Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tập làm văn miêu tả có hiệu quả

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GD&ĐT HOẰNG HÓA

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5
HỌC TẬP LÀM VĂN MIÊU TẢ CÓ HIỆU QUẢ

Người thực hiện: Nguyễn Thị Tuyến
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Hoằng Minh
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Tiếng Việt

THANH HOÁ NĂM 2017


MỤC LỤC
Nội dung
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
2.2. Thực trạng học tập làm văn miêu tả của học sinh lớp 5
2.3. Một số biện pháp giúp học sinh học tập có hiệu quả tập làm văn
miêu tả
2.4. Kết quả nghiên cứu
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
3.2. Kiến nghị

Trang
2
2
3
3
3
3
3
4
5
15
16
16
16

1


1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Trong dạy học Tiếng Việt, mỗi phân môn đều có một nhiệm vụ riêng,
nhưng đích cuối cùng là đạt được mục tiêu của môn Tiếng Việt. Phân môn Tập
làm văn là phân môn có nhiệm vụ: “Trang bị kiến thức và rèn kĩ năng làm văn.
Góp phần cùng các môn học khác mở rộng vốn sống rèn tư duy lô gic và tư duy
hình tượng; bồi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách cho học sinh.”[10]
Học tập làm văn, học sinh có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp của con người,
của thiên nhiên. Qua các bài văn miêu tả, học sinh được rèn cách nhìn đối tượng,

nhận xét, thể hiện thái độ trước cảnh vật; thấy được quan hệ gần gũi giữa người
với sự vật định tả. Những cơ hội đó đã làm cho tình cảm yêu mến gắn bó với
thiên nhiên, với người và vật nảy nở, tâm hồn và tình cảm của trẻ thêm phong
phú. Nó là nhân tố quan trọng góp phần hình thành nhân cách tốt cho trẻ em.
Các em có thể trở thành người con ngoan, hiếu thảo trong gia đình; là những con
người có ích hội tụ những phẩm chất tốt đẹp. Để trở thành chủ nhân tương lai
của đất nước, hẳn phải được bắt đầu từ những trang thơ đẹp, áng văn hay của
ngày hôm nay.
Tuy nhiên, từ thực tế dạy học cho thấy rằng, Tập làm văn là phân môn mà
học sinh ít “hứng thú”, vì Tập làm văn là văn bản viết, bắt buộc học sinh phải
trau chuốt từng lời văn, gọt giũa từng chi tiết, từng hình ảnh. Trong khi đó, khả
năng giao tiếp, vốn từ ngữ, khả năng quan sát nhận xét sự vật của các em còn rất
hạn chế. Các bài văn miêu tả của các em lại thành văn kể, liệt kê một cách khô
khan, nghèo nàn về từ, diễn đạt rườm rà tối nghĩa.
Mặt khác, phân môn Tập làm văn có hệ thống lí thuyết được xây dựng
riêng cho từng thể loại như: Tả người, tả cảnh vật, tả đồ vật, tả cây cối, tả con
vật... và ở từng thể loại đòi hỏi giáo viên phải có những cách rèn khác nhau để
học sinh đạt được những kĩ năng cần thiết. Để viết được bài văn hay, các em cần
rèn luyện năng lực quan sát, năng lực thu thập thông tin, năng lực tưởng tượng,
năng lực phân tích tổng hợp và các khả năng biểu đạt, bố cục, tạo phong cách.
Để giúp học sinh có thể viết được bài văn hay, có hình ảnh, giàu cảm xúc, quả
là một việc làm khó. Là giáo viên, nhất là giáo viên dạy lớp 4, 5 không ít người
đã băn khoăn, trăn trở về vấn đề này. Song một số tài liệu như sách giáo khoa,
sách giáo viên, sách thiết kế thì hướng dẫn chung chung, còn một số sách khác
như văn mẫu lại chỉ có các bài văn đã viết sẵn mà không có một sự hướng dẫn
nào để định hướng cho giáo viên cũng như học sinh và cũng chưa có một tài liệu
nào bàn sâu về vấn đề này.
Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy- học Tập làm văn nhất là văn
miêu tả cho học sinh lớp 5? Đi tìm câu trả lời cho câu hỏi trên là một quá trình
và cũng là mục đích cần hướng đến của các thầy cô giáo. Để làm tốt vai trò
người tổ chức và hướng dẫn, bản thân tôi đã tìm tòi, phân tích thực trạng và lựa
chọn một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tốt Tập làm văn miêu tả.
Bởi những lý do trên nên tôi chọn và viết đề tài : “Một số biện pháp giúp
học sinh lớp 5 học Tập làm văn miêu tả có hiệu quả”, trước hết là giúp nâng
2


cao chất lượng Tập làm văn cho lớp mình phụ trách sau đó là góp phần nâng cao
chất lượng dạy học môn Tiếng Việt nói chung.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Tôi nghiên cứu vấn đề này với mục đích tìm ra phương pháp và hình thức dạy
học phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy - học Tập làm văn miêu tả cho học
sinh lớp 5 trường Tiểu học Hoằng Minh nói riêng và học sinh lớp 5 ở các trường tiểu
học nói chung.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này sẽ tập trung nghiên cứu các giải pháp giúp học sinh lớp 5 học
tập có hiệu quả Tập làm văn miêu tả.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp quan sát:
Tôi đã quan sát thái độ, hành vi của học sinh, phát hiện ra những hành vi,
cử chỉ của học sinh trong học tập để từ đó điều chỉnh hay phát huy tính tích cực,
tự giác của học sinh.
1.4.2. Phương pháp thực nghiệm:
Tôi đã áp dung dạy thực tế học sinh lớp 5A trường Tiểu học Hoằng Minh kể
từ khi xây dựng kế hoạch.
1.4.3. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động:
Tôi đã chấm bài rất kĩ để thấy được những thiếu sót, những chỗ hổng của
học sinh để từ đó đề ra các giải pháp, xây dựng kế hoạch cho việc thực hiện dạy
học đạt chất lượng cao.
1.4.4. Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm:
Tôi đã tổng hợp, đúc rút kinh nghiệm của giáo viên trong việc hướng dẫn
học sinh học tập trên lớp, ở nhà,…từ đó rút ra được những bài học và nêu được
những biện pháp khắc phục tồn tại.
1.4. 5. Phương pháp đàm thoại:
Phương pháp đàm thoại, trò chuyện là một hình thức tốt nhất để tôi có thể
gần gũi các em, phụ huynh. Qua đó tôi biết được tâm tư, tình cảm, nguyện vọng
hay khó khăn…của các em về việc học ở lớp, cũng như ở nhà như thế nào. Từ
đó có phương pháp và hình thức tổ chức dạy - học thích hợp nhằm nâng cao
hiệu quả dạy- học.
1.4.6. Phương pháp thống kê, tính toán:
Qua những thông tin tài liệu thu thập được, tôi đã vận dụng phương pháp
này để thống kê lại tình hình và tính toán các số liệu cần thiết và biết được chất
lượng học tập của học sinh thời gian sau so với thời gian trước như thế nào.

2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
Tập làm văn là một phân môn mang tính tổng hợp và sáng tạo cao. Tổng
hợp các kiến thức, kĩ năng từ các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả,
Luyện từ và câu,... để viết nên một bài tập làm văn.

3


Theo quan điểm tích hợp, các phân môn được tập hợp lại xung quanh trục
chủ điểm và các bài học. Nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng gắn
bó chặt chẽ với nhau. Như vậy, muốn dạy- học có hiệu quả Tập làm văn miêu tả
(tả cảnh, tả người) nhất thiết người giáo viên phải dạy tốt Tập đọc, Kể chuyện,
Chính tả, Luyện từ và câu. Vì trong các bài đọc, trong câu chuyện, trong các bài
tập luyện từ và câu thường xuất hiện các đoạn văn, khổ thơ có nội dung miêu tả
rất rõ về cảnh vật, thiên nhiên, con người,...
Bài tập làm văn nếu không sáng tạo sẽ trở thành một bài văn khô cứng, góp
nhặt của người khác, nội dung bài văn sẽ không hồn nhiên, trong sáng, mới mẻ
như tâm hồn của các tác giả nhỏ tuổi.
Chất lượng Tập làm văn là chất lượng của cảm thụ văn học, của các kĩ năng
nghe, nói, đọc, viết tiếng mẹ đẻ. Cho nên, thầy và trò phải soạn giảng và học tập
tích cực, nghiêm túc, hiệu quả, mới mong nâng cao một cách bền vững chất
lượng môn Tiếng Việt ở lớp cuối cấp Tiểu học.
- Dạy Tập làm văn lớp 5 phải đảm bảo mục tiêu, yêu cầu cần đạt về kiến
thức, kĩ năng của Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học theo Chuẩn
kiến thức, kĩ năng của từng môn học (ban hành kèm theo quyết định số 16 của
Bộ GD-ĐT) và phù hợp trình độ của từng học sinh trong lớp mà “Hướng dẫn
896” của Bộ GD-ĐT đã đề ra.
- Tôi tin rằng đề tài này nếu được áp dụng và vận dụng hợp lý sẽ đem lại
hiệu quả cao cho phân môn Tập làm văn, góp phần nâng cao chất lượng môn
Tiếng Việt lớp 4, lớp 5.
2.2. Thực trạng học tập làm văn miêu tả của học sinh lớp 5
2.2.1. Thực trạng
Năm học 2016 – 2017, tôi được phân công phụ trách lớp 5A với 21 học
sinh. Hầu hết học sinh của lớp 5A tôi chủ nhiệm còn rất hạn chế về làm bài Tập
làm văn. Sau khi nghiên cứu sách giáo khoa Tiếng Việt 4, tôi nhận thấy học sinh
lớp 4 đã được học văn miêu tả về đồ vật, cây cối, con vật. Nhưng qua bài kiểm
tra Tập làm văn với đề bài: Tả một cây bóng mát(hoặc một cây ăn quả) mà
em biết, lớp tôi có tới 8/21 (38,1%) bài làm chưa đạt yêu cầu.
* Một số hạn chế của học sinh là:
- Bài viết của học sinh còn mắc nhiều lỗi chính tả.
- Học sinh chưa xác định được trọng tâm đề bài.
- Nhiều em thường liệt kê, kể lể dài dòng, diễn đạt chưa rõ ý, lủng củng.
Nhiều em chưa biết dừng lại để tả kĩ một vài chi tiết cụ thể nổi bật.
- Vốn từ ngữ của các em còn nghèo nàn, khuôn sáo, quan sát sự vật còn hời
hợt.
- Các em chưa biết cách dùng các biện pháp nghệ thuật khi miêu tả.
Đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng chất lượng Tập làm văn của học
sinh không đạt yêu cầu ? Qua quá trình giảng dạy lớp 5, tôi nhận thấy học sinh
chưa hoàn thành Tập làm văn là do nhiều nguyên nhân.
2.2.2. Nguyên nhân của thực trạng
- Khi làm văn, học sinh chưa xác định được yêu cầu trọng tâm của đề bài.

4


- Học sinh không được quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả.
- Khi quan sát thì các em không được hướng dẫn về kĩ năng quan sát: quan
sát những gì, quan sát từ đâu ? Làm thế nào phát hiện được nét tiêu biểu của đối
tượng cần miêu tả.
- Không biết hình dung bằng hình ảnh, âm thanh, cảm giác về sự vật miêu
tả khi quan sát.
- Vốn từ đã nghèo nàn lại không biết sắp xếp như thế nào để bài viết mạch
lạc, chưa diễn đạt được bằng vốn từ ngữ, ngôn ngữ của mình về một sự vật, cảnh
vật, về một con người cụ thể nào đó.
- Nguyên nhân cuối cùng là trách nhiệm của người giáo viên. Phân môn
Tập làm văn là một môn học mang tính tổng hợp và sáng tạo, nhưng lâu nay
người giáo viên (nhất là giáo viên lớp 4, lớp 5) chưa có cách phát huy tối đa
năng lực học tập và cảm thụ văn học của học sinh; chưa bồi dưỡng được cho các
em lòng yêu quý Tiếng Việt, ham thích học Tiếng Việt để từ đó các em nhận ra
rằng đã là người Việt Nam thì phải đọc thông viết thạo Tiếng Việt và phát huy
hết ưu điểm của tiếng mẹ đẻ.
2.3. Một số biện pháp giúp học sinh học tập có hiệu quả tập làm văn
miêu tả
Xuất phát từ thực trạng và nguyên nhân trên, đồng thời thấy rõ vai trò,
nhiệm vụ của một giáo viên, tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp sau đây để
nâng cao được chất lượng phân môn Tập làm văn cho lớp tôi.
2.3.1. Dạy xác định yêu cầu trọng tâm đề bài
Bài văn của học sinh được viết theo một đề bài cụ thể, cho nên yêu cầu
hàng đầu là các em phải viết đúng đề bài. Một đề bài đưa ra cho học sinh viết
thường ẩn chứa đến 3 yêu cầu: yêu cầu về thể loại (kiểu bài), yêu cầu về nội
dung, yêu cầu về trọng tâm.
Ví dụ: Đề bài ở tuần 4 lớp 5:“ Tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều)
trong một vườn cây (hay trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng,
nương rẫy).
Khi xác định yêu cầu trọng tâm của đề bài, giáo viên phải giúp học sinh
hiểu được rằng việc viết đúng yêu cầu của đề bài là yếu tố quyết định nội dung
bài viết:
Với đề bài trên, giáo viên dẫn dắt để học sinh nắm được 3 yêu cầu trọng
tâm như sau :
a. Yêu cầu về thể loại của đề là: Miêu tả (thể hiện ở từ “Tả”).
b. Yêu cầu về nội dung là: Cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) thể
hiện ở cụm từ “cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều)”.
c. Yêu cầu về trọng tâm là: Ở trong một vườn cây (hay trong công
viên….).
Trong thực tế, không phải đề bài nào cũng xác định đủ 3 yêu cầu. Như đề
bài “Tả một cơn mưa” chỉ có yêu cầu về thể loại và nội dung. Với đề bài này,
giáo viên cần giúp học sinh tự xác định thêm yêu cầu về trọng tâm của bài viết.
Chẳng hạn “Tả một cơn mưa khi em đang trên đường đi học”...Việc xác định

5


đúng trọng tâm của đề sẽ giúp cho bài viết được thu hẹp nên các em có được ý
cụ thể, chính xác, tránh việc viết tràn lan, chung chung,...
2.3.2. Rèn luyện kĩ năng quan sát cho học sinh
“Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người
để giúp người nghe, người đọc hình dung được các đối tượng ấy” [2], tức là
lấy câu văn để biểu hiện các đặc điểm… sự vật, giúp người đọc như được nhìn
tận mắt, sờ tận tay vào sự vật miêu tả. Vì vậy, khi dạy văn miêu tả, giáo viên cần
chú ý hướng dẫn học sinh quan sát và miêu tả theo các trình tự sau sao cho phù
hợp với từng đề bài cụ thể:
a. Tả theo trình tự không gian:
Quan sát toàn bộ trước rồi đến quan sát từng bộ phận, tả từ xa đến gần, từ
ngoài vào trong, từ trái qua phải,... (hoặc ngược lại). Ở lớp 4, lớp 5 trình tự này
được vận dụng khi miêu tả loài vật, đồ vật, cảnh vật,..
b. Tả theo trình tự thời gian:
Miêu tả theo diễn biến theo thời gian, từ bắt đầu đến kết thúc, cái gì xảy ra
trước (có trước) thì miêu tả trước. Cái gì xảy ra sau (có sau) thì miêu tả sau.
Trình tự này thường được vận dụng khi làm Tập làm văn miêu tả cảnh vật hay tả
cảnh sinh hoạt của người.
Ví dụ : “Thảo quả trên rừng Đản Khao đã chín nục. Chẳng có thứ quả nào
hương thơm lại ngây ngất kì lạ đến như thế. Mới đầu xuân năm kia, những hạt
thảo quả gieo trên đất rừng qua một năm, đã lớn cao đến bụng người. Một
năm sau nữa, từ một thân lẻ, thảo quả đâm thêm hai nhánh mới. Sự sinh sôi
sao mà mạnh mẽ vậy.”[1]
c. Tả theo trình tự tâm lí:
* Khi quan sát thấy những đặc điểm riêng, nổi bật nhất, thu hút và gây cảm
xúc mạnh nhất đến bản thân thì quan sát trước, tả trước, các bộ phận khác tả sau.
Khi miêu tả đồ vật, loài vật, tả người nên vận dụng trình tự này nhưng chỉ nên tả
những điểm đặc trưng nhất, không cần phải tả đầy đủ chi tiết như nhau của đối
tượng.
Ví dụ : “Sầu riêng là loại trái quý ở miền Nam. Hương vị của nó hết sức
đặc biệt, mùi thơm đậm, bay rất xa... Hoa sầu riêng trổ vào cuối năm... Hoa
đậu từng chùm màu trắng ngà. Đứng ngắm cây sầu riêng, tôi cứ nghĩ mãi về
dáng cây kì lạ này. Thân nó khẳng khiu, cao vút, cành ngay thẳng đuột...”.
Tác giả đã tả nét đặc sắc nhất của quả, hoa và dáng cây sầu riêng.
* Ngoài các trình tự miêu tả trên, giáo viên cần hướng dẫn và rèn luyện cho
học sinh kĩ năng sử dụng các giác quan (thính giác, thị giác, xúc giác, vị giác,...)
để quan sát, cảm nhận sự vật, hiện tượng miêu tả.
Ví dụ : Phân tích bài “Mưa rào” (Tiếng Việt 5- Tập 1- Trang 33) ta thấy
tác giả đã quan sát bằng các giác quan như sau:
- Thị giác: Thấy những đám mây biến đổi trước cơn mưa, thấy mưa rơi.
- Xúc giác: Gió bỗng thấy mát lạnh, nhuốm hơi nước.
- Khứu giác: Biết được mùi nồng ngai ngái, xa lạ man mác của những trận
mưa đầu mùa.

6


- Thính giác: Nghe thấy tiếng gió thổi, tiếng mưa rơi, tiếng sấm, tiếng hót
của chào mào.
2.3.3. Giúp học sinh nắm đặc điểm của từng kiểu bài miêu tả
Giáo viên giúp học sinh biết dùng lời văn phù hợp với yêu cầu về nội dung
và thể loại cho trước, khi luyện tập. Giáo viên cũng cần lưu ý nhắc nhở các em
nắm vững các đặc điểm của mỗi thể loại, mỗi dạng bài và xác định đối tượng
miêu tả. Mỗi bài văn phải thể hiện cái mới cái hay, cái riêng và cảm xúc của
mình.
* Đối với kiểu bài tả cảnh
Kiểu bài tả cảnh học sinh cần xác định các yêu cầu sau:
a. Xác định không gian, thời gian nhất định:
Giáo viên cần giúp học sinh biết được khi tả cảnh phải quan sát và miêu tả
bao quát toàn cảnh trước rồi đến từng bộ phận của cảnh và tả cảnh ấy vào lúc
nào.
Sau khi xác định thời gian, không gian nhất định, học sinh cần biết lựa
chọn trình tự quan sát, miêu tả.
b. Xác định trình tự miêu tả:
Khi tả học sinh phải xác định một trình tự miêu tả phù hợp với cảnh được
tả. Tả từ trên xuống hay từ dưới lên, từ phải sang trái hay từ ngoài vào trong... là
tuỳ thuộc đặc điểm của cảnh.
Ví dụ: Tả từ ngoài vào trong: “Đền Thượng nằm chót vót trên đỉnh núi
Nghĩa Lĩnh. Trước đền, những khóm hải đường đâm bông rực đỏ, những cánh
bướm nhiềumàu sắc bay dập dờn như đang múa quạt xoè hoa. Trong đền dòng
chữ vàng Nam Quốc Sơn Hà uy nghiêm đề ở bức hoành phi treo chính giữa.”[1]
c. Chọn nét tiêu biểu:
Chỉ nên chọn nét tiêu biểu nhất của cảnh để tả, tập trung làm nổi bật đặc
điểm đó lên, có thể tả xen hoạt động của người, của vật, ... trong cảnh để góp
phần làm cho cảnh sinh động hơn, đẹp hơn.
Ví dụ: Trong bài Kì diệu rừng xanh, khi tả rừng, tác giả đã tập trung làm
nổi bật vẻ đẹp kì thú của những cây nấm: “Loanh quanh trong rừng, chúng tôi đi
vào một lối đầy nấm dại, thành phố nấm lúp xúp dưới bóng cây thưa. Những
chiếc nấm to bằng cái ấm tích, màu sặc sỡ rực lên. Mỗi chiếc nấm là một lâu đài
kiến trúc tân kì. Tôi có cảm giác mình là một người khổng lồ đi lạc vào kinh đô
của vương quốc những người tí hon. Đền đài, miếu mạo, cung điện của họ lúp
xúp dưới chân.”
d. Tả cảnh gắn với cảm xúc riêng bằng nhiều giác quan:
Tả cảnh luôn luôn gắn với cảm xúc của người viết. Cảnh vật mang theo
trong nó cuộc sống riêng với những đặc điểm riêng. Con người cảm nhận cảnh
như thế nào sẽ đem đến cho cảnh những tình cảm như thế. Nhà thơ Lê Anh
Xuân, trong niềm vui của ngày Tổ quốc hoàn toàn thống nhất, đất nước thoát
khỏi ách ngoại xâm, bằng tâm trạng hạnh phúc nhất, ông đã thốt lên:
“Bỗng thấy nội tôi trẻ lại
Như thời con gái tuổi đôi mươi.”

7


Đây chính là phần hồn của cảnh. Cảnh không có hồn sẽ trơ trọi, thiếu sức
sống.
e. Chọn từ ngữ thích hợp khi tả cảnh:
Khi làm văn miêu tả cần biết lựa chọn từ ngữ gợi tả, dùng hình ảnh so sánh
hoặc nhân hoá để làm nổi bật đặc điểm cảnh đang tả giúp người đọc như đang
đứng trước cảnh đó và cảm nhận được những tình cảm của người viết.
Ví đụ: Sau đây xin trích một số câu trong bài văn tả cảnh: “ Chiều tối” của
Phạm Đức (Sách Tiếng Việt 5- tập 1- trang 22): “Nắng bắt đầu rút lên những
chòm cây cao, rồi nhạt dần và như hoà lẫn với ánh sáng trắng nhợt cuối cùng”.
Ta thấy câu văn miêu tả sự chuyển hoá của ánh sáng từ “nhạt dần” rồi “hoà
lẫn” với “ánh sáng trắng nhợt”.
Tác giả đã dùng mắt để quan sát sự biến đổi của ánh sáng và bóng tối, đã
dùng tai để nghe tiếng dế và dùng mũi để cảm nhận hương vườn và cũng đã sử
dụng nghệ thuật nhân hoá làm cho câu văn sinh động một cách rất tinh tế, khi
viết:
“Bóng tối như bức màn mỏng, như thứ bụi xốp, mờ đen phủ dần lên mọi
vật.”
“Một vài tiếng dế gáy sớm, vẻ thăm dò, chờ đợi.”
“ Trong im ắng, hương vườn thơm thoảng bắt đầu rón rén bước ra và tung
tăng trong ngọn gió nhẹ, nhảy trên cỏ, trườn theo những thân cành.”
* Đối với kiểu bài văn tả người
Khi miêu tả người, yếu tố quan sát lại càng quan trọng. Nhìn chung, mọi
người đều có những đặc điểm giống nhau nhưng lại hoàn toàn khác nhau ở
những đặc điểm riêng, chỉ người đó mới có. Nhiệm vụ của giáo viên khi hướng
dẫn học sinh “miêu tả người” là giúp cho các em thấy rằng phải miêu tả ngắn
gọn mà chân thực, sinh động về hình ảnh và hoạt động của người mình tả.
Ví dụ: Trong bài văn “Người thợ rèn” (SGK lớp 5- tập 1- trang 123). Tác
giả miêu tả người thợ rèn đang làm việc:
“Anh bắt lấy thỏi thép hồng như bắt lấy một con cá sống. Dưới những nhát
búa hăm hở của anh, con cá lửa ấy vùng vẫy, quằn quại, giãy lên đành đạch.”
Ta thấy tác giả quan sát rất kĩ và miêu tả sinh động làm nổi bật hình ảnh
người thợ rèn như một người chinh phục dũng mãnh và thấy rõ quá trình biến
thỏi thép thành một lưỡi rựa.
Vì thế, để làm được bài văn tả người thành công, học sinh cần nắm vững
những yêu cầu sau:
a. Chú ý khi tả ngoại hình, hoạt động:
Khi tả ngoại hình, hoạt động của người cần chú ý đến tuổi tác, mỗi lứa tuổi
khác nhau sẽ có sự phát triển về cơ thể, về tâm lý riêng biệt khác nhau và có
những hành động thể hiện theo giới tính, thói quen sinh hoạt, hoàn cảnh sống….
Khi miêu tả cần tập trung vào việc làm sao nêu được cái chung và cái riêng của
người được miêu tả.
b. Quan sát, trò chuyện trực tiếp:

8


Để rút ra được những nét riêng, nét nổi bật của người định tả, học sinh cần
phải quan sát trực tiếp hoặc trò chuyện, trao đổi ý kiến với người đó: quan sát
khuôn mặt, dáng đi, nghe giọng nói, xem xét cách nói, cử chỉ, thao tác lúc làm
việc… (chọn và quan sát người định tả trong thời gian chuẩn bị bài mới ở nhà).
Ta cũng cần dùng cách quan sát gián tiếp thông qua trí nhớ hoặc nhận xét của
một người khác về người định tả để bổ sung những thông tin cần thiết.
c. Tả kết hợp ngoại hình, tính nết, hoạt động:
Khi miêu tả có thể tách riêng từng mặt, từng bộ phận để tả nhưng để nội
dung bài văn miêu tả đạt được sự gắn bó, súc tích ta nên kết hợp tả ngoại hình,
tính nết đan xen với tả hoạt động.
Ví dụ : “ Bà tôi ngồi cạnh tôi chải đầu. Tóc bà đen và dày kì lạ, phủ kín cả
hai vai, xoã xuống ngực, xuống đầu gối. Một tay khẽ nâng mớ tóc lên và ướm
trên tay, bà đưa một cách khó khăn chiếc lược thưa bằng gỗ vào mớ tóc dày.
Giọng bà trầm bỗng, ngân nga như tiếng chuông. Nó khắc sâu vào trí nhớ
tôi dễ dàng, và như những đoá hoa, cũng dịu dàng, rực rỡ, đầy nhựa sống. Khi
bà mỉm cười, hai con ngươi đen sẫm nở ra long lanh, dịu hiền khó tả,...” [1]
d. Tả những nét tiêu biểu bằng tình cảm chân thật của mình:
Khi tả người, điều quan trọng là cần tả chân thật những nét tiêu biểu về
người đó, không cần phải tô điểm người mình tả bằng những hình ảnh hoa mĩ,
vẽ nên một hình ảnh toàn diện. Làm như vậy bài văn sẽ trở nên khuôn sáo, thiếu
sự chân thật làm người đọc cảm thấy khó chịu. Thầy cô giáo cần lưu ý học sinh
rằng, trong mỗi con người ai cũng có chỗ khiếm khuyết nhưng nét đẹp thì bao
giờ cũng nhiều hơn ( đẹp về hình thể, đẹp về tính cách, đẹp về tâm hồn….) Nếu
học sinh phát hiện, cảm nhận được và biết tả hết các đặc điểm đó thì sẽ làm cho
bài văn miêu tả của các em sinh động, hồn nhiên đầy cảm xúc và người đọc dễ
chấp nhận hơn.
Ví dụ: Trong bài văn tả “Cô Chấm” (sách Tiếng Việt 5- tập 1- trang 156)
nhà văn Đào Vũ đã viết: “Chấm không phải là cô con gái đẹp, nhưng là người
mà ai đã gặp thì không thể lẫn lộn với bất cứ một người nào khác.”
“Chấm cứ như một cây xương rồng. Cây xương rồng chặt ngang chặt dọc,
chỉ cần cắm nó xuống đất, đất cằn cũng được, nó sẽ sống và sẽ lớn lên. Chấm thì
cần cơm và lao động để sống .”
“Chấm mộc mạc như hòn đất. Hòn đất ấy bầu bạn với nắng với mưa để cho
cây lúa mọc lên hết vụ này qua vụ khác, hết năm này qua năm khác...”
2.3.4. Làm giàu vốn từ cho học sinh
Giáo viên cần có biện pháp làm giàu vốn từ ngữ cho học sinh qua từng bài
đọc, từng bài tập ở các môn Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu cùng chủ
điểm; tạo cho học sinh thói quen quan sát, đánh giá, nhìn nhận một sự vật, một
cảnh vật hay một con người nào đó và thể hiện những điều đã quan sát và đánh
giá được bằng vốn từ ngữ, ngôn ngữ của mình, kịp thời điều chỉnh những lỗi về
dùng từ, viết câu, làm văn...
a. Làm giàu vốn từ cho học sinh thông qua các phân môn Tiếng Việt:

9


* Khi dạy các bài Tập đọc, ngoài việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội
dung và hình thức nghệ thuật của bài, giáo viên còn có nhiệm vụ giúp học sinh
làm giàu vốn từ, hiểu được nghĩa đen nghĩa bóng của từ, tích lũy được kinh
nghiệm để làm văn.
Ví dụ: Khi dạy bài tập đọc "Một chuyên gia máy xúc” có những chi tiết
sau: "Tôi nhìn thấy một người ngoại quốc cao lớn, mái tóc vàng óng ửng lên
như một mảng nắng...Bộ quần áo xanh màu công nhân, thân hình chắc và khỏe,
khuôn mặt to chất phác, tất cả gợi lên ngay từ phút đầu những nét giản dị, thân
mật... Đôi mắt sâu và xanh... Đôi tay to và chắc”.
Ngoài việc hướng dẫn cho học sinh hiểu được nội dung của câu chuyện, tôi
còn hướng dẫn cho các em mở rộng vốn từ có liên quan đến văn tả người như
sau:
- GV: Chi tiết này tác giả đi sâu vào tả đặc điểm gì của anh A-lếch-xây?
- HS: Tả dáng vẻ.
- GV: Tác giả đã sử dụng những từ ngữ nào để tả vóc dáng, tả thân hình, tả
mái tóc, khuôn mặt ...của người ngoại quốc?
- HS: Tác giả đã tả vóc dáng bằng từ cao lớn, thân hình bằng cụm từ chắc
và khỏe, mái tóc bằng từ vàng óng, khuôn mặt bằng cụm từ to chất phác...
* Phân môn Luyện từ và câu là phân môn có thể giúp học sinh làm giàu
vốn từ nhiều nhất ở các tiết Mở rộng vốn từ. Các tiết này có các bài tập mở rộng
vốn từ rất cụ thể, thiết thực như tìm từ, ghép từ, phát hiện từ miêu tả, dùng từ đặt
câu, sắp xếp các từ thành nhóm miêu tả như nhóm từ ngữ miêu tả ngoại hình,
nhóm từ ngữ miêu tả đặc điểm cảnh vật, nhóm miêu tả hoạt động,...
* Đặc biệt ở chính phân môn Tập làm văn, giáo viên có thể giúp học sinh
làm giàu vốn từ theo các đề tài nhỏ:
Ví dụ 1: Tìm từ láy gợi tả âm thanh trên dòng sông (ì ầm, xôn xao, ào ào...)
Ví dụ 2: Tìm những hình ảnh so sánh để miêu tả dòng sông: dòng sông như
dải lụa, dòng sông như con trăn khổng lồ, dòng sông như người mẹ hiền ôm ấp
đồng lúa chín vàng...
b. Sử dụng từ ngữ trong miêu tả:
Khi hướng dẫn học sinh viết văn miêu tả, giáo viên nên định hướng cho
học sinh các cách sử dụng vốn từ trong miêu tả như: sử dụng từ láy, sử dụng tính
từ tuyệt đối, sử dụng các biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hoá, ẩn dụ....Những
từ này giữ một vai trò quan trọng trong việc diễn đạt tư tưởng tình cảm thích
hợp với việc biểu đạt đặc điểm, thuộc tính của sự vật, hiện tượng và tạo nên
những bức tranh sinh động với những gam màu ấn tượng về ngôn từ. Giá trị của
lớp ngôn từ nghệ thuật này là cơ sở để rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ trong viết văn
miêu tả cho học sinh. Để học sinh có kĩ năng sử dụng lớp ngôn từ nghệ thuật
này, giáo viên nên thường xuyên luyện cho các em các dạng bài tập như sau:
Ví dụ 1: Cho các từ “ríu rít, líu lo, liếp chiếp, rộn ràng, tấp nập, là là, từ
từ...” Hãy chọn từ thích hợp điền vào chỗ trống trong đoạn văn sau: “Tiếng
chim... báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Ông mặt trời... nhô lên sau luỹ tre xanh.

10


Khói bếp nhà ai... bay trong gió. Đàn gà con... gọi nhau,...theo chân mẹ. Đường
làng đã... người qua lại.”
Ví dụ 2: Hãy chọn từ ngữ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống để
được các câu văn có hình ảnh so sánh phù hợp nhất (tiếng chuông, chùm sao,
thuỷ tinh, dải lụa, giọng bà tiên).
- Hoa xoan nở từng chùm trông giống như... ( những chùm sao )
- Nắng cứ như...xối xuống mặt đất.
( thuỷ tinh )
- Giọng bà trầm ấm ngân nga như...
( tiếng chuông )
Ở ví dụ 1 và ví dụ 2, cho số từ nhiều hơn số chỗ trống cần điền, buộc HS
phải suy nghĩ kĩ hơn khi chọn từ.
2.3. 5. Rèn kĩ năng lập và hoàn thiện dàn ý
Việc lập dàn ý là bước định hướng cụ thể cho bài làm văn của các em. Mỗi
dàn bài Tập làm văn được coi như một bản kế hoạch, chỉ cần nhìn vào đó, ta có
thể hình dung được nội dung bài văn sẽ được triển khai như thế nào. Nếu như
làm được việc này, học sinh sẽ có điều kiện để chuẩn bị kĩ hơn khi viết thành
văn trong tiết tập làm văn viết. Xây dựng dàn ý còn giúp học sinh xác định được
đúng yêu cầu của từng phần: mở bài, thân bài, kết bài, xác định thể loại và đối
tượng miêu tả, sắp xếp các ý cho hợp lí để tránh tình trạng học sinh viết tràn lan,
lạc đề và miêu tả không trọng tâm.
Khi học sinh đã được trang bị những từ ngữ miêu tả rồi, giáo viên nên tổ
chức, hướng dẫn cho các em ứng dụng sơ đồ tư duy để lập dàn ý. Việc ứng dụng
sơ đồ tư duy để lập dàn ý cho bài văn miêu tả góp phần kích thích hứng thú, tăng
tính chủ động của học sinh trong học tập bởi học sinh là người chủ động tự đặt
ra câu hỏi cho bài làm của mình, tự do tìm ý và mở rộng ý, giáo viên chỉ là
người hướng dẫn và hỗ trợ. Việc ứng dụng này không chỉ góp phần phát triển
khả năng tìm ý, triển khai ý trước khi viết bài văn cho học sinh mà còn phát huy
khả năng sáng tạo, tưởng tượng cho các em khi viết văn miêu tả. Vì thế chất
lượng dạy học văn miêu tả sẽ được nâng cao.
Để việc hướng dẫn học sinh lập dàn ý đạt hiệu quả, công việc không thể
thiếu của người giáo viên là phải chuẩn bị sẵn cho mình một dàn bài để có thể
định hướng một số kiến thức có liên quan đến đề văn cho các em.
Sau đây, tôi xin đưa ra cách hướng dẫn học sinh lập dàn ý chi tiết cho bài
văn tả người theo các bước sau:
Ví dụ: Hãy lập dàn ý cho bài văn tả người thân trong gia đình em.(Tiết 23
tuần 12)
a. Bước phân tích đề:
Phân tích đề rất quan trọng. Nếu bỏ qua thì học sinh có khả năng lớn là sẽ
làm lạc đề hoặc bài viết sẽ không trọng tâm. Vậy tôi đã dùng câu hỏi gợi mở để
giúp học sinh phân tích đề như sau:
Hoạt động của thầy
Hoạt động của trò
- Bài văn thuộc thể loại gì?
- Bài văn thuộc thể loại văn miêu tả.
- Đối tượng miêu tả là ai?
- Tả người thân.
- Nội dung miêu tả là gì?
- Tả hình dáng, hoạt động, tính tình.
11


b. Bước lập dàn ý:
* Tôi yêu cầu học sinh dựa vào cấu tạo của bài văn tả người vừa học ứng
dụng sơ đồ tư duy lập dàn ý vào bảng phụ theo nhóm đôi, trong thời gian 10
phút và giúp đỡ những nhóm còn lúng túng bằng hệ thống câu hỏi gợi mở như
sau:
1. Mở bài: Giới thiệu người định tả
- Người đó là ai, có quan hệ với em như thế nào, tình cảm của em với
người được tả?
2. Thân bài:
Tả ngoại hình
*Tả bao quát:
- Người đó bao nhiêu tuổi?
- Có vóc dáng như thế nào?
* Tả chi tiết:
+ Nêu đặc điểm râu tóc?
+ Miêu tả da dẻ của người đó qua những từ ngữ nào?
+ Gương mặt (khuôn mặt) thế nào?
+ Hàm răng có đặc điểm gì?
+ Ta có thể dùng những từ ngữ nào để miêu tả mắt (ánh mắt) của người đó.
+ Dáng đi thế nào?
+ Người định tả có giọng nói như thế nào?
+ Người định tả thường ăn mặc thế nào?
Tả tính tình, hoạt động:
+ Người đó có những thói quen gì?
+ Sở thích của người đó là gì?
+ Người đó không thích những điều gì?
+ Người đó đối xử với mọi người(trong gia đình hoặc hàng xóm...) ra sao?
3. Kết luận:
- Phần kết luận em phải làm gì?
- Cảm nghĩ của em thế nào?
* Học sinh các nhóm trình bày dàn bài trước lớp.
* Các nhóm khác nhận xét về cách sử dụng từ, tìm ý xem đã phù hợp với
tuổi tác chưa, phù hợp với giới tính chưa, sắp xếp ý hợp lí chưa...và đã nêu được
đặc điểm chung, đặc điểm riêng của người được miêu tả chưa, sơ đồ có cân đối
đẹp mắt không để kịp thời điều chỉnh bổ sung cho hợp lí.
*Yêu cầu bình chọn dàn bài chi tiết mà khoa học nhất.
*Giáo viên nhận xét, tuyên dương.
Sau khi hướng dẫn tiến trình lập dàn ý như trên, học sinh đã xây dựng được
các dàn ý cơ bản sau:

12


Dàn ý bài văn tả mẹ của em

Dàn ý bài văn tả ông em
13


Sau đó cho học sinh tham khảo dàn ý hoàn chỉnh mà giáo viên đã chuẩn bị
sẵn.
Cuối cùng giáo viên lưu ý cho học sinh: dàn ý trên là nội dung cơ bản của
bài văn. Song khi làm bài viết, các em có thể vận dụng linh hoạt: có thể tách
riêng từng mặt, từng bộ phận để tả hoặc để nội dung bài văn đạt được sự gắn
bó, súc tích ta nên kết hợp tả ngoại hình, tính nết đan xen với tả hoạt động; chú
ý tả những nét tiêu biểu bằng tình cảm chân thật của mình; sử dụng từ láy, tính
từ tuyệt đối, sử dụng các biện pháp nghệ thuật (so sánh, nhân hoá, ẩn dụ...) để
làm nổi bật đặc điểm đang tả; cách trình bày, chữ viết, chính tả. Đó là những
yếu tố giúp học sinh thành công trong quá trình học Tập làm văn.
2.3.6. Giáo viên chấm bài và trả bài viết
Chương trình Tập làm văn lớp 5 có 3 tiết trả bài tả cảnh, 3 tiết trả bài tả
người, 4 tiết trả bài kể chuyện, đồ vật, cây cối, con vật. Ta nhận thấy rằng có
chấm bài chu đáo thì mới có tiết trả bài đạt hiệu quả.
a. Chấm bài:
Khi chấm bài Tập làm văn cho học sinh, mỗi bài tôi đọc qua một lượt để có
cái nhìn chung về bố cục, về diễn đạt của học sinh, xem học sinh đã làm bài
đúng thể loại, nội dung và trọng tâm bài viết chưa. Sau đó tôi đọc kĩ để phát hiện
lỗi dùng từ đặt câu, cách xếp ý hoặc phát hiện những cách diễn đạt sáng tạo của
học sinh ghi nhận xét cẩn thận đầy đủ vào bài làm.
Khi chấm xong cho cả lớp, tôi đánh giá chung kết quả bài làm của học sinh
và rút ra những tiến bộ cần phát huy, và những thiếu sót cần sửa chữa bổ sung để
chuẩn bị cho tiết trả bài sắp tới…..
b. Trả bài viết:
Nội dung, phương pháp lên lớp một tiết trả bài Tập làm văn lớp 5, theo
sách giáo khoa xác định có 3 hoạt động chính:
1. Nghe thầy (cô) nhận xét chung về kết quả bài làm của lớp.
2. Chữa bài.
3. Đọc các bài văn hay được thầy (cô) giáo khen để học tập và rút kinh
nghiệm.
Để tiết trả bài viết đạt hiệu quả, giáo viên cần lấy thông tin từ bài viết của
học sinh (đã chấm và ghi ở sổ chấm bài) và thực hiện các hoạt động trả bài một
cách bài bản, có linh hoạt tuỳ theo tình hình chất lượng Tập làm văn của lớp.
* Hoạt động 1: Nhận xét chung về bài làm của lớp gồm các bước sau:
- Bước 1: Đánh giá việc nắm vững các yêu cầu của đề bài (ghi đề, học sinh
đọc đề bài, xác định 3 yêu cầu: thể loại, nội dung và trọng tâm). Đánh giá tình
hình làm bài của lớp về mặt nhận thức đề (số bài đã đạt 3 yêu cầu của đề, số bài
chưa đạt hoặc đạt chưa đủ 3 yêu cầu. Biểu dương cá nhân, cả lớp...).
- Bước 2: Đánh giá về nội dung bài viết (cho học sinh nêu dàn ý chung của
kiểu bài tả cảnh,( tả người )…
* Hoạt động 2: Chữa bài
Nội dung và cách thức thực hiện sửa chữa lỗi:
Căn cứ vào nội dung bài viết cụ thể của học sinh để chữa lỗi.

14


- Đối với lỗi mà đa số học sinh mắc, tôi lựa chọn lỗi cụ thể của một học
sinh để nêu ra cho cả lớp phát hiện lỗi rồi yêu cầu học sinh nêu cách sửa và sửa
trước lớp.
- Đối với lỗi của riêng cá nhân, tôi yêu cầu học sinh đọc bài làm của mình
xem những chỗ cô gạch chân và nhận xét để biết mình sai gì rồi tự sửa. Sau đó,
tôi yêu cầu đổi vở kiểm tra lẫn nhau rồi phản hồi.
* Hoạt động 3: Đọc một số đoạn, hoặc bài văn hay của một số em để tuyên
dương và cho cả lớp học tập và rút kinh nghiệm.
2.4. Kết quả nghiên cứu
Qua những biện pháp và giải pháp tôi đã áp dụng được nêu ở trên, đến cuối
học kì I năm học 2016 – 2017, các em đã nắm được một số vốn kiến thức nhất
định để học có hiệu quả phân môn Tập làm văn. Cả lớp đều ham thích môn học,
không sợ sệt khi đến tiết Tập làm văn như đầu năm học nữa. Bài làm của các em
đa số đã có tiến bộ, học sinh nắm được cách sắp xếp ý, bố cục chặt chẽ, dùng từ
chính xác, viết câu văn trôi chảy, mạch lạc, bước đầu có hình ảnh, cảm xúc, hiểu
và vận dụng khá tốt các biện pháp tu từ trong các bài tập làm văn của mình. Các
em cảm thụ được bài văn, đọc bài trôi chảy, hiểu đúng nội dung bài, nhất là rất
tự tin khi đến tiết học Tập làm văn.
• Diễn biến chất lượng Tập làm văn:
Thời điểm
Bài kiểm tra
đầu năm

Số HS Hoàn thành tốt

Hoàn thành

Chưa hoàn thành

21

1

4,8%

12

57,2%

8

38%

2

9,5%

16

76,2%

3

14,3%

Cuối học kì I

21
21

5

23,8%

9,5%

21

10

47,6%

66,7%
52,4%

2

Giữa học kì II

14
11

0

0%

Giữa học kì I

• Diễn biến chất lượng môn Tiếng Việt (Điểm kiểm tra):
Số
Điểm
Điểm
Điểm
Điểm
Thời điểm
HS
9 – 10
7- 8
5–6
4
Giữa học kì I
11 52,4% 6
28,6% 2
9,5%
21
2
9,5%
Cuối học kì I
21
19%
0
0%
6
28,6% 11 52,4% 4
Giữa học kì II

21

11

52,4%

7

33,3

3

14,3% 0

0%

Diễn biến chất lượng phân môn Tập làm văn sau khi áp dụng đề tài này thật
đáng phấn khởi, đây là kết quả của một quá trình phấn đấu của cô giáo và học
sinh lớp 5A trường Tiểu học Hoằng Minh. Chất lượng phân môn Tập làm văn đi
lên rõ rệt đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt
của lớp và của tổ chuyên môn.

15


3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Trên đây là những kinh nghiệm mà qua thực tế giảng dạy học sinh tôi thấy
hiệu quả rất cao. Thành công tuy nhỏ nhoi nhưng tôi ý thức được rằng: để giúp
học sinh lớp 5 làm được bài văn miêu tả sinh động, đúng kiểu bài, đòi hỏi giáo
viên phải dành nhiều thời gian, công sức nghiên cứu soạn giảng, có lòng nhiệt
tình với học sinh và tâm huyết với nghề nghiệp, không ngừng nâng cao trình độ
và phương pháp giảng dạy thông qua việc nghiên cứu và học tập. Phát huy tính
sáng tạo của học sinh. Trong quá trình dạy học, để đạt được mục tiêu lấy học
sinh làm trung tâm thì người giáo viên cần phải có các phương pháp dạy học
phù hợp với từng nội dung một cách sáng tạo, không nên dựa theo một khuôn
mẫu nhất định. Cần tăng cường kết hợp với thực tiễn để làm giàu vốn sống, làm
phong phú thêm đời sống tinh thần cho các em. Có như vậy thì việc dạy cho học
sinh học tốt văn sẽ không còn quá khó. Có thể những phương pháp này không
mới lạ, nhưng để đạt được kết quả tốt trong dạy học Tập làm văn nói chung văn
miêu tả nói riêng là khả năng vận dụng khéo léo, hay nói đúng hơn là “nghệ
thuật” vận dụng các phương pháp dạy học. Tôi tin rằng nếu lâu nay ta làm chưa
tốt thì bây giờ ta hãy dốc hết tâm huyết với nghề nghiệp, đầu tư nhiều hơn trong
việc nghiên cứu soạn giảng, tận tụy với học sinh… thì chắc chắn sẽ gặt hái được
những thành công. Bởi vậy, tôi sẽ đem kinh nghiệm này tiếp tục áp dụng để
giảng dạy phân môn Tập làm văn ở các năm sau. Tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu và
mong muốn vấn đề tôi nghiên cứu không những áp dụng tại trường Tiểu học
Hoằng Minh mà sẽ áp dụng được ở tất cả các trường Tiểu học trong huyện cũng
như các trường Tiểu học trong toàn tỉnh.
Để tiết học Tập làm văn miêu tả thành công, sản phẩm của học sinh hoàn
thiện hơn, trong những năm tới tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu các vấn đề sau:
- Xây dựng các phương pháp đảm bảo tính nhẹ nhàng, dễ học với học sinh;
Giảm bớt lí thuyết nặng nề.
- Xây dựng các trò chơi gây hứng thú cho học sinh.
Với mong muốn lớn nhất của tôi là giúp học sinh nâng cao chất lượng môn
Tiếng Việt cấp Tiểu học.
3.2. Kiến nghị
Để dạy học có hiệu quả Tập làm văn ở Tiểu học (nhất là văn miêu tả ở lớp
4, 5) tôi xin có một vài kiến nghị sau :
1. Đối với cấp trên: Cần điều chỉnh phân phối chương trình phân môn Tập
làm văn lớp 4-5 làm sao để có thêm 1 tiết Tập làm văn nói (trước khi làm bài
kiểm tra viết) cho mỗi thể loại.
2. Đối với đồng nghiệp dạy lớp 4, 5: Thầy, cô giáo cần phải đầu tư hơn nữa
về phương pháp và biện pháp cho mỗi giờ dạy phân môn Tập làm văn (từng thể
loại, từng kiểu bài cụ thể) để từng bước giúp các em nắm vững kiến thức, chủ
động nói lên những suy nghĩ của mình, nói đúng, nói hay, làm giàu thêm vốn từ
ngữ và giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt .
16


Vì điều kiện về thời gian và năng lực bản thân vẫn còn hạn chế nên đề tài
chắc chắn sẽ có phần chưa thỏa đáng, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý
kiến bổ sung của các đồng chí thuộc các cấp lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp để
có thêm nhiều kinh nghiệm thiết thực hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Thanh Hóa, ngày 15 tháng 5 năm 2017
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.

Nguyễn Thị Tuyến

17


Tµi liÖu tham kh¶o
1. Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 tập 1, 2. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên). Nhà
xuất bản giáo dục. Tái bản lần thứ tư . Năm 2010.
2. Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 4 tập 1, 2. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên). Nhà
xuất bản giáo dục. Năm 2005.
3. Thiết kế bài giảng Tiếng Việt lớp 5 tập 1, 2. Phạm Thị Thu Hà . Nhà xuất bản
Hà Nội. Năm 2006.
4. Luyện Tập làm văn 5. Đặng Mạnh Thường. Nhà xuất bản giáo dục. Năm
2008.
5. 35 đề ôn luyện Tiếng Việt cuối cấp tiểu học. Giáo sư tiến sỹ Lê Phương Nga.
Nhà xuất bản giáo dục. Năm 2011.
6. Tiếng Việt nâng cao 5. Giáo sư tiến sỹ Lê Phương Nga (chủ biên). Nhà xuất
bản giáo dục. Năm 2008.
7. Hỏi - đáp về dạy học Tiếng Việt 5. Lê Hữu Thỉnh (chủ biên). Nhà xuất bản
Giáo dục.
8. Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5. Trần Mạnh Hưởng. Nhà xuất bản Giáo
dục. Năm 2008.
9. Mạng Giáo dục.
10. Tạp chí Thế giới trong ta.
11. Tạp chí Giáo dục tiểu học.

18


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả:
Nguyễn Thị Tuyến
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên Trường Tiểu học Hoằng Minh
Kết quả
Cấp đánh
đánh giá
Năm học
giá xếp loại
TT
Tên đề tài SKKN
xếp loại đánh giá xếp
(Phòng, Sở,
(A, B,
loại
Tỉnh...)
hoặc C)
1.
Một số kinh nghiệm về công Phòng
tác chủ nhiệm lớp 1
GD&ĐT
C
1997 - 1998
2.

3.

4.

Một số biện pháp rèn chữ Phòng
viết cho học sinh lớp 1
GD&ĐT

B

2004 - 2005

Một số biện pháp giúp học Phòng
sinh lớp 3 giải toán có lời GD&ĐT
văn tốt

B

2007 - 2008

Rèn kĩ năng tính nhanh, Phòng
tính nhẩm đối với phân số GD&ĐT
cho học sinh lớp 5

B

2013 - 2014

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×