Tải bản đầy đủ

Một số kinh nghiệm giúp học sinh nắm vững cách giải toán có lời văn lớp 2

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Đất nước nước ta đã và đang thực hiện công cuộc công nghiệp hoá - hiện
đại hoá, muốn thực hiện công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá vững chắc
cần phải có lực lượng lao động đủ trình độ, năng động và sáng tạo. Chính vì vậy
mục tiêu đào tạo cũng được thay đổi để đáp ứng với tình hình hiện nay. Thực
trạng dạy và học ở nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế. So với các nước trên thế
giới, chúng ta còn có nhiều điểm cần khắc phục về nội dung và phương pháp
dạy học. Từ những lý do trên việc thay đổi nội dung chương trình cũng như
phương pháp dạy học là điều cần thiết.
Trong những năm gần đây, xu thế chung của ngành giáo dục đang đổi mới
về phương pháp dạy học, về cách đánh giá nhằm phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học. Đối với bậc tiểu học, từ
năm học 2003 - 2004 dạy lớp 2 theo chương trình mới. Môn Toán ở tiểu học
bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa, gây
hứng thú học tập cho học sinh. Là giáo viên tiểu học trực tiếp đứng lớp 2 một số
năm bản thân tôi thấy cần thiết phải nắm vững những phương pháp giảng dạy
nói chung, phương pháp giảng dạy môn Toán nói riêng đặc biệt là phần giải toán
có lời văn.
Với bài toán có lời văn học sinh đã được làm quen ở lớp 1 tuy nhiên khi
học lên lớp 2 nhiều học sinh vẫn còn gặp khó khăn trong việc thực hiện bài giải

toán. Để giải được bài toán có lời văn ngoài việc sử dụng kỹ năng tính toán học
sinh còn phải có năng lực tư duy logic, “cái này lớn hơn cái kia”, tương đương,
“cái kia bé hơn cái này”… Giải toán có lời văn có vị trí rất quan trọng trong
chương trình Toán ở cấp tiểu học. Ở lớp 2 nếu học sinh nắm vững phương pháp
giải toán có lời văn sẽ giúp các em học tốt bộ môn Toán và các bộ môn khác vì
tư duy logic của trẻ được phát triển. Từ những lí do nêu trên cùng với thực tế
một số năm giảng dạy ở lớp 2 bản thân tôi đã rút ra “Một số kinh nghiệm giúp
học sinh nắm vững cách giải toán có lời văn lớp 2”. Đây cũng là một nội dung
quan trọng trong dạy học toán nói chung và dạy toán phần giải toán có lời văn.
Xin được phép trao đổi với đồng chí và đồng nghiệp.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu một số vấn đề lí luận đổi mới phương pháp dạy học toán lớp 2.
- Tìm hiểu về nội dung và phương pháp dạy học phần giải toán có lời văn
lớp 2.
- Tìm hiểu về thực trạng việc triển khai giải toán có lời văn ở lớp 2.
- Tìm hiểu một số biện pháp giúp học sinh nắm vững cách giải toán có lời
văn lớp 2.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
- Các bài toán giải có lời văn ở lớp 2.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình viết sáng kiến kinh nghiệm tôi đã sử dụng phương pháp:
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp tổng hợp.
- Phương pháp thống kê.
1


2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Dạy học môn Toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh có những kiến thức cơ
bản ban đầu về số học, các đại lượng thông dụng, một số yếu tố hình học và
thống kê đơn giản; hình thành các kĩ năng thực hành, đo lường, giải bài toán có
nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống, góp phần bước đầu phát triển năng lực
tư duy, khả năng suy luận hợp lí và diễn đạt đúng. Nội dung cơ bản môn toán ở
Tiểu học bao gồm 5 tuyến kiến thức chính: Số học, Đại lượng và đo đại lượng,
Hình học, Thống kê mô tả, Giải toán có lời văn. Trong đó tuyến kiến thức giải
toán có lời văn là nội dung cơ bản, chủ yếu của chương trình môn Toán ở Tiểu
học, Toán có lời văn có vị trí rất quan trọng trong chương trình toán ở trường
phổ thông được thể hiện rõ ở 4 chức năng: Giáo dục toàn diện - Phát triển tư duy
trí tuệ - Kiểm tra đánh giá - Dạy học. Dạy học giải giải toán có lời văn có ý

nghĩa to lớn nhằm giúp HS củng cố lý thuyết vận dụng vào giải bài tập, vận
dụng vào đời sống; Rèn các kĩ năng; Phát triển tư duy như tư duy độc lập, sáng
tạo, lôgic, suy luận, phán đoán; Rèn cho HS thái độ học tập như tính đam mê,
cẩn thận, chính xác, tự giác, tích cực, sáng tạo, tự tin, trong học tập.
Từ việc nhận thức về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học trang bị đầy
đủ thời khoá biểu, sách giáo khoa, sách bồi dưỡng và đồ dùng học tập. Tôi thấy
cần phải có phương pháp dạy học toán có lời văn cho học sinh.
Giải toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế, nội dung bài toán
được thông qua những câu văn nói về những quan hệ, tương quan và phụ thuộc,
có liên quan tới cuộc sống thường xảy ra hàng ngày. Cái khó của bài toán có lời
văn chính là ở chỗ làm thế nào để lược bỏ được những yếu tố về lời văn đã che
đậy bản chất toán học của bài toán. Hay nói một cách khác là làm sao phải chỉ ra
được các mối quan hệ giữa các yếu tố toán học chứa đựng trong bài toán và tìm
được những câu lời giải phép tính thích hợp để từ đó tìm được đáp số của bài
toán.
Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để học sinh hiểu và giải toán theo yêu cầu
của chương trình mới. Hiện nay theo chương trình mới thì ngay từ lớp 1 học
sinh đã được yêu cầu viết câu lời giải, đây là một bước nhảy vọt lớn trong
chương trình toán vì trước cải cách giáo dục thì đến lớp 4, các em mới phải viết
câu lời giải, còn những năm đầu cải cách giáo dục thì đến học kì 2 của lớp 3 mới
phải viết câu lời giải. Tuy nhiên nếu như nắm bắt được cách giải toán ngay từ
lớp 1, 2 thì đến các lớp trên các em tiếp thu, nắm bắt kiến thức một cách dễ dàng
hơn.
Giải toán ở tiểu học trước hết là giúp các em luyện tập, vận dụng kiến
thức, các thao tác thực hành vào thực tiễn. Qua đó, từng bước giúp học sinh phát
triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận lôgíc. Thông qua giải
toán học sinh rèn luyện ý thức: Làm việc có ý thức, có kế hoạch, sáng tạo và
hăng say.
2


Thực tế qua một số năm trực tiếp giảng dạy ở khối lớp 2, tôi nhận thấy
học sinh khi giải các bài toán có lời văn thường chậm so với các dạng bài tập
khác. Các em thường lúng túng khi đặt câu lời giải cho phép tính, có nhiều em
làm phép tính chính xác và nhanh chóng nhưng không làm sao tìm được lời giải
đúng hoặc đặt lời giải không phù hợp với đề toán đặt ra. Chính vì thế nhiều khi
dạy học sinh đặt câu lời giải còn vất vả hơn nhiều so với dạy trẻ thực hiện các
phép tính ấy để tìm ra đáp số.
2.2. Thực trạng:
Từ đầu năm học 2016 - 2017 tôi được phân công chủ nhiệm lớp 2D. Lớp
tôi có 45 học sinh, các em đi học gần trường, phần đông là con gia đình công
chức, hoàn cảnh gia đình ổn định. Trong khi dạy bài giải toán có lời văn tôi thấy
một số học sinh vẫn còn gặp vướng mắc và bản thân giáo viên cũng có những
hạn chế cần khắc phục.
* Giáo viên:
- Các bài toán giải bằng một phép tính nhân hoặc chia, chưa khái quát
thành dạng cơ bản ở các tiết hình thành bảng nhân, các bài toán có lời văn
thường không có hình vẽ cụ thể nên giáo viên khó hướng dẫn học sinh tìm hiểu
đề. Việc sử dụng hình vẽ cụ thể minh họa cho bài toán sẽ giúp học sinh hình
dung ra cách làm bài nhanh hơn, trong quá trình làm bài sẽ ít có sự nhầm lẫn về
phép tính.
- Trình độ học sinh trong lớp không đồng đều.
- Với nội dung sách giáo khoa mới đòi hỏi phải sử dụng nhiều đồ dùng
trực quan.
* Học sinh:
- Một số học sinh còn lúng túng khi tìm hiểu đề, đặt lời giải.
- Khi nhận dạng bài toán đôi khi học sinh còn dựa vào trực quan nhiều
nên không hiểu được bản chất bài toán.
- Nội dung các bài toán thường nêu lên một tình huống quen thuộc, gần
gũi với học sinh. Trong đó các dữ kiện thường là các đại lượng (danh số), khi
tìm hiểu đề các em thường bị phân tán vào nội dung cụ thể của đại lượng hơn là
các số cần thiết cho việc diễn tả điều kiện của các bài toán theo yêu cầu của đề.
- Các em thường nhầm lẫn phương pháp giải giữa các dạng toán.
- Khi trình bày bài giải các em diễn đạt câu, lời văn thường không rõ ràng
hoặc mắc các lỗi ghi chữ viết tắt các đơn vị đo đại lượng.
- Phần giải toán có lời văn ở lớp 2 chưa đáp ứng được đối tượng học sinh
hoàn thành tốt bởi chưa có bài toán giải bằng nhiều cách hoặc bằng nhiều phép
tính.
2.3. Các biện pháp giúp học sinh nắm vững cách giải toán có lời văn ở lớp 2.
Qua việc tiếp thu chuyên đề và trên cơ sở điều tra nắm bắt đối tượng học
sinh của lớp, bản thân tôi luôn suy nghĩ, trăn trở làm thế nào để nâng cao chất
lượng giảng dạy. Qua tìm hiểu thực tế và vốn kinh nghiệm giảng dạy của mình
tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp nhằm khắc phục khó khăn như sau:
3


2.3.1. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu và phân tích bài toán.
Để giải đúng một bài giải toán có lời văn thì việc học sinh hiểu và biết
phân tích bài toán đóng một vai trò rất quan trọng. Việc tìm hiểu đề toán sẽ giúp
học sinh hiểu được yêu cầu của đề bài. Từ đó học sinh xác định được cái đã biết,
cái chưa biết (cái cần tìm) và có hướng để giải được bài toán.
Với mỗi bài toán để học sinh tìm hiểu và phân tích được bài toán giáo viên
cần hướng dẫn học sinh bằng các việc làm sau:
- Đọc đề bài.
- Phân tích đề: Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì?
- Tóm tắt bài toán.
* Dạng bài đề toán chỉ có lời văn (không có hình minh họa): Dạng đề này
giáo viên cần tăng cường sử dụng phương pháp hỏi - đáp để giúp học sinh phân
tích bài toán (trong đó có các hình thức: GV hỏi - học sinh trả lời, học sinh hỏi học sinh trả lời). Thực tế việc giải bài toán có lời văn học sinh đã được làm quen
ở lớp 1. Tuy nhiên để khắc sâu cho học sinh giáo viên nên hình thành cho học
sinh thói quen phân tích bài toán.
Ví dụ 1: Bài tập 3, trang 32 (SGK): Bao gạo to cân nặng 25kg, bao gạo bé cân
nặng 10kg. Hỏi cả hai bao gạo cân nặng bao nhiêu ki-lô-gam? - Bài toán xuôi
Ví dụ 2: Hà có 24 cái kẹo, số kẹo của Hà nhiều hơn số kẹo của Hoa là 6 cái. Hỏi
Hoa có bao nhiêu cái kẹo? - Bài toán ngược.
- Đọc đề bài: Để nắm được bài toán yêu cầu học sinh cần đọc thật kĩ đề toán.
Giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc đề bài:
+ Đọc thầm: Cả lớp đọc thầm đề bài.
+ Đọc thành tiếng: 2 đến 3 học sinh đọc (lớp đọc thầm theo).
+ Đọc trong nhóm bàn.
- Phân tích đề:
+ Thời gian đầu năm học: Do học sinh còn lúng túng với các bài giải toán
có lời văn nên tôi đã tiến hành hình thức sau:
Giáo viên hỏi - học sinh trả lời (Vấn đáp trực tiếp)
Giáo viên gạch chân dưới những từ khóa quan trọng của bài toán. Với các
bài toán giải giáo viên cần chuẩn bị đề bài trên bảng phụ, khi học sinh đọc xong,
cần giúp các em hiểu nghĩa một số từ khóa quan trọng nói lên tình huống toán
học đang bị che lấp bởi cái vỏ ngôn ngữ thông thường như “ít hơn”, “nhiều
hơn", “tất cả”, “cả hai”, ….. Trong trường hợp học sinh chưa hiểu giáo viên cần
giúp các em hiểu nghĩa của từ đó.
Ví dụ 1: Bài tập 3, trang 32 (SGK).
Bao gạo to cân nặng 25kg, bao gạo bé cân nặng 10kg. Hỏi cả hai bao gạo cân
nặng bao nhiêu ki-lô-gam?
Ví dụ 2: Hà có 24 cái kẹo. Số kẹo của Hà nhiều hơn số kẹo của Hoa là 6 cái.
Hỏi Hoa có bao nhiêu cái kẹo?
4


Thời gian từ giữa kì 1 trở đi khi học sinh đã quen với việc tìm hiểu và
phân tích bài toán tôi hướng dẫn học sinh tự phân tích bài toán. Trong bước phân
tích bài toán giáo viên là người định hướng giúp học sinh phát huy năng lực tối
đa. Từ đó giúp các em có hứng thú trong học tập và trở nên yêu thích môn Toán
hơn. Mỗi giáo viên nên khích lệ để bản thân học sinh tự đặt câu hỏi để phân tích
bài toán, tránh áp đặt các em.
- Tóm tắt bài toán:
Sau khi phân tích bài toán xong, giúp học sinh hiểu kỹ đề bài hơn, nắm
được yếu tố đã cho và yếu tố cần tìm giáo viên cần hướng dẫn học sinh tóm tắt
bài toán bằng lời, bằng sơ đồ đoạn thẳng. Hơn thế nữa giáo viên cần kiểm tra lại
việc tìm hiểu đề của các em bằng cách yêu cầu các em trình bày lại đề bài qua
tóm tắt theo cách hiểu của mình hoặc có thể dùng thủ thuật của mình, yêu cầu
học sinh dùng bút chì gạch chân vào từ “quan trọng” trong đề bài.
+ Tóm tắt bằng lời:
Ví dụ 1: Bài tập 3, trang 32 (SGK): Bao gạo to cân nặng 25kg, bao gạo bé cân
nặng 10kg. Hỏi cả hai bao gạo cân nặng bao nhiêu ki-lô-gam?
Với bài toán trên, khi học sinh còn lúng túng với việc tóm tắt giáo viên là
người nêu câu hỏi và học sinh trả lời hoặc có thể tiến hành ngược lại.
+ GV: Bài toán cho biết gì?
+ HS: Bài toán cho biết: Bao gạo to cân nặng 25kg, bao gạo bé cân nặng
10kg.
+ GV: Bài toán hỏi gì?
+ HS: Bài toán hỏi cả hai bao gạo cân nặng bao nhiêu ki-lô-gam?
Tóm tắt:
Bao gạo to: 25kg
Bao gạo bé: 10kg
Cả hai bao : … kg?
Khi học sinh đã quen với việc tóm tắt bài toán, giáo viên không hướng
dẫn học sinh mà yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm đôi (1 học sinh hỏi - học
sinh còn lại trả lời) để thực nhiệm này.
Trong quá trình giảng dạy để mở rộng, phát triển tư duy của học sinh
trong tiết Luyện tập tôi đã đưa ra ví dụ sau.
Ví dụ 2: Hà có 24 cái kẹo. Số kẹo của Hà nhiều hơn số kẹo của Hoa là 6 cái.
Hỏi Hoa có bao nhiêu cái kẹo?
Học sinh khi đọc đề cứ thấy từ “nhiều hơn” thì khi làm bài sẽ nghĩ ngay
đến việc giải bài toán bằng phép tính cộng. Giúp học sinh tránh được sự nhầm
lẫn, giáo viên yêu cầu học sinh:
- Chia nhóm.
- Thảo luận nhóm hệ thống các câu hỏi sau:
+ Hà có bao nhiêu cái kẹo? (Hà có 24 cái kẹo - cái đã biết)
5


+ Số kẹo của Hà như thế nào so với số kẹo của Hoa? (Số kẹo của Hà
nhiều hơn số kẹo của Hoa là 6 cái)
+ Vậy số kẹo của Hoa như thế nào so với số kẹo của Hà? (Số kẹo của Hoa
ít hơn số kẹo của Hà là 6 cái) - So sánh cái chưa biết với cái đã biết.
- 2 học sinh tóm tắt vào bảng nhóm.
- Lớp nhận xét và thống nhất cách viết đúng.
Trong quá trình làm bài nếu nhận thấy học sinh còn lúng túng trong cách
diễn đạt giáo viên cần tìm ra biện pháp giúp học sinh khắc phục nhược điểm này
ngay lập tức để đến giờ học tiếp theo các em không còn vướng mắc nữa.
Sau khi được tôi hướng dẫn đa số học sinh trong lớp đã tự viết đúng tóm
tắt bài toán.
- Bài 2, trang 97 (SGK) : Mỗi nhóm có 3 học sinh, có 10 nhóm như vậy. Hỏi có
tất cả bao nhiêu học sinh?
Mỗi bài toán có các cách tóm tắt khác nhau, tuy nhiên giáo viên giúp học
sinh lựa chọn cách tóm tắt sao cho phù hợp từng bài để dễ hiểu, đơn giản và
ngắn gọn nhất. Có những bài toán nên tóm tắt bằng lời song cũng có những bài
toán nên tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng.
+ Tóm tắt bằng sơ đồ:
Khi dạy bài Bài toán “nhiều hơn”, “ít hơn” sau khi học sinh đọc đề bài,
tìm hiểu bài toán tôi hướng dẫn các em tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng để các em
nắm rõ yêu câu cầu bài toán.
Bài toán: Hàng trên có 5 quả cam, hàng dưới có nhiều hơn hàng trên 2
quả cam. Hỏi hàng dưới có mấy quả cam?
Hệ thống câu hỏi để khai thác:
+ Bài toán cho biết gì?
+ Bài toán yêu cầu chúng ta tìm gì?
………
Với dạng toán về “nhiều hơn”, “ít hơn” giáo viên nên hướng dẫn các em
vẽ sơ đồ đoạn thẳng. Cụ thể ở bài dạy nêu trên tôi hướng dẫn cho học sinh như
sau:
+ Vẽ một đoạn thẳng biểu thị số quả cam ở hàng trên (5 quả).
+ Vẽ đoạn thẳng dài hơn để biểu thị số quả cam ở hàng dưới (bằng số quả
cam ở hàng trên và thêm 2 quả)

6


Học sinh phát huy được tối đa tính tích cực qua việc tự phân tích bài toán.
Ban đầu nhiều học sinh còn bỡ ngỡ chưa tự đặt ra câu hỏi hoặc chưa tự trả lời
câu hỏi của bạn. Thông qua việc học sinh thảo luận nhóm để phân tích bài toán
(Học sinh tự tìm ra câu hỏi rồi nêu để bạn trả lời) dần dần học sinh trong lớp đã
hình thành thói quen tự phân tích bài toán. Song song với đó giáo viên cũng giúp
cho học sinh biết lựa chọn các tóm tắt bài toán phù hợp nhất (bằng lời hay bằng
sơ đồ đoạn thẳng).
+ Bài 4, trang 88 (SGK): Con lợn to cân nặng 92kg. Con lợn bé nhẹ hơn con lợn
to 16kg. Hỏi con lợn bé cân nặng bao nhiêu ki - lô - gam?
Học sinh trình bày tóm tắt bằng sơ đồ như sau:

+ Bài 3, trang 24: Mận cao 95cm, Đào cao hơn Mận 3cm. Hỏi Đào cao bao
nhiêu xăng-ti-mét?

7


Phần tóm tắt bài toán là cần thiết khi học sinh giải bài toán có lời văn, đối
với học sinh lớp 2 không nhất thiết phải trình bày vào vở. Sau khi tóm tắt xong
tôi yêu cầu học sinh nhìn vào tóm tắt đọc lại được một bài toán hoàn chỉnh đúng
theo ý đề bài cho.
Đối với những học sinh chưa hoàn thành giáo viên cần hướng dẫn cho các
em từng bước rõ ràng, có thể dùng đồ dùng trực quan giúp các em tư duy cụ thể,
nắm được yêu cầu của bài toán. Đồng thời gợi ý cho các em lựa chọn phép tính
cho bài giải.
Cần phải kiên trì với đối tượng này, quan sát sự tiến bộ của các em để
động viên kịp thời, dần dần giúp các em mạnh dạn hơn, tự tin hơn khi giải toán.
Ngoài ra thông qua hoạt động nhóm các em biểu lộ được mặt ưu, khuyết điểm
cá nhân. Bằng sự giúp đỡ của những học sinh hoàn thành tốt (học sinh hoàn
thành) sẽ giúp đối tượng học sinh chưa hoàn thành tiến bộ.
* Dạng bài cho đề bài bằng hình vẽ đoạn thẳng:
Với dạng đề toán này tôi hướng dẫn học sinh như sau:
+ Đọc đề toán: Dạng đề toán sử dụng sơ đồ việc đọc đề toán chính là quan
sát sơ đồ. Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát kĩ sơ đồ để nắm được đề bài.
+ Phân tích bài toán: Yêu cầu học sinh dựa vào các dấu hiệu như: Quan
sát đoạn thẳng, so sánh đoạn thẳng để phân tích đề toán (Bài toán cho biết gì?),
quan sát dấu ? để biết bài toán hỏi gì? Dựa vào những dấu hiệu đã quan sát
được học sinh nêu câu trả lời.
+ Nhìn vào sơ đồ để đặt một đề toán bằng lời phù hợp với sơ đồ đã vẽ.
Ví dụ:
+ Bài 3, trang 25(SGK).

8


- Giáo viên chia nhóm học sinh.
- Yêu cầu học sinh thảo luận nhóm các nội dung sau:
+ Bài toán cho biết gì? (Bài toán cho biết đội 1 có 15 người, đội 2 có ít
hơn đội 1 là 2 người)
+ Bài toán hỏi gì? ( Hỏi đội 2 có bao nhiêu người )
- Đại diện nhóm nêu kết quả thảo luận.
- Các nhóm khác nhận xét, bổ sung.
- Giáo viên hỏi để kiểm tra mức độ hiểu của học sinh:
+ Dựa vào đâu em biết đội 1 có 15 người? ( Trên đoạn thẳng biểu thị số
người của đội 1 có ghi 15 người. )
+ Dựa vào đâu em biết số người đội 2 nhiều hơn số người đội 1 là 2 người
( Số người đội 2 được biểu thị đoạn thẳng bằng với đoạn thẳng biểu thị số người
đội 1 và thêm 2 người. )
+ Dựa vào đâu em biết điều bài toán hỏi? (Dựa vào dấu hỏi).
- Đặt đề toán: Đội Một có 15 người, đội Hai có nhiều hơn đội Một là 2
người. Hỏi đội Hai có bao nhiêu người?
* Giáo viên chốt lại kiến thức để khắc sâu: Với dạng bài cho đề bài bằng
hình vẽ đoạn thẳng các em cần quan sát các dấu hiệu con số ghi trên đoạn thẳng
để nắm được bài toán cho biết gì (cái đã cho); dựa vào dấu chấm hỏi để biết bài
toán hỏi gì (cái cần tìm).
* Dạng hình vẽ:
+ Bài 4, trang 131 (SGK)

* Câu a:
- Giáo viên chia nhóm học sinh.
- Yêu cầu học sinh quan sát hình vẽ, thảo luận nhóm, trả lời các câu hỏi:
9


+ Đường gấp khúc ABCD gồm mấy đoạn thẳng?
+ Mỗi đoạn thẳng dài bao nhiêu?
+ Nêu cách tính đường gấp khúc?
* Câu b:
- Chia nhóm học sinh.
- Yêu cầu các nhóm thảo luận các câu hỏi sau:
+ Nêu cách tính chu vi hình tứ giác.
+ Hình tứ giác ABCD có gì đặc biệt?
+ Giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học (là một thước gấp gồm 4 đoạn
thẳng, mỗi đoạn thẳng có độ dài 3cm) để giúp học sinh nắm được chu vi cũng là
độ dài đường gấp khúc khép kín.
+ Bài 3, trang 36 (SGK):

- Học sinh thảo luận nhóm, phân tích bài toán:
+ Bài toán cho biết gì? ( Bài toán cho biết: Bao gạo nặng 46kg, bao ngô
nặng 27kg.)
+ Bài toán hỏi gì? ( Bài toán hỏi: Hỏi cả hai bao cân nặng bao nhiêu ki-lôgam?)
+ Dựa vào đâu mà em biết: Dựa vào hình dạng của vật được vẽ.
- HS dựa vào hình vẽ đặt đề toán: Bao gạo cân nặng 46kg, bao ngô cân
nặng 27kg. Hỏi cả hai bao cân nặng bao nhiêu ki-lô-gam?
* Với dạng bài sử dụng sơ đồ đoạn thẳng (hình vẽ) để nhận biết cái đã
cho, cái cần tìm giáo viên lưu ý học sinh cần dựa vào:
- Hình dạng của vật được vẽ.
- Số liệu trên vật.
- Dấu hỏi.
2.3.2. Hướng dẫn học sinh trình bày tốt bài giải.
* Hướng dẫn học sinh viết được câu lời giải và phép tính tương ứng:
Thông thường việc trình bày một bài giải toán có lời văn tốt không chỉ là viết
được câu lời giải đúng. Song song với việc trình bày được lời giải đúng học sinh
còn phải viết được phép tính tương ứng. Chính vì thế khi học sinh xác định được
dạng toán các em sẽ nêu được phép tính chính xác. Nhiệm vụ của người giáo
viên lúc này rất quan trọng. Người giáo viên sẽ phải tìm cách để hướng dẫn các
10


em vừa viết được câu lời giải đúng vừa viết được phép tính đúng. Trong quá
trình giảng dạy bài giải toán có lời văn bản thân tôi đã tiến hành như sau:
- Viết câu lời giải: Một trong những khó khăn trong dạy bài giải toán có lời
văn ở lớp 2 chính là hướng dẫn học sinh trình bày câu lời giải. Trong quá trình
học sinh làm bài tôi nhận thấy học sinh hay sai câu lời giải. Vì vậy giáo viên sẽ
là người định hướng và giúp đỡ các em để các em nêu và viết được câu lời giải
đúng. Với học sinh lớp 2 khó khăn nhất là vốn từ của các em còn ít, diễn đạt còn
vụng nên việc đặt lời giải còn khó khăn. Ban đầu giáo viên cho học sinh tự diễn
đạt câu lời giải theo ý hiểu của bản thân. Giáo viên cần sát sao, giúp đỡ học sinh
bằng những việc làm cụ thể sau:
- Chia nhóm học sinh.
- Học sinh trong các nhóm thảo luận tìm ra câu lời giải của bài toán.
- Đại diện các nhóm nêu lời giải.
- Các nhóm khác bổ sung (nếu trùng thì thôi).
- Các nhóm cùng thống nhất để lựa chọn lời giải đúng, ngắn gọn và dễ
hiểu nhất.
Ví dụ: Bài 3, trang 30 (SGK): Lớp 2A có 15 học sinh gái, số học sinh trai ít hơn
số học sinh gái 3 bạn. Hỏi lớp 2A có bao nhiêu số học sinh trai?
Những câu lời giải học sinh nêu là:
+ Nhóm 1: Lớp 2A có số học sinh trai là:
+ Nhóm 2: Số học sinh trai của lớp 2A là:
+ Nhóm 3: Lớp 2A có số bạn trai là:
+ Nhóm 4: Số bạn trai của lớp 2A là:
Sau khi thống kê các câu lời giải học sinh trong lớp đã nêu tôi cho học
sinh lựa chọn câu lời giải phù hợp nhất. Trong khi hướng dẫn học sinh nêu câu
lời giải tôi sẽ tìm được những học sinh có năng khiếu thực sự về môn Toán (thể
hiện được việc dạy học cá biệt hóa học sinh). Điều quan trọng là giáo viên cần
trân trọng sự diễn đạt của học sinh - Học sinh có thể diễn đạt xuôi hay ngược
miễn là đúng.
Tuy nhiên đối với bài toán tính độ dài đoạn thẳng, đoạn dây, đường gấp
khúc... có số đo đại lượng như: km, m, dm, mm, . . . giáo viên cần phân biệt một
cách chính xác các khái niệm như: "Đại lượng", "Số đo của một đại lượng" để
giúp học sinh tránh những sai lầm đồng nhất "Đoạn thẳng", với "Độ dài đoạn
thẳng" hay "Số đo đoạn thẳng"
Ví dụ: Bài 4, trang 25 (SGK)
Đoạn thẳng AB dài 10cm, đoạn thẳng CD dài hơn đoạn thẳng AB 2cm. Hỏi
đoạn thẳng CD dài bao nhiêu cm?
Những câu lời giải học sinh nêu:
+ Số xăng-ti-mét đoạn thẳng CD dài là:
11


+ Độ dài đoạn thẳng CD là:
+ Đoạn thẳng CD dài số xăng-ti-mét là:
Trong dạy giải toán có lời văn học sinh cũng thường nhầm lẫn về dạng lời
giải có đơn vị đồng. Vì vậy trong tiết Luyện tập tôi đã giao thêm dạng bài tập
này để giúp học sinh nắm dược đơn vị tính của tiền là đồng.
Ví dụ: Mẹ có 2 tờ 100 đồng và 1 tờ 500 đồng. Hỏi mẹ có bao nhiêu tiền?
Với bài toán này giáo viên có thể hỏi học sinh câu hỏi khác: Mẹ có bao nhiêu
đồng? Việc đi tìm số đồng mẹ có cũng chính là đi tìm số tiền của mẹ. Điều này
giúp học sinh có cơ sở cho việc tính toán sau này, tránh tình trạng học sinh sai
đơn vị (đồng - tiền).
- Trình bày phép tính: Việc viết phép tính tương ứng cũng quan trọng
không kém việc việc được câu lời giải đúng bởi nếu viết phép tính sai sẽ dẫn đến
việc kết quả của bài toán tìm được sẽ sai.
+ Trước khi viết phép tính giáo viên yêu cầu học sinh xem lại câu lời giải
để viết được phép tính đúng.
+ Giáo viên lưu ý học sinh cách trình bày phép tính.
* Hướng dẫn học sinh trình bày bài giải:
Như chúng ta đã biết, các dạng toán có lời văn học sinh không chỉ cần viết
đúng câu lời giải mà còn cần viết đúng phép tính, đáp số. Chính vì vậy, việc
hướng dẫn học sinh trình bày bài giải sao cho khoa học, đẹp mắt cũng là yêu cầu
lớn trong quá trình dạy học.
Trong tiết dạy bài giải toán có lời văn tôi luôn cố gắng hướng dẫn học
sinh thật tỉ mỉ để các em nắm chắc cách trình bày bài giải toán có lời văn để vận
dụng làm bài một cách tốt nhất. Việc trình bày trên bảng tôi cũng cố gắng để học
sinh nắm được cách trình bày một cách hiệu quả nhất.
- Học sinh tự suy nghĩ và trình bày bài giải của mình vào vở (bảng lớp,
bảng nhóm). Sau đó giáo viên chấm bài, sửa cho học sinh và hướng dẫn lại cách
trình bài (nếu cần ). Với những bài giải trình bày khoa học giáo viên cần tuyên
dương khích lệ học sinh ngay. Ban đầu tôi thường gọi những học sinh hoàn
thành tốt lên bảng trình bày bài giải (bảng nhóm). Học sinh hoàn thành tốt có thể
thay giáo viên trình bày bài giải mẫu cho cho các bạn học theo cách trình bày.

12


Cùng với việc hướng dẫn cách trình bày tôi thường xuyên trình bày bài
mẫu trên bảng và yêu cầu học sinh quan sát, nhận xét về cách trình bày để từ đó
học sinh quen với cách trình bày. Bên cạnh đó, tôi còn thường xuyên chấm bài
và sửa lỗi cho những học sinh; tuyên dương trước lớp những học sinh làm đúng,
trình bày sạch đẹp, cho các em đó lên bảng trình bày lại bài làm của mình để các
bạn cùng học tập.
* Ví dụ: bài 4, trang 51: Một cửa hàng có 51kg táo, đã bán 26kg táo. Hỏi cửa
hàng đó còn lại bao nhiêu ki-lô-gam táo?
Trong quá trình chấm bài tôi đã phát hiện ra còn có học sinh lúng túng
trong cách trình bày dẫn đến bài giải chưa thật khoa học. Tôi đã lựa chọn hai bài
giải làm ví dụ về cách trình bày để học sinh tự nhận thấy cách trình bày phù hợp,
đẹp mắt và các em sẽ học theo trong quá trình làm bài của những tiết học tiếp
theo. Thông qua đó đưa ra cách khắc phục giúp bạn không còn lúng túng trong
các trình bày bài toán giải có lời văn.

13


Sau khi được tôi hướng dẫn và học tập từ bạn cách trình bày học sinh
trong lớp tôi giải dạy đa số đã trình bày được những bài giải sạch, đẹp.
Ví dụ:
Bài 3, trang 96: Mỗi xe đạp có 2 bánh xe. Hỏi 8 xe đạp có bao nhiêu bánh xe?
Bài 2: Tính chu vi hình tam giác ABC, biết độ dài các cạnh là: AB = 2cm, BC =
5cm, AC = 4cm.

Bài 4: Can bé đựng được 14l dầu, can to đựng được nhiều hơn can bé 8l. Hỏi
can to đựng được bao nhiêu lít dầu?

2.3.3. Tổ chức hình thức dạy học phong phú.
Việc tổ chức hình thức dạy học phong phú sẽ tạo hứng thú, khơi dậy sự
khám phá yêu thích môn Toán cho học sinh trong quá trình tiếp nhận kiến thức.
* Dạng bài hình thành kiến thức mới: Với dạng bài này thường có hình vẽ
minh họa. Học sinh có đồ dùng trực quan, các em được cùng thực hành trên đồ
dùng trực quan với giáo viên.
Ví dụ: Dạy tiết 24 “Bài toán về nhiều hơn”
Bài toán: Hàng trên có 5 quả cam, hàng dưới có nhiều hơn hàng trên 2 quả
cam. Hỏi hàng dưới có mấy quả cam?

14


Giáo viên sẽ sử dụng đồ dùng trực quan giúp học sinh nắm được bài toán.
Song song với đó giáo viên hướng dẫn các em sử dụng đồ dùng trực quan của
các em trong bộ đồ dùng học Toán 2 để thực hành cùng (hình vẽ minh họa quả
cam). Với bài toán trên giáo viên yêu cầu học sinh thực hành cùng mình như
sau: Lấy 5 quả cam - biểu thị số cam ở hàng trên xếp thẳng một hàng, tiếp tục
lấy thêm 2 quả cam - biểu thị phần nhiều hơn. Khi được thực hành trên đồ dùng
khiến học sinh rất thích thú. Từ đó sẽ tạo hứng thú học tập cho học sinh, giúp
các em tiếp thu bài tốt hơn.
Giáo viên phải biết tạo ra sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các đối tượng, khuyến
khích học sinh giúp các em giải các bài luyện tập. Giáo viên có thể tổ chức cho
các em giải quyết các bài tập với nhiều hình thức khác nhau: Hoạt động nhóm,
cá nhân, theo lớp...
* Dạng bài luyện tập, thực hành: Học sinh tiểu học có đặc điểm thích vận
động và thích tự mình được khám phá. Thực tế trong quá trình giảng dạy cho
thấy học sinh rất thích khi được làm dạng bài tập ở tiết luyện tập. Trước khi học
tiết học có dạng bài tập này tôi yêu cầu học sinh cần chuẩn bị đầy đủ đồ dùng
học tập (thước kẻ, ...). Trong tiết học, sau khi nêu yêu cầu của bài tập học sinh
trong lớp sẽ cùng được thực hành và báo cáo kết quả với giáo viên.
Ví dụ:
+ Bài 4, trang 54.

+ Bài 3, trang 130.

2.3.4. Đổi mới phương pháp dạy học: Cụ thể là việc việc sử dụng đồ dùng dạy
học một cách hiệu quả. Hiện nay việc sử dụng những bài giải điện tử mang lại
hiệu quả cho các tiết dạy nhất là những tiết dạy có bài tập thuộc phần giải toán
có lời văn. Với những bài giải toán có lời văn trong quá trình chữa bài tôi
thường sử dụng hình thức lồng tiếng các con vật ngộ nghĩnh, tiếng vỗ tay hưởng
ứng khi học sinh làm bài tốt, trò chơi toán học, ..... Hình thức này đem lại hiệu
quả cao, tạo không khí hứng khởi trong giờ học, giúp các em thay đổi không khí
căng thẳng trong tiết học.
15


2.3.5. Tổ chức các trò chơi: Thông qua các trò chơi sẽ kích thích sự hiểu biết,
tạo hứng thú, giảm bớt mệt mỏi trong những giờ học toán. Sau khi hình thành
kiến thức mới, giáo viên nên tổ chức các trò chơi toán học (Tìm nhà cho các con
vật, Nhanh tay nhanh mắt, ...... ). Tổ chức các trò chơi ngoài mục đích giảm
căng thẳng còn có tác dụng giúp củng cố kiến thức đã học cho học sinh.
2.4. Kết quả:
* Học sinh:
- Tất cả học sinh trong lớp đã xác định đúng được yêu cầu đề bài, nắm
được dạng toán. Có đến 97,7% học sinh hoàn thành bài tập (trong đó có gần
70% học sinh đạt ở mức hoàn thành tốt), đặc biệt có những học sinh có khả năng
hoàn thành bài tập trước thời gian quy định và giúp đỡ những bạn chưa hoàn
thành.
* Giáo viên:
- Rút ra được những kinh nghiệm trong việc dạy học sinh giải toán có lời
văn ở lớp 2. Từ đó hướng dẫn học sinh một cách dễ hiểu, dễ nhớ và vận dụng
thành thạo.
- Thông qua dạy học giải toán có lời văn đã phân loại được đối tượng học
sinh từ đó có những biện pháp giúp đỡ những học sinh chưa hoàn thành khắc
phục những hạn chế còn tồn tại để các em có khả năng giải toán. Đồng thời qua
đó cũng phát huy được nhiều nhất năng lựa của những học sinh đạt mức hoàn
thành tốt.
* Nhà trường:
- Góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán trong nhà trường.

16


3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
- Qua quá trình tìm tòi nghiên cứu để chọn ra phương pháp dạy Toán có
lời văn cho học sinh lớp 2 đã đạt được kết quả như đã nêu, để đạt được kết
quả cao thì người giáo viên cần phải cố gắng rất nhiều về mọi mặt, đặc biệt là
phải tự nâng cao trình độ về toán học thông qua các chuyên đề do Phòng giáo
dục và Sở Giáo dục tổ chức, qua việc nghiên cứu tài liệu chuyên môn như:
Thông tin giáo dục tiểu học, chuyên đề và phương pháp dạy học ở tiểu học,
các Tập san về giáo dục tiểu học, Toán tuổi thơ.
- Phát huy các điểm mạnh của phương pháp giảng dạy và hạn chế từng
điểm yếu của từng phương pháp.
- Giáo viên cần tìm hiểu để nắm vững nội dung chương trình và lựa chọn
phương pháp phù hợp với từng nội dung.
- Dạy học phần giải toán có lời văn cần giúp các em có thói quen tiến
hành theo 4 bước. Nắm vững phương pháp giải của từng dạng bài.
- Phân loại khả năng tiếp nhận của học sinh, để có những giải pháp phù
hợp cho từng đối tượng học sinh.
- Chú ý đến từng đối tượng học sinh, giúp các em tham gia hoạt động học
tập một cách tích cực, tự giác. Tuỳ thuộc vào nhận thức của các nhóm học mà có
thể thêm (bớt) các tình huống.
- Giáo viên tích cực, tự giác học hỏi bạn bè, đồng nghiệp và các tài liệu
tham khảo để nắng vững, trau dồi cho bản thân trình độ toán học và các phương
pháp dạy học tiên tiến.
- Với vốn kinh nghiệm còn ít ỏi của mình tôi mạnh dạn đưa ra “Một số
kinh nghiệm giúp học sinh nắm vững cách giải toán có lời văn lớp 2”. Rất
mong nhận được ý kiến đóng góp của các đồng chí và các bạn đồng nghiệp.
Tôi mong sự góp ý của các đồng chí, các bạn đồng nghiệp để tôi có phương
pháp dạy phù hợp, nâng cao hiệu quả dạy môn Toán nói riêng và các bộ môn
văn hoá trong nhà trường tiểu học nói chung.
3.2. Kiến nghị:
- Để giúp học sinh nắm vững cách giải toán có lời văn lớp 2 đề nghị tổ
chuyên môn cần thường xuyên trao đổi, rút ra những biện pháp hiệu quả trong
việc dạy và học giải toán có lời văn ở lớp 2.
- Đề nghị nhà trường cung cấp thêm tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu
và tạo điều kiện để SKKN được thực thi.
Thanh Hóa, ngày 12 tháng 3 năm 2017
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
(Kí và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Hồng Nga
17


MỤC LỤC:
Mục
1
1.1
1.2
1.3
1.4
2
2.1
2.2
2.3
2.3.1
2.3.2
2.3.3
2.3.4
2.3.5
2.4
3
3.1
3.2

Nội dung
Mở đầu
Lí do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Thực trạng của việc dạy - học giải toán có lời văn
Các biện pháp giúp học sinh nắm vững cách giải toán có lời
văn ở lớp 2
Hướng dẫn học sinh tìm hiểu và phân tích bài toán
Hướng dẫn học sinh trình bày tốt bài giải
Tổ chức hình thức dạy học phong phú
Đổi mới phương pháp dạy học
Tổ chức các trò chơi
Kết quả
Kết luận, đề xuất
Kết luận
Đề xuất

18

Trang
1
1
1
1
1
2
3
3
4
10
15
16
16
16
17
17


PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC XẾP LOẠI
STT
1
2
3

TÊN SÁNG KIẾN

HĐKH

Một số biện pháp dạy học phép
Phòng GD TP
nhân cho học sinh lớp 2
Thanh Hóa.
Một số biện pháp giúp học sinh lớpSở GD Thanh
Hóa
2 viết đoạn văn
Một vài kinh nghiệm trong việc
Sở GD Thanh
thực hiện đánh giá học sinh theo
Hóa
TT30 của Bộ giáo dục và đào tạo

19

XẾP
LOẠI

NĂM HỌC

B

2011 - 2012

B

2013 - 2014

B

2015 - 2016



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×