảnh thơ đã mang một ý nghĩa cao cả, thiêng liêng gợi xúc động trong lòng người
đọc.
Một tín hiệu nghệ thuật nữa mà các em cần phát hiện , phân tích là từ ngữ.
Ngôn ngữ trong thơ ca là thứ ngôn ngữ tinh lọc được chưng cất từ trong đời
sống. Vì thế mà nó là thứ ngôn từ đa nghĩa, giàu hình tượng và màu sắc biểu
cảm. Nói như thế không có nghĩa là khi phân tích và cảm thụ thơ từ nào chúng
ta cũng phải phân tích, bình giá. Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã từng nói" Thơ
ca không cần nhiều từ ngữ, nó cũng không cần quan tâm đến hình xác của sự
sống. nó chỉ cần cảm nhận và truyền đi một chút linh hồn của cảnh vật thông
qua linh hồn thi sĩ". Như vậy chúng ta chỉ cần phát hiện và cảm thụ một số từ
ngữ quan trọng , những chữ được coi là "nhãn tự" của bài thơ để hiểu được
"tiếng nói tình cảm " của nhà thơ. Ví dụ khi phân tích 4 câu thơ cuối trong bài
thơ "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật các em cần phát
12


hiện và phân tích từ "trái tim" (Chỉ cần trong xe có một trái tim) để làm nổi bật
lòng yêu nước, ý chí quyết tâm chiến đấu giải phóng miền Nam của người lính
lái xe. Đó là cội nguồn sức mạnh để dân tộc ta đi tới và làm nên chiến thắng.
Còn rất nhiều yếu tố nữa mà các em cần phải phát hiện và phân tích như:
dấu câu, các biện pháp tu từ, kết cấu… Trong phạm vi thời gian của từng tiết
học, dưới sự hướng dẫn của giáo viên qua mỗi bài sẽ củng cố, rèn luyện thêm
cho các em. Bằng hệ thống câu hỏi hướng dẫn, bằng phương pháp gợi tìm,
nghiên cứu kết hợp với quá trình phân tích, bình giảng của thầy và sự phát huy
tính tích cực trong học tập các em sẽ có được kết quả cảm thụ tốt hơn.
c. Bồi dưỡng năng lực cảm thụ thông qua hoạt động thể hiện, trình bày cảm
nhận:
Kết thúc quá trình dạy - học trên lớp với một tác phẩm trữ tình không phải là
hết mà các em cần được kích thích để “bùng nổ thông tin” ở nhiều góc độ khác
nhau. Giờ học đã kết thúc nhưng những vấn đề từ hình tượng văn học vẫn tiếp tục
lung linh phát triển “nổ vỡ sự lặng im” trong tâm hồn các em . Sau mỗi bài học,
giáo viên cần ra những bài dạng cảm thụ cho học sinh để các em tự trình bày
những điều mà các em đã thu nhận được. Dạng bài tập này rèn luyện cho các em
biết trình bày những điều mình hiểu và cảm nhận được một cách rõ ràng để người
đọc người nghe cũng hiểu và cảm nhận cái đẹp, cái hay đó như mình.
Ví dụ: Khi dạy xong bài thơ "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" của
Phạm Tiến Duật tôi yêu cầu các em làm bài tập cảm thụ:
Bài tập 1: Trong bài thơ nhà thơ đã sáng tạo được hình ảnh thơ nào độc
đáo? Cảm nhận của em về hình ảnh thơ đó? (Bài tập này dành cho đối tượng
HS trung bình)
Bài tập 2: Nhan đề bài thơ có gì khác lạ? Sự khác lạ ấy thể hiện điều gì? .
( Bài tập này cho học sinh đối tượng khá hơn ).
Bài tập 3: Phân tích giá trị biểu đạt của các biện pháp tu từ được tác giả sử dụng
trong khổ thơ cuối?
Không có kính, rồi xe không có đèn,
Không có mui xe, thùng xe có xước,
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
( Bài tập này cho học sinh đối tượng HS khá giỏi ).
Với ba bài tập dành cho ba đối tượng học sinh như trên sau khi đã học văn
bản các em đã biết viết thành những đoạn văn trình bày những cảm nhận của
bản thân về hình ảnh thơ, các biện pháp nghệ thuật. Ở bài tập 1 các em đã phát
hiện và có những cảm nhận về hình ảnh những chiếc xe không kính trong bài
thơ. Đó là một hình ảnh quen thuộc trên tuyến đường Trường Sơn nhưng chỉ có
nhà thơ Phạm Tiến Duật với hồn thơ nhạy cảm, thích khám phá cái mới lạ mới
đưa nó vào trong thơ biến nó thành một hình tượng thơ độc đáo chạm khắc vào
thời gian như một biểu tượng của thời chiến tranh chống Mĩ.
Ở bài tập 2 các em đã lí giải được sự khác lạ của nhan đề bài thơ. Nó dài và
có vẻ như thừa từ "bài thơ" nhưng đó chính là dụng ý của tác giả. Nhan đề đã
13


làm nổi bật hình ảnh của toàn bài : những chiếc xe không kính. Không phải chỉ
viết về những chiếc xe không kính hay là cái hiện thực khốc liệt của chiến tranh
mà điều chủ yếu nhà thơ muốn nói về chất thơ của của hiện thực ấy. Chất thơ
của tuổi trẻ hiên ngang, dũng cảm, trẻ trung vượt lên trên mọi thiếu thốn, gian
khổ nguy hiểm của chiến tranh. Chất thơ ấy chính là vẻ đẹp của những người
chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm đánh Mĩ
Ở bài tập 3 các em phát hiện ra được các biện pháp tu từ điệp ngữ, liệt kê:
không có kính, không có đèn, không có mui xe ; biện pháp tương phản đối lập :
không….có….Qua những biện pháp nghệ thuật đó người đọc cảm nhận được
cuộc chiến tranh diễn ra ngày càng ác liệt. Những chiếc xe bị bom đạn của kẻ
thù bắn phá đến trần trụi, biến dạng. Nhưng điều kì diệu là những chiếc xe ấy
vẫn ngày đêm băng băng ra chiến trường. Nhà thơ đã lí giải một cách đơn giản
mà chứa đầy ý nghĩa sâu xa: Chỉ cần trong xe có một trái tim. Chỉ cần có một
"trái tim" mang nhiệt huyết yêu nước, một trái tim kiên cường dũng cảm, bất
chấp nguy hiểm, khó khăn là đủ. Tác giả đã đưa ra hàng loạt cái "không" để
nhấn mạnh một cái "có". Sức mạnh không nằm ở những phương tiện kĩ thuật vật
chất hiện đại mà là tinh thần. Sức mạnh của lòng yêu nước đã làm nên những
chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta.
Nói tóm lại: Việc bồi dưỡng năng cảm thụ thơ văn cho học sinh thông qua
những bài thơ trữ tình, đặc biệt là những bài thơ hiện đại ở lớp 9 là rất có ưu thế.
Nhưng cách thức bồi dưỡng và nội dung bồi dưỡng là cả một quá trình đầy
những khó khăn, nhất là với những bài chỉ dạy trong một tiết. Để việc bồi dưỡng
có hiệu quả, khâu chuẩn bị bài học phải thật chu đáo. Khâu tiếp xúc với tác
phẩm phải bằng nhiều con đường và tác động nhiều phía. Về nội dung công việc
trong tiết dạy - học phải dựa trên cơ sở những nguyên tắc, phương pháp bộ
môn. Người giáo viên cần khéo léo khơi gợi hứng thú, có hệ thống câu hỏi xoáy
vào những yếu tố trọng tâm và đặt ra những yêu cầu vừa sức để học sinh từng
bước cảm thụ tác phẩm. Điều quan trọng là mỗi cá nhân học sinh phải thật sự có
ý thức, có tình yêu đối với tác phẩm và chủ động tìm hiểu thì việc bồi dưỡng
năng lực cảm thụ thơ văn sẽ đạt được kết quả trọn vẹn hơn.
2.4. Hiệu quả của SKKN:
Qua quá trình dạy - học các tiết bài về tác phẩm thơ trữ tình, với những nội
dung, biện pháp tổ chức thực hiện như trên, tôi đã đạt được kết quả cụ thể là:
a. Năng lực phát hiện, phân tích, cảm thụ các tín hiệu nghệ thuật
Nội dung

Lớp

- Năng lực phát hiện các tín hiệu nghệ thuật.
- Năng lực cảm thụ
- Năng lực diễn đạt

Lớp 9A

Lớp 9B

29/29
27/29
27/29

27/31
25/31
25/31

b. Bài viết TLV số 7: Nghị luận về đoạn thơ, bài thơ.
Điểm

Lớp 9A

Lớp 9B
14


9753-

10
8
6
4

2
21
6
0

0
9
20
2

3. KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ
1. Bồi dưỡng năng lực cảm thụ thơ văn cho học sinh là việc làm không thể
thiếu trong quá trình dạy học văn chương, nhất là dạy tác phẩm trữ tình.Đó là
mục tiêu quan trọng của bộ môn để góp phần giáo dục nhân cách cho học sinh
hướng các em đến những điều tốt đẹp. Đó là nhiệm vụ mà giáo viên bộ môn cần
phải thực hiện trong một quá trình lâu dài . Vì vậy, để việc bồi dưỡng năng lực
cảm thụ thơ văn đạt kết quả đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì, bền bỉ và thật
sự tâm huyết với nghề.
2. Trong quá trình dạy- học người giáo viên phải khéo léo tác động vào
tình cảm của các em, khơi dậy những tình cảm có sẵn cho các em, tạo điều kiện
cho các em nâng cao năng lực cảm thụ và trong quá trình dạy – học phải có kế
hoạch cụ thể , có kĩ năng hướng dẫn từng bước cho học sinh.
3. Sự kết hợp hài hoà giữa chủ động của học sinh với hướng dẫn chu đáo
của giáo viên là điều kiện tất yếu dẫn đến kết quả.
4. Thời lượng quy định trên lớp là bắt buộc song rất ít, cần giành thời gian
ngoại khoá, thời gian học buổi 2 để bồi dưỡng năng lực cảm thụ cho các em.
Bước đầu qua những tiết dạy với những nội dung và biện pháp trên, tôi
đã thu được kết quả song còn rất hạn chế. Rất mong nhận được sự góp ý của
đồng nghiệp để tôi sẽ tiếp tục bổ sung, rút kinh nghiệm để công tác giảng dạy
đạt hiệu quả tốt hơn.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Như Thanh, ngày 25 tháng 3 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN do
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.

Nguyễn Thị Thủy

TÀI LIỆU THAM KHẢO
15


[1] . Sách giáo khoa, sách giáo viên Ngữ văn 9- Nhà xuất bản giáo dục
[2] . Các tài liệu thiết kế bài giảng môn Ngữ văn 9.
[3] . Văn bồi dưỡng học sinh năng khiếu (THCS) - Nguyễn Đăng Mạnh
(chủ biên) - Đỗ Ngọc Thống- NXBĐHQG Hà Nội.
[4] . Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể- Nguyễn Viết
Chữ- NXB Đại học sư phạm.
[5]. Làm văn từ lí thuyết đến thực hành- Đỗ Ngọc Thống- NXBGD.

DANH MỤC

16


CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Thủy
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên môn Ngữ Văn,Trường THCS TT Bến
Sung-Như Thanh

TT

1

2

Tên đề tài SKKN

Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A, B,
hoặc C)

Năm học
đánh giá xếp
loại

A

2002-2003

B

2005-2006

Phòng
GD&ĐT
Như Thanh

A

2008-2009

Phòng
GD&ĐT
Như Thanh

C

2014-2015

Cấp đánh
giá xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)

Tổ chức hoạt động ngoại khóa
Sở
bộ môn Ngữ văn cho HS lớp 6 GD&ĐT

trường THCS.
Thanh Hóa
Kinh nghiệm giảng dạy thơ
Phòng
Đường cho học sinh lớp 7
GD&ĐT
THCS.
Như Thanh

3

Một số biện pháp sửa lỗi dấu
câu cho HS lớp 6 THCS

4

Phương pháp dạy - hoc tiết
luyện tập ở kiểu văn bản hành
chính

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×