Tải bản đầy đủ

Những biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt các yếu tố hình học

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Bậc tiểu học là bậc học đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân
cách của người học sinh. Đây là bậc học cung cấp những tri thức khoa học ban
đầu về tự nhiên xã hội, hoạt động nhận thức, về hoạt động thực tiễn.
Môn Toán nói riêng có vai trò quan trọng đặc biệt tạo cho học sinh có
một tiền đề vững chắc để học lên các lớp trên, đồng thời đáp ứng yêu cầu của
con người trong thời đại mới. Song để giúp học sinh học Toán đạt kết quả khả
quan hơn là một vấn đề không đơn giản. Vì vậy, môn Toán cần được chú trọng ở
bậc học Tiểu học, để phù hợp với mục tiêu phát triển giáo dục trong giai đoạn
mới. Mặt khác, môn Toán còn góp phần quan trọng trong việc rèn luyện phương
pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề, phát triển
trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo, góp phần giáo dục
lòng tự tin, tinh thần ham hiểu biết, tính cẩn thận, tinh thần vượt khó và hợp tác,
hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như: cần
cù, cẩn thận, ý chí vượt khó. Nhận thức rõ vấn đề này tôi mạnh dạn tìm hiểu:
"Những biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt các yếu tố hình học"
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Tìm hiểu một số vấn đề về nội dung, phương pháp dạy các yếu tố hình
học lớp 3 để tìm ra biện pháp giảng dạy phù hợp.
Giúp học sinh hiểu bài các yếu tố hình học lớp 3

III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Học sinh Lớp 3C Trường Tiểu học Tân Sơn - TPTH
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu lí luận thực tiễn.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế.
- Phương pháp quan sát thông qua dự giờ và phỏng vấn.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm, kiểm tra đối chứng.

1


B. PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận
Trong chương trình toán ở lớp 3, cùng với mạch kiến thức số học, giải
toán có lời văn thì dạy các yếu tố hình học là cơ hội tốt nhất để phát triển năng
lực trí tuệ. Hình học không những thể hiện trong môn Toán mà còn được ứng
dụng rộng rãi trong các môn học khác.
Các nội dung cơ bản dạy hình học trong Toán 3 gồm 3 nội dung:
- Hình thành các biểu tượng hình học mới.
+ Giới thiệu góc vuông và góc không vuông.
+ Giới thiệu tâm, bán kính, đường kính của hình tròn.
- Tính chu vi, diện tích một số hình học.
+ Giới thiệu diện tích của một hình.
+ Hình thành công thức, kĩ năng tính chu vi và diện tích hình chữ nhật,
hình vuông.
- Thực hành vẽ hình.
+ Vẽ góc vuông bằng thước thẳng và ê ke.
+ Vẽ đường tròn bằng com pa.
Đối với học sinh lớp 3 khi học các yếu tố hình học học sinh phải nhận
biết các góc từ trực quan hình ảnh, vẽ được góc bằng thước thẳng và ê ke, nhận
biết góc vuông, góc không vuông; nhận biết các yếu tố của hình (góc, cạnh và
đỉnh) và đặc điểm của hình chữ nhật, hình vuông.
Dựa vào đặc điểm về cạnh, góc của hình chữ nhật, hình vuông hình thành
cách tính chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông và bước đầu ứng dụng vào
thực tế.
Phân biệt điểm ở giữa, trung điểm của đoạn thẳng.
Biết sử dụng com pa vẽ hình tròn và nắm được tâm, bán kính, đường
kính, thực hành vẽ trí hình tròn.
Từ những kiến thức trên học sinh ứng dụng vào việc nhận dạng hình,
ghép hình, vẽ hình và giải toán có lời văn liên quan đến các yếu tố hình học.

2


Cụ thể:
* Biểu tượng về các hình hình học.
- Nhận biết, gọi tên và nêu được một số đặc điểm của một số hình học: góc
vuông, góc không vuông; hình chữ nhật (có 4 góc vuông, 2 cạnh dài bằng nhau,
2 cạnh ngắn bằng nhau); hình vuông (có 4 góc vuông và 4 cạnh bằng nhau);
hình tròn
( tâm, đường kính, bán kính); nhận biết điểm ở giữa 2 điểm, trung điểm của một
đoạn thẳng.
*Tính chu vi, diện tích của hình hình học:
- Biết tính chu vi hình chữ nhật, hình vuông ( theo quy tắc)
- Biết tính diện tích hình chữ nhật, hình vuông ( theo quy tắc)
* Thực hành vẽ hình:
- Biết dùng ê ke để xác định góc vuông, góc không vuông.
- Biết dùng thước thẳng để xác định trung điểm của một đoạn thẳng cho trước
trong
trường hợp đơn giản: đường thẳng vẽ trên giấy kẻ ô li, số đo độ dài đoạn thẳng
là các số chẵn (2cm, 4cm, 6cm,)
- Biết dùng com pa để vẽ hình tròn
- Biết vẽ đường kính, bán kính của một hình tròn cho trước (có tâm xác định).
II. Thực trạng việc học các yếu tố hình học của học sinh lớp 3 tại
trường Tiểu học Tân Sơn.
Thực trạng của việc dạy nội dung các yếu tố hình học ở lớp 3, qua quá
trình giảng dạy, qua dự giờ thăm lớp bạn bè đồng nghiệp cùng với việc tìm hiểu
nghiên cứu sách giáo khoa, sách bài soạn tôi thấy một số giờ giáo viên và học
sinh còn lúng túng và bất cập ở một số điểm sau:
+Về học sinh:
- Có làm các bài tập về hình học nhưng nhận thức và hiểu biết chưa sâu.
- Tính thực tế của học sinh còn hạn chế. Ví dụ việc phát hiện những đồ vật
có dạng hình học.
3


- Phần thực hành của học sinh chưa đạt hiệu quả cao như vẽ hình chưa
chính xác, chưa đúng và đẹp. Ví dụ vẽ hình tròn thường là học sinh vẽ chưa sắc
nét, chưa chuẩn theo bán kính quy định.
+Về giáo viên:
- Đã dạy kiến thức về hình học nhưng chưa hiểu sâu về bản chất. Nhiều
giáo viên còn coi nhẹ kiến thức, chưa nghiên cứu thật kỹ bài dạy, chưa xác định
thật rõ mục tiêu bài dạy ở mức độ cần truyền đạt tới đâu, giới hạn kiến thức ở
mức độ nào? Đâu là kiến thức trọng tâm của bài dạy,... Đôi lúc còn yêu cầu cao
đối với học sinh.
Qua tiến hành kiểm tra khảo sát học sinh cuối kỳ 1 năm học 2015-2016.
Ví dụ như dạy bài "Góc vuông, góc không vuông” ở lớp 3C kết quả như sau
Số HS được khảo sát
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
38
28= 73,7%
10 = 26,3%
Nhìn vào kết quả trên tôi thấy chưa hài lòng. Tôi bắt đầu đi sâu vào tìm
hiểu nguyên nhân vì sao và thấy vướng mắc ở những vấn đề sau:
Quá trình hình thành biểu tượng ban đầu của một số hình khi giới thiệu
qua vật mẫu chẳng hạn "góc vuông, góc không vuông" còn hạn chế còn cứng
nhắc, yêu cầu cao.
- Khi học sinh tìm những đồ vật xung quanh có dạng góc thường là học
sinh không tìm được.
- Mặt khác chưa gợi trí tò mò cho học sinh để học sinh tự khám phá kiến
thức. Quá trình rèn luyện thực hành cho học sinh đôi lúc chỉ ở một vài dạng
quen thuộc, chưa đa dạng phong phú, chưa chú ý tới rèn luyện trí tưởng tượng,
phát triển vốn từ vựng về hình học cho học sinh.
- Phương pháp dạy học tích cực cho học sinh chỉ mới dừng ở mức độ hình
thức. Chưa phát huy tính sáng tạo của học sinh. Chẳng hạn với một số bài cắt
ghép hình thì giáo viên chỉ dừng lại ở một số cách đơn giản, chưa khai thác triệt
để các cách, các phương án có thể để giải quyết bài toán.

4


III. Các giải pháp:
1. Bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn
Khi dạy các yếu tố hình học trong Toán 3 bản thân phải nắm vững các đặc
điểm về nội dung:
- Nội dung hình học trong Toán 3 tiếp tục củng cố và mở rộng các yếu tố
hình học trong Toán 1 và Toán 2. Từ những kĩ năng ban đầu về hình học hình
dạng (hình vuông, hình tròn, hình tam giác, điểm, đoạn thẳng, độ dài đoạn
thẳng, điểm ở trong điểm ở ngoài một hình ở lớp 1 đến hình chữ nhật, hình tứ
giác, đường thẳng, đường gấp khúc, chu vi hình tam giác, chu vi hình tứ giác ở
lớp 2). Lớp 3 bước đầu làm quen với hình học định lượng (tính chu vi và diện
tích của hình chữ nhật, hình vuông). Ở lớp 1, lớp 2 kiến thức hình học ở dạng
khái quát (chẳng hạn hình vuông, hình tròn, hình tam giác, hình tứ giác,…) ở lớp
3 đi sâu vào khai thác những yếu tố chi tiết, cụ thể về góc và cạnh làm nổi bật
tính đặc trưng của mỗi loại hình đó (góc vuông, góc không vuông, chiều dài,
chiều rộng của hình chữ nhật; Tâm, đường kính, bán kính của hình tròn,…)
- Nội dung các yếu tố hình học trong chương trình Toán 3 được sắp xếp
hợp lí, phù hợp với sự phát triển của trong giai đoạn học tập của học sinh cũng
như các mạch kiến thức (số học, đại lượng và đo đại lượng, giải toán có lời văn)
của Toán 3.
Việc tri giác tổng thể, khái quát mang tính trực quan được trình bày nhiều
ở lớp 1, lớp 2 đến lớp 3 được làm “nhẹ dần” đồng thời tăng dần việc tri giác cụ
thể, chi tiết các yếu tố đặc trưng, đã góp phần hình thành tư duy lôgic, phát huy
trí tưởng tượng sáng tạo của học sinh (như các yếu tố về góc, cạnh, đỉnh của một
hình, trung điểm của đoạn thẳng; về tâm, đường kính, bán kính của hình tròn; về
trang trí hình tròn.)
Các bài toán định lượng trong nội dung yếu tố hình học (độ dài cạnh , chu
vi, diện tích) được lựa chọn ứng với các mạch kiến thức số học, đại lượng, giải
toán có lời văn.

5


Khi dạy các yếu tố hình học ở lớp 3 giáo viên cần chú ý tới từng bài, từng
tiết dạy sao cho thu hút được học sinh, gây được hứng thú cho các em trong tiết
học giúp các em nắm bài tự nhiên thoải mái và chắc chắn.
Qua vấn đề trên tôi rút ra một số phương pháp và cách thức tổ chức dạy
học ở một số nội dung các yếu tố hình học ở lớp 3 như sau:
- Trong mỗi bài học giáo viên kết hợp linh hoạt nhiều phương pháp dạy
học như: trực quan, quan sát, thảo luận nhóm nhỏ, thuyết trình, thực hành luyện
tập.
- Dạy học trên cơ sở tổ chức và hướng dẫn các hoạt động học tập tích cực,
chủ động, sáng tạo của học sinh. Cần khai thác tính đặc trưng của việc hình
thành khám phá kiến thức về nội dung yếu tố hình học đối với học sinh lớp 3 là
thông qua con đường “thực nghiệm” bằng quan sát và đo đạc, so sánh, phân tích
đơn giản rồi quy nạp, khái quát hoá, Trên cơ sở đó giáo viên cần lựa chọn cách
dạy học phù hợp tạo ra những hoạt động học tập của học sinh đảm bảo tính tích
cực cho từng đối tượng học sinh trong lớp.
2. Dạy học sinh các loại bài về khái niệm, biểu tượng và nhận dạng
các hình.
Khi dạy các các yếu tố hình học tôi đã quan tâm tới các vấn đề sau: Các
biểu tượng về hình, các kĩ năng nhận dạng vẽ hình, rèn óc quan sát và trí tưởng
tượng phát triển vốn từ vựng về hình học.
+ Khai thác từ tính trực quan tổng thể đến cụ thể chi tiết để nắm vững và
sâu sắc hơn về khái niệm.
Ví dụ: Hình vuông, hình chữ nhật: nhận dạng qua các yếu tố cạnh, góc,
đo đạc, kiểm tra, hay khi dạy khái niệm diện tích và đo diện tích: đo rồi rút ra
quy tắc tính, có thể liên hệ tới việc đếm số ô vuông trong các hình đã được học
trước đó,
+ Sử dụng đồ dùng trực quan hoặc gắn với các đồ vật trong thực tế có
hình dạng hình học phù hợp để học sinh có biểu tượng hình học và nhận biết
được hình đó (khung ảnh, con tem, tờ giấy, có dạng hình chữ nhật; viên gạch
6


hoa, mặt quân súc sắc, khăn mùi soa có dạng hình vuông .Mặt đồng hồ treo
tường, miệng rổ, miệng nón có dạng hình tròn, ; hình ảnh 2 kim đồng hồ, 2 cánh
quạt trần tạo thành một góc; ê ke hoặc thước thợ mộc giúp học sinh làm quen
với góc vuông)
+ Học sinh liên hệ được khái niệm, kiến thức đã học với khái niệm, kiến
thức mới. (cách tính chu vi hình tứ giác ở lớp 2 đến cách tính chu vi hình chữ
nhật, hình vuông theo quy tắc ở lớp 3; khai thác khái niệm trung điểm của đoạn
thẳng ở bài trước với tâm hình tròn – trung điểm của đường kính ở bài sau, sử
dụng yếu tố góc vuông và đo độ dài đoạn thẳng để nhận biết hình chữ nhật, hình
vuông,)
+ Với bài luyện tập hoặc nội dung thực hành cần cho học sinh được tự
động (tự do vẽ, xếp, ghép hình, tính toán tìm ra kết quả), tránh áp đặt hoặc làm
thay học sinh. Một số bài tập luyện tập thực hành có tính chất làm mẫu, giáo
viên cần sáng tạo thêm các bài tập khác phù hợp với từng đối tượng học sinh cụ
thể và tạo được hứng thú cho học sinh.
Ví dụ: Bài “Góc vuông, góc không vuông” tôi tiến hành như sau:
Để có “biểu tượng, khái niệm” về góc giáo viên cho học sinh quan sát 2
kim đồng hồ lúc 3 giờ, 2 giờ, 5giờ, giáo viên giới thiệu:
2 kim đồng hồ ở mỗi hình trên tạo thành 1 góc.
Như vậy từ hình ảnh 2 kim đồng hồ, học sinh có hình ảnh về góc.
- Giáo viên giới thiệu và cho học sinh nhận dạng góc vuông và góc không
vuông:
A

O
Góc vuông đỉnh O
cạnh OA, OB

M

B

P
Góc không vuông đỉnh
cạnh PM, PN

C

N

D

E

Góc không vuông đỉnh E
cạnh EC, ED

7


- Giáo viên giới thiệu: Góc vuông đỉnh O, cạnh OA, OB. Từ đó học sinh
nhận dạng được 2 góc còn lại là các góc không vuông, học sinh tự đọc tên góc.
- Giáo viên chốt, nhấn mạnh kiến thức.
- Học sinh lấy ví dụ một số đồ vật có dạng góc: (chóp nón, 2 cánh quạt
trần, góc nhà,…)
* Học sinh lấy ê ke – quan sát. Ê ke có hình gì?
Giáo viên giới thiệu ê ke.
- Học sinh nhận biết góc vuông và góc không vuông trên ê ke.
- GV giới thiệu: Ê ke dùng để kiểm tra và vẽ góc vuông.
- GV hướng dẫn cách sử dụng ê ke để đo và vẽ góc vuông.
- HS thực hành dùng ê ke để đo, vẽ góc vuông trên ví dụ của GV
Ở bài này giáo viên cần chú ý: Nội dung chưa đi sâu vào khái niệm góc
(miền trong của góc, số đo của góc, kí hiệu của góc dạng AOB).
- Học sinh dùng ê ke nhận biết các góc vuông trong hình và đánh dấu góc
vuông:

- Dùng ê ke vẽ góc vuông đỉnh M cạnh MC, MD
C
M
C

M

M
D C
D
D
Khi dạy bài “Hình chữ nhật”, để giúp học sinh nhận biết được các hình
dựa theo đặc điểm về yếu tố cạnh và góc của hình.
- Học sinh lấy hình chữ nhật (trong bộ đồ dùng)
- Dùng ê ke kiểm tra các góc học sinh nhận biết được hình chữ nhật có 4
góc vuông.
- Đo 2 cạnh dài, 2 cạnh ngắn của hình chữ nhật?
- Nêu nhận xét: Độ dài 2 cạnh dài bằng nhau, 2 cạnh ngắn bằng nhau.

8


- Giáo viên đưa hình mẫu – Học sinh kiểm tra trên hình mẫu của giáo viên
và rút ra nhận xét
A

B

Hình chữ nhật ABCD có:
- 4 góc đỉnh A, B, C, D là các góc vuông.
- 4 cạnh gồm 2 cạnh dài AB, CD, 2 cạnh ngắn BC, DA
- 2 cạnh dài có độ dài bằng nhau
- 2 cạnh ngắn có độ dài bằng nhau

D

C

- Đây là đặc điểm của hình chữ nhật ABCD.
- Hình chữ nhật có đặc điểm gì?
- Kết luận: Hình chữ nhật có 4 góc vuông, có 2 cạnh dài bằng nhau, 2
cạnh ngắn bằng nhau.
- Học sinh lấy ví dụ một số đồ vật có dạng hình chữ nhật?
* Tôi tiến hành tương tự với bài “Hình vuông”, tuy nhiên khi hình thành
được đặc điểm của hình vuông giáo viên cho học sinh so sánh đặc điểm của hình
vuông và đặc điểm của hình chữ nhật có gì giống và khác nhau?
* Với bài: “Điểm ở giữa – Trung điểm của đoạn thẳng”
Giáo viên giới thiệu điểm ở giữa thông qua trực quan (Hình vẽ 3 điểm như A, O,
B theo thứ tự đó trên một đường thẳng) – Từ đó nêu “O là điểm ở giữa A và B”
Giới thiệu “Trung điểm của đoạn thẳng” đã có tính “định nghĩa khái
niệm” rõ hơn:
M là trung điểm của đoạn thẳng AB khi:
+ M là điểm ở giữa A và B
+ Độ dài đoạn thẳng AM bằng độ dài đoạn thẳng MB
A

O
B

O là điểm ở giữa 2 điểm A và B

A

3cm

M

3cm

B

M là trung điểm của đoạn thẳng AB

Khi học sinh đã có khái niệm, biểu tượng hình học giáo viên cần rèn cho
học sinh kĩ năng nhận dạng, phân biệt hình.

9


Ở các lớp 1, 2 học sinh nhận dạng các hình qua trực giác tổng thể còn với
lớp 3 mức độ đã được nâng lên theo đặc điểm về yếu tố cạnh, góc của hình như:
“Hình chữ nhật có 4 góc vuông, 2 chiều dài bằng nhau, 2 chiều rộng bằng
nhau”; “Hình tròn có tâm, đường kính, bán kính, độ dài bán kính bằng nửa độ
dài đường kính.”…
Như vậy với lớp 3 học sinh nhận biết hình qua cách “ kiểm tra” hình dạng
bằng ê ke, com pa, thước đo độ dài như: Nhận biết góc vuông, góc không vuông
(bằng ê ke); nhận biết trung điểm của đoạn thẳng (đo bằng thước có chia vạch
xăng – ti - mét); Nhận biết hình tròn (bằng com pa). Khi dạy kĩ năng nhận dạng
hình tôi tiến hành theo các hình thức bài tập sau:
+ Nhận dạng hình theo yêu cầu:
Với dạng bài tập này giáo viên tiến hành như sau:
- Yêu cầu học sinh làm việc cá nhân thao tác trên hình : dùng ê ke, thước
hay com pa đo, kiểm tra để nhận biết đúng yêu cầu. Giáo viên bao quát giúp đỡ
học sinh.
- Học sinh nêu kết quả.
- Học sinh giải thích cách lựa chọn: Có thể giải thích theo cách lựa chọn
hình đúng hoặc giải thích theo hình sai
Ví dụ: Bài 2/42 Trong các hình dưới đây:
a. Nêu tên đỉnh và các cạnh góc vuông;
b. Nêu tên đỉnh và các cạnh góc không vuông;
D

G
C

A
D
M

B

I
C

H
E

N

P

Q

X

K

G
I

10


Như vậy ở bài này học sinh dùng ê ke đo từng góc sau đó học sinh đọc tên
đỉnh và các cạnh góc vuông, góc không vuông. (Góc vuông đỉnh A cạnh AD,
AC; góc vuông đỉnh D cạnh DM, DN…).
Bài 1/84: Trong các hình dưới đây hình nào là hình chữ nhật?
A

D

B

M

N

E

G

R

S

C Q
P I
H
U
T
- Ở bài này học sinh dùng ê ke và thước đo kiểm tra các góc và cạnh của

mỗi hình, dựa vào đặc điểm về cạnh và góc của hình chữ nhật để nhận thấy các
hình chữ nhật
- Học sinh nêu tên các hình chữ nhật là MNPQ, RSTU
- Tại sao 2 hình này là hình chữ nhật? (2 hình có 4 góc vuông và 2 cạnh
dàI bằng nhau, 2 cạnh ngắn bằng nhau)
Bài 1/85: Trong các hình dưới đây hình nào là hình vuông?
N
E
A
B
C

M

G

P

D

I
Q
Bài 1/111: Nêu tên các bán kính, đường kính có trong mỗi hình.

H

P
C
I

M

N

A

O

B
O

Q
D
+ Dạng bài tập trắc nghiệm: Cho sẵn một số tình huống trong đó có 1 tình
huống đúng, các tình huống còn lại đều sai, học sinh cần xác định tình huống
đúng/sai. Với dạng bài tập này học sinh quan sát đo đạc, đối chiếu với kiến thức
11


đã học hay cắt ghép hình để nhận ra trường hợp đúng/sai sau đó khoanh vào chữ
đặt trước câu trả lời hoặc đánh dấu x vào ô trống.
- Ví dụ : 1. Khoanh vào chữ đặt trước câu trả lời đúng:
Số góc vuông trong hình bên là:
A.
B.
C.
D.

1
2
3
4

- Bài này học sinh phải dùng ê ke đo các góc rồi khoanh vào chữ cái D
2. Đúng ghi Đ, sai ghi S:
M
Độ dài đoạn thẳng OC dài hơn độ dài đoạn thẳng OD
Độ dài đoạn thẳng OC ngắn hơn độ dài đoạn thẳng OM
C

Độ dài đoạn thẳng OC bằng 1/2 độ dài đoạn thẳng CD

D

O

- Với bài này học sinh phải dựa vào kiến thức đã học về mối quan hệ giữa
bán kính và đường kính để tìm ra đáp án đúng là đáp án thứ 3.
3. Câu nào đúng, câu nào sai?
A

D

a. Diện tích hình tam giác ABC lớn hơn diện tích
hình tứ giác ABCD
B

C

b. Diện tích hình tam giác ABC nhỏ hơn diện tích
hình tứ giác ABCD

- Bài này học sinh phải dùng hình thức cắt ghép hình để tìm đáp án đúng
3. Dạy học sinh dạng bài tập gấp, cắt, ghép hình.
a. Hai miếng bìa nào có thể ghép lại được 1 góc vuông như hình A hoặc hình B?

12


1

2

A

4

B

3

b. Gấp mảnh giấy theo hình để được 4 góc vuông.

c. Gấp tờ giấy hình chữ nhật ABCD rồi đánh dấu trung điểm I của đoạn thẳng
AB và trung điểm K của đoạn thẳng DC.
A

B

I

B
A

A

I

B

C
C

D

K

D

D

d. So sánh diện tích hình A với diện tích hình B

A

C
K

B

Với bài này, học sinh có thể so sánh diện tích của 2 hình bằng cách đếm số ô
vuông hoặc cắt ghép hình tam giác thành hình vuông để so sánh và ngược lại.
4. Dạy học sinh vẽ hình:
Để học sinh vẽ được các hình vấn đề ở đây giáo viên phải rèn cho học
sinh kĩ năng sử dụng đồ dùng (ê ke, com pa, thước) để vẽ hình. Những lỗi học

13


sinh thường mắc khi thao tác trên đồ dùng như: Đặt góc vuông của ê ke chưa
đúng; Giữ thước không chặt, hay bị lệch; Cầm com pa không đúng cách dẫn đến
các hình vẽ không chuẩn như vậy khi dạy giáo viên cần chú ý tới các lỗi này của
học sinh để sửa
2) a. Kẻ thêm một đoạn thẳng để được hình chữ nhật.

b. Kẻ thêm một đoạn thẳng để được hình vuông.

3. Xác định trung điểm của đoạn thẳng CD.
C
D
4. Vẽ hình tròn tâm O bán kính 2cm.
Vẽ hình tròn tâm O bán kính 3cm.
5. Dạy học sinh cách tính chu vi, diện tích hình chữ nhật và hình
vuông.
Mỗi bài học thường thực hiện 3 bước:
+ Bước 1: Xây dựng (hình thành) quy tắc.
+ Bước 2: Nắm được (học thuộc) các quy tắc.

14


+ Bước 3: Vận dụng các quy tắc vào các bài luyện tập thực hành.
- Ví dụ: Bài “Chu vi hình chữ nhật”
+ Bước 1: Từ hình chữ nhật chiều dài 4cm, chiều rộng 3cm dẫn đến tính
chu vi hình chữ nhật bằng cách lấy (Chiều dài + Chiều rộng) x 2
- HS áp dụng cách tính chu vi hình tứ giác vào bảng con:
4 + 3 + 4 + 3 = 14 (cm)
- Hình chữ nhật có đặc điểm gì về cạnh? (2 chiều dài bằng nhau, 2 chiều
rộng
bằng nhau)
- Dựa vào đặc điểm đó tìm cách tính khác?
(4 + 3) x 2 = 14 (cm)
Đây chính là cơ sở để hình thành quy tắc tính chu vi hình chữ nhật.
+ Bước 2: Cho học sinh nắm quy tắc:
- 4 và 3 là số đo yếu tố nào? (chiều dài và chiều rộng)
- Muốn tính chu vi hình chữ nhật ta làm như thế nào?
- Học sinh đọc lại quy tắc.
+ Bước 3: Vận dụng quy tắc để giải quyết ví dụ giáo viên đưa và các bài
tập 1, 2, 3 trong SGK.
- Ví dụ: Bài “Diện tích hình chữ nhật”
+ Bước 1: Xác định diện tích hình chữ nhật:
Học sinh lấy hình chữ nhật, các hình vuông đơn vị

1cm2

- Xếp các hình vuông đơn vị phủ kín hình chữ nhật.
- Đếm số ô vuông.
- Diện tích hình chữ nhật là bao nhiêu? (12 cm)

15


+ Bước 2: Tìm quy tắc tính diện tích hình chữ nhật.
Yêu cầu học sinh tìm quy tắc tính diện tích hình chữ nhật theo cách sau:
- Không đếm, tính số ô vuông theo hàng: 4 x 3 = 12 cm
- Không đếm, tính số ô vuông theo cột: 3 x 4 = 12 cm
- Nêu số đo chiều dài, chiều rộng hình chữ nhật?
- So sánh các thừa số khi tính diện tích hình chữ nhật với chiều dài và chiều
rộng?
- Nêu cách tính diện tích hình chữ nhật theo chiều dài, chiều rộng hình chữ
nhật
+ Bước 3: Vận dụng quy tắc làm bài tập 1, 2, 3
Bài toán có nội dung hình học được lồng trong mạch kiến thức “Dạy học
giải toán có lời văn” (Tính chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông). Vì vậy
bên cạnh kiến thức về hình học cũng cần rèn kĩ năng giải toán có lời văn.
+ Bước 1: Đọc kĩ đề – xác định yêu cầu.
+ Bước 2: Phân tích, xác định lời giải.
+ Bước 3: Trình bày bài giải có câu trả lời.
+ Bước 4: Kiểm tra lời giải và đáp số.
Với cách dạy theo tinh thần đổi mới phương pháp lấy học sinh làm trung
tâm là toàn diện và hệ thống hơn, có khả năng phát triển, khả năng diễn đạt và
kích thích tư duy cho các em.
Các bài dạy, các nội dung được sắp xếp xen kẽ và được trình bày một
cách cụ thể sinh động với nhiều hình vẽ trực quan nhưng vẫn đảm bảo tính chính
xác, tính khoa học. Hệ thống bài tập được sắp xếp từ dễ đến khó, các bài tập ban
đầu thường nhằm mục đích củng cố kiến thức, các bài tập tiếp theo có yêu cầu
rèn luyện kĩ năng thực hành từ mức độ thấp đến cao, bài tập cuối cùng yêu cầu
mở rộng nâng cao. Để góp phần hình thành phương pháp suy nghĩ, phương pháp
học tập và làm việc tích cực, chủ động khoa học, sáng tạo cho học sinh giáo viên
cần tổ chức các hoạt động học tập, thường xuyên tạo ra các tình huống có vấn
đề, tìm các biện pháp lôi cuốn học sinh tự phát hiện và giải quyết vấn đề bằng
16


cách hướng dẫn để học sinh tìm hiểu kĩ vấn đề đó, huy động các kiến thức và
các công cụ đã có của học sinh.
6. Kiểm tra và đánh giá:
Sau mỗi bài học, tôi cho học sinh được thực hành ngay trên phiếu học tập.
Nội dung các bài tập sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Ngoài ra
thực hành ngay trên phiếu còn phát huy được năng lực của học sinh khá giỏi vì
khi làm bài tập trên phiếu học tập học sinh khá giỏi không phải chờ các bạn yếu
cùng làm. Chính vì vậy việc tìm hiểu nội dung và phương pháp dạy học là nhu
cầu cần thiết đối với giáo viên, giáo viên phải năm bắt đúng kiến thức trọng tâm
của tiết dạy, hiểu ý đồ sách giáo khoa để từ đó lựa chọn phương pháp dạy một
cách linh hoạt có hiệu quả với nội dung thực tiễn của từng bài.
Việc đánh giá, kiểm tra là việc làm thường xuyên của tôi sau mỗi bài dạy.
Qua cách đánh giá kiểm tra tôi đã nắm được sự tiến bộ của học sinh và có
phương pháp dạy phù hợp hơn đối với từng đối tượng.
IV. Hiệu quả của sáng kiến
1. Đối với nhà trường:
Sau khi áp dụng sáng kiến này vào dạy học sinh tôi thấy các em đã nắm
chắc và hiểu rõ kiến thức về yếu tố hình học, chủ động làm bài một cách tích
cực. Vì vậy đã nâng cao chất lượng đại trà của học sinh khối lớp 3 nói riêng và
học sinh toàn trường nói chung.
2. Đối với đồng nghiệp:
Sáng kiến kinh nghiệm của tôi đã được triển khai đến các đồng nghiệp, đa
số giáo viên đã hiểu rõ bản chất, cách dạy các yếu tố hình học khoa học và dễ
hiểu hơn. Giáo viên đã biết kết hợp linh hoạt nhiều phương pháp dạy như trực
quan, quan sát, thảo luận nhóm nhỏ, thuyết trình và thực hành luyện tập,...
Tổ chức cho học sinh chủ động, tự do thao tác trên hình để tìm ra kết quả
3. Đối với học sinh:

17


Học sinh đã nhận biết, gọi tên và nêu được đặc điểm của một số hình, so
sánh, gấp, cắt ghép hình khoa học. Vẽ hình chính xác và tính được chu vi, diện
tích của các hình.
Nói chung học sinh hiểu bài, chủ động tiếp thu kiến thức, nắm chắc và
giải được các dạng toán về hình học.
Sau một thời gian áp dụng cách làm trên cho học sinh lớp 3C, tôi tiến
hành khảo sát vào tháng 3 năm học 2016-2017 theo Thông tư 22 của Bộ Giáo
dục qua bài "Điểm ở giữa trung điểm của đoạn thẳng"và thu được kết quả:
Số học sinh khảo sát lớp 3C
38

Hoàn thành tốt
26 = 68,5%

Hoàn thành
11 = 28,9%

Chưa hoàn thành
1 = 2,6%

Khi đã khảo sát chất lượng lớp 3C đồng thời tôi cũng tiến hành khảo sát thêm
lớp 3B để so sánh chất lượng giữa một lớp áp dụng các biện pháp nêu trên và
một lớp chưa áp dụng biện pháp đó.
Kết quả thu được như sau:
Số học sinh khảo sát lớp 3B
37

Hoàn thành tốt
20 = 54%

Hoàn thành
13 = 35%

Chưa hoàn thành
4 = 11%

Qua kết quả khảo sát, tôi thấy số học sinh hiểu bài lớp 3B còn hạn chế so
với lớp 3C.Với một thời gian không lâu, cùng với việc áp dụng các biện pháp
khoa học, tinh thần làm việc của tôi và tập thể lớp 3C, tất cả học sinh lớp đều
hăng say học tập và rèn luyện,vì vậy học sinh nắm chắc và hiểu các bài toán về
hình học hơn.

C. KẾT LUẬN – ĐỀ XUẤT
18


I. Kết luận
Như vậy để học sinh học toán đạt kết quả khả quan thì người giáo viên
cần có phương pháp dạy học thích hợp, phải có lòng yêu nghề, mến trẻ tích cực
học tập đồng nghiệp, tìm tòi nghiên cứu sáng tạo. Có như vậy thì việc lĩnh hội
kiến thức của học sinh mới chủ động sáng tạo hơn. Tất cả các em đều tham gia
vào hoạt động học. Nhận thức không lệ thuộc vào giáo viên hướng dẫn mà tự
mình đạt tới nội dung bài học.
Đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy toán nói
chung nội dung hình học nói riêng là việc làm thường xuyên với giáo viên, vì
vậy trong quá trình giảng dạy giáo viên cần có sự cân nhắc lựa chọn phương
pháp sao cho phù hợp với từng bài, từng đối tượng học sinh để đạt được yêu
cầu, kiến thức của bài dạy. Muốn vậy mọi giáo viên cần phải:
- Kết hợp linh hoạt nhiều phương pháp dạy học như: trực quan, quan sát,
thảo luận nhóm nhỏ, thuyết trình, thực hành luyện tập, ...
- Dạy học trên cơ sở tổ chức và hướng dẫn các hoạt động học tập tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
- Phải gợi ý, gợi trí tò mò của các em để các em tự khám phá kiến thức
mới.Ngôn ngữ, kiến thức của giáo viên cần chính xác phong phú.
- Khai thác từ tính trực quan tổng thể đến cụ thể chi tiết. Sử dụng đồ dùng
trực quan hoặc gắn với các đồ vật trong thực tế có hình dạng hình học phù hợp.
- Tổ chức cho học sinh liên hệ khái niệm, kiến thức đã học với khái niệm,
kiến thức mới.
- Những bài có nội dung thực hành giáo viên tổ chức cho học sinh chủ
động, tự do thao tác trên hình để tìm ra kết quả, tránh áp đặt hay làm thay học
sinh.
-Phải rèn cho học sinh đức tính cần cù, chịu khó học bài vì:

II. Đề xuất
19


- Đề nghị các cấp lãnh đạo cần đầu tư về cơ sở vật chất, hỗ trợ về phương
tiện dạy học để phát huy hết khả năng học tập của học sinh.
- Tăng cường tổ chức các buổi hội thảo để giáo viên trao đổi học hỏi kinh
nghiệm.
Trên đây là những kinh nghiệm của tôi về nội dung và phương pháp dạy
các yếu tố hình học lớp 3 mà tôi rút ra được trong quá trình giảng dạy. Từ những
việc làm đó đã giúp cho các em có khả năng tư duy toán học.
Những vấn đề tôi nêu ra trong sáng kiến kinh nghiệm này không ngoài
mong muốn được trao đổi cùng đồng nghiệp, góp phần nhỏ trong phong trào
"Dạy tốt - Học tốt". Rất mong sự đóng góp của đồng nghiệp để tôi có kinh
nghiệm nhiều hơn, giảng dạy tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh hóa,ngày 20 tháng 3 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết

Bùi Thị Thu Hương

20


PHẦN IV: TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT
1

2
3

Chức danh khoa học và
họ tên tác giả
Vũ Văn Dương, Ngô Thị
Thanh Hương, Bùi Anh
Tú, Nguyễn Thị Hiền,
Phạm Vĩnh Thông
Vũ văn Dương, Nguyễn
Thị Bình
Vũ Mai Hương
Nguyễn Thị Bình

Tên tài liệu tham
khảo
Phương pháp dạy
học các môn học ở
lớp 3
(tập 1)
Toán 3 – Sách giáo
viên
Toán 3 – Sách giáo
khoa

Tên NXB
Nhà xuất bản
giáo dục
Nhà xuất bản
giáo dục
Nhà xuất bản
giáo dục

Năm xuất
bản
2007

2004
2004

21


PHỤ LỤC
A. MỞ ĐẦU

Trang 1

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trang 1

II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trang 1

III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Trang 1

IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 1

B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Trang 2

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN

Trang 2

II. THỰC TRẠNG VIỆC HỌC CÁC YẾU TỐ HÌNH HỌC
CỦA HỌC SINH LỚP 3 TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC TÂN
SƠN

Trang 3

III. CÁC GIẢI PHÁP

Trang 5

IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN

Trang 17

C. KẾT LUẬN – ĐỀ XUẤT

Trang 19

I. KẾT LUẬN

Trang 18

II. ĐỀ XUẤT

Trang 20

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 21

22


Sau mỗi bài học, tôi cho học sinh được thực hành ngay trên phiếu
học tập. Nội dung các bài tập sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.
Ngoài ra thực hành ngay trên phiếu còn phát huy được năng lực của học sinh
khá giỏi vì khi làm bài tập trên phiếu học tập học sinh khá giỏi không phải chờ
các bạn yếu cùng làm. Chính vì vậy việc tìm hiểu nội dung và phương pháp dạy
học là nhu cầu cần thiết đối với giáo viên, giáo viên phải năm bắt đúng kiến thức
trọng tâm của tiết dạy, hiểu ý đồ sách giáo khoa để từ đó lựa chọn phương pháp
dạy một cách linh hoạt có hiệu quả với nội dung thực tiễn của từng bài.

23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×