Tải bản đầy đủ

Phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh trong môn toán 6 mô hình trường học mới ở trường THCS cẩm quý

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
a

PHÒNG GD&ĐT CẨM THỦY

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

PHÁT HUY TÍNH CHỦ ĐỘNG, TÍCH CỰC, SÁNG TẠO
CỦA HỌC SINH TRONG MÔN TOÁN 6 – MÔ HÌNH
TRƯỜNG HỌC MỚI Ở TRƯỜNG THCS CẨM QUÝ

Người thực hiện: NguyễnTiến Thuận
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Cẩm Quý
SKKN thuộc môn: Toán

THANH HÓA NĂM 2017


MỤC LỤC
TT


Nội dung

Trang

1

I. MỞ ĐẦU

2

2

1. Lí do chọn đề tài

2

3

2. Mục đích nghiên cứu

3

4

3. Đối tượng nghiên cứu

3

5

4. Phương pháp nghiên cứu

3

6

II. NỘI DUNG

4


7

1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm

4

8

2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

4

9

3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

6

10 4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

19

11

19

III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

12 1. Kết luận

19

13 2. Kiến nghị

20

14 Tài liệu tham khảo

22

2


I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trường THCS Cẩm Quý là đơn vị đóng trên xã miền núi, điều kiện kinh
tế, xã hội còn gặp rất nhiều khó khăn. Là một trong 5 trường THCS của huyện
Cẩm Thủy thực hiện mô hình Trường học mới theo bộ sách thử nghiệm của Bộ
GD&ĐT, đến nay đã gần 2 năm học (năm học 2015-2016 và năm học 20162017). Toàn thể cán bộ, giáo viên và học sinh nhà trường với niềm vinh dự tự
hào và ý trí quyết tâm cao, cố gắng thực hiện có hiệu quả cao nhất mô hình mới
này.
Là giáo viên dạy Toán, tôi nhận thức sâu sắc vị trí trách nhiệm trong việc
giáo dục, rèn luyện tạo ra sản phẩm là năng lực, phẩm chất toàn diện của con
người trong thời đại mới. Bởi vì mô hình Trường học mới nhằm xây dựng và
nhân rộng mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại, phù hợp với mục tiêu phát
triển và đặc điểm giáo dục của Việt nam.
Mô hình vừa thể hiện tính kế thừa những tinh hoa, những mặt tích cực
của trường học truyền thống, vừa có sự đổi mới căn bản về mục tiêu đào tạo, nội
dung chương trình, tài liệu học tập, phương pháp dạy và học, cách đánh giá, tổ
chức và quản lý lớp học…
Bản thân luôn tin tưởng và cố gắng thực hiện những mục tiêu của mô hình
Trường học mới bằng cách không ngừng học hỏi trao đổi, giao lưu với đồng chí,
đồng nghiệp; cập nhật, tiếp thu những công văn, chỉ thị, hướng dẫn thực hiện
chương trình Trường học mới của các cấp lãnh đạo; cố gắng kết hợp, phát huy
sức mạnh, tiềm năng của nhà trường, địa phương và gia đình phụ huynh học
sinh, khắc phục những khó khăn cản trở nội tại.
Tôi thấy rằng thực hiện dạy học theo mô hình Trường học mới sẽ đổi mới
mạnh mẽ phương pháp giáo dục - dạy học theo hướng hiện đại; phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập,
kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập của người học. Học sinh tự tìm tòi
kiến thức, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức, bồi dưỡng phẩm chất, năng lực
thông qua các hoạt động học tập dưới sự chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn của người
thầy; học sinh được trình bày và bảo vệ ý kiến của mình, được lắng nghe, trao
đổi và phản biện ý kiến của bạn, nhất là khi tham gia các hoạt động nhóm, hoạt
động xã hội, trải nghiệm sáng tạo; khắc phục lối truyền đạt áp đặt một chiều, ghi
nhớ máy móc. Trường học mới mở ra cơ hội tăng cường gắn kết giữa nhà trường
với các đoàn thể, giáo viên với phụ huynh học sinh… Phụ huynh được trực tiếp
tham gia giáo dục con em mình thông qua việc thực hành kĩ năng của các em
như: Hoạt động vận dụng, tìm tòi, mở rộng.
Việc thực hiện mô hình Trường học mới đối với môn Toán 6 ở trường
THCS nói chung và đối với trường THCS Cẩm Quý nói riêng nhằm đạt được
mục tiêu giáo dục, phát huy ưu điểm của mô hình mới này như thế nào?
3


Với thời gian 19 năm công tác tại xã vùng cao, vùng kinh tế khó khăn
cùng với 2 năm thực hiện chương trình Trường học mới, tôi đã có một vài kinh
nghiệm và đúc rút thành đề tài nghiên cứu để áp dụng cho bản thân, đó là: “
Phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh trong môn Toán 6Mô hình Trường học mới ở trường THCS Cẩm Quý”
Tôi xin mạnh dạn trình bày để cùng trao đổi với các thầy giáo, cô giáo,
các đồng chí đồng nghiệp đang giảng dạy mô hình Trường học mới tại các
trường trung học cơ sở nói chung và đang dạy môn Toán học nói riêng, chắc
chắn kinh nghiệm của tôi sẽ còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý
chia sẻ để tôi được hoàn thiện nâng cao chuyên môn hơn nữa.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Qua quá trình nghiên cứu, thực nghiệm để chọn ra cách thức tổ chức,
biện pháp đem lại hiệu quả học tập tốt nhất cho học sinh trên cơ sở bám sát mục
tiêu giáo dục của mô hình Trường học mới mà trước hết là thực hiện tốt mục tiêu
từng bài học, hình thành ở người học những năng lực, phẩm chất rõ ràng. Học
sinh có khả năng vận dụng được kiến thức đã học vào thực tế.
- Tìm ra cách thức linh hoạt, phong phú sáng tạo trong tổ chức hoạt động
học môn Toán cho học sinh như: Cách thức theo dõi, quan sát, phát hiện kịp thời
những khó khăn của học sinh. Tìm ra các biện pháp hỗ trợ và khuyến khích học
sinh hợp tác, giúp đỡ nhau khi thực hiện nhiệm vụ học tập , khắc phục những khó
khăn trở ngại về cơ sở vật chất, xuất phát điểm về nhận thức, trình độ dân trí
vùng cao… nhưng vẫn phù hợp mô hình Trường học mới và đảm bảo chất
lượng, mục tiêu giáo dục.
- Vận dụng linh hoạt giữa chuyên môn, nghiệp vụ và nghệ thuật sư phạm
của người thầy để phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh. Tạo
sự sinh động, hấp dẫn cho học sinh thông qua phương pháp và hình thức chuyển
giao nhiệm vụ học tập.
- Quan tâm đến việc sử dụng kiến thức để giải quyết các tình huống cụ
thể, tích hợp triệt để kiến thức môn toán với các kiến thức môn học khác, giúp
học sinh hòa nhập vào thực tiễn cuộc sống.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu về cách thức vận dụng tổ chức lớp học trong dạy học môn
toán lớp 6 - mô hình Trường học mới đối với lớp 6A, 6B, 6C, nghiên cứu những
yếu tố tâm lý tác động đến ý thức học tập của học sinh nhằm phát huy có hiệu
quả nhất tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong những điều kiện
khó khăn ở trường THCS Cẩm Qúy nói riêng và ở các trường THCS hiện nay
nói chung, từ đó rút ra kinh nghiệm để áp dụng vào công tác giảng dạy của bản
thân.
4. Phương pháp nghiên cứu:

4


- Nghiêm túc tiếp thu các chuyên đề, các công văn, thông tư hướng dẫn
thực hiện mô hình Trường học mới, các hướng dẫn chỉ đạo thực hiện của Sở
Giáo dục& Đào tạo, Phòng Giáo dục & Đào tạo.
- Để phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh yêu cầu giáo
viên phải nghiên cứu tìm hiểu và vận dụng nhuần nhuyễn các phương pháp dạy
học khi xây dựng Kế hoạch bài học đó là: Phương pháp dạy học gợi mở - vấn
đáp, phương pháp dạy học và giải quyết vấn đề, phương pháp dạy học hợp tác
trong nhóm nhỏ, phương pháp dạy học trực quan, phương pháp dạy học luyện
tập và thực hành, phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy.
-Nghiên cứu tài liệu trên mạng Intenet và vận dụng các phương pháp
nghiên cứu như quan sát sư phạm, phỏng vấn, điều tra giáo dục bằng bảng hỏi
khi dạy học sinh. Sau đó sử dụng thống kê để phân tích sử lý số liệu thu được và
tổng kết, rút kinh nghiệm.
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Trong hoạt động dạy và học, tính chủ động tích cực, sáng tạo của học sinh
là yếu tố then chốt quyết định kết quả dạy và học, trong dạy học môn Toán lớp
6- mô hình Trường học mới, yếu tố này lại càng trở nên đặc biệt quan trọng bởi
vì môn Toán là một trong các môn chiếm thời lượng lớn nhất trong chương trình
học, là chìa khóa mở ra kiến thức về Khoa học Tự nhiên, có thể sử dụng kiến
thức toán học như công cụ để nghiên cứu, học tập các môn học khác, góp phần
quan trọng trong việc hình thành và phát triển các nhóm năng lực và phẩm chất
cho học sinh.
Môn Toán thường được coi là khó và “ khô khan”; đối với học sinh vùng
cao, việc học toán đáp ứng yêu cầu về chuẩn kiến thức – kỹ năng lại càng trở
nên khó khăn hơn, chính vì thế người giáo viên dạy toán phải nỗ lực hết sức
mình để tìm ra những giải pháp hiệu quả cho từng kiểu bài lên lớp, từng chương,
phối kết hợp các phương pháp dạy học với nghệ thuật sư phạm, tích hợp liên
môn, vận dụng, áp dụng thực tế trong những tình huống vui, thông minh, trí tuệ
để tiết học không còn gò ép, phát huy tính chủ động tích cực, sáng tạo của các
em, người thầy khi xây dựng kế bài học phải có xu hướng biến mỗi giờ học toán
thành câu chuyện thú vị và trí tuệ.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Cẩm Quý là một xã miền núi của huyện Cẩm Thủy, có tới 95% học sinh là
con em dân tộc Mường, sinh sống bằng nông nghiệp là chủ yếu, xuất phát điểm
về nhận thức, trình độ dân trí còn thấp, sự đọc thông thạo hướng tới đọc hiểu
văn bản của một bộ phận học sinh còn gặp khó khăn.
Qua tìm hiểu thực tế, việc học đối với một bộ phận học sinh là khó và
ngày càng khó. Do các em chỉ quen thụ động tiếp thu những kiến thức có trong
sách giáo khoa. Dẫn đến các em chán học, lười học, chất lượng học không cao.
5


Đặc biệt là đối với môn Toán, với các con số khô khan, cứng nhắc, học sinh lại
càng khó học, học sinh chưa nhận thức được tầm quan trọng của môn Toán nên
chưa có ý thức cao trong học tập.
Hơn nữa do mới tiếp cận với mô hình Trường học mới nên cả giáo viên
và học sinh còn bỡ ngỡ, chưa có phương pháp dạy- học tối ưu, giáo viên sử dụng
phương pháp giảng dạy đôi khi chưa phù hợp với đối tượng học sinh và kiểu bài
lên lớp,việc xử lí tình huống sư phạm chưa uyển chuyển nhịp nhàng có lúc còn
lúng túng. Việc truyền thụ kiến thức còn đơn điệu, tẻ nhạt, mang tính áp đặt,
chưa phát huy được sự sáng tạo của học sinh.
Năm học 2015 - 2016 và 2016 - 2017, trường THCS Cẩm Quý thực hiện
mô hình Trường học mới trên cơ sở tiếp tục chương trình trường học VNEN của
cấp Tiểu học, chương trình đã mở ra quan điểm giáo dục giúp đào tạo những
người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề phức tạp của
cuộc sống hiện đại.
Vì vậy trong nhà trường việc giáo dục các em có tính chủ động, tích cực
và sáng tạo là yêu cầu quan trọng hàng đầu. Phải đưa ra được những biện pháp
cụ thể giúp học sinh tích cực chủ động, trở thành chủ thể của hoạt động học tập.
Các em hào hứng, hăng say nắm bài một cách hiệu quả, giờ học trở nên sinh
động, hấp dẫn. Rèn luyện được các kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng vận dụng kiến
thức trong học tập vào trong thực tiễn, nâng cao khả năng tổng hợp phân tích
đánh giá và giải quyết vấn đề cho học sinh. Đồng thời, hình thành thái độ rõ
ràng, t ích cực trong học tập. Từ đó học sinh có thói quen tự học, tự rèn luyện.
Các em biết xây dựng mối quan hệ bạn bè thân thiện, sống có trách nhiệm với
bản thân, gia đình và cộng đồng.
Đầu năm học 2015- 2016, là năm đầu thực hiện mô hình Trường học mới,
Tôi được phân công nhiệm vụ dạy môn Toán lớp 6C, khi dạy tiết Số học đầu tiên
-Bài “Tập hợp. Phần tử của tập hợp”. Tôi đã chuẩn bị tâm thế khảo sát hiệu quả
các hoạt động học tập của học sinh khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Qua chụp ảnh, quan sát, thống kê tôi thu được kết quả như sau:
Lớp 6C- Sĩ số: 30 học sinh
Tham gia chủ động
tích cực, có hiệu quả

Có tham gia nhưng
hiệu quả chưa rõ
ràng, thao tác chậm.

Chưa chú ý, còn lơ
đãng, chưa chủ động
tham gia.

Hoạt động nhóm

10 em

13 em

7 em

Hoạt động cặp đôi

06 em

18 em

06 em

Hoạt động cá nhân

08 em

16 em

06 em

Hoạt động cả lớp

10 em

16 em

04 em

Mức độ hoạt động
Các hoạt động

6


Do hiệu quả hoạt động học tập của học sinh còn thấp nên tôi đã nhanh
chóng quyết định áp dụng sáng kiến kinh nghiệm của mình và thu được những
kết quả tích cực, quan trọng. Tôi đã cố gắng hoàn thiện kinh nghiệm cho bản
thân và năm học 2016-2017 tôi đã áp dụng triệt để với 3 lớp 6A,6B,6C.
3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
3.1. Khắc phục khó khăn nội tại, tạo dựng không gian học tập, môi
trường học tập thuận lợi cho các hoạt động học tập của học sinh, phát huy
tính chủ động tích cực đạt hiệu quả cao nhất:

Do lớp học quá đông, phòng học hẹp, bàn ghế quá dài khó tổ chức nhóm
lớn trong lớp, tôi cũng thấy rằng không nên chia nhóm 2 bàn quay lại nhau vì
một nửa lớp sẽ ngồi sấp bảng.
Với môn Toán, ngoài “kênh nghe” thì “kênh nhìn” là vô cùng quan trọng,
tác động trực tiếp đến tư duy hình thành kiến thức của các em, bảng đen là nơi
để các em trình bày thành quả hoạt động của nhóm,hoạt động cả lớp, kết quả
hoạt động cá nhân, kể cả những hướng dẫn gợi của thầy cô giáo, tất cả mọi hoạt
động chỉ trong 45 phút.
Tôi đã tham mưu, phối kết hợp với các thầy giáo, cô giáo chủ nhiệm chia
nhóm như sau:

7


Chia nhóm theo bàn và cách đặt tên cho nhóm

Cửa vào ⇒

Bàn Giáo viên

Nhóm B1



Nhóm A1

Nhóm B2



Nhóm A2

Nhóm B3



Nhóm A3

Nhóm B4



Nhóm A4

Nhóm B5



Nhóm A5

`
- Khi xếp nhóm theo bàn, phải bố trí nhóm trưởng là học sinh khá, giỏi,
nhanh nhẹn, năng động, nhiệt tình, tổ chức nhóm tốt và ngồi ở giữa, phân định
nhiệm vụ của từng thành viên, mỗi em thấy được vai trò quan trọng không thể
thiếu của mình trong nhóm.
- Phương án chia nhóm kiểu này mang lại nhiều tiện ích như:
+ Tổ chức hoạt động nhóm và kết thúc hoạt động nhóm nhanh chóng vì
không phải hoạt động học tập nào trong tiết học cùng cần thảo luận nhóm.
+Nhóm trưởng quản lý điều hành nhóm sâu sát hơn do ngồi gần nhau và
nhóm ít người, học sinh dễ lôi cuốn tham gia hoạt động học tập hơn,
+ Khắc phục được không gian phòng học hẹp. Giáo viên dễ di chuyển,
quan sát, động viên giúp đỡ các nhóm; học sinh dễ di chuyển giữa các nhóm để
động viên giúp đỡ nhau.
- Đặc biệt, phần lớn thời gian học sinh được hướng lên thầy cô giáo
hướng lên bảng, là trung tâm của sự nghe nhìn quan sát, không bị sai lệch cột
sống, đảm bảo sự phát triển thể chất bình thường.

8


- Khi hoạt động nhóm, tùy theo câu lệnh của thầy, cô giáo; hai nhóm
ngang hàng sẽ cử đại diện sang hỗ trợ giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ. Khi
nhiệm vụ đã có đáp án rõ ràng, hai nhóm sẽ đổi chéo kết quả để chấm điểm cho
nhau. Giao cho các học sinh trong nhóm kiểm tra việc học bài và làm bài tập của
nhau, đánh giá bằng điểm, chịu trách nhiệm về sự đánh giá của mình, báo cáo
kết quả về Chủ tịch hội đồng quả trị.
- Khuyến khích đại diện các nhóm và cá nhân thi đua lên bảng trình bày
kết quả, tập trình bày cho các nhóm khác theo dõi để nhận xét đánh giá:

3.2. Nhanh chóng xây dựng mối liên hệ thân thiện với học sinh:
- Nếu chủ quan thiếu lưu tâm, người thầy sau một thời gian dạy học (có
thể cả học kì) chỉ nhớ tên của một số học sinh khá giỏi và một số học sinh yếu
kém cá biệt. Phần lớn số học sinh còn lại là trung bình thì khó nhớ tên, khi gọi
9


tên mà không dùng sổ thì thường chỉ tay và gọi “em nam mặc áo xanh”, “ em nữ
mặc áo đỏ”…. Đây là điều rất không nên trong công tác giáo dục, kiểm tra đánh
giá học sinh.
- Nhận thức rõ vấn đề này, ngay sau khi nhận phân công chuyên môn, tôi
đã phối kết hợp với thầy cô giáo chủ nhiệm lập ngay sơ đồ vị trí học sinh trong
lớp học trên cơ sở nguyện vọng lựa chọn của các em, nhưng phải là lựa chọn
tích cực cho học tập. Ngoài sơ đồ có sẵn trên lớp, tôi đã sao chép sơ đồ này cho
riêng mình vào cuối danh sách sổ điểm bộ môn và luôn cập nhật, thực hiện
nguyên tắc tôn trọng đối tượng giao tiếp, cố gắng nhớ tên học sinh theo vị trí.
Chỉ sau 1 tuần học ( 4 tiết toán) đã thuộc tên học sinh cả 3 lớp.

Làm được điều này, việc quản lí, điều hành lớp vô cùng thuận lợi, khi hỏi
phát vấn học sinh thì gọi đúng tên trực tiếp, tiết kiệm được thời gian và rất thân
thiện. Học sinh cảm thấy mình được thầy giáo nhớ tên, có nghĩa là rất quan tâm
gần gũi chăm sóc tới mình, từ đó ý thức học tập sẽ nâng cao.
3.3. Kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học và nghệ thuật sư
phạm :
- Trong dạy học, tôi luôn tạo ra không khí học tập thoải mái môi trường
thân thiện, các hoạt động học tập của các em luôn có sự hợp tác giúp đỡ của thầy
giáo và các bạn trong lớp, dành nhiều hình thức khen thưởng, ghi nhận cho sự cố
gắng của các nhóm và cá nhân dù là rất nhỏ, hạn chế lời chê mà chỉ nhắc nhở
các em cần rút kinh nghiệm và cố gắng hơn… khuyến khích nhóm và cá nhân
học sinh sửa lỗi ngay lập tức để có lời khen, động viên càng sớm càng tốt.
`
- Khi lên lớp luôn tạo cho mình một phong thái nhanh nhẹn, tác phong
chuẩn mực, là tấm gương trong các em, học sinh quý mến thầy cô hào hứng đón
nhận tiết học như trông chờ một câu chuyện hay, dẫn đến ngày càng yêu quý
môn học. Để thực hiện được điều này, bản thân đã lập kế hoạch bài học một
cách chi tiết, kĩ lưỡng các tiết dạy. Nội dung ghi nhớ phải ngắn gọn xúc tích, lời
nói của người thầy phải rõ ràng, khi chốt một kiến thức quan trọng phải có nhấn
mạnh, khắc sâu cả về âm điệu và ngôn ngữ hình thể.

10


- Đặc biệt rèn luyện khả năng, tốc độ của của bản thân trong việc tổng
hợp, phân tích, đánh giá kết quả hoạt động và quá trình thảo luận của học sinh.
Việc tổng hợp phân tích đánh giá các nhóm phải rõ ràng, công bằng, không được
đánh giá giữa chừng, qua loa, để việc đánh giá học sinh chính xác, đạt hiệu quả
cao nhất và phát huy tính chủ động, nhanh gọn không làm mất nhiều quỹ thời
gian, tôi thường đưa đáp án lên bảng, yêu cầu các nhóm, các cặp đôi kiểm tra
chéo nhiệm vụ của nhau, tin tưởng, tôn trọng kết quả đánh giá, tôi đã lấy nhanh
kết quả báo cáo của học sinh vào sổ ghi chép. Bất cứ nhóm nào, cá nhân học
sinh nào cũng có ưu điểm, do đó nên khen trước, rút kinh nghiệm sau, vì khi
được khen học sinh sẽ vui vẻ dễ tiếp thu rút kinh nghiệm hơn.
3.4. Cách phát huy tính chủ động tích cực trong giờ học Toán:
Các hoạt động học tập môn Toán của học sinh gồm:
Hoạt động cá nhân; hoạt động nhóm; hoạt động cặp đôi; hoạt động chung cả lớp
và hoạt động với cộng đồng.
Tùy theo tính chất mức độ của mục kiến thức, các hoạt động trên sẽ áp
dụng để thực hiện các hoạt động của tiến trình bài học, đó là:
Hoạt động khởi động; hoạt động hình thành kiến thức. hoạt động vận dụng; hoạt
động tìm tòi- mở rộng.
Tôi đã nhận thấy tầm quan trọng và bản chất của từng hoạt động, do đó
khi lập Kế hoạch bài học tôi đặc biệt quan tâm đến nội dung từng mục để quyết
định chọn các làm việc, hoạt động của học sinh nhằm phát huy hiệu quả hơn tính
chủ động tích cực của các em trên cơ sở của sách thử nghiệm. Tôi đã thực hiện
như sau:
- Hoạt động cá nhân:
Trong hoạt động này tôi muốn rèn luyện khả năng tiếp nhận và sẵn sàng
thực hiện nhiệm vụ học tập của tất cả học sinh trong lớp. Yêu cầu học sinh thực
hiện nhiệm vụ độc lập, là hoạt động phổ biến nhằm phát huy sự khám phá, sáng
tạo và rèn luyện đặc thù của học sinh.Trước khi tham gia phối hợp hoạt động
nhóm với bạn học, tôi thường dành cho cá nhân học sinh một khoảng thời gian
nhất định để tự lĩnh hội kiến thức, đọc văn bản mục tiêu bài học để thu thập
thông tin, giảỉ bài toán để tìm kết quả.
Khi giao bài tập cho hoạt động cá nhân tôi thường cho các em làm vào
quyển nháp, trên trang nháp học sinh ghi tên của mình, lấy 10 - 15 kết quả
nhanh nhất nộp về bàn giáo viên, sau đó tôi đưa ra đáp án trên bảng để cùng
chấm điểm, việc đánh giá cho điểm này chỉ ghi vào sổ tay nhật kí nhưng nó là
căn cứ cho sự đánh giá chính xác từng học sinh đồng thời là “ thần dược- thuốc
tiên” phát huy cao độ tính chủ động tích cực sáng tạo của học sinh.
Ví dụ: Khi dạy tiết ôn tập chương II: Số nguyên. Tôi đã cho học sinh hoạt
động cá nhân làm bài tập sau:
11


PHIẾU HỌC TẬP
Họ tên học sinh:…………………………………………………………………..
Hoàn thành bảng sau bằng cách điền số thích hợp vào ô trống:
a

-3

b

-4

-7
-2

a+b

-6
-4

a-b

7

ab

-12

Tiến hành kiểm tra đối chứng hoạt động cá nhân của hai lớp 6A và 6C.
Tôi đã cố ý thực hiện như sau:
- Lớp 6A tôi đưa câu hỏi lên màn hình máy chiếu, yêu cầu học sinh thực
hiện trên phiếu học tập.Quy định thời gian thực hiện tối đa là 6 phút, sẽ lấy 15
kết quả nhanh nhất để chấm điểm.
- Lớp 6C tôi đưa câu hỏi lên màn hình máy chiếu, yêu cầu học sinh thực
hiện trên phiếu học tập (không quy định thời gian thực hiện, không nói lấy 15
kết quả nhanh nhất để chấm điểm)
Sau 6 phút, dừng hoạt động cá nhân. Với lớp 6A, ngoài học sinh làm song
đã nộp phiếu học tập, tôi thu tất các phiếu còn lại. Lớp 6B sau 6 phút đột ngột
tôi cũng thu toàn bộ kết quả của học sinh. Sau đó công bố đáp án trên máy
chiếu:
a

-3

5

-7

4

b

-4

-2

3

-6

a+b

-7

3

-4

-2

a-b

1

7

-10

10

ab

12

-10

-21

-12

Công bố thang chấm điểm cho học sinh:
Đúng cả 12 câu

10 điểm

Đúng 10-11 câu

9 điểm

Đúng 8-9 câu

8 điểm
12


Đúng 6-7 câu

7 điểm

Đúng 6 câu

6 điểm

Đúng dưới 6 câu

Chưa đạt-Cần rèn luyện cố gắng nhiều

Kết quả thu được như sau:
Lớp


số

Điểm10

Điểm 9

Điểm8

Điểm7

Điểm 6

6A

34

2(5.9%)

6(17.6%)

6(17.6%)

10(29.4%)

6(17.6%)

4(2.9%)

6C

30

0

0

2(6.7%)

7(23.3%)

13(43.3%)

8(26.7%)

Chưa đạt

Như vậy với hai lớp có lực học tương đương nhau, cùng khảo sát một bài
tập giống nhau nhưng với hai cách thức tổ chức phát động học tập khác nhau
của người thầy thì kết quả hoạt động khác nhau rõ ràng. Lớp 6A được thông báo
trước là sẽ đánh giá chấm điểm, thi đua về thời gian nên học sinh tích cực phát
huy tính chủ động và cố gắng hết khả năng của mình. Ngược lại lớp 6C không
nói chấm điểm, không quy định thời gian làm bài nên các em chưa tích cực chủ
động, chưa tập chung cao độ làm bài nên làm không kịp trong 6 phút.
- Hoạt động cặp đôi:
Tuỳ theo hoạt động học tập, thầy giáo sẽ cho các em hoạt động cặp đôi
theo nhóm, tôi thường áp dụng đối với các nhiệm vụ như: Kiểm tra dữ liệu, giải
thích, chia sẻ thông tin, thực hành kĩ năng giao tiếp cơ bản như nghe, đặt câu hỏi
cho nhau, ôn lại kiến thức cũ (có thể là kiến thức tích luỹ thời gian đã lâu) cho
các em hồi tưởng, kiểm tra lẫn nhau để bổ xung cho nhau. Nếu là nhóm bàn 4
học sinh thì chia 2 cặp, nếu bàn 3 học sinh thì “cặp 3”, thầy giáo có thể cặp đôi
với học sinh trong những tình huống cố định trong một thời gian nhất định,
không được “bỏ rơi” học sinh. Làm việc theo cặp sẽ giúp học sinh tự tin khi tập
chung vào công việc của nhóm, đây là hoạt động nền tảng cho sự chia sẻ và hợp
tác trong nhóm lớn hơn.
- Hoạt động nhóm:
Theo tôi đây là hình thức phát huy rất tốt khả năng sáng tạo của học sinh,
thường phù hợp với các câu hỏi có nội dung thu thập ý kiến, hợp tác, sáng tạo,
học sinh phải biết mình phải làm gì và làm như thế nào khi tham gia hoạt động
nhóm. Khi giao nhiệm vụ học tập cho nhóm phải đảm bảo cho học sinh hiểu rõ
mục đích, nội dung, cách thức làm việc.
Tôi thấy trong hoạt động này, thường những học sinh khá giỏi tư duy
nhanh là nhóm trưởng cố gắng giải quyết nhanh nhiệm để thi đua với các nhóm
13


khác mà ít chia sẻ với các bạn cùng nhóm còn các học sinh yếu thì chưa tích cực
tham gia hoặc không được bạn chia sẻ. Khắc phục điều này tôi đã thực hiện các
hình thức thi đua giữa các nhóm như:
+Nhóm nào nhanh hơn?(trong giới hạn thời gian cho phép) nhưng sẽ gọi
đại diện trong nhóm là bất cứ thành viên nào hoặc chỉ định trước tên học sinh sẽ
đại diện nhóm báo cáo.
+ Giao cho nhóm trưởng phân nhiệm vụ giúp đỡ các thành viên sao cho
khi hoàn thành nhiệm vụ thì kết quả thực sự là của cả nhóm.
+Thành viên nào không tham gia hoạt động thì không được ghi nhận khi
xét thành quả của nhóm, nhóm trưởng phải có sự nhắc động viên các thành viên
cùng hợp tác thực hiện nhiệm vụ.
Trong thời gian học sinh hoạt động nhóm, tôi đã quan sát nhắc nhở đôn đốc giúp
đỡ các nhóm thực hiện, cố gắng không bỏ rơi học sinh, bỏ rơi nhóm.
Thông qua quan sát hoạt động nhóm để đánh giá năng lực của từng học
sinh. Thầy giáo không ngồi một chỗ đợi kết quả mà phải với các em, động viên,
giám sát, giúp đỡ kịp thời để các em hoàn thành nhiệm vụ.
Người thầy phải biết kiên trì bình tĩnh xử lí những kết quả đạt được của
nhóm học sinh, không nên kì vọng vào một đáp án chuẩn xác của tất cả các
nhóm. Đối với những nhóm xuất sắc có thể giao thêm nhiệm vụ để xứng tầm với
năng lực của các em.
Các nhóm chấm điểm đánh giá, nhận xét chéo nhau sau khi đã có đáp án
rõ ràng.
- Hoạt động chung cả lớp:
Tôi thường sử dụng trong các tình huống như nghe hướng dẫn chung,
nhắc nhở rút kinh nghiệm, học sinh luyện tập trình bày miệng trước tập thể
lớp…
Với văn bản dài, tôi thường gọi những em đọc tốt, to, rõ ràng cho cả lớp
nghe hiểu, đồng thời cũng dành một lượng thời gian quan tâm đến những học
sinh còn khó khăn trong việc đọc, viết, hiểu văn bản.
Đối với những bài toán lớn cần nhiều sự trợ giúp của thầy giáo thì cả lớp
ta nên xem là một nhóm, người thầy là nhóm trưởng định hướng gợi ý các công
việc cho học sinh, đồng thời là thư ký tổng hợp các kết quả xây dựng của các
thành viên.

14


Hoạt động chung cả lớp phát huy cả năng lực hoạt động nhóm và năng lực
hoạt động cá nhân của mỗi học sinh.
- Hoạt động với cộng đồng:
Đây là hoạt động có nhiều rất nhiều điều kiện thời gian, đối tượng giao
tiếp và thực tế cuộc sống đa dạng phong phú của các em, lực lượng giáo dục là
vô cùng to lớn. Tôi luôn khuyến khích, định hướng cho các em học tập, hiểu và
vận dụng Toán học trong cuộc sống. Giao lưu học hỏi từ bạn bè, người thân,
cộng đồng. Tôi thường giao các nhiệm vụ ở phần “Tìm tòi- mở rộng” trong bài
học cho các em về nhà thực hiện. Các câu hỏi thu thập dữ liệu, câu hỏi thực
hành dạng câu hỏi mở có nhiều đáp án cũng thường giao về nhà để thực hiện.
Ví dụ 1: Sau bài “Thực hành trồng cây thẳng hàng-Đo độ dài”
+ Hãy cùng người thân đo chiều dài, chiều rộng của nhà em, sân nhà em?
(4 kết quả)
+ Có 10 cây hoa muốn trồng trong bồn hoa hình tròn, em và người thân
hãy tìm cách trồng thành 5 hàng, mỗi hàng 4 cây?
Ví dụ 2: Sau bài “ Luyện tập về Bội chung nhỏ nhất”
+ Các em lớp 6 sinh năm 2005 là nău Ất Dậu. Năm 2065 sẽ là năm Ất
Dậu. Tại sao? Hãy tìm hiểu lịch Can Chi thông qua người thân và trên mạng
Internet để giải thích?

15


- Người thầy phải nhớ nhiêm vụ đã giao cho học sinh, ngay tiết hôm sau
sẽ kiểm tra việc học tập, tìm tòi thực hiện nhiệm vụ ở nhà của học sinh chứ
không được sợ mất thòi gian mà bỏ qua, đây cũng là cách để tạo dựng uy tín,
trách nhiệm và phong cách của bản thân với học sinh. Việc kiểm tra có thể giao
cho nhóm, cặp đôi hoặc giáo viên kiểm tra trực tiếp, động viên, nêu gương kịp
thời tạo dựng ý thức tích cực cho học sinh học tập ngoài nhà trường.
3.5. Thực hiện triệt để các nội dung tích hợp liên môn, vận dụng thực
tế vào bài học,khuyến khích sự tìm tòi sáng tạo.
Việc giáo dục tích hợp kiến thức các môn học để giải quyết các vấn đề
trong một môn học sẽ giúp học sinh hiểu rộng hơn, sâu hơn về vấn đề trong môn
học đó.Tích hợp trong giảng dạy Toán sẽ giúp học sinh phát huy sự suy nghĩ, tư
duy, sự sáng tạo trong học tập và ứng dụng vào thực tiễn.
Trong thực tế tôi thấy khi bài soạn có kết hợp với kiến thức của các môn
học khác sẽ giúp giáo viên tiếp cận tốt hơn, hiểu rõ hơn, sâu hơn những vấn đề
đặt ra trong sách hướng dẫn học. Từ đó bài dạy sẽ trở nên linh hoạt, sinh động
hơn. Học sinh có hứng thú học bài, được tìm tòi, khám phá nhiều kiến thức và
được suy nghĩ sáng tạo nhiều hơn. Từ đó vận dụng kiến thức vào thực tế tốt hơn.
Gắn kết kiến thức, kĩ năng, thái độ các môn học với nhau, với thực tiễn đời sống
xã hội, làm cho học sinh yêu thích môn học hơn và yêu cuộc sống.
Học sinh sẽ thấy vai trò, vị trí, tầm quan trọng to lớn của môn Toán đối
với các môn học khác và ứng dụng thực tế, lợi ích của việc đi tìm phương án
tối ưu.
Ví dụ 1: Khi học bài “Đoạn thẳng”- Hình học 6. Phần “Hoạt động vận dụng” tôi
đã đưa ra câu hỏi như sau:
Xem các hình vẽ và cho biết:

16


+Trong ngành hàng không, “Đường
bay vàng” (nét đứt) giữa Hà Nội và TP Hồ
Chí Minh đem lại lợi ích gì hơn so với
đường bay hiện hữu (màu hồng)? Vì sao?

+ Vì sao khi làm đường giao thông nối hai địa điểm, người ta luôn cố
gắng làm thật thẳng. Vì sao Việt Nam đã đào xuyên núi để xây dựng đường hầm
đèo Hải Vân?

17


+Vì sao để truyền tải điện giữa hai địa điểm, người ta thường cố gắng
dựng các cây cột điện thẳng hàng?

Tôi đã cho học sinh thỏa sức liên hệ, tìm tòi, phát hiện đưa nhiều đáp án
về lợi ích khác nhau về kinh tế, địa lí, thời gian… Sau đó đã chốt lại: Tất cả các
lợi ích đó đều dựa và kiến thức:
“ Trong tất cả các đường nối hai điểm A và B, độ dài đoạn thẳng AB là ngắn
nhất!”
- Sau khi học xong một đơn vị kiến thức, tôi thường cho học sinh liên hệ
với thực tế, liên hệ vói kiến thức đã học và dự đoán kiến thức mới:
Ví dụ 2: Khi học xong bài “Cộng hai số nguyên khác dấu” Tôi cho các nhóm
làm bài tập sau:
a, Tính (-12) + 5. Sau đó đặt đề toán bằng lời .
b, Kiểm tra : (-12) + 5 và 5-12 (bằng máy tính cầm tay). Từ kết quả
hãy nêu các quan sát, nhận xét của nhóm? (Câu hỏi mở)
Một nhóm học sinh đã đặt lời đề toán như sau :
Anh Toán vay ngân hàng 12 triệu đồng, hôm nay đã trả 5 triệu đồng. Hỏi
anh còn bao nhiêu tiền?
Liên hệ kiến thức về số âm:
Vay nợ 12 triệu (Tức là có -12)
Trả 5 triệu

(Tức là có +5)

=> Số tiền anh Toán có sau khi trả ngân hàng là: (-12) + 5 = -7
Vậy anh Toán có -7 triệu. (nợ 7 triệu)
Dự đoán kiến thức mới:

18


Sau khi học sinh dùng máy tính tính ra 5-12 = -7. Nhiều nhóm học sinh đã
phát hiện ba kiến thức mới như sau:
+ Do 5-12 = -7 còn 12-5 = 7 => 5-12 và 12- 5 là hai số đối nhau.
Vậy a-b và b-a là hai số đối nhau ( phép trừ các số nguyên không có
tính chất giao hoán)
+ Do (-12) + 5= 5 + (-12) = -7. Vậy phép cộng các số nguyên có tính
chấtgiao hoán a+b=b+a.
+ Các em thấy: 5-12 = 5 + (-12). Suy ra mọi phép trừ có thể đưa về phép
cộng (cộng với số đối của số trừ). Vậy a-b =a+(-b)
Đề xuất sáng tạo:
Mặc dù chưa học đến bài “Phép trừ hai số nguyên” nhưng một số học đã
đề xuất thực hiện phép trừ hai số nguyên như sau:
+Nếu a >b hoặc a= b thì a-b là phép trừ hai số tự nhiên (đã biết)
+Nếu a< b : Muốn tính a- b, ta tính b-a rồi thêm dấu “ - ” trước kết quả.
(vì a-b và b-a là hai số đối nhau)
-Bằng sự động viên, khuyến khích ghi nhận kịp thời những kiến thức mà
các nhóm đã phát hiện ra, tôi đã xây dựng được một tập thể học sinh năng động
hơn, biết cách quan sát tìm tòi kiến thức, hình thành năng lực phẩm chất cho
chính mình.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Qua thực tế dạy học nhiều năm dạy Toán tôi thấy dù dạy theo mô hình
Trường học mới hay chương trình giáo dục hiện hành thì việc phát huy tính tích
cực chủ động, sáng tạo của học sinh là điều vô cùng quan trọng cần thiết, là yếu
tố tiên quyết, quyết định chất lượng dạy học. Đòi hỏi người giáo viên giảng dạy
bộ môn không chỉ nắm bắt nhuần nhuyễn kiến thức bộ môn mình giảng dạy mà
còn cần phải không ngừng rèn luyện về kĩ năng, phương pháp dạy học và nghệ
thuật sư phạm, tìm hiểu kiến thức của những môn học khác để giúp các em giải
quyết các tình huống, các vấn đề đặt ra trong môn học một cách nhanh nhất,
hiệu quả nhất, biến tiết học trở nên hấp dẫn, đặc biệt là trong dạy học Toán theo
mô hình Trường học mới.
Năm học 2016 – 2017 tôi được phân công dạy 3 lớp 6 môn Toán. Với
những rút kinh nghiệm từ năm học 2015-2016, kinh nghiệm trong khâu tổ chức
lớp và những kinh nghiệm đúc rút cho bản thân như đã nêu trên, tôi đã thực hiện
triệt để cho cả ba lớp của mình phụ trách. Tôi đã thu được những kết quả tốt đẹp.
Thái độ, ý thức, chất lượng học tập của các em có sự chuyển biến tích cực rõ
nét. Điều này được thể hiện rất rõ thông qua quá trình học tập và kết quả điểm
khảo sát học kì I môn Toán, kết quả này đã khẳng định tính hiệu quả của sáng
kiến và là cơ sở quan trọng cho chất lượng cuối năm, cụ thể như sau:
19


Lớp


số

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

6A

34

2(5.9%)

12(35.3%)

18(52.9%)

2(5.9%)

6B

32

3(9.4%)

13(40.6%)

15(46.9%)

1(3.1%)

6C

30

2(6.7%)

12(40.0%)

14(46.6%)

2(6.7%)

Ghi chú
Có 1 học sinh
hoà nhập

III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Trước khi viết đề này, tôi đã cố gắng tích cực nghiên cứu, học tập tiếp thu
các chuyên đề, công văn, chỉ thị hướng dẫn thưc hiện mô hình Trường học mới
của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Sở Giáo dục & Đào tạo, Phòng Giáo dục & Đào
tạo, căn cứ nội dung Sách hướng dẫn học Toán 6 và thực trạng học sinh Trường
THCS Cẩm để vận dụng linh hoạt, hiệu quả trong quy định cho phép. Kết hợp
với những kiến thức, kĩ năng và nghệ thuật sư phạm đã giúp tôi có được kinh
nghiệm như trên.
Tôi nhận thấy những kinh nghiệm này là những định hướng cơ bản và
thiết thực, phục vụ tốt cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học nói
chung và dạy môn Toán- Mô hình Trường học mới ở trường THCS Cẩm Qúy để
khắc phục khó khăn, khắc phục sự chưa đồng bộ giữa phương pháp cách thức tổ
chức mô hình Trường học mới với cơ sở vật chất và đối tượng tình hình học sinh
của địa phương, hướng tới hiệu quả giáo dục cao nhất.
Để thực hiện áp dụng thành công những kinh nghiệm này cần phải có :
-Sự cống hiến, tận tuỵ tâm huyết với nghề nghiệp, tinh thần tự học, tìm tòi
sáng tạo của giáo viên bộ môn.
-Sự phối hợp nhịp nhàng, thống nhất chặt chẽ của giáo viên bộ môn, giáo
viên chủ nhiệm, giáo viên Tổng phụ trách Đội trong nhà trường.
-Làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục trên cộng đồng dân cư, thắt chặt
mối liên hệ giữa nhà trường, chính quyền địa phương và gia đình học sinh. Vận
động, tranh thủ mọi sự ủng hộ về cơ sở vật chất để xây dựng phục vụ cho
Trường học mới.
-Làm tốt công tác khuyến học, khuyến khích sự tìm tòi sáng tạo của học
sinh qua tổ chức các kì thi. Nêu các gương cá nhân điển hình về sự thành đạt
trong địa phương để các em cố gắng noi theo.
-Tăng cường, phong phú hơn nữa về tài liệu, sách tham khảo cho giáo
viên, học sinh và phụ huynh.
20


Tóm lại những kinh nghiệm này tuy nhỏ bé nhưng đã có những tác dụng
tích cực nhất định trong công tác giảng dạy của bản thân và việc học của học
sinh khi học Toán lớp 6 mô hình Trường học mới. Rất mong được đón nhận ý
kiến đóng góp xây dựng của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để
tôi được học hỏi hoàn thiện kinh nghiệm của mình hơn nữa.
2. Kiến nghị:
Mô hình Trường học mới là mô hình trường học tiên tiến đang được thử
nghiệm, tuy bước đầu còn gặp nhiều khó khăn bỡ ngỡ kể cả thầy và trò, chưa có
sự đồng nhất cao về phương pháp, cách thức tổ chức và cơ sở vật chất hiện có ở
các trường THCS, lại càng khó khăn hơn đối với các trường vùng cao, nhưng
với niềm tin, sự quyết tâm, tinh thần trách nhiệm, năng lực tự học và sáng tạo
lao động của các thầy cô giáo mà sản phẩm là kiến thức trí tuệ cho thế hệ tương
lai. Tôi tin rằng chúng ta sẽ vượt qua mọi khó khăn trước mắt. Là giáo viên dạy
Toán tôi xin kiến nghị như sau :
- Đề nghị mở rộng cấp độ đánh giá học sinh (có thể bằng chấm điểm vào
học bạ như chương trình hiện hành) để đánh giá năng lực học sinh sát hơn, học
sinh cũng thấy hào hứng tích cực hơn, các bậc phụ huynh cũng thấy rõ hơn về
mức độ tiến bộ của con em mình.
- Đề nghị có thêm tài liệu tham khảo môn Toán cho giáo viên, học sinh và
các bậc phụ huynh.
- Đề nghị chính quyền các cấp quan tâm hơn nữa đế cơ sở vật chất để
phục vụ tốt, phù hợp với mô hình Trường học mới.
- Đề nghị nhà trường chỉ đạo Tổng phụ trách Đội phối hợp với các tổ
chuyên môn trong nhà trường tổ chức các cuộc thi kiến thức văn hoá và hiểu
biết xã hội cho học sinh. Phát động các đợt thi đua học tập trong công tác đội, tổ
chức các câu lạc bộ giúp nhau cùng học tập, nâng cao tính chủ động ,tích cực,
sáng tạo trong học tập cho học sinh bằng các hoạt động ngoài giờ lên lớp..
- Tăng cường phối hợp giữa gia đình với nhà trường, giữa giáo viên bộ
môn với giáo viên chủ nhiệm để tạo sức mạnh tổng hợp, tạo mọi điều kiện thuận
lợi nhất cho các em học tập tốt.
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
HIỆU TRƯỞNG

Cẩm Qúy, ngày 17 tháng 3 năm
2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
NGƯỜI VIẾT

Lê Văn Vượng
21


Nguyễn Tiến Thuận
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Các Công văn, văn bản chỉ đạo về việc thức hiện mô hình Trường học
mới của Bộ Giáo dục & Đào tạo; Sở Giáo dục & Đào tạo Thanh Hóa và
Hướng dẫn thực hiện của Phòng Giáo dục & Đào tạo Cẩm Thủy.
2. Các tài liệu dạy học:

-Sách Hướng dẫn học Toán lớp 6-Chương trình
Trường học mới ( để thực hiện theo chỉ đạo)
- Sách Giáo khoa và Sách Bài tập Toán 6Chương trình hiện hành (để tham khảo đối chứng)

3. Tìm hiểu, sử dụng nguồn ảnh trên mạng Internet. Trang mạng dành cho
giáo viên của Bộ Giáo dục & Đào tạo : Violet.vn

22


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Nguyễn Tiến Thuận
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS Cẩm Qúy

TT

Tên đề tài SKKN

Cấp đánh
giá xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)

Kết quả
đánh giá
xếp loại (A,
B, hoặc C)

Năm học
đánh giá
xếp loại

Phòng GD

B

2008-2009

Kinh nghiệm giúp học sinh
1.

học tốt các bài toán dựng
hình trong môn Toán ở
trường THCS Cẩm Qúy.

23


ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP HUYỆN
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................

24


.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
ĐÁNH GIÁ,XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TỈNH
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×