Tải bản đầy đủ

Phương pháp thiết kế giáo án gắn với thực tiễn ở một số tiết của phân môn tập làm văn thuộc chương trình ngữ văn THCS nhằm rèn kỹ năng làm văn cho học sinh

Mục lục
I. Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận:
1.1 Xuất phát từ những định hướng đổi mới giáo dục của Đảng và
Nhà nước ta
1.2. Xuất phát từ vị trí, nhiệm vụ của dạy học Tập làm văn
1.3. Xuất phát từ cơ sở nguyên tắc và phương pháp môn học: Dạy
học Tập làm văn theo định hướng giao tiếp
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Về phía giáo viên
2.2. Về phía học sinh
III. Giải pháp
1. Nắm vững chất lượng đối tượng dạy học nhất là về kỹ năng.
2. Sử dụng tài liệu chính thống làm căn cứ để soạn giảng sử dụng tài
liệu tham khảo sáng tạo, linh hoạt, hiệu quả.
3. Căn cứ vào nội dung bài học để tách phần, mục tạo mạch lạc rõ

ràng.
4. Sử dụng linh hoạt ngữ liệu, hệ thống câu hỏi trong SGK.
5. Luôn luôn gắn với thực tiễn
IV. Kiểm nghiệm
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị:

Trang
2
2
3
3
3
3
3
3
4
4
5
5
10
12
12
12
15
15
17
19
19
19
20

1


I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mỗi một ngành nghề, một công việc có những phương tiện đặc trưng để giúp
người làm thực hiện công việc. Phương tiện càng tốt, càng đem lại hiệu quả tối ưu

cho công việc giúp chúng ta hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đối với giáo
viên, phương tiện dạy học chính là giáo án (Thiết kế bài giảng, Lập kế hoạch bài
dạy học, Bài soạn…), Giáo án là phương án thiết kế toàn bộ quá trình dạy học của
giáo viên trong một tiết dạy.
Đối với bộ môn Ngữ Văn, giáo án cũng có những đặc thù riêng biệt. Ngoài
việc tuân thủ kiến thức, kỹ năng chuẩn xác như các bộ môn khoa học xã hội lịch
sử, địa lý, giáo dục công dân … thì với mỗi bài giảng còn in đậm dấu ấn cá nhân
của mỗi Thầy cô giáo. Đó là cách cảm, cách nghĩ riêng đối với từng tác phẩm mà
mỗi thầy cô gửi gắm trong nội dung bài giảng đem đễn cho học sinh cách tiếp cận
bài giảng phong phú, đa dạng. Trong thực tế, bộ môn Ngữ văn cấp trung học cơ sở
hiện nay bao gồm 3 phân môn: Đọc hiểu văn bản (Văn học), Tiếng Việt và Tập làm
văn. Ba phân môn này được xây dựng trên quan điểm tích hợp nên có mối liên hệ
chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên trong cách thức thiết kế và trình bày giáo án giữa
phân môn Đọc hiểu văn bản và phân môn Tiếng Việt, Tập làm văn lại có những
điểm khác nhau do mục tiêu khiến thức và phương pháp đặc thù của mỗi phân môn.
Phân môn Tập làm văn là môn học mang tính thực hành, vận dụng cao.
Nhiệm vụ cơ bản của phân môn Tập làm văn là giúp học sinh tạo ra được các ngôn
bản nói và viết theo các phong cách chức năng ngôn ngữ, hình thành và phát triển
năng lực tạo lập ngôn bản - một năng lực được tổng hợp từ các kĩ năng theo một
quy trình từ thấp đến cao: thực hành tìm hiểu về đặc điểm loại văn bản, phân tích
đề, tìm ý, lập dàn ý, dựng đoạn – luyện nói, làm bài viết hoàn chỉnh…Đối với học
sinh bậc THCS, nhất là lớp 6,7, khi các em vừa chuyển từ bậc Tiểu học sang bậc
THCS các em bắt đầu làm quen với kiến thức, kỹ năng của phân môn ở một mức
độ cao hơn nhất là ở những kiểu văn bản mới và khó như Văn bản nghị luận, văn
bản biểu cảm, văn bản thuyết minh…thì thực tế cho thấy rất nhiều em cón lúng
túng ngay từ kỹ những năng đơn giản nhất. Vậy giúp các em khắc phục hạn chế này
không phải ai khác mà chính là giáo viên. Có nhiều con đường, giải pháp để khắc
phục những nhược điểm trong lỗi kỹ năng của học sinh. Và một trong những con
đường có hiệu quả nhất phải là xuất phát từ khâu thiết kế bài giảng của giáo viên.
Qua quá trình công tác nhiều năm, tôi nhận thấy một số các giáo viên do chủ
quan, ngại khó nên chưa coi trọng đầu tư cho công tác soạn giảng phân môn Tập
làm văn. Đa số giáo án sơ sài, đơn giản, chủ yếu phụ thuộc vào hệ thống câu hỏi
trong SGK hoặc SGV. Đặc biệt là giáo án không có tính mạch lạc, rõ ràng, thiếu
kiến thức liện hệ thực tiễn, nâng cao cho học sinh. Từ đó học sinh rất khó theo dõi
bài giảng, không nhớ được kiến thức bài học dẫn đến kỹ năng vận dụng yếu…
Với mục tiêu quan trọng của bộ môn Ngữ văn là hình thành các kỹ năng
nghe, nói, đọc, viết cho học sinh, tôi thiết nghĩ phân môn Tập làm văn chiếm một
2


vai trò vị trí quan trọng. Trong đó kiểu văn bản nghị luận sẽ giúp các em có được tư
duy mạch lạc lo gic, có tính ứng dụng cao trong thực tiễn đời sống. Muốn đạt được
điều ấy thì một trong những khâu quan trọng nhất phải là xuất phát điểm từ công
tác soạn bài của giáo viên. Thực tế đã chứng minh giáo án thiết kế như thế nào, kết
quả bài học như vậy. Có một thiết kế giáo án phù hợp sẽ giúp học sinh dễ dàng
theo dõi nội dung bài học, nhớ nhanh được kiến thức, từ đó sẽ vận dụng tốt góp
phần hoàn thành mục tiêu giáo dục của phân môn và mục tiêu chung của môn học.
Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài Phương pháp thiết kế giáo án gắn với thực tiễn ở
một số tiết của phân môn Tập làm văn thuộc chương trình Ngữ Văn THCS
nhằm rèn kỹ năng làm văn cho học sinh.
2. Mục đích nghiên cứu
Bằng kinh nghiêm thực tế, với đề tài này, mục đích của tôi là muốn chia sẻ
đến đồng nghiệp phương pháp thiết kế giáo án gắn với liên hệ thực tiễn thuộc phân
môn Tập làm văn của chương trình Ngữ Văn THCS. Giúp đồng nghiệp có thêm
cách thức thiết kế bài dạy học đem lại hiệu quả cao cho tiết dạy của mình. Từ đó sẽ
giúp học sinh nắm vững bài dạy và vận dụng thành thạo để tạo lập van bản.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tổng hợp, tổng kết phương pháp thiết kế bài dạy phân môn Tập làm
văn THCS của một số giáo viên Ngữ văn thuộc các đơn vị: Trường THCS Ngọc
Khê, THCS Thị Trấn và THCS Lê Đình Chinh thuộc huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh
Hóa qua 2 tiết minh họa:
- Ngữ văn 7: Tiết 79 – Đặc điểm của văn bản nghị luận
- Ngữ văn 9: Tiết 118: Nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích (Nghị
luận về nhân vật Văn học)
4. Phương pháp nghiên cứu:
- PP nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết
- PP điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
- PP thống kê, xử lý số liệu.
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận:
1.1 Xuất phát từ những định hướng đổi mới giáo dục của Đảng và Nhà nước
ta:
- Luật Giáo dục số - Điều 28 quy định: ” Phương pháp giáo dục phổ thông phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc
điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm
việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
- Nghị quyết hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục
và đào tạo: ” Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện
đại; phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của
người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt, một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung
3


dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật
và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực…”
- Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 ban hành kèm theo quyết định
711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của thủ tướng chính phủ chỉ rõ: ” Tiếp tục đổi mới
phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lục tự học của người học.”
- Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 12 của Đảng cũng nhấn mạnh:
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực.
1.2. Xuất phát từ vị trí, nhiệm vụ của dạy học Tập làm văn
1.2.1. Vị trí của dạy học Tập làm văn
Tập làm văn được hiểu là tập sản sinh, tạo lập ngôn bản. Dạy Tập làm văn là
dạy các kiến thức và kĩ năng giúp học sinh tạo lập, sản sinh ra ngôn bản. Phân môn
Tập làm văn có vai trò, vị trí quan trọng trong việc hoàn thiện và nâng cao dần các
kĩ năng sử dụng tiếng Việt đã được hình thành, xây dựng ở các phân môn khác.
Nhờ quá trình vận dụng các kĩ năng để tạo lập, sản sinh văn bản trong dạy học Tập
làm văn trở thành một công cụ sinh động trong quá trình học tập và giao tiếp của
học sinh tiểu học.
1.2.2. Nhiệm vụ của dạy học Tập làm văn
Nhiệm vụ cơ bản của phân môn Tập làm văn là giúp học sinh tạo ra được các
ngôn bản nói và viết theo các phong cách chức năng ngôn ngữ, hình thành và phát
triển năng lực tạo lập ngôn bản - một năng lực được tổng hợp từ các kĩ năng bộ
phận như: xác định mục đích nói, lập ý, triển khai ý thành lời (dạng nói, viết bằng
câu, đoạn, bài). Nhiệm vụ cụ thể của phân môn Tập làm văn bao gồm:
- Cung cấp kiến thức và hình thành, phát triển các kĩ năng bộ phận, góp phần
hình thành và phát triển năng lực tạo lập, sản sinh ngôn bản.
- Cung cấp tri thức về các dạng nghi thức lời nói, rèn kĩ năng nói theo các
nghi thức đó.
- Rèn kĩ năng nói, viết các ngôn bản thông thường và một số văn bản nghệ
thuật.
- Rèn các kĩ năng đặc thù phù hợp với mỗi dạng bài, kiểu bài Tập làm văn (kĩ
năng quan sát trong văn tả, kể; kĩ năng xây dựng cốt truyện, chi tiết, tình tiết trong
văn kể chuyện...).
- Ngoài ra, phân môn Tập làm văn cũng góp phần rèn luyện tư duy (tư duy
hình tượng, tư duy logic, kĩ năng phân tích - tổng hợp - phân loại - lựa chọn) và
hình thành nhân cách (lịch sự, khuôn mẫu trong giao tiếp; bồi dưỡng tình cảm đẹp
và vốn sống...) cho học sinh.
1.3. Xuất phát từ cơ sở nguyên tắc và phương pháp môn học: Dạy học Tập làm
văn theo định hướng giao tiếp
1.3.1. Những nguyên tắc dạy học cơ bản
* Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp
* Nguyên tắc rèn luyện ngôn ngữ gắn liền với rèn luyện tư duy
4


* Nguyên tắc tận dụng những kinh nghiệm sử dụng tiếng Việt của học sinh
* Nguyên tắc so sánh và hướng tới hai dạng nói và viết
* Nguyên tắc đảm bảo mối quan hệ hữu cơ giữa dạy học tri thức và rèn luyện kỹ
năng.
* Nguyên tắc vận dụng quan điểm tích hợp trong quá trình dạy học
1.3.2. Các phương pháp dạy học tập làm văn:
* Phương pháp giao tiếp
* Phương pháp nêu vấn đề
* Phương pháp thảo luận nhóm
* Phương pháp thực hành, luyện tập…
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Về phía giáo viên
2.1.1. Khảo sát thực tiễn:
Để chuẩn bị một tiết dạy bao gồm nhiều khâu từ thiết kế bài, tài liệu tham
khảo, hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài, phương tiện thiết bị, đồ dùng dạy học…
Nhưng trong đó khâu thiết kế bài là quan trọng nhất bởi nó là phương tiện cơ bản
hình thành kiến thức và kỹ năng cho học sinh trong một tiết dạy. Phân môn Tập làm
văn là một môn học có tính đặc thù gắn với thực tiễn cao, kể cả tiết cung cấp lý
thuyết cũng không bao giờ tách rời thực tiễn. Tuy nhiên đây là một phân môn khó
cho nên trong hoạt động thiết kế bài giảng của giáo viên còn nhiều tồn tại.
Sau đây là bảng khảo sát thực trạng thiết kế bài dạy học của 7 giáo viên bộ
môn Ngữ văn thuộc các trường THCs Lê Đình Chinh, THCS Ngọc Khê và THCS
Thị Trấn huyện Ngọc Lặc
Nội dung
Tuân thủ
Gắn với
Có sáng tạo
Đúng đặc Có mở rộng,
100% hệ
thực tiễn
linh hoạt
trưng
nâng cao,
thống câu
tiến trình
phương
tích hợp
hỏi SGK
pháp tiết
Số lượng
dạy
07
06
02
02
02
03
- Ví dụ minh họa:
Tiết 118: Ngữ văn 9: Nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích
Hoạt động của Thầy và Trò
Nội dung bài học
Hoạt động 1
I. Tìm hiểu bài nghị luận về tác phẩm
truyện (đoạn trích)
- HS đọc văn bản mẫu ở SGK.
1. Văn bản: sgk
- Vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp của nhân vật
?Vấn đề nghị luận của bài văn là gì .
anh thanh niên trong “ Lặng lẽ sa Pa”
của Nguyễn Thành Long.
- Nhan đề:
? Hãy đặt một nhan đề thích hợp cho + Sức mạnh của niềm đam mê.
văn bản ? ( các nhóm hoạt động )
+ Một vẻ đẹp nơi lặng lẽ Sa Pa.
5


(Hoặc là):
+ Hình ảnh anh thanh niên làm công tác
khí tượng kiêm vật lí địa cầu trong "
Lặng lẽ Sa Pa" của Nguyễn Thành Long
+ Vẻ đẹp , lối sống , tình người trong "
Lặng lẽ Sa Pa " của Nguyễn Thành Long
?Người viết đã triển khai vấn đề nghị
luận qua những luận điểm nào ?
- Hệ thống luận điểm :
* Các câu nêu vấn đề nghị luận :
" Dù được miêu tả ......... khó phai mờ "
* Các câu nêu luận điểm:
+ Câu 1 ở đầu đoạn 2: Trước tiên nhân
vật anh thanh niên này .... của mình .
+ Câu 2 ở đoạn 3: " Nhng anh thanh niên
này ..... chu đáo " .
+ Câu 1 ở đoạn 4 : Công việc vất vả .....
? Tìm những câu nêu lên hoặc cô đúc rất khiêm tốn .
luận điểm của văn bản ?
* Câu cô đúc luận điểm :
?Để khẳng định các luận điểm, người Cuộc sống ......... tin yêu -> cuối đoạn .
viết đã lập luận( dẫn dắt , phân tích,
chứng minh ) như thế nào ?
GV: Chia lớp thành 3 nhóm thảo luận 3 - Cách lập luận :
luận điểm đại diện nhóm trình bày)
+ Vừa phân tích + giải thích + chứng
( GV : ghi vào bảng phụ cho HS quan minh vẻ đẹp của anh thanh niên .
sát các luận điểm )
- LĐ1: Anh thanh niên đẹp ở tấm lòng.
+ H/cảnh sống.
+ Công việc: cần phải tỉ mỉ chịu khó.
+ Yêu công việc .
+ Lo toan tổ chức cuộc sống.
LĐ2: Nhưng anh thanh niên...
+ Vui được đón khách, nhiệt tình ân cần
chu đáo .
+ Say sưa kể về công việc của mình .
+ Đón mọi ngời đến thăm, biếu tam thất,
tặng hoa.
LĐ3: Công việc vất vả...
? Nhận xét về các hình thức luận điểm, + Thấy đóng góp của mình là nhỏ bé
luận cứ trong bài văn ?
+ Từ chối vẽ chân dung mình, giới thiệu
GV: Luận cứ, luận điểm rõ ràng, phù vẽ ngời khác.
hợp, ngắn gọn. Biết chọn lựa những chi => Luận cứ, luận điểm rõ ràng, ngắn
tiết tiêu biểu trong truyện để làm dẫn gọn, gợi được ở người đọc sự chú ý .
6


chứng.
+ Bài viết có sự mạch lạc: nêu vấn đề
nghị luận -> trình bày hệ thống luận
điểm, luận cứ rõ ràng, rành mạch , nhất
quán rồi khái quát, nâng cao vấn đề nghị
luận .
? Em có nx gì về bố cục của VB ?
- Bố cục của VB : 3 phần rõ ràng dẫn
? Qua tìm hiểu văn bản mẫu em hãy cho dắt tự nhiên .
biết thế nào là nghị luận về tác phẩm
truyện hoặc đoạn trích ?
Nhận xét đúng nhân vật, dựa vào đặc
điểm tính cách nhân vật, ý nghĩa nhân
vật, phải có luận cứ, luận chứng. Lời
văn chính xác .
? Khi viết một bài văn nghị luận về một
tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cần
chú ý những yêu cầu gì ?
Học sinh đọc to ghi nhớ SGK .
Giáo viên lưu ý, nhấn mạnh một số điểm 2. Ghi nhớ 1: SGK
trong ghi nhớ .
Hoạt động 3
Học sinh đọc đoạn văn , suy nghĩ lần lợt
trả lời các câu hỏi ở SGK .
2.1.2. Phân tích thực trạng:
a. Thiết kế bài dạy học tuân thủ máy móc hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa,
thiếu hệ thống các câu hỏi dẫn dắt phát hiện kỹ năng.
- Sách giáo khoa, sách giáo viên là các tài liệu chính thống mà giáo viên cần căn cứ
vào để soạn bài. Đây là hai tài liệu quan trọng. SGK giúp giáo viên hiểu được đích
của tiết dạy (kết quả cần đạt), nội dung bài học. Còn SGV giúp định hướng phương
pháp, nội dung kiến thức cần truyền tải, có những bài SGV còn cung cấp kiến thức
bổ trợ rất hữu ích cho GV có thể mở rộng, nâng cao hoặc bổ sung kiến thức cho bài
dạy.
- Tuy nhiên nhiều GV không hiểu rằng SGK và SGV chỉ có tính định hướng, gợi ý
hướng dẫn. Nhất là hệ thống câu hỏi trong SGK chủ yếu là để phục vụ việc tìm
hiểu bài của học sinh. Tất nhiện Gv vẫn phải sử dụng hệ thống câu hỏi đó để thiết
kế bài giảng nhưng cần linh hoạt sáng tạo.
- Thực tế khảo sát cho thấy: Trong số 07 thiết kế bài giảng thì có tới 06 thiết kế bài
giảng sử dụng 100% số lượng câu hỏi trong SGK mà GV không có sự linh hoạt
thay đổi, thêm, bớt. Rõ ràng trong thực tế, có nhiều câu hỏi trong sách SKG mang
7


tính chất tổng hợp, thường khó đối với HS. Nếu GV không biết thêm các câu dẫn
dắt thì rất khó để hướng dẫn học sinh phát hiện rút ra kỹ năng làm bài. Vì thế tập
làm văn không còn là tập làm nữa. Khi áp dụng vào thực tế, các em lúng túng
không có gì để soi sáng, dẫn đường. Lý thuyết tập làm vô hình chung đã không cón
tác dụng nữa.
b. Đa số GV trung thành với tiến trình của hệ thống câu hỏi trong SGK nên bố
cục thiết kế bài học không rõ ràng đặc trưng phương pháp giảng dạy phân môn.
- Phương pháp dạy phân môn tập làm văn đối với những tiết lý thuyết là quy nạp.
Tức là từ khai thác bài học của GV mà học sinh có thể rút ra nội dung bài học.
- Thực tế lại không như vậy. Ví dụ như giáo án minh họa trên, giáo viên đã tuân thủ
100% trình tự các câu hỏi trong sánh giáo khoa. Vì thế sau khi học bài xong, nếu
muốn đặt câu hỏi để học sinh tự rút ra phần ghi nhớ - nội dung bài học trong sách
giáo khoa thì học sinh chỉ nhìn sgk mới trả lời được. Nếu nhìn lên bảng- phần khai
thác bài học của GV thì HS không trả lời được. Như vậy, tính quy nạp đã bị mất đi.
Việc rút ra bài học của HS nhiều khi áp đặt, khiên cưỡng thiếu cơ sở từ bài dạy của
GV. Điều đó cũng có nghĩa là việc khai thác ví dụ không còn tác dụng. Tiết dạy lý
thuyết cũng không đạt được mục tiêu.
Ví dụ: Nếu theo tiến trình câu hỏi như gáo án minh họa trên, sau khi dạy
xong GV hỏi: Vậy qua bài học em hiểu thế nào là nghị luận về tác phẩm truyện
hoặc đoạn trích thì rõ ràng học sinh không trả lời được.
c. GV thiếu linh hoạt, sáng tạo trong thiết kế bài dạy.
Có lẽ do tuân thủ tiến trình và sử dụng 100% hệ thống câu hỏi trong SGK nên đó
là nguyên nhân thiết kế bài học thiếu tính sáng tạo:
+ Thiếu tính sáng tạo trong bố cục nội dung bài học: Rõ ràng đối với bài học trên
có hai phần đơn vị kiến thức:
- Thứ nhất: Khái niệm kiểu bài nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích
- Thứ hai: Yêu cầu của kiểu bài
GV không tách rõ hai đơn vị kiến thức nên dẫn đến bố cục bài học thiếu mạch lạc,
rõ ràng. Gv không chốt được phần nhận xét của ví dụ. Vì thế học sinh cũng sẽ khó
rút ra được khái niệm của bài học.
+ Không mạnh dạn thay đổi tiến trình câu hỏi: Có những tiết dạy, GV không sắp
xếp lại tiến trình hệ thống câu hỏi trong SGK do đó không tạo được sự logic trong
mối quan hệ với nội dung bài học rút ra từ ghi nhớ SGK.
+ Không mạnh dạn bổ sung hệ thống câu hỏi: Bao gồm các câu hỏi gắn với kỹ
năng, câu hỏi dẫn dắt, câu hỏi nâng cao, mở rộng...Vì vậy thiết kế bài dạy học kém
sinh động không hiệu quả. Ví dụ giáo án minh họa trên thiếu hệ thống câu hỏi dẫn
dắt rút ra khái niệm (? Nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích là gì?)
+ Không mạnh dạn thay đổi, bổ sung ngữ liệu: Vẫn biết khi xây dựng chương trình
SKG các nhà viết sách đã có sự nghiên cứu, lựa chọn kỹ càng hệ thống ngữ liệu.
Tuy nhiên trong một số bài, một số tiết, khi ngữ liệu khó hoặc chưa đủ để hình
8


thành kiến thức bài học thì GV có thể mạnh dạn thay đổi, bổ sung ngữ liệu đảm bảo
phù hợp với đối tượng và nội dung bài học.
Ví dụ: Như tiết 118-Ngữ văn 9. GV có thể bổ sung thêm các dạng đề để rút
ra khái niệm như sau: (Giáo án của GV Tô Thị Hiền – Trường THCS Lê Đình
Chinh-Năm học 2015-2016)
HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS
NỘI DUNG BÀI HỌC
Hoạt động 1: Tìm hiểu bài nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích
1. Thế nào là nghị luận về tác phẩm
truyện hoặc đoạn trích.
* Gv treo ví dụ ghi ví dụ cho hs quan sát a) Ví dụ
+ Có một số bài văn bàn về các vấn đề
sau:
1) Vẻ đẹp của nhân vật anh thanh niên
trong “ Lặng lẽ Sa Pa” của NTL
2) Nghệ thuật xây dựng tình huống
trong truyện ngắn Làng của KL
3.Chi tiết bé Thu (Truyện Chiếc lược
ngà- Nguyễn Quang Sáng) không nhận
cha (Khi anh Sáu đi kháng chiến trở về
thăm nhà) gợi cho em suy nghĩ gì?
4) Phân tích Chiếc lược Ngà để làm nổi
bật chủ đề của tác phẩm.
? Những yếu tố nào của tác phẩm truyên
(của đoạn trích ) trở thành vấn đề nghị + Yếu tố: nhân vật, nghệ thuật, sự kiện,
luận trong các bài văn trên ?
chủ đề của tác phẩm.
? Gắn với yêu cầu của kiểu bài Nghị + Người viết trình bày suy nghĩ, nhận
luận thì trước những vấn đề như vậy xét, đánh giá của mình về các yếu tố
người viết sẽ phải làm gì để làm rõ yêu trên.
cầu của đề?
? Vậy qua đó em hiểu thế nào là nghị => Trình bày những suy nghĩ, nhận
luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn xét,đánh giá của mình về nhân vật, sự
trích?
kiện, chủ đề…của tác phẩm -> Nghị
luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích.
b) Ghi nhớ: ý 1 (sgk)
Như vậy là sau khi GV bổ sung phần ngữ liệu và dẫn dắt học sinh tìm hiểu, thì các
em sẽ dễ dàng rút ra khía niệm về kiểu bài. Còn nếu như cứ theo tiến trình trong
SGK thì các em sẽ khó rút ra khái niệm một cách hoàn chỉnh. Như vậy, đối với
từng bài học, GV càn mạnh dạn, sáng tạo trong thiết kế bài dạy học để tạo tính
mạch lạc, dễ hiểu, sát với nội dung bài học. Giúp học sinh nhận diện khiến thức
một cách rõ ràng. Điều đó cúng giúp các em hiểu lý thuyết và vận dụng vào tạo lập
văn bản hiệu quả hơn.
9


d. Các thiết kế bài dạy của giáo viên thiếu kiến thức mở rộng, nâng cao, tích
hợp.
- Hiện nay, theo quy định mục tiêu của môn học, khi thiết kế bài dạy học GV cần
bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng. Tuy nhiên theo tôi nghĩ phải linh hoạt tùy từng
đối tượng học sinh để GV thiết kế bài dạy học cho phù hợp. Nếu đối tượng HS
cứng ta có thể mở rộng, nâng cao giúp học sinh có thêm hiểu biết, rèn thêm kỹ
năng.
- Trong thực tế, do Gv không linh hoạt khi thiết kế bài nên bài học thiểu kiến thức
liên hệ thực tế hoặc không có mở rộng, nâng cao.
Ví dụ khi ta thiết kế tiết 118-Ngữ văn 9 ta có thể mở rộng ví dụ để rút ra khái
niệm, nâng cao phần kỹ năng xác lập luận điểm...
e. Một số thiết kế bài dạy học quá sơ sài, quoa loa, đối phó.
Đối với GV có thể nói công việc thiết kế bài dạy học là vô cùng quan trọng,
Bởi ở trên đã nói nó là phương tiện là việc đặc trưng của nghề dạy học. Mà phương
tiện có tốt thì công việc mới có hiệu quả. Thật đáng tiếc là nhiểu GV chưa nhận
thức được điều ấy. Họ xem công việc thiết kế bài dạy học chỉ đơn giản là để cho có
giáo án hợp lệ đúng quy định khi lên lớp, thực tế khi dạy đã có SGK, SGV là đủ.
Cứ dạy đúng, đủ, hết trong SGK là được. Nhận thức ấu trĩ như vậy dẫn đễn xem
nhẹ hoạt động thiết kế bài dạy học của GV. Thế là giáo án thay vì nghiên cứu, bổ
sung, thiết kế linh hoạt cho phù hợp với đối tượng dạy học thì họ soạn sơ sài, hệ
thống câu hỏi dẫn dắt chỉ gồm các câu hỏi trong SGK. Bài soạn hoặc cop ở trên
mạng, của đồng nghiệp nhưng cũng không hề bổ sung, chỉnh sửa...Như vậy làm sao
dạy học có hiệu quả, nhất là trong dạy học tập làm văn.
Để hạn chế thực trạng này, ở một số địa phương có cho GV soạn giáo án
bằng cách viết tay. Điều này chí ít cũng hạn chế được việc coppy, hơn nữa, trong
qúa trình soạn tay, gíao viên có thời gian để tri giác được nội dung bài học. Nhưng
vấn đề linh hoạt, sáng tạo thì còn phải xem xét lại. Như vậy, hiệu quả của công việc
soạn bài bằng tay của giáo viên xem ra cũng không phải là giải pháp tối ưu cho một
giáo án tích cực.
Vậy đâu là cách khắc phục tốt nhất? Có lẽ câu trả lời phải là tâm huyết của
giáo viên. Chỉ có bắng cái Tâm-tấm lòng, nhiệt huyết của mỗi thầy cô giáo sẽ khơi
dậy những trăn trở, lo âu trong mỗi bài học để rồi thầy cô sẽ tìm cách khắc phục.
Điều ấy sẽ quyết định đến hành động của mỗi thầy cô giáo trong công việc thiết kế
bài dạy học nói riêng và trong quá trình làm công tác giáo dục nói chung.
2.2. Về phía học sinh
Từ thực trạng công tác soạn giảng của giáo viên như trên tác động ảnh hưởng đến
học sinh là không ít. Sau đây là khảo sát tình hình học sinh sau 02 tiết dạy: Tiết 1:
Lớp 9A2- Trường THCS Thị Trấn Ngọc Lặc, (năm học 2012- 2013)( Bài: cách làm
bài văn nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích).
Lớp
SL
Nắm nhanh
Nắm bố cục
Hiểu bài
Vận dụng
kiến thức
bài học
10


SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
9A2
33
12
36,36
18
54,55
12
36,36
8
24,24
- Qua khảo sát thực trạng học sinh của 02 trường THCS Thị Trấn Ngọc Lặc và
trường THCS Lê Đình Chinh thì thấy còn một số tồn tại sau đây:
+ Học sinh không nắm nhanh được bài học. Ví dụ sau khi dạy tiết 118- Ngữ văn 9,
người dự giờ có hỏi: vậy Nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích là gì? Thì
chỉ có 12/33 học sinh là trả lời được xong không đầy đủ, chính xác theo khái niệm
SGK. Hoặc Bản chất của nghị luận về tác phầm truyện hoặc đoạn trích là gì ?(nghị
luận về nhân vật văn học ) thì HS cũng không trả lời được rõ ràng. Như vậy chứng
tỏ quá trình soạn giảng của GV không gắn với liên hệ thực tiễn về kỹ năng, không
khắc sâu kiến thức cho HS. Điều này làm cho các em học bài cũ khó thuộc, không
nhớ lâu được kiến thức. Và tất yếu đó là hệ quả vận dụng yếu ở các em vì lý thuyết
không đủ để soi sáng cho quá trình vận dụng.
+ Việc nắm bố cục bài học của sinh cũng không tốt. Điều này do quá trình soạn
giảng của giáo viên thiếu khoa học ( Sắp xếp đơn vị kiến thức, sử dụng hệ thống
câu hỏi…).
Ví dụ: Sau tiết dạy 118-Ngữ văn 9, Gv dự có hỏi HS: Em hãy cho biết bài
học có mấy đơn vị kiến thức? Thì chỉ có 18/33 em là trả lời được là bài học có 2
đơn vị kiến thức: Thế nào là nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích và
Hướng làm bài(câu trả lời của HS). Việc nắm nhanh kiến thức bài học cũng có ý
nghĩa quan trọng, giúp học sinh định hình được kiến thức, giúp khắc sâu kiến thức.
Muốn đạt được điểu ấy thì đòi hỏi công việc thiết kế bài dạy học của giáo viên phải
cực kỳ rõ ràng, mạch lạc, theo chuẩn đợn vị kiến thức bài học(Ghi nhớ SGK)
+ Đặc biệt lỗi lớn nhất của học sinh là năng lực vận dụng kém: Sau khi học xong lý
thuyết lẽ ra học sinh phải biết vận dụng trước hết là để làm bài tập, sau đó là vận
dụng vào quá trình học tập sau này. Nhưng qua khảo sát thực tế năng lực vận dụng
của học sinh còn gặp nhiều hạn chế
Ví dụ: Sau khi học xong tiết 118-Ngữ văn 9, người khảo sát có đưa ra một đề
văn Phân tích tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai (trích trong tác phẩm
Làng của Kim Lân) và yêu cầu học sinh nhận diện vấn đề nghị luận, đặc điểm của
nhân vật thì chỉ có 8/33 em là làm được. Còn lại các em không biết xác định vấn đề
nghị luận (nêu khái quát ở phần mở bài), đặc điểm của nhân vật (khái quát nêu lên
thành luận điểm trong bài viết).
Hoặc sau khi học xong tiết 79- Ngữ văn 7, người khảo sát có yêu cầu học
sinh nhận diện luận điểm, luận của và lập luận…trong văn bản Tinh thần yêu nước
của nhân dân ta thì chỉ có 12/31 em là chỉ ra được. Số còn lại không trả lời được
hoặc trả không đầy đủ.
Như vậy, việc thiết kế bài học của GV quyết định đến thành công của bài học
ở trên lớp. Bài dạy học tập làm văn có hiệu quả hay không quan trọng vẫn là việc
vận dụng kiến thức lý thuyết của học sinh vào việc thực hành các mức độ tạo lập
văn bản. Qua thực tiễn dạy học đã chứng minh kỹ năng vận dung của các em không
11


tốt, nhất là kiểu văn bản nghị luận. Học sinh làm bài nhưng không có luận điểm. Bố
cục không hợp lý. Lập luận thiếu chặt chẽ, không đúng văn phong nghị luận…Thực
trạng ấy cũng bắt nguồn từ việc thiết kế bài dạy học của GV không khoa học, thiếu
liên hệ với thực tiễn kỹ năng làm bài của học sinh.
Từ thực trạng trên, qua kinh nghiệm dạy học của bản thân, tôi xin trình bày
một số giải pháp như sau:
III. Giải pháp
1. Nắm vững chất lượng đối tượng dạy học nhất là về kỹ năng.
- Đối tượng dạy học chính là học sinh. Học sinh là đối tượng trung tâm của quá
trình dạy học. Vì vậy trong mọi khâu của quá trình dạy học, GV cần lấy học sinh
làm chuẩn căn cứ để thiết kế các hoạt động dạy học cho phù hợp với đối tượng học
sinh của mình.
- Trong thực tế dạy học, đối tượng học sinh là không giống nhau kể cả trong một
lớp học về tương quan giữa các vùng, miền, độ tuổi, giới tính, trình độ…chính vì
vậy Gv cần phải tìm hiểu kỹ đối tượng của mình để có cách thiết kê bài dạy học
phù hợp.
- Muốn dạy học tập làm văn có hiệu quả, GV cần tìm hiểu kỹ học sinh của mình về
các kỹ năng như tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, viết và triển khai đoạn…để từ đó có
cách thiết kế bài dạy học phù hợp. Nếu tìm hiểu kỹ đối tượng về mặt kỹ năng như
vậy, chắc chắn trong quá trình thiết kế bài dạy học của mình giáo viên sẽ biết nên
chú trọng giáo dục, rèn luyện những kiến thức, kỹ năng nào cho học sinh để góp
phần bù đắp kỹ năng mà các em còn thiếu hụt. Như vậy kỹ năng của học sinh sẽ là
căn cứ đầu tiên và cũng là mục đích cuối cùng để công việc thiết kế bài dạy học của
giáo viên hướng tới.
2. Sử dụng tài liệu chính thống làm căn cứ để soạn giảng sử dụng tài liệu tham
khảo sáng tạo, linh hoạt, hiệu quả.
Tài liệu phục vụ quá trình thiết kế bài dạy học rất quan trọng. Nó sẽ làm cho bài
dạy học của GV sinh động đạt hiệu quả cao hơn.
2.1. Hiện nay, trong thời đại khoa học công nghệ, chưa bao giờ công việc soạn
bài của GV nói riêng, việc tìm tư liệu cho quá trình dạy học nói chung lại đơn giản,
hiệu quả như vậy. Trên các trang mạng ta có thể tìm thấy vô vàn những nội dung bổ
trợ cho quá trình soạn bài. Kể cả là một giáo án hoàn chỉnh cho một tiết dạy cụ thể.
Tuy nhiên tài liệu nhiều như vậy lại khó cho ta lựa chọn. Ví dụ các giáo án trên các
trang mạng thì nhiều, nhưng để tìm được một giáo án hay phù hợp với đối tượng
học sinh của mình là rất khó. Vì vậy giáo viên phải tinh lọc trong quá trình lựa
chọn tài liệu. Tài liệu phục vụ qua trình thiết kế bài dạy học có thể chia làm hai
loại: Loại tài liệu chính thống (SGK, SGV, Chuẩn kiến thức kỹ năng của nhà xuất
bản Giáo dục) và tài liệu tham khảo (Thiết kế bài dạy học của các tác giả, các tài
liệu khác có liên quan)

12


2.2. Bản thân tôi khi thiết kế bài dạy học nói chung, bài dạy học phân môn tập làm
văn nói riêng thường căn cứ vào các tài liệu như sau (Xếp theo thứ tự tầm quan
trọng và trình tự tham khảo:
2.2.1. Chuẩn kiến thức và kỹ năng – NXB Giáo dục - 2010: Đây là tài liệu chính
thống đầu tiên mà GV cần đọc. Nó giúp GV định hướng được kiến thức, kỹ năng
chuẩn để GV căn cứ trong quá trình soạn giảng.
2.2.2: Sách giáo viên của Nhà xuất bản giáo dục. Đây là tài liệu chính thống rất
quan trọng. Trong quá trình soạn bài, tôi nhận thấy đây là tài liệu rất bổ ích giúp Gv
định hướng được nôi dung và phương pháp dạy học để có cách thiết kế bài dạy học
phù hợp. Cấu trúc của SGV gồm các mục lớn như sau:
+ Mục tiêu cần đạt: Đây là phần định hướng kiến thức, kỹ năng cần giáo dục cho
HS trong tiết dạy.
+ Mục những điều cần lưu ý: Đây là một mục rất bổ ích mà trước khi thiết kế bài
dạy học GV cần đọc kỹ, Nội dung mục này sẽ là kiến thức bổ trợ, mở rộng, lưu ý,
nhấn mạnh…thêm về nội dung bài học. Rất nhiều GV đã bỏ qua tài liệu này hoặc
mục này khi thiết kế bài dạy học. Vì vậy nhiều khi thiết kế bài dạy học của chúng ta
sẽ không sinh động, kiến thức không sâu, không mở rộng và nâng cao. Theo tôi,
nhất thiết khi soạn bài, GV phải đọc mục này kỹ càng.
Ví dụ: Tiết 79 – Ngữ văn 7- Bài Đặc điểm của Văn bản Nghị luận: Trong
mục Những điều cần lưu ý có cung cấp cho GV như sau:
- Lưu ý về kiến thức cần truyền thụ: yêu cầu nhận biết, gọi tên, sử dụng đúng luận
điểm, luận cứ, lập luận.
- Cung cấp cho GV thêm kiến thức về khái niệm, vai trò, đặc điểm thể hiện luận
điểm, luận cứ và luận. Giúp bổ trợ cho GV kiến thức về luận điểm, luận cứ và lập
luận. Như vậy giúp rất nhiều giáo viên trong quá trình thiết kế bài dạy học.
+ Mục tiến trình tổ chức các hoạt động dạy học: Mục này SGV đưa ra các hoạt
động dạy học. Mỗi hoạt động sẽ là định hướng về nội dung kiến thức và phương
pháp tổ chức hoạt động.
+ Ngoài ra đối với mỗi tiết học cụ thể có thể có thêm mục Gợi ý giải bài tập và Tài
liệu tham khảo.
2.2.3: Sách giáo khoa
Sau SGV là SGK, đây là liệu chính thống thứ hai mà Gv cần căn cứ để soạn bài
bởi đây là tài liệu cung cấp toàn bộ nội dung bài học. Trong SGK lại còn cung cấp
hệ thống câu hỏi rất sát hợp với nội dung bài học, vừa tạo điều kiện cho Hs chuẩn
bị bài ở nhà, vùa tạo điều kiện cho GV sử dụng để thiết kế bài dạy học. Tuy nhiên
như trên đã nói. Hệ thống câu hỏi chỉ có tính chất định hướng. Nó mang tính khái
quát cao. Vì vậy khi sử dụng, nhất thiết phải chẻ nhỏ theo đơn vị kiến thức mình
khai thác, hoặc sắp xếp lại cho logic với nội dung kiến thức bài học(ở phần ghi
nhớ) hoặc thêm, bớt cho phù hợp với nội dung bài dạy học.
Khi sử dụng SGK giáo viên cũng cần lưu ý trước tiên phải đọc mục kết quả cần
đạt để dối chiếu với SGV, chuẩn kiến thức, kỹ năng để kết hợp cả 3 tài liệu thành
13


một kết quả cần đạt bao quát nhất cho bài dạy học của mình(Mục tiêu bài học). Sau
đó đọc kỹ mục ghi nhớ để xác định xem có mấy đơn vị kiến thức cần truyền thụ.
Cuối cùng mới đọc và sử dụng hệ thống câu hỏi nhắm dẫn dắt học sinh đi đến hình
thành các đơn vị kiến thức đã xác định ở phần ghi nhớ. Trong thực tế nhiều gv chỉ
đọc và sử dụng hệ thống câu hỏi trong SGK không đọc mục kết qảu cần đạt và nhất
là không đọc phần ghi nhớ. Vì vậy thiết kế bài dạy học thường sơ sìa, khó dẫn dắt
học sinh theo tiến trình quy nạp, áp đặt học sinh chốt kiến thức bài học.
Ví dụ: Tiết 18-Ngữ văn 9 (NXB Giáo dục – 2005) gồm 3 cụm câu hỏi lớn (a, b,
c) trong đó chia làm 6 câu hỏi nhỏ.
Giáo án của GV Phạm Thị Đào (minh họa như trên) đã sử dụng nguyên 6 câu
hỏi như trong SGK để hướng dãn tìm hiểu nội dung bài học là:
?Vấn đề nghị luận của bài văn là gì .
? Hãy đặt một nhan đề thích hợp cho văn bản ? ( các nhóm hoạt động )
?Người viết đã triển khai vấn đề nghị luận qua những luận điểm nào ?
? Tìm những câu nêu lên hoặc cô đúc luận điểm của văn bản ?
?Để khẳng định các luận điểm, ngời viết đã lập luận( dẫn dắt , phân tích, chứng
minh ) như thế nào ?
? Nhận xét về các hình thức luận điểm, luận cứ trong bài văn ?
? Em có nx gì về bố cục của VB ?
và 2 câu hỏi để rút ra nội dung bài học
? Qua tìm hiểu văn bản mẫu em hãy cho biết thế nào là nghị luận về tác phẩm
truyện hoặc đoạn trích ?
? Khi viết một bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cần chú ý
những yêu cầu gì ?
Như vậy có thể nói chắc chắn Gv không đọc kỹ mục ghi nhớ trong SGK. Bởi
trong ghi nhớ có 2 đơn vị kiến thức rõ rệt là: Khái niệm về kiểu bài và yêu cầu về
kiểu bài. Vì vậy GV đã chỉ sử dụng hệ thống câu hỏi để thiết kế bài dẫn đến bố cục
nội dung bài dạy học không rõ ràng. Nếu GV đọc kỹ cả 3 mục như trong SKG thì
chắc chắn GV sẽ có cách thiết kế bài dạy học đảm bảo rút ra được 2 đơn vị kiến
thức như trong SGK.
Các tài liệu tham khảo khác.
Trong thực tế, các tài liệu trên dường như đã đủ phần kiến thức cứng chuẩn cho
qúa trình soạn giảng. Tuy nhiên để bài dạy học sinh động, sáng tạo thì GV có thể
tham khảo thêm một số tài liệu khác. Sau đây là một số tài liệu tôi thường sử dụng
trong quá trình soạn bài là:
- Thiết kế bài dạy học Ngữ văn THCS của tác giả Nguyễn Văn Đường chủ
biên – NXB ĐHQG Hà Nội – 2002
- Thiết kế bài dạy học Ngữ văn 9 tập 1,2- Tác giả Dương Thị Thanh Huyền,
Lê Xuân Soan- NXB Thanh niên 2005

14


Đây là hai cuốn sách rất tốt, cung cấp cho GV tiến trình dạy học, nội dung kiến
thức, kỹ năng để GV có thể vận dụng vào quá trình soạn giảng của mình cho phù
hợp.
- Ngoài ra, GV có thể tham khảo thêm ở trên mạng Internet để bổ sung và nhất thiết
phải tham khảo tài liệu để bổ sung vào bài soạn của mình theo từng năm.
3. Căn cứ vào nội dung bài học để tách phần, mục tạo mạch lạc rõ ràng.
- Trong thực tế, thường thì SGK đã bố cục rất hợp lý. Nội dung đơn vị kiến thức bài
học đã được bố trí, sắp xếp một cách hệ thống, rõ ràng, mạch lạc. Bài soạn của Gv
chỉ cần bố cục tuân thủ theo SGK thì vẫn đảm tính mạch lạc rõ ràng.
Ví dụ như Tiết 79- Ngữ văn 7- SGK bố cục như sau:
I. Luận điểm, luận cứ và lập luận
1. Luận điểm
2. Luận cứ
3. Lập luận
II. Luyện tập
Đối với tiết học này, GV có thể sử dụng các tiêu mục như SGK để bố cục bài
học của mình. Như vậy đảm bảo rõ ràng, mạch lạc. Học sinh có thể theo dõi bài
dạy học của GV dễ dàng, từ đó giúp các em nắm nhanh kiến thức, dễ thuộc bài, vận
dụng vào thực hành nhanh.
Tuy nhiên có những tiết dạy mà GV không linh hoạt bố cục lại bài học thì
nội dung bài giảng thiếu tính mạch lạc, không rõ ràng. Dẫn đến việc dạy học mất
đặc trưng phương pháp môn học. Gây khó tiếp thu bài cho học sinh.
Ví dụ như tiết 118- Ngữ văn 9, GV có thể tách thành 2 đơn vị kiến thức
tương ứng với 2 đơn vị nội dung như phần ghi nhớ trong SGK như sau:
I. Tìm hiểu bài nghị luận về tác phẩm tryện hoặc đoạn trích
1. Nghị luận về tác phẩm truyện(hoặc đoạn trích) là gì?
2. Yêu cầu của bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)
II. Luyện tập
Rõ ràng là so với giáo án minh họa của GV Phạm Thị Đào ở trên ta nhận thấy
cách bố trí, sắp xếp laị nội dung bài học ở tiết 118 này sẽ rõ ràng hơn. GV dạy sẽ rõ
tiến trình quy nạp theo 2 đơn vị kiến thức bài học trong phần ghi nhớ ở SGK. Mặt
khác khi lấy ngữ liệu để khai thác phần hình thành khái niệm là các dạng đề giúp
học sinh còn dễ dàng nhận biết được các vấn đề nghị luận ở dạng đề bài này. Như
vậy GV vừa có điều kiện tích hợp với tiết dạy sau (Phương pháp làm bài) vừa có
điều kiện tích hợp với thực tiễn làm bài của học sinh (các dạng đề trong khi làm
bài). Phân môn Tập làm văn trong chương trình Ngữ Văn THCS còn một số bài mà
GV cần lưu ý cách bố cục lại như vậy.
4. Sử dụng linh hoạt ngữ liệu, hệ thống câu hỏi trong SGK.
4.1. Sử dụng ngữ liệu:
- Ngữ liệu là phần ví dụ để GV khai thác giúp dẫn dắt học sinh đi đến nội dung bài
học. Hệ thống ngữ liệu của phân môn tập làm văn nói riêng, của SGK Ngữ Văn
15


THCS nói riêng đã được các nhà biên soạn Sách nghiên cứu, chọn lựa kỹ càng vì
vậy các ngữ liệu rất chuẩn và đạt mẫu mực. Tuy nhiên, trong một số tiết dạy, tôi
nhận thấy phần ngữ liệu rất khó hình thành nội dung bài học bởi dạy Tập làm văn
là dạy kỹ năng tập làm cho học sinh, học sinh mà không hiểu được lý thuyết thì
việc vận dụng cũng rất khó. Bằng thực tiễn kinh nghiệm dạy học của bản thân xin
mạnh dạn nêu ra một giải pháp là linh hoạt sử dụng ngữ liệu để giúp thiết kế bài
dạy học của giáo viên đạt hiệu quả cao.
Ví dụ Tiết 79 – Ngữ văn 7- Đặc điểm của văn bản nghị luận.
Trong tiết học này mục tiêu là giúp học sinh nhận biết rõ các yếu tố cơ bản của bài
văn nghị luận và mối quan hệ của chúng với nhau (nhận biết, gọi tên đúng, sử dụng
đúng). Và để hình thành nội dung bài học, SGK đã sử dụng ngữ liệu là bài văn
Chống nạn thất học của Hồ Chí Minh ( Ngữ liệu ở Tiết 75- Tìm hiểu chung về văn
bản nghị luận). Quả thực văn nghị luận của Bác vô cùng sắc sảo, chặt chẽ, thuyết
phục bởi cách viết đa dạng, linh hoạt. Chính vì vậy trong bài văn này Bác kết hợp
phương pháp lập luận nhân - quả ( Do Thực dân Pháp cai trị..., Số người dân thất
học..nên ta phải chống nạn thất học); Cách nêu luận điểm thì tách thành một đoạn
văn ( Đoạn văn thứ tư). Theo tôi nghĩ việc nhận diện luận điểm ở bài băn này là
khó đối với học sinh hơn các bài ngữ liệu khác ( Tinh thần yêu nước của nhân dân
ta, Sự giàu đẹp của Tiếng Việt) - nhất là với HS lớp 7 khi mới làm quen với kiểu
văn bản nghị luận ở tiết thứ 2. Thực tế khi tôi dạy bài này thì phải hướng dẫn họ
sinh mất khoảng 30 – 35 phút mới hình thành được nội dung bài học. Vì thông
thường nếu luận điểm trình bày trong một đoạn văn thì mẫu mực hơn và học sinh
cũng dễ nhận diện hơn. Nếu thay ngữ liệu này bằng ngữ liệu bài Tinh thần yêu
nước của nhân dân ta (Cũng là văn bản của Bác) thì học sinh nhận diện đặc điểm
của bài văn nghị luận dễ hơn ( khoảng 20 phút cho phần khai thác nội dung bài
học).
Như vậy, đối với một số tiết học, nếu ngữ liệu khó với đối tượng học sinh
của mình thì GV nên chọn lựa một ngữ liệu phù hợp. Đây không phải là việc làm
dễ bởi trong thực tế SGK vẫn được coi là Pháp lệnh bất di bất dịch. Mặt khác, việc
lựa chọn được một ngữ liệu đảm bảo chuẩn các tiêu chí đòi hỏi GV cũng phải có
chuyên môn vững vàng. Đây cũng là một vướng mắc cần có sự chỉ đạo của Bộ, Sở
GD &ĐT và sự thống nhất chuyên môn của Phòng GD, chuyên môn của các nhà
trường. Làm sao để có một cơ chế mở tạo điều kiện để GV phát huy năng lực sáng
tạo của mình trong quá trình thiết kế bài dạy học, góp phần nâng cao chất lượng
dạy học chung.
4.2. Sử dụng hệ thống câu hỏi trong SGK:
4.2.1. Hệ thống câu hỏi trong SGK rất đa dạng. Có câu hỏi cụ thể, tường minh. Có
câu hỏi khái quát. Có câu hỏi khái quát trước rồi có câu hỏi chi tiết, cụ thể gợi ý
sau...
Ví dụ tiết 118-Ngữ văn 9:
16


+ Câu hỏi cụ thể, tường minh: Vấn đề nghị luận của văn bản là gì? Hãy đặt một
nhan đề thích hợp.
+ Có câu hỏi khái quát: ?Để khẳng định các luận điểm, người viết đã lập luận( dẫn
dắt , phân tích, chứng minh ) như thế nào ?
+ Có câu hỏi khái quát trước rồi có câu hỏi chi tiết, cụ thể gợi ý sau...Nhận xét về
những luận cứ được người viết đưa ra để làm sáng tỏ cho luận điểm ( Luận cứ
được lấy ở đâu, gồm những điều gì?)...
4.2.2. Hệ thống câu hỏi trong SGK phần lớn chỉ có tính định hướng, nêu ra những
vấn đề chủ yếu. Không thể sử dụng nguyên bản như vậy để hướng dẫn học sinh
hình thành nội dung bài học được. Vì vậy GV cần linh hoạt sử dụng như sau:
+ Chẻ nhỏ hệ thống câu hỏi cho phù hợp với nội dung phần nghi nhớ trong SGK
VD: Câu hỏi Nhận xét về những luận cứ được người viết đưa ra để làm sáng tỏ cho
luận điểm ( Luận cứ được lấy ở đâu, gồm những điều gì?)...ta có thể chẻ nhỏ thành:
? Mỗi luận điểm trên được triển khai và làm sáng tỏ bằng những luận cứ nào? Hãy
chỉ ra những luận cứ đó?
TL:
(Đ1:Trước tiên nhân vật…của mình(Lđ1)
- Hoàn cảnh sống
- Công việc
- Yêu công việc, quan niệm...
- Sắp xếp cs nề nếp ngăn nắp
Đ2:Nhưng anh thanh niên…chu đáo( Lđ2)
- Vui được đón khách, nhiệt tình, ân cần hồ hởi chu đáo( biếu tam thất)
- Say sưa kể chuyện công việc
- Hồ hởi đón mọi người, tặng hoa
Đ3:Công việc vất vả … khiêm tốn( Lđ3)
- Thấy đóng góp của mình là nhỏ bé so với người khác
- Từ chối vẽ chân dung, giới thiệu người khác)
? Các luận cứ dùng làm sáng tỏ luận điểm được lấy ở đâu?
TL: Luận cứ xác đáng sinh động là những hình ảnh, chi tiết tiêu biểu trong tác
phẩm
? Nhận xét hiệu quả từ cách lập luận như trên ?
TL: Làm cho lập luận chặt chẽ, thuyết phục.
- Sắp xếp hệ thống câu hỏi cho logic. Hệ thống câu hỏi nhiều khi cũng phải thiết kế
lại cho lô gic trong một mục hoặc cả toàn bài để đảm bảo tiến trình quy nạp rút ra
bài học
- Thêm câu hỏi: Như trên đã nói trong SGK có rất nhiều câu hỏi mang tính khái
quát. Nếu GV không biết thêm hệ thống câu hỏi dẫn dắt thì rất khó hướng dẫn học
sinh khai thác nội dung bài học. Vì vậy khi thiết kế bài giảng, nhất thiết GV phải
thêm các câu hỏi.
5. Luôn luôn gắn với thực tiễn
17


- Tập làm văn là môn học mang tính ứng dụng gắn với hoạt động giao tiếp. Mục
tiêu cuối cùng mà môn học hướng tới chính là hình thành kỹ năng tạo lập văn
bản(nói và viết). Muốn hình thành được kỹ năng này một cách nhuần nhuyễn cho
HS đòi hỏi GV phải trước hết cung cấp có hiệu quả kiến thức kỹ năng lý thuyết tập
làm cho các em, nhất là đối với học sinh lớp 6,7; học sinh vùng sâu, vùng xa thì
việc dạy lý thuyết tập làm cho HS phải dễ hiểu, gắn với thực tiễn thực hành kỹ
năng của học sinh. Làm đươc điều ấy, HS sẽ hiểu được lý thuyết nhanh, mô phỏng
đúng được lý thuyết, từ đó mới có cơ sở để sáng tạo. Vì vậy trong thiết kế bài dạy
học của mình, GV nhất thiết phải luôn luôn gắn với thực tiễn, đối tượng cụ thể của
mình.
- Khi thiết kế bài dạy học tập làm văn, trước hết GV cần xác định kiến thức, kỹ
năng cần truyền thụ cho học sinh. Sau đó liên hệ tới đối tượng của mình xem HS
còn yếu, thiếu chỗ nào về mặt kỹ năng. Từ đó tùy từng nội dung bài học mà thiết kế
giáo án cho đảm bảo gắn với thực tiễn. Nhất thiết phải luôn luôn liên hệ với thực
tiễn. Làm được điều này sẽ góp phần rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết và thực
hành.
Ví dụ- Tiết 118- Ngữ văn 9- Nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích.
GV có thể tiến hành như sau:
+ Xác định mục tiêu kiến thức, kỹ năng tiết học:
1. Kiến thức: HS nắm được:
- Đề văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích.
- Các bước làm văn bản nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích.
2. Kỹ năng:
- Xác định yêu cầu nội dung và hình thức của một bài nghị luận về tác phẩm truyện
hoặc đoạn trích.
- Tìm hiểu đề và tìm ý về bài nghị luận tác phẩm truyện hoặc đoạn trích.
+ Liên hệ với kỹ năng của đối tượng dạy học của mình:
- Rõ ràng là trong tiết học này HS phải rèn được kỹ năng Tìm hiểu đề (để phân biệt
với kiểu bài khác); kỹ năng tìm ý cho bài nghị luận ( Xác lập đặc điểm tiêu biểu
của nhân vật).
- Vậy GV sẽ đối chiếu xem việc vận dụng kỹ năng này HS của mình ở mức độ nào
(phân loại theo các mức độ tốt, khá, TB, yếu).
+ Tiến hành soạn bài gắn với thực tiễn dạy học:
* Dạy mục 1: Hình thành khái niệm: Gv đưa ra các đề bài:
1) Vẻ đẹp của nhân vật anh thanh niên trong “ Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành
Long
2) Nghệ thuật xây dựng tình huống trong truyện ngắn Làng của Kim Lân.
3.Chi tiết bé Thu ( Truyện Chiếc lược ngà- Nguyễn Quang Sáng) không nhận cha
Khi anh Sáu đi kháng chiến trở về thăm nhà) gợi cho em suy nghĩ gì.
4) Phân tích Chiếc lược Ngà để làm nổi bật chủ đề của tác phẩm.
18


Từ các đề bài này sau khi dẫn dắt học sinh đến khái niệm GV tiếp tục dẫn dắt để
HS biết đây nội dung của các đề trên chính là vấn đề nghị luận ta thường bàn trong
kiểu bài nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích.=>Liên hệ kỹ năng tìm
hiểu đề cho các em.
* Dạy mục 2: Khi yêu cầu học sinh xác định luận điểm, câu chứa luận điểm:
Câu 1: “Dù được… khó phai mờ” (
Câu 2: “ Trước tiên nhân vật…của mình”
Câu 3: “ Nhưng anh thanh niên… chu đáo”
Câu 4: “ Công việc vấn vả … khiêm tốn”
Câu 5: “ Cuộc sống của … thật đáng tin yêu”
Gv cần dẫn dắt để HS thấy được: Câu 1: Câu nêu vấn đề nghị luận-Tức là khái quát
đặc điểm tiêu biểu của nhân vật thường nêu ở mở bài. Câu 2,3,4: Câu nêu luận
điểm triển khai ( Làm rõ từng đặc điểm tiêu biểu của nhân vật đã nêu ở phần mở
bài). Câu 5: Câu cô đúc vấn đề nghị luận ( Tổng hợp, nhận xét, đánh giá chung)=>
Liên hệ kỹ năng tìm ý cho kiểu bài của các em, giúp các em dễ dàng vận dụng
khi làm bài....
Tương tự như vậy đối với các nội dung tiếp theo...Gv phải lưu ý thiết kế bài
trong mối liên hệ chặt chẽ với thực tiễn thực hành kỹ năng của học sinh.
IV. Kiểm nghiệm
Sau khi áp dụng giáo án tiết 118 – Ngữ văn 9 vào giảng dạy học sinh lớp
9A2- Trường THCS Lê Đình Chinh năn học 2015-2016 kết quả như sau:
Nắm nhanh
Nắm bố cục
Hiểu bài
Vận dụng
kiến thức
bài học
Lớp
SL
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
9A2
28
24
85,7
25
89,3
26
92,8
24
85,7
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Thiết kế bài dạy học Tập làm văn trong giảng dạy môn Ngữ văn ở trường
THCS có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng, đặc biệt là đối với việc hình thành và
rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản cho học sinh. Một thiết kế bài dạy học gắn bó
chặt chẽ với thực tiễn chắc chắn sẽ đem lại hiệu quả thiết thực cho tiết dạy, đồng
thời giúp học sinh vận dụng tốt kiến thức, kỹ năng đã lĩnh hội được vào tạo lập văn
bản. Thiết kế bài dạy học phân môn tập làm văn nói riêng, trong dạy học văn nói
chung là công việc đòi hỏi mang tính kỹ thuật, thủ thuật. Mỗi giáo viên có thể chọn
lựa cho mình một cách thiết kế riêng phù hợp với đối tượng học sinh của mình.
Nhưng điểm chung của giáo án tập làm văn phải là liên hệ với thực tiễn tối đa. Mỗi
thầy cô giáo cũng phải nhận thức được giá trị ý nghĩa công việc thiết kế bài học của
mình là khâu đầu tiên quan trọng để hướng học sinh đến đích cuối cùng. Bài dạy
học của giáo viên như vậy tự thân sẽ có giá trị, ấn tượng và sức sống lâu bền đối
với mỗi người học sinh.
19


2. Kiến nghị:
- Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo: Cần nghiên cứu kỹ khi biên soạn nội dung,
chương trình SGK. Nhất là đối với phân môn tập làm văn cần lựa chọn, bổ sung,
chỉnh lý phần ngữ liệu đảm bảo chuẩn, dễ hiểu để GV và HS có thể sử dụng hiệu
quả.
- Đối Với Sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo: Tăng cường công tác thanh kiểm tra
chuyên môn. Trong đó chú ý đến công tác soạn giảng của giáo viên. Tổ chức các kỳ
sinh hoạt chuyên đề thảo luận, tập huấn về công tác soạn giảng của GV, nhất là đối
với những phân môn khó như tập làm văn. Tổ chức các hình thức thi thiết kế bài
dạy học (như báo Văn học tuổi trẻ đã làm) định kỳ. Trong kỳ thi GVG các cấp nhất
thiết GV dự thi phải qua vòng thiết kế bài dạy học...Có hình thức khen thưởng đối
với những GV tâm huyết đã có những thiết kế bài giảng hay, có hiệu quả trong
công tác giảng dạy...
- Đối với Tổ Chuyên môn và Nhà trường THCS: Đưa công việc thiết ké bài dạy
học vào nội dung sinh hoạt chuyên môn thường kỳ. Chú ý thảo luận bàn bạc các
tiết dạy khó trong chương trình tập làm văn để có hướng thống nhất thiết kế giáo án
phù hợp, hiệu quả. Tăng cường công tác kiểm tra việc soạn giảng của GV trong đó
chú trọng đến chất lượng bài soạn.
- Đối với Giáo viên: Cần nhận thức rõ tầm quan trọng của việc thiết kế bài dạy học
gắn với thực tiễn. Có đầu tư thích hợp cho việc soạn bài của mình. Khi thiết kế bài
dạy học luôn luôn cố gắng gắn với thực tiễn tối đa. Tích cực tự trau dồi trình độ
chuyên môn nghiệp vụ bằng nhiều hình thức để có thể chủ động, sáng tạo trong
công tác soạn giảng. Mạnh dạn, khám phá đối với những tiết dạy tập làm văn khó,
thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp để có những hướng giải quyết thống nhất.
Trên đây là một số kinh nghiệm đúc rút từ thực tế giảng dạy của bản
thân nhằm nâng cao hiệu quả dạy bộ môn Ngữ Văn nói chung, rèn kỹ năng làm tạo
lập văn bản cho HS nói riêng thông qua hoạt động thiết kế bài của GV. Đây chỉ là
những kinh nghiệm mang tính chủ quan của bản thân đã được đúc rút và kiểm
nghiệm qua thực tiễn dạy học, tuy nhiên cũng còn một chiều. Vì vậy, rất mong
được sự góp ý chân thành của đồng nghiệp và độc giả để đề tài được hoàn thiện
hơn, mang tính khả thi cao hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Ngọc Lặc, ngày 02 tháng 3 năm 2017
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
ĐƠN VỊ
nghiệm của mình viết, không sao chép
HIỆU TRƯỞNG
nội dung của người khác
NGƯỜI VIẾT

Lê Văn Nguyện

Tô Thị Hiền
20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ngữ văn 7 – Tập 2- NXB Giáo dục Việt Nam - 2003
2. Sách Giáo viên Ngữ Văn 7 – Tập 2- Nguyễn Khắc Phi Tổng chủ biên –
NXB Giáo dục – 2003
3. Ngữ văn 9 – Tập 2- NXB Giáo dục Việt Nam - 2003
4. Sách Giáo viên Ngữ Văn 9 – Tập 2- Nguyễn Khắc Phi Tổng chủ biên –
NXB Giáo dục – 2003.
5. Thiết kế bài Giảng ngữ Văn 7 – Nguyễn Văn Đường chủ biên- NXB Hà Nội
– 2002.
6. Thiết kế bài dạy học Ngữ văn 9 tập 1,2- Tác giả Dương Thị Thanh Huyền,
Lê Xuân Soan- NXB Thanh niên 2005
7. Nâng cao Ngữ văn THCS – Tạ Đức Hiền chủ biên- NXB Hà Nội 2004.
8. Phương pháp dạy học Tiếng Việt-Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh
Toán- NXB Giáo dục, Hà Nội – 2001
9. Phương pháp dạy học văn- Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh
Hùng, Trần Thế Phiệt- NXB ĐHQG, Hà Nội – 2005
10. Hướng dẫn tập Làm văn 8, 9- Vũ Nho chủ biên-NXB Giáo dục – 2003

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×