Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt môn toán

MỤC LỤC
NỘI DUNG
I. MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
II. NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:
3 . MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 HỌC TỐT
MÔN TOÁN
3.1 . Hướng dẫn học sinh học sinh thuộc bảng nhân, chia.
3. 2. Hướng dẫn đọc, viết, so sánh các số tự nhiên.
3.3. Hướng dẫn cách đặt tính, thực hiện phép tính
3.4. Hướng dẫn giải toán có lời văn.
3.5. Hướng dẫn học sinh nắm, thuộc các qui tắc đã học.
4. KẾT QUẢ .
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN
2. KIẾN NGHỊ:


TRANG
2
2
2
3
4
4
5
5
7
9
13
17
18
19
19
20

1


I. MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong các môn học, môn toán là một trong những môn có vị trí
rất quan trọng. Các kiến thức, kỹ năng của môn toán có nhiều ứng dụng trong
đời sống, giúp học sinh nhận biết mối quan hệ về số lượng và hình dạng
không gian của thế giới hiện thực nhờ đó mà học sinh có những phương pháp,
kĩ năng nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh.Môn toán còn góp
phần rẻn luyện phương pháp suy luận, suy nghĩ đặt vấn đề và giải quyết vấn
đó ; góp phần phát triển óc thông minh, suy nghĩ độc lập, linh động, sáng tạo
cho học sinh. Mặt khác, các kiến thức, kĩ năng môn toán ở tiểu học còn có
nhiều ứng dụng trong đời sống thực tế.
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ
thông tin đã làm cho khả năng nhận thức của trẻ cũng vượt trội. Điều đó đã
đòi hỏi những nhà nghiên cứu giáo dục luôn luôn phải điều chỉnh nội dung,
phương pháp giảng dạy phù hợp với nhận thức của từng đối tượng học sinh
nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện góp phần đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho quê hương, đất nước.
Qua thực tế giảng dạy ở các khối lớp, đặc biệt nhiều năm đứng lớp ở

khối 3, tôi thấy: Phần nhiều học sinh chưa nắm vững chắc những kiến thức cơ
bản về toán như: Chưa thuộc bảng nhân, chia. Chưa nắm vững cách đọc, viết
và so sánh số tự nhiên (đến hàng nghìn, chục).Chưa biết đặt tính, thực hiện
phép tính ( cộng, trừ, nhân, chia cột dọc). Đặc biệt các em còn rất yếu trong
việc giải toán có lời văn. Chưa thuộc các quy tắc đã học trong giải toán.Trước
thực tế đó, bản thân đã dành một thời gian đáng kể đầu tư cho việc đổi mới
phương pháp, đặc biệt là đối với môn toán, sau nhiều lần thử nghiệm và trao
đổi kinh nghiệm cùng đồng nghiệp, tôi đã rút ra được: “Một số biện pháp
giúp học sinh lớp 3 học tốt môn toán” để góp phần nâng cao chất lượng dạy
và học của nhà trường nói chung và đối với học sinh lớp 3B nói riêng.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Nhằm đưa ra Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt môn Toán.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa toán 3.
- Nghiên cứu những nguyên nhân dẫn đến học sinh chưa hoàn thành
môn toán.
- Nghiên cứu những biện pháp, phương pháp giáo dục hay phù hợp để
khắc sâu kiến thức, hình thành thói quen, giúp học sinh nắm và để học tốt
2


môn Toán.
- Học sinh khối 3 . Trường Tiểu học Yên Thái.
- Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 3b . Trường Tiểu học Yên Thái.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp đàm thoại, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp với học
sinh lớp 3 B.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp thực hành luyện tập.
- Phương pháp tổng kết.

3


II. NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Trong quá trình dạy học toán ở phổ thông nói chung, ở tiểu học nói riêng,
môn toán là một trong những môn học quan trọng nhất trong chương trình học
ở tiểu học.
Môn toán có hệ thống kiến thức cơ bản cung cấp những kiến thức cần
thiết, ứng dụng vào đời sống sinh hoạt và lao động. Những kiến thức kĩ năng
toán học là công cụ cần thiết để học các môn học khác và ứng dụng trong thực
tế đời sống. Toán học có khả năng to lớn trong giáo dục học sinh nhiều mặt
như: Phát triển tư duy lôgic, bồi dưỡng những năng lực trí tuệ . Nó giúp học
sinh biết tư duy suy nghĩ, làm việc góp phần giáo dục những phẩm chất, đạo
đức tốt đẹp của người lao động.
Giáo dục toán học là một bộ phận của giáo dục tiểu học. Môn toán ở tiểu
học rất quan trọng với các em học sinh không chỉ biết cách tự học mà còn
phát triển ngôn ngữ( nói, viết) để diển đạt chính xác, ngắn gọn và đầy đủ các
thông tin, để giao tiếp khi cần thiết…mà còn giúp các em hoạt động thực hành
vận dụng tăng chất liệu thực tế trong nội dung, tiếp tục phát huy để phát triển
năng lực của học sinh.
2. THỰC TRẠNG VẤN ĐÊ
Qua quá trình dạy học nhiều năm ở tiểu học, được trực tiếp giảng dạy
môn toán cho học sinh nhất là học sinh lớp 3, tôi nhận thấy khi học toán đa
phần các em có những hạn chế sau:
2.1. Học sinh chưa thuộc bảng nhân, chia
Vì không biết cấu tạo của bảng nhân, bảng chia.Với các chữ số khá
lớn, nhiều học sinh cảm thấy gặp khó khăn ngay từ khi bắt đầu học thuộc lòng
nó một cách máy móc. Trong khi đó giáo viên chưa giúp các em nhận biết các
dấu hiệu của từng bảng nhân, chia.
2.2. Học sinh chưa nắm vững cách đọc, viết và so sánh số tự nhiên
(đến hàng nghìn, chục).
Chưa nắm vững cách đọc, viết và so sánh số tự nhiên vì học sinh chưa
nắm được cấu tạo các số tự nhiên
2.3. Học sinh chưa biết đặt tính, thực hiện phép tính ( cộng, trừ,
nhân, chia cột dọc).
Các em chưa biết đặt tính, thực hiện phép tính ( cộng, trừ, nhân, chia
cột dọc) vì học sinh chưa nắm được quy tắc đặt tính nên khi thực hiện phép
tính chưa đúng.
2.4 Đặc biệt các em giải toán có lời văn chưa đúng
Các em giải toán có lời văn chưa đúng vì Các em đọc chưa thạo và
chưa hiểu đề bài, các em chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tích đề
toán để tìm ra lối giải, chưa biết cách trình bày bài giải, diễn đạt vụng và thiếu
logic.
4


2.5 Học sinh chưa thuộc các quy tắc đã học trong giải toán.
Chưa thuộc các quy tắc đã học trong giải toán vì các quy tắc thường
khô khan khó nhớ.
Sau khi tiến hành kiểm tra trước thực nghiệm, tôi thu được kết quả sau:

Bảng nhân, Đọc, viết
Đặt tính,
Giải toán có Các quy tắc
số
chia
và so sánh thực hiện
lời văn
đã học trong
số tự nhiên phép tính
giải toán
Hoàn Chưa Hoàn Chưa Hoàn Chưa Hoàn Chưa Hoàn Chưa
thành hoàn thành hoàn thành hoàn thành hoàn thành hoàn
thành
thành
thành
thành
thành
28 10em 18 12em 8em 8em 20em 5em = 23em 8em = 20em
em = em = =
=
=
=
17,9%
= 28,6% =
82,1%
71,2%
35,7 64,3 42,9 57,1 28,6 71,2%
%
%
%
%
%
Từ những thực trạng trên tôi mạnh dạn cải tiến nội dung, phương pháp
giảng dạy như sau:
3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 HỌC TỐT
MÔN TOÁN .
3.1 . Hướng dẫn học sinh học sinh thuộc bảng nhân, chia.
- Đã nhiều năm giảng dạy lớp 3, theo tôi nghĩ, học sinh học tốt môn toán
thì không thể không luyện cho học sinh học thuộc bảng nhân, bảng chia. Bởi
lẽ học sinh có thuộc bảng nhân, bảng chia mới vận dụng giải các bài tập có
liên quan. Đặc biệt là các phép chia có số bị chia 3, 4 chữ số và giải toán hợp.
- Để luyện cho học sinh thuộc và khắc sâu các bảng nhân, bảng chia tôi
làm như sau:
+ Khi dạy tôi hướng dẫn học sinh lập được bảng nhân, bảng chia và tôi
hướng dẫn cho học sinh nắm sâu hơn và dễ nhớ hơn như sau:
VD: Bảng nhân 9
9 x 1 = 9, 9 x 2 = 18, 9 x 3 =27, 9 x 4 = 36, 9 x 5 = 45……
Ta thấy số hàng chục tăng từ 0-1-2-3-4….9. Ngược lại số hàng đơn vị
giảm từ 9-8-7-6…0
Những dấu hiệu này giúp cho học các em thấy được tính biến ảo, linh
động của các con số và do vậy các em thấy hưng phấn, yêu thích với cón số
hơn. Mặt khác, đó cũng là các dấu hiệu giúp các em có thể kiểm tra tính đúng
đắn khi phát biểu các kết quả. Là những điểm tựa quan trọng giúp các em tự
tin hơn khi học các bảng nhân, chia. Ví dụ:
9 x 7 = 62 : Kết quả sai
Bởi vì dựa vào một cột mốc nào đó mà các em đã ghi nhớ ( 45 chăng
hạn) thì các em sẽ tính nhanh ra được : 45, 54 63, 72 …..Như vậy trong bảng
nhân 9 không có số 62. Hoặc các em có thể dựa vào só cuối cùng 9 x 9 = 81
để tính ngược lại 72,63 và suy ra 9 x 7 = 63
5


-Tính nhân thực chất là phép tính viết gọn của phép tính cộng, do vậy
khi dạy học hình thành các bảng nhân và chia, giáo viên cần giúp học sinh
nắm cấu tạo của bảng. Nhất là giúp các em biết cách chuyển đổi thuần thục
giữa phép tính nhân và phép tính cộng; kiểm tra sự chính xác giữa phép tính
nhân và chia.
Ví du: Chuyển đổi giữa phép tính nhân( một tích) và phép tính cộng
(tổng các số hạng bằng nhau)
9 x 3 = 27
Nghĩa là 9 lấy ba lần bằng 27. Chuyển sang phép cộng ta có:
9 + 9 + 9 = 27
Nếu học sinh nắm vững cấu tạo này học sinh sẽ dễ dàng kiểm tra được
tính chính xác của các kết quả về bảng nhân .
Mặt khác dựa trên quy tắc này, học sinh sẽ biết cách thành lập các
bảng một cách tuần tự và do vậy các em học các bảng nhân thuận lợi hơn .
Ví dụ :
- 9 x 3 = 27 vậy thì vậy thì 9 x 4 sẽ bằng kết quả 9 x 3 lấy thêm một lần
- 9 x 4 = 27 + 9 = 36
Việc học như vậy có căn cơ hơn và do vậy có kết quả vững chắc hơn
VD: Bảng chia 6.
* Các số bị chia trong bảng chia 6 là các tích của bảng nhân 6, và hơn
kém nhau 6 đơn vị.
* Số chia trong bảng chia 6 là các thừa số thứ nhất của bảng nhân 6 đều
là 6.
* Các thương của bảng chia 6 là thừa số thứ hai của bảng nhân 6.
+ Hàng ngày, đầu giờ học môn toán, thay vì cho học sinh vui, để khởi
động, tôi thay vào đó là cả lớp cùng đọc một bảng nhân hoặc chia và cứ thế
lần lượt từ bảng nhân 2, bảng chia 2 đến bảng nhân, chia hiện học.
+ Cuối mỗi tiết học toán tôi thường kiểm tra những học sinh chưa thuộc
bảng nhân, chia từ 2 đến 4 em.
+ Tôi thường xuyên kiểm tra học sinh bảng nhân, chia bằng cách in bảng
nhân, chia trên giấy A4, nhưng không in kết quả và bỏ trống một số thành
phần của phép nhân, chia trong bảng. Vào cuối tuần dành thời gian khoảng 10
phút cho các em ghi đầy đủ và hoàn chỉnh bảng nhân, chia như yêu cầu. Tôi
và học sinh cùng nhau nhận xét, khen ngợi học sinh làm bài tốt, nhắc nhở các
em làm bài chưa tốt.
+ Tôi cũng thường xuyên cho học sinh chép bảng nhân nào mà các em
chưa thuộc vào tập riêng. Ngày sau trình bày và đọc cho tổ trưởng nghe vào
đầu giờ, sau đó tổ trưởng báo cáo cho giáo viên.
* Để khắc sâu kiến thức, tôi còn cho học sinh chơi trò chơi.
VD: Trò chơi “Ong đi tìm nhụy”
- Chuẩn bị : + 2 bông hoa 5 cánh, mỗi bông một màu, trên mỗi cánh hoa ghi
các số như sau, mặt sau gắn nam châm.
6


5

7

8
9
6

+ 10 chú Ong trên mình ghi các phép tính, mặt sau có gắn nam châm
24 : 6

42 : 6

48 : 6

54 : 6

36 : 6

+ Phấn màu
- Cách chơi :
+ Chọn 2 đội, mỗi đội 4 em
+ Giáo viên chia bảng làm 2, gắn mỗi bên bảng mộ bông hoa và 5 chú
Ong, ở bên dưới không theo trật tự, đồng thời giới thiệu trò chơi.
- 2 đội xếp thành hàng. Khi nghe hiệu lệnh "bắt đầu" thì lần lượt từng
bạn lên nối các phép tính với các số thích hợp. Bạn thứ nhất nối xong phép
tính đầu tiên, trao phấn cho bạn thứ 2 lên nối, cứ như vậy cho đến khi nối hết
các phép tính. Trong vòng 1 phút, đội nào nối đúng và nhanh hơn là đội chiến
thắng.
Sau khi áp dụng với các bảng nhân, chia từ bảng nhân, chia 2 đến 9 lớp
tôi có 28/ 28 học sinh thuộc tất cả bảng nhân chia từ 2 đến 9.
3.2. Hướng dẫn đọc, viết, so sánh các số tự nhiên.
3.2.1.Hướng dẫn đọc, viết các số tự nhiên.
Khi dạy nội dung này cần cho học snh nắm vững:
- Kiến thức về hàng và lớp:
+ Lớp đơn vị gồm có ba hàng: Hàng đơn vị, hàng chục và hàng trăm
+ Lớp nghìn gồm có hai hàng : Hàng nghìn , hàng chục nghìn và hàng
trăm nghìn
- Sơ đồ cấu tạo của hàng và lớp:
Lớp nghìn
Lớp đơn vị
Trăm
Chục
Nghìn
Trăm
Chục
Đơn vị
nghìn
nghìn
- Vị trí của từng chữ số theo hàng và lớp
- Biết qui tắc các giá trị theo vị trí của các chữ số trong cách viết số.
- Hướng dẫn phân hàng: VD số: 46971.
+ Hàng chục nghìn, hàng nghìn, hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị.
. Số 46971: Có 4 chục nghìn, 6 nghìn, 9 trăm, 7 chục, 1 đơn vị.
. Đọc số 46971: Bốn mươi sáu nghìn, chín trăm bảy mươi mốt.
Giáo viên viết: 46971.
7


Phân tích:

4

4 chục nghìn

6

9

7

6 nghìn

9 trăm

7 chục

1
1 đơn vị.

Hoặc:
lớp nghìn
lớp đơn vị.
. Khi viết, ta viết từ hàng cao đến hàng thấp (viết từ trái sang phải).
. Khi đọc lớp nào ta kèm theo đơn vị lớp đó.
. Học sinh đọc: Bốn mươi sáu nghìn, chín trăm bảy mươi mốt.
- Hơn thế nữa, tôi còn hướng dẫn thêm cho học sinh cách đọc như sau:
VD: Số 46971 và 46911.
. Số 46971 đọc là: Bốn mươi sáu nghìn, chín trăm bảy mươi mốt.
. Số 46911 đọc là: Bốn mươi sáu nghìn, chín trăm mười một.
- Nói cụ thể hơn, từ hai số trên cho học sinh nhận ra được cách đọc ở
cùng hàng đơn vị của hai số là khác nhau chỗ mốt và một. Nghĩa là số 46971,
hàng đơn vị đọc là mốt, còn số 46911 hàng đơn vị đọc là một. Tuy cùng hàng
và đều là số “1” nhưng tên gọi lại khác nhau. Tôi còn phát hiện và giúp học
sinh đọc và nhận ra cách đọc của một vài số lại có cách đọc tương tự trên:
VD: Số 46705 và 46725 cùng hàng đơn vị là số “5” nhưng lại đọc là
“năm” và “lăm”.
VD: Số 12010: Học sinh nhiều em đọc là “Mười hai nghìn không trăm
linh mười”. Tôi hướng dẫn các em. Trong số tự nhiên chỉ được đọc “linh một,
linh hai, . . . .linh chín, không có đọc là linh mười” vậy số 12010 đọc là:
Mười hai nghìn không trăm mười.
3.2.2 Hướng dẫn so sánh các số tự nhiên.
Trong qui tắc là: Khi ta so sánh trong hai số thì: Số nào có ít chữ số hơn
thì số đó bé hơn và ngược lại. VD: 99999< 100 000 ;
10000 > 9999.
+ Còn các số có cùng chữ số thì sao? Ngoài việc làm theo qui tắc thì tôi
còn làm như sau:
VD: Để tìm số lớn nhất trong các số: 7576 ; 7765 ; 7567 ; 7756. Tôi
hướng dẫn họ sinh như sau:
- Xếp theo cột dọc, sao cho thẳng hàng nghìn, trăm, chục, đơn vị với
nhau. Cụ thể trên bảng phần được xoá là:
7576
7765
7765
7567
7756
7756
Số lớn nhất 7765.
77
775
- Phân theo hàng nghìn, trăm, chục, đơn vị.
- So sánh từng hàng để chọn ra số lớn nhất trong hàng như: hàng nghìn đều
bằng nhau là 7. Đến hàng trăm chọn được hai số lớn là 7 có trong 4756 và
8


7765. Sau đó yêu cầu các em chỉ so sánh hai số này và tìm được số lớn nhất là
7765.
* Để khắc sâu kiến thức, tôi còn cho học sinh chơi trò chơi.
VD: Trò chơi “ Ai đúng-Ai sai ”
- Chuẩn bị: Mỗi đội 10 tờ giấy A4 , 5 bút dạ.
- Cách chơi: .
Gv phát cho mỗi em 2 tờ giấy và 1 bút dạ. Mỗi đội 5 em học sinh đứng
thành 1 hàng. Hai đội bốc thăm giành quyền đọc trước.
GV cho mỗi đội 2 phút, mỗi em viết 1 số có từ 4-5 chữ số vào một mặt
của tờ giấy ( viết to để ở dưới lớp có thể nhìn rõ; ghi cách đọc ở góc trên bằng
chữ nhỏ, khi giơ lên đối phương không nhìn thấy). Mặt còn lại ghi cách đọc
một số nào đó, cũng ghi cách viết ở góc trên bằng chữ nhỏ. Hết thời gian 2
phút, cô hô: “ Lần thứ nhất bắt đầu” thì đội được đọc trước sẽ nêu cách đọc
số mình chuẩn bị ( mỗi số đọc to 2 lần), đội kia phải viết lại được.Sau khi đọc
đủ 5 số thì đổi vai trò ngược lại . Lần thứ 2 thì đội đi trước phải nhìn các số
của đội kia viết rồi đọc to cho cả lớp nghe và đổi vai trò ngược lại. Sau khi 2
đội kết thúc đọc và viết, GV cùng cả lớp sẽ kiểm tra kết quả. Đội đọc phải giơ
đáp án, đội viết phải giơ kết quả.
- Cách tính điểm :
Cứ mỗi số đúng 10 điểm, đọc chậm và sữa lỗi trừ đi 2 điểm. Nếu làm sai
trừ 5 điểm, đội nào nhiều điểm hơn sẽ thắng.
Qua một thời gian các em có tiến bộ rõ rệt. Mỗi lần thực hiện các em viết
rất rõ ràng và chính xác.
3.3. Hướng dẫn cách đặt tính, thực hiện phép tính
Theo tôi, đặt tính cũng là một việc hết sức quan trọng trong quá trình làm
tính. Nếu học sinh không biết cách đặt tính hoặc tính sai sẽ dẫn đến kết quả
sai. Vì thế theo tôi nghĩ, để học sinh có căn bản khi thực hiện phép tính phải
nắm vững cách đặt tính, các thành phần cũng như sự liên quan trong khi tính
cộng trừ, nhân chia.
* Đối với phép cộng, trừ: ( giúp học sinh nhớ và áp dụng)
- Phép cộng:
VD :
43521 + 54452 = 79973
Số hạng số hạng Tổng
+ Nếu ta thay đổi chỗ các số hạng của tổng thì tổng không thay đổi.
43521 + 54452 = 54452 + 43521= 79973
+ Muốn tìm tổng ta lấy số hạng thứ nhất cộng với số hạng thứ hai.
43521 + 54452 = 79973
+ Muốn tìm số hạng chưa biết, ta lấy tổng trừ đi số hạng đã biết.
43521 - x = 79973
x = 79973- 43521
+ Bất kì số nào cộng với 0 cũng bằng chính số đó.
9


5+0=5
- Phép trừ:
VD: 7268 - 3142 = 4124
Số bị trừ số trừ
hiệu
+ Muốn tìm hiệu ta lấy số bị trừ, trừ đi số trừ.
7268 - 3142 = 4124
+ Muốn tìm số bị trừ chưa biết, ta lấy hiệu cộng với số trừ.
x - 3142 = 4124
x = 3113 + 3142
x = 7268
+ Muốn tìm số trừ chưa biết, ta lấy số bị trừ trừ đi hiệu.
7268 - x = 4124
x = 7268 - 4124
x = 3142
+ Bất kì số nào trừ 0 cũng bằng chính số đó.
8-0=8
- Đặt tính và tính:
Cần hướng dẫn học sinh kĩ là phải đặt tính thẳng hàng (hàng đơn vị
thẳng hàng đơn vị, hàng chục thẳng hàng chục, hàng trăm thẳng hàng trăm,
hàng nghìn thẳng hàng nghìn). Hướng dẫn học sinh bắt đầu cộng từ hàng đơn
vị (hoặc từ phải sang trái). Nên lưu ý học sinh đối với phép trừ có nhớ, cần
bớt ra khi trừ hàng kế tiếp.
VD: Phép cộng có nhớ một lần.
568

- 8 cộng 7 bằng 15, viết 5 nhớ 1.
127
- 6 cộng 2 bằng 8, thêm 1 bằng 9, viết 9.
695
- 5 cộng 1 bằng 6, viết 6.
Trong phép cộng, trừ chỉ nhớ số 1, không nhớ 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8,
Lần:Chú ý:
321
9. (trừ khi có nhiều số hạng cộng với nhau như bài tập 1b trang 156).
* Đối với phép nhân, chia:
- Phép nhân:
VD: 1427
x 3 = 4281
Thừ số
Thừa số
Tích
+ Muốn tìm tích, ta lấy thừa số thứ nhất nhân với thừa số thứ hai.
1427 x 3 = 4281
+ Muốn tìm thừa số chưa biết, ta lấy tích chia cho thừa số đã biết.
1427 x x = 4281
x = 4281 : 1427
+ Khi ta thay đổi các thừa số trong một tích thì tích không thay đổi.
3 x 9 = 9 x 3 = 27
+ Số nào nhân với 1 cũng bằng chính số đó.
10


3 x 1 = 3; 6 x 1 = 6; . . .
+ Số nào nhân với 0 cũng bằng 0.
3x0=0
- Đặt tính và tính:
Khi đặt tính giáo viên lưu ý cho học sinh: Viết thừa số thứ nhất ở 1 dòng,
viết thừa số thứ hai ở dòng dưới sao cho thẳng cột với hàng đơn vị (nhân số
có 2, 3, 4 chữ số với số có 1 chữ số). Viết dấu nhân ở giữa hai dòng thừa số
thứ nhất và thừa số thứ hai và lùi ra khoảng 1, 2 mm, rồi kẻ vạch ngang bằng
thước kẻ.
Khi thực hiện phép nhân này, ta phải thực hiện tính bắt đầu từ hàng đơn
vị, sau đó đến hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn , hàng chục nghìn(hoặc tính
từ phải sang trái). Các chữ số ở tích nên viết sao cho thẳng cột với theo từng
hàng, bắt đầu từ hàng đơn vị, chục, trăm, nghìn của thừa số thứ nhất.
VD:
23214
- 3 nhân 4 bằng 12, viết 2 nhớ 1.
x
3
- Không viết 1 nhớ 2.
69642
- 3 nhân 1 bằng 3, thêm 1 bằng 4, viết 4.
- 3 nhân 2 bằng 6, viết 6.
- 3 nhân 3 bằng 9, viết 9.
- 3 nhân 2 bằng 6, viết 6.
Đối với cách viết từng chữ số của tích có nhớ, ta nên viết số đơn vị, nhớ
số chục. (hoặc nhắc học sinh viết số bên tay phải nhớ số bên tay trái).
* Nhắc thêm cho học sinh: Nếu trường hợp như: 8 nhân 3 bằng 24, thì
viết 4 nhớ 2, ...( đối với phép nhân thì chỉ có nhớ 1, 2,... 8, không có nhớ 9)
- Phép chia:
VD: 36369 : 3 = 12123
+ Muốn tìm thương, ta lấy số bị chia, chia cho số chia. 6369 : 3
+ Muốn tìm số bị chia chưa biết, ta lấy thương nhân với số chia.
x : 3 = 12123
x = 12123 x 3
+ Muốn tìm số chia chưa biết, ta lấy số bị chia, chia cho thương.
45 : x = 9
x = 45 : 9
+ Số nào chia cho 1 cũng bằng chính số đó.
2 : 1 = 2; . . . . . 9 : 1 = 9
+ 0 chia cho bất kỳ số nào cũng bằng 0.
0:6=0
* Nhắc thêm cho học sinh: không thể chia cho 0.
6:0
+ Muốn tìm số chia trong phép chia có dư, ta lấy số bị chia trừ đi số dư rồi
chia cho thương.
7 : 3 = 2(dư 1) Vậy: (7 – 1) : 2
+ Muốn tìm số bị chia trong phép chia có dư, ta lấy thương nhân với số
11


chia rồi cộng với số dư.
9 : 4 = 2 (dư 1) Vậy: 2 x 4 + 1 = 9
+ Trong phép chia có dư, số dư nhỏ nhất là 1, số dư lớn nhất kém số chia 1
đơn vị. ( trong chương trình toán 3 số dư trong phép chia nhỏ nhất là 1, lớn
nhất là 8).
VD: Số chia là 9, thì số dư là 1, 2, 3, 4, . . 8. (số dư phải nhỏ hơn số chia)
- Đặt tính và tính:
Tôi nghĩ thực hiện đặt tính và tính cộng, trừ, nhân, chia theo cột dọc,
thì phép chia là khó nhất vì:
- Học sinh hay quên, thực hiện chưa đầy đủ các hàng cao đến hàng thấp
hướng dẫn kĩ cho học sinh cách nhân ngược lên và trừ lại, . . . Đặc biệt đối
với học sinh chưa hoàn thành toán, tôi hướng dẫn kĩ cách đặt tính, nhằm giúp
các em thấy được hàng nào thực hiện rồi, hàng nào chưa thực hiện. Thực hiện
như sau:
VD: Chia số có 5 chữ số cho số có 1 chữ số:
11276 : 3 = ?
- Trước tiên giúp học sinh biết ghi theo cột dọc và hiểu tên gọi các thành
phần trong cột dọc của phép chia. (sử dụng phần bảng được xoá)
Số bị chia
dấu chia
số chia
11276
:
3

Số dư lần chia 1
Số dư lần chia 2
Số dư lần chia 3

11276 3
Hạ
3758
22
17
26
2

Thương tìm được.

Số dư lần chia cuối cùng

(Phép chia có dư).
* Khi hạ hàng nào phải hạ dưới sao cho thẳng hàng, để ta biết sẽ thực hiện
hàng đó, sau đó mới thực hiện hàng kế tiếp.
* Nhắc học sinh:
Tôi nói trong các phép tính cộng, trừ, nhân, chia theo cột dọc thì các phép
cộng, trừ, nhân ta thực hiện tính theo thứ tự từ phải sang trái, hoặc từ hàng
đơn vị, hàng chục, . . . Còn riêng phép chia ta tính theo thứ tụ từ trái sang
phải, hoặc từ hàng cao nhất đến hàng thấp nhất ( hàng nghìn, trăm, chục, đơn
vị).
* Để khắc sâu kiến thức, tôi còn cho học sinh chơi trò chơi.
VD: Trò chơi " Ai nhiều điểm nhất ”
Tôi chuẩn bị :
+ 2 cây chậu cảnh có đánh số 1, 2
+ Một số bông hoa bằng giấy màu cứng, mặt trước màu trắng ghi các
phép tính như :
12


367 + 125
93 + 58
367 + 120
487 + 130
168 + 503
487 + 302
+ Phấn màu.
+ Đồng hồ theo dõi thời gian
+ Chọn 3 học sinhhọc tốt nhất lớp làm giám khảo và thư ký
- Cách chơi :
Chia lớp làm 2 đội, khi nghe hiệu lệnh "bắt đầu" lần lượt từng đội cử
người lên bốc hoa trên bàn giáo viên, người chơi có nhiệm vụ làm nhanh phép
tính ghi trên bông hoa, sau đó cài bông hoa lên cây của đội mình. Người này
làm xong cài hoa lên cây thì lại đến lượt người khác. Cứ như vậy cho đến hết
2 phút. Sau khi giáo viên hô hết giờ thì 2 đội mỗi đội cử 1 đại diện lên đọc lần
lượt từng phép tính trên cây của mình đồng thời giơ cho cả lớp xem bông hoa
đó. Giám khảo đánh giá và thư ký ghi lại kết quả.
- Cách tính điểm :+ Mỗi phép tính đúng được 10 điểm
+ Tổng hợp số điểm của từng đội. Đội nào nhiều đuểm hơn là đội đó
thắng cuộc.
* Lưu ý : Sau giờ chơi giáo viên nêu nhận xét đánh giá các đội chơi
khuyến khích tổ giám khảo, thư ký, nhắc nhở các em những sai sót vấp phải
để lần sau các em chơi tốt hơn.
Qua một thời gian các em có tiến bộ rõ rệt. Mỗi lần thực hiện các em viết
rất rõ ràng và tính chính xác.
3.4. Hướng dẫn giải toán có lời văn.
Giải toán là một hoạt động trí truệ khó khăn, phức tạp, hình thành kỹ
năng giải toán khó hơn nhiều so với kỹ năng tính, vì các bài toán là sự kết hợp
đa dạng nhiều khái niệm, nhiều quan hệ toán học. Giải toán không chỉ là nhớ
mẫu rồi áp dụng, mà đòi hỏi nắm chắc khái niệm, quan hệ toán học, nắm chắc
ý nghĩa của phép tính, đòi hỏi khả năng độc lập suy luận của học sinh, đòi hỏi
làm tính thông thạo.
Để giúp học sinh thực hiện được hoạt động trên có kết quả, cần làm cho
các em nắm được một số biện pháp sau:
3.4.1 Hướng dẫn học sinh đọc và hiểu kĩ đề toán:
- Cho các em đọc kĩ đề toán.
- Hướng dẫn cho học sinh hiểu mỗi bài toán có lời văn bao giờ cũng có
hai phần:
+ Phần đã cho ( giả thiết bài toán)
+ Phần phải tìm ( kết luận bài toán)
+ Tìm ra được mối quan hệ giữa phần đã cho và phần phải tìm ( mối
quan hệ phụ thuộc giữa giả thiết và kết luận).
Ở bước này, giáo viên cần sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp,
thiết lập cách tìm hiểu, phân tích bài toán theo sơ đồ dưới dạng các câu hỏi
thông thường:
+ Bài toán cho chúng ta biết gì?
13


+ Bài toán cần chúng ta làm gì?
+ Muốn tìm kết quả đó ta cần biết gì?
+ Cái cần biết ta đã có chưa?
+ Còn cái cần tìm ta làm ra sao?
+ Muốn tìm cái chưa biết ta cần dựa vào đâu? Làm như thế nào?
- Gạch dưới và giải thích một số từ khoá quan trọng .
- Gạch chân bằng phấn màu cho dễ nhìn.
-Tôi còn kết hợp với tranh hoặc đồ dùng dạy học phù hợp với đề toán
cho học sinh dễ hình dung đề toán.
Hiểu được những thiếu sót thường ngày của các em, tôi thường dành
nhiều thời gian để hướng dẫn kĩ và kết hợp trình bày bài mẫu nhiều bài giúp
các em ghi nhớ về hình thành kĩ năng.
3.4.2 Hướng dẫn học sinh giải bài toán .
- Khi đã thâm nhập vào đề toán, việc tóm tắt đề toán sẽ giúp học sinh tự
thiết lập đựơc mối liên hệ giữa những cái đã cho và những cái phải tìm. Học
sinh tự tóm tắt được đề toán nghĩa là nắm được yêu cầu cơ bản của bài
toán.
Khi tóm tắt đề cần gạt bỏ tất cả những gì là thứ yếu, lặt vặt trong đề
toán và hướng sự tập trung của học sinh vào những điểm chính yếu của bài
toán, tìm cách biểu thị một cách cô đọng nhất nội dung bài toán.
Trên thực tế có rất nhiều cách tóm tắt thì các em càng dễ dàng giải toán
đúng và nhanh hơn. Cho nên, khi dạy tôi đã truyền đạt một số cách tóm tắt
các đề toán thông dụng sau:
Cách 1: Tóm tắt bằng chữ
Cách 2: Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng
Cách 3: Tóm tắt bằng lưu đồ
Cách 4: Tóm tắt bằng ngôn ngữ, kí hiệu, ngắn gọn
Cách 5: Tóm tắt bằng kẻ ô
- Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề toán để xác định cái đã cho và
cái phải tìm. Cần giúp học sinh lựa chọn phép tính thích hợp:
+ Chọn “phép chia” nếu bài toán yêu cầu “ tìm

1 1
, ...”. Giảm đi 2, 3,
3 4

4 lần…
Chọn “ phép trừ” nếu bài toán cho “ bớt đi” hoặc “tìm phần còn lại”
hay là “ lấy ra”
Chọn “ phép nhân” nếu bài toán cho có từ “ gấp đôi, gấp 3, gấp một số
lần”.
+ Chọn “phép cộng” nếu bài toán cho có từ “nhiều hơn, cả hai”...
- Thực tế giảng dạy cho thấy việc đặt câu lời giải phù hợp là bước quan
trọng và khó khăn nhất đối với một số học sinh trung bình, yếu lớp 3. Chính
vì vậy việc hướng dẫn học sinh lựa chọn và đặt câu lời giải hay cũng là một
14


khó khăn đối với người dạy. Tùy từng đối tượng học sinh mà tôi lựa chọn các
hướng dẫn sau:
Cách 1 : (Được áp dụng nhiều nhất và dễ hiểu nhất). Dựa vào câu hỏi
của bài toán rồi bỏ bớt từ đầu “ Hỏi” thay từ “mấy”, “ bao nhiêu” bằng từ
“số” rồi thêm từ “là” để có câu lời giải:
Cách 2: (Đối với bài toán có hai phép tính). Bài 2 SGK toán 3 trang 50
Thùng thứ nhất đựng 18l dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn thùng thứ
nhất 6l dầu. Hỏi cả hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu?
Hướng dẫn học sinh tìm câu lời giải bằng cách nêu câu hỏi: “ muốn biết cả
hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu? trước hết ta phải tìm gì?” để học sinh trả lời
miệng: “Tìm số lít dầu thùng thứ hai”. Rồi chèn phép tính vào để có cả bước
giải (câu lời giải và phép tính).
Như chúng ta đã biết, các dạng toán có lời văn học sinh đã phải tự viết
câu lời giải, phép tính, đáp số, thậm chí cả tóm tắt nữa.
VD: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị.
Có 30 cái bánh xếp đều vào 5 hộp. Hỏi trong 4 hộp đó có bao nhiêu cái
bánh ?
Bước 1: Gọi học sinh đọc kĩ đề: 2 em đọc to, cả lớp đọc thầm. (chú ý
nội dung)
Bước 2: Hướng dẫn phân tích để xác định cái đã cho và cái cần tìm, sau
đó giáo viên gạch chân.
+ Hỏi: Cái đã cho: 30 cái bánh , 5 hộp.
+ Cái cần tìm: 4 hộp đó có bao nhiêu cái bánh .
* Giáo viên hướng dẫn tóm tắt bài toán.
5 hộp: 30 cái bánh
4 hộp: ...cái bánh
Bước 3: Tìm hướng giải:
+ Bài toán hỏi gì? (4 hộp đó có bao nhiêu cái bánh ?)
+ Muốn biết 4 hộp đó có bao nhiêu cái bánh , ta phải làm gì? (tìm xem 1
hộp có bao nhiêu cái bánh ?).
+ Muốn tìm được 1 hộp đó có bao nhiêu cái bánh , ta làm sao?
- Gợi mở cho học sinh đặt lời giải và chọn phép tính giải.
1 hộp đó có số cái bánh là:
30 : 6 = 5 ( cái bánh )
+ Hỏi tiếp:
Biết được mỗi hộp có 5 cái bánh. Vậy 4 hộp đó có bao nhiêu cái bánh ?
- Gợi mở để cho học sinh chọn lời giải và phép tính.
4 hộp đó có số cái bánh là:
5 x 4 = 20 (cái bánh )
Đáp số: 20 cái bánh.
15


Chính vì vậy, việc hướng dẫn học sinh trình bày bài giải sao cho khoa
học, đẹp mắt cũng là yêu cầu lớn trong quá trình dạy học. Muốn thực hiện yêu
cầu này trước tiên người dạy cần tuân thủ cách trình bày bài giải theo hướng
dẫn, quy định.
- Đầu tiên là tên bài (Viết sát lề bên trái có gạch chân), tiếp đó ghi tóm
tắt, sau gần tóm tắt là trình bày bài giải. Từ: “Bài giải” ghi ở giữa trang vở (có
gạch chân), câu lời giải ghi cách lề khoảng 2 -> 3 ô vuông, chữ ở đầu câu viết
hoa, ở cuối câu có dấu hai chấm (:), phép tính viết lùi vào so với lời giải
khoảng 2 -> 3 chữ, cuối phép tính là đơn vị tính được viết trong dấu ngoặc
đơn. Phần đáp số ghi sang phần vở bên phải ( có gạch chân) ở cuối có dấu hai
chấm rồi mới viết kết quả và đơn vị tính (không phải viết dấu ngoặc đơn nữa).
Bài giải
1 hộp có số cái bánh là:
30 : 6 = 5 ( cái bánh )
4 hộp có số cái bánh là:
5 x 4 = 20 (cái bánh )
Đáp số: 20 cái bánh.
* Để khắc sâu kiến thức, tôi còn cho học sinh chơi trò chơi.
VD: Trò chơi “Hái hoa dân chủ”
Tôi chuẩn bị :Một cây cảnh, trên có đính các bông hoa bằng giấy màu
trong có các đề toán.
Chẳng hạn: Vừa trống vừa mái
Đếm đi đếm lại
Tất cả sáu mươi
Mái một phần tư
Còn là gà trống
Đố em tính được
Trống, mái mấy con ?
- Cách chơi :Cho các em chơi trong lớp. Lần lượt từng em lên hái hoa.
Em nào hái được hoa thì đọc to yêu cầu cho cả lớp cùng nghe. Sau đó suy
nghĩ trong vòng 1 phút rồi trình bày câu trả lời lên bảng. Em nào trả lời đúng
thì được khen và được một phần thưởng.
- Những biện pháp trên được áp dụng ở lớp tôi về giải bài toán có liên
quan đến rút về đơn vị và mang lại kết quả tương đối cao, và trong lớp bây
giờ học sinh giải thành thạo.
3.5. Hướng dẫn học sinh nắm, thuộc các qui tắc đã học.
Tuy nhiên học sinh đã biết cộng, trừ, nhân, chia, . . . cũng chưa giải hết
được các bài toán trong chương trình sách giáo khoa toán lớp 3. Vì thế tôi
cần giúp cho các em thuộc và khắc sâu các qui tắc đã học để áp dụng và làm
toán tốt hơn, tôi làm như sau:
16


+ Tôi soạn lại các qui tắc đã học và có ví dụ , rồi in trên giấy A4, phát
cho học sinh và yêu cầu các em phải học thuộc.
+ Tổ chức cho học sinh ôn lại qui tắc: Lớp tôi có 3 tổ tôi chia làm 3
nhóm. Tôi thường cho các nhóm thi với nhau về các qui tắc như sau:
VD: Nhóm 1 nêu câu hỏi: Muốn tìm thừa số chưa biết ta làm như thế
nào? Nêu xong gọi nhóm 2 hoặc nhóm 3 trả lời, nhóm nào trả lời được, sau
đó nêu câu hỏi cho nhóm khác trả lời. ( không được hỏi trùng câu hỏi). VD:
Muốn tính chu vi hình chữ nhật ta làm thế nào? Hoặc: Muốn gấp một số lên
nhiều lần , . . . Cứ làm như vậy, khoảng 15 phút chốt lại nhóm đặt và trả lời
đúng nhiều thì nhóm đó thắng cuộc.
- Sau thời gian không lâu lớp tôi có rất nhiều học sinh học thuộc và biết
áp dụng rất tốt về qui tắc đã học.
- Đặc biệt, theo tôi để có những kinh nghiệm và bồi dưỡng cho học sinh
học tốt môn toán, Ngoài việc hướng dẫn kĩ cho học sinh những kiến thức cơ
bản và kèm học sinh chưa hoàn thành toán, tôi còn chú ý bồi dưỡng cho học
sinh hoàn thành như sau:
- Tôi tìm tòi, tham khảo sách báo, vở bài tập, chọn những bài toán lạ có
những nội dung phù hợp và hay, để các em làm thêm những phút rảnh, hoặc
làm thêm ở nhà nhằm giúp các em làm toán ngày càng giỏi hơn.
VD1: Giáo viên hỏi cho học sinh hoàn thành trả lời nhanh đúng bài
toán: 52 x 3 + = 160
+ 52 nhân 3 cộng mấy bằng 160?
+ HS giơ tay nhanh và trả lời: 52 nhân 3 cộng 4 bằng 160.
VD2: Hãy tìm số lẽ thích hợp điền vào ô vuông.
5x3+ 3

= 18

4.KẾT QUẢ
Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu áp dụng những kinh nghiệm và bồi
dưỡng học sinh học tốt môn toán. Thực tiển cho thấy kết quả học toán của học
sinh có chuyển biến rõ rệt. Bước đầu đã cải thiện được phương pháp và hình
thức tổ chức dạy học, chất lượng toán được nâng cao. Đồng thời đã hình
thành khắc sâu cho những kĩ năng, thói quen hứng thú, chăm chỉ học toán.
Thật đáng mừng, vì sau mấy tháng áp dụng biện pháp nghiên cứu trên mà
chất lượng môn toán của lớp tôi được nâng lên rõ rệt. Học sinh có kĩ năng,
thói quen căn bản trong quá trình học toán, góp phần nâng cao chất lượng
môn toán của lớp, của trường ngày một tốt hơn.
Kết quả kiểm tra học sinh lớp 3b sau khi áp dụng các biện pháp đổi mới
như sau:
17



số

Bảng nhân, Đọc, viết
chia
và so sánh
số tự nhiên
Hoàn Chưa Hoàn Chưa
thành hoàn thành hoàn
thành
thành

Đặt tính,
thực hiện
phép tính
Hoàn Chưa
thành hoàn
thành

Giải toán có
lời văn
Hoàn
thành

Các quy tắc
đã học trong
giải toán
Chưa Hoàn Chưa
hoàn thành hoàn
thành
thành

28 28em 0 em 28em 0 em 28em 0 em 28em 0 em 28em 0 em
em =100 = 0% =100 = 0% =100 = 0% =100% = 0% =100 = 0%
%
%
%
%
Đánh giá kết quả so với trước khi thực hiện :
- Hoàn thành: Tăng 18 em đạt 64,3% đến 20em đạt 71,2%
- Chưa hoàn thành giải: Tăng 18 em đạt 64,3% đến 20em đạt 71,2%
Có được kết quả như vậy một phần nhờ tinh thần học tập tích cực, tự
giác của học sinh, sự quan tâm nhắc nhở của phụ huynh học sinh, bên cạnh đó
là các biện pháp giáo dục đúng lúc, kịp thời của giáo viên.
Qua kết quả đã đạt được trên, tôi thấy số học sinh hoàn thành, hoàn
thành tốt tăng. Điều đó cho thấy những cố gắng trong đổi mới phương pháp
dạy học của tôi đã có kết quả khả quan.

18


III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN :
Sau khi nắm thực trạng học sinh về môn toán. Tôi đã kịp thời áp dụng
một số biện pháp nêu trên mang lại kết quả khả quan. Qua đó tôi rút ra được
một số kinh nghiệm như:
1.1. Đối với Giáo viên :
+ Cần khảo sát nắm chắc từng đối tượng và năng lực học của học sinh,
có biện pháp thiết thực, nâng chất lượng phù hợp đối với từng học sinh.
+ Kêu gọi lực lượng Phụ huynh học sinh kết hợp hỗ trợ giúp các em về
điều kiện học toán cũng như học lý thuyết và thực hành giải các bài tập ở nhà
để kết quả dạy, học toán càng khả quan hơn.
+ Theo dõi, tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến học sinh học chưa
hoàn thành và đề ra những biện pháp khắc phục.
+ Giáo viên phải nhiệt tình, luôn quan tâm đến mọi đối tượng học sinh,
không ngại khó.
+ Tổ chức nhiều hình thức học tập, với nhiều phương pháp đảm bảo tính
vừa sức.
+ Kèm học sinh chưa hoàn thành và bồi dưỡng học sinh Hoàn thành .
+ Trong giảng dạy cần phân loại học sinh thật hợp lí, để có phương pháp
giảng dạy phù hợp từng đối tượng.
+ Đối với học sinh mất căn bản, cần chú ý lấp dần các lỗ hỏng kiến thức
cho các em bằng cách phối hợp nhiều phương pháp như: Tổ chức phụ đạo,
nhắc lại kiến thức cơ bản, chú trọng thực hành giải bài tập, yêu cầu vừa sức và
khuyến khích để từng bước khôi phục lòng tin của em, . . .
+ Tăng cường phát huy phương pháp dạy học, lấy học sinh làm trung tâm
theo hướng phù hợp giữa nội dung bài dạy và đối tượng học sinh đang học.
Chú ý khai thác các khía cạnh gây hứng thú của bộ môn, tạo niềm sai mê học
tập cho học sinh.
+ Giáo viên tham khảo kĩ nội dung bài, xác định yêu cầu trọng tâm bài
dạy (soạn giáo án). Lựa chọn phối hợp tốt, hợp lí các phương pháp và phương
tiện dạy học, các biện pháp thực hiện trong từng khâu, từng đối tượng học
sinh. Từ đó, giáo viên truyền thụ đúng, chính xác nội dung bài, khắc sâu kiến
thức. Học sinh nắm vững nội dung bài, vận dụng luyện tập, thực hành đạt kết
quả cao.
Tuy nhiên tôi nghĩ, trên đây cũng chưa phải là những kinh nghiệm bồi
dưỡng tốt cho học sinh. Vì vậy tôi bao giờ cũng nghiên cứu tìm tòi và học hỏi
mãi qua sách báo, qua đồng nghiệp.
1. 2.Đối với phụ huynh học sinh:
- Tạo cho con em mình góc học tập sao cho nhẹ nhàng mà khoa học.
- Theo dõi từng nhận xét của giáo viên để phối hợp kịp thời với giáo
viên có biện pháp phù hợp với con em để con em đạt được kết quả cao trong
học tập.
19


- Cần quan tâm, tạo mọi điều kiện để con em mình học tập và chơi
những trò chơi lành mạnh, giúp phát triển tư duy toán học .
1.3. Đối với học sinh:
-Tăng cường học tập toán.
- Tập trung nghe giảng, có tinh thần tự học tự rèn, tự giác học tập.
- Học thuộc tất cả các quy tắc.
- Tham khảo nhiều sách, tìm hiểu các bài toán hay.
2. KIẾN NGHỊ:
Để việc dạy và học đạt kết quả cao, tôi có một số ý đề xuất sau:
Đối với các cấp giáo dục: Đề nghị phòng giáo dục cũng như các ban
ngành hàng năm có tổng kết, báo cáo kinh nhiệm về giúp học sinh học tốt
môn toán lớp 3, có phương pháp cải tiến dạy học để giáo viên các trường
trong huyện có thể học hỏi kinh nhiệm hay,những sáng kiến giỏi nhằm nâng
cao chất lương dạy và học.
Đối với nhà trường: Đề nghị nhà trường cung cấp thêm nhiều tài liệu,
sách tham khảo về môn toán lớp 3 để giáo viên được học hỏi nâng cao hơn về
kiến thức chuyên môn.
Đối với giáo viên: Phải dựa vào nội dung bài học, đối tượng học sinh,
thời gian trong từng tiết học mà lựa chọn các biện pháp sao cho phù hợp.
Đối với gia đình : Cần quan tâm nhiều, tạo mọi điều kiện để con em
mình học tập đạt kết quả tốt nhất .
Do thời gian có hạn, ý tưởng bản thân còn hạn chế, phạm vi nghiên cứu
còn hẹp. Nên sáng kiến kinh nghiệm chưa thỏa mong muốn của hội đồng
khoa học, của các đồng nghiệp.Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng
góp, bổ sung của hội đồng khoa học, của các đồng nghiệp để sáng kiến kinh
nghiệm được hoàn hảo giúp cho học sinh lớp 3 học toán đạt kết quả như
mong muốn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG Yên Định, ngày 10 tháng 4 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Người thực hiện:
Lưu Thị Hằng

20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
-Một số vấn đề về môn toán bậc tiểu học. (Nhà xuất bản giáo dục)
-Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học lớp 3. (Nhà xuất
bản giáo dục)
-Sách Toán 3 (Nhà xuất bản giáo dục )
-Sách giáo viên Toán 3 (Nhà xuất bản giáo dục)
- Sách Thiết kế Toán 3 (Nhà xuất bản giáo dục)
-Hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học cấp tiểu học.

21


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG, CẤP SỞ
Họ và tên : Lưu Thị Hằng
Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Yên Thái
TT Tên đề tài SKKN
Cấp đánh giá, Kết quả xếp
xếp loại
loại
1
B
Một số biện pháp giúp Phòng GD

Năm học
2015-2016

học sinh lớp 1 giải toán
có lời văn.”

22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×