Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp giúp học sinh lớp 1 học tốt phân môn kể chuyện

PHẦN 1. MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Chúng ta đã biết “ngôn ngữ là công cụ của tư duy”. Trong các môn học
ở Tiểu học thì môn Tiếng Việt được coi là môn học quan trọng nhất, bởi nó
đồng thời rèn cho học sinh bốn kĩ năng cơ bản: nghe - nói - đọc - viết. Đặc
biệt là học sinh lớp 1 nếu như các em không biết: đọc thông, viết thạo thì các
môn học khác các em sẽ không học được, trong đó có phân môn Kể chuyện.
Phân môn này có nhiệm vụ bồi dưỡng tâm hồn trẻ góp phần hình thành cảm
xúc và thẩm mĩ lành mạnh, làm giàu thêm vốn sống, vốn hiểu biết, phát triển
tư duy và trình độ Tiếng Việt cho các em. Vì vậy, Kể chuyện là phân môn có ý
nghĩa quan trọng trong chương trình dạy Tiếng Việt ở Tiểu học. Học tốt phân
môn Kể chuyện không những giúp học sinh rèn kĩ năng: nghe - nói (kể) mà
còn tạo cho học sinh tự tin để học tốt các môn học khác và giúp các em tự
nhiên trong giao tiếp.
Trong quá trình trực tiếp giảng dạy nhiều năm, được nhà trường phân
công dạy lớp1, tôi còn thấy một số điều tồn tại và vướng mắc trong môn Tiếng
Việt nhất là phần Kể chuyện. Học sinh nhìn chung còn ít học và việc chuẩn bị
trước còn chưa chu đáo, chỉ nhìn bài qua loa, chiếu lệ, chưa biết cách kể. Đến
lớp nhiều em chưa phát huy tốt vai trò của cá nhân trong quá trình kể chuyện
nhất là kể cho nhau nghe trong nhóm vì (kể cho nhau nghe trong nhóm yêu
cầu tính tự giác là chủ yếu). Trong lúc bạn bè kể, một số em còn chưa ý thức

theo dõi, quá trình học tập của các bạn là thời gian chơi của một số em khác.
Từ những hạn chế và vướng mắc trong quá trình giảng dạy, tôi suy nghĩ
và tìm ra phương pháp tối ưu nhất để giúp cho học sinh dễ hiểu, dễ nhớ, dễ
thuộc truyện theo ngôn ngữ của mình. Vì vậy, tôi mạnh dạn đề xuất “ Một số
biện pháp giúp học sinh lớp 1 học tốt phân môn Kể chuyện”.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Học sinh lớp 1 học tốt phân môn Kể chuyện trước tiên là giúp các em tập
thói quen bắt được nội dung nhanh, tóm tắt được ý chính, có ích cho các em
rất nhiều khi học các môn khác và học lên các lớp trên. Bởi vì, khi kể các em
phải vận dụng vốn từ ngữ thật chính xác, rõ ràng, liên kết câu từ chặt chẽ, diễn
đạt mạch lạc nội dung cần kể. Kể trước mọi người còn rèn cho các em sự tự
tin, phong cách chuẩn mực khi trình bày trước tập thể. Qua kể chuyện, học


sinh còn phát âm tròn vành rõ chữ để thu hút người nghe, hỗ trợ nhiều cho
phân môn Tập đọc và nói chuyện với mọi người trong sinh hoạt hàng ngày.
Diễn đạt tốt tức là các em có vốn từ phong phú, biết liên kết câu, ý vững vàng,
giúp các em rất nhiều trong học phân môn Tập làm văn, phân môn Luyện từ
và câu ở các lớp tiếp theo. Mỗi câu chuyện đều có ý nghĩa, vì thế qua mỗi
chuyện kể, giáo viên đã giáo dục các em điều hay lẽ phải, lối sống tốt đẹp, kĩ
năng sống trong cuộc sống ngay từ lớp 1.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Trọng tâm nghiên cứu đề tài của tôi là nêu ra một số biện pháp giúp học
sinh học tốt phân môn Kể chuyện ở lớp 1.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp giao tiếp.
- Phương pháp trực quan.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp luyện tập theo mẫu.
PHẦN 2. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Trong mục tiêu giáo dục và giảng dạy Tiếng Việt ở Tiểu học, phân môn
Kể chuyện có vị trí, vai trò rất quan trọng, góp phần tích cực trong việc bồi
dưỡng tâm hồn, tình cảm, trau dồi những tri thức về cuộc sống và bồi dưỡng
vốn văn học cho học sinh. Ngoài ra nó còn nhằm nâng cao năng lực trí tuệ,
đồng thời rèn luyện cho các em khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ. Bên cạnh
đó, phân môn kể chuyện còn giúp các em phát triển các năng lực tư duy cơ
bản như: Trí tưởng tượng, óc phán đoán, khả năng ghi nhớ, năng khiếu thẩm
mỹ, hình thành ở trẻ em nhiều phẩm chất tốt đẹp, rất cần thiết cho nhu cầu
phát triển ở lứa tuổi này.


Cùng với các môn học khác, phân môn Kể chuyện góp phần hình
thành nhân cách rất lớn cho học sinh, nó mở mang sự hiểu biết cho các
em. Các em được học hỏi những điều hay, lẽ phải từ rất nhiều các câu
chuyện, thuộc nhiều thể loại chuyện khác nhau, phản ánh đa dạng cuộc
sống muôn hình muôn vẻ. Chính vì vậy tiết Kể chuyện đòi hỏi giáo viên vừa
biết kể chuyện hấp dẫn, vừa biết dạy cho học sinh tập nói, tập kể chuyện và
phát triển ngôn ngữ, bước đầu tập dùng ngôn ngữ của bản thân để diễn tả (tập


kể chuyện). Qua mỗi tiết kể chuyện, học sinh được tiếp xúc với một văn bản
truyện kể khá lý thú, cảm nhận được nội dung và thu hoạch được nhiều bài
học bổ ích. Nhưng điều quan trọng hơn là các em học được cách dùng từ ngữ,
câu văn để diễn đạt một ý, liên kết các ý trong một đoạn, một bài. Thực hiện
được các yêu cầu này thì giáo viên phải tìm ra các biện pháp giúp học sinh
học tốt phân môn Kể chuyện ngay từ lớp 1.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Về giáo viên.
Trong quá trình nhiều năm trực tiếp giảng dạy lớp 1 tôi thấy còn nhiều
vướng mắc khi dạy Kể chuyện như: việc chuẩn bị bài hầu như giáo viên còn
phụ thuộc nhiều vào sách giáo viên và sách bài soạn. Chính vì thế mà bài dạy
trên lớp còn mang tính áp đặt, đơn điệu chưa phù hợp với đối tượng học sinh,
làm cho học sinh nắm nội dung truyện còn chàng màng, máy móc, coi phân
môn Kể chuyện chỉ là giải trí, các môn học khác quan trọng hơn nên đầu tư
cho các em nhiều hơn. Do đó sự chuẩn bị của giáo viên chưa chu đáo dẫn đến
tiết dạy, giờ học không mang lại hiệu quả. Hơn nữa nhiều giáo viên rất ngại
dạy kể chuyện, nhất là vào dịp thao giảng, dự giờ thăm lớp vì sợ khả năng kể
chuyện không hấp dẫn, chuẩn bị cho một giờ Kể chuyện lại mất nhiều công
sức và thời gian như: tranh vẽ, trang phục…Rất ít học sinh biết kể chuyện một
cách trôi chảy mạch lạc vì kĩ năng nói còn kém. Đối với những giáo viên tâm
huyết với nghề và dày kinh nghiệm thì cho rằng: Kể chuyện là môn học hấp
dẫn, thú vị với học sinh, nhưng làm sao để có cách kể hay cho học sinh nghe
và nhớ được truyện , sau đó phải luyện tập thế nào để cho học sinh kể lại từng
đoạn truyện một cách tự nhiên. Đó là những băn khoăn của tôi và nhiều giáo
viên đứng lớp hiện nay.
2. Về học sinh.
Qua tìm hiểu tôi được biết, các em rất thích học phân môn Kể chuyện,
dường như hằng ngày, hằng tuần lúc nào các em cũng mong ngóng để đến giờ
Kể chuyện. Đặc biệt trong giờ Kể chuyện các em thích nghe cô kể hơn là cô
đọc lại văn bản truyện. Nếu được gọi kể thì các em kể theo gợi ý của truyện
sau mỗi tranh, các em chưa biết liên kết được các bức tranh thành một đoạn
truyện. Lí do là các em chưa kịp nắm được nội dung khi nghe kể và kĩ năng
nói (diễn đạt) còn kém, mặc dù sau mỗi bài Học vần và Tập đọc các em đã


được rèn kĩ năng nói. Song vẫn còn một số ít biết kể lại cả truyện một cách
trôi chảy và hấp dẫn, biết nhập vai nhân vật trong truyện để kể lại. Hơn nữa
qua mỗi bài lại có thêm phần luyện nói. Nhưng thực ra chưa giúp các em nắm
được văn bản và mạnh dạn diễn đạt lại nội dung văn bản. Nếu có sự đầu tư
hơn về rèn luyện kĩ năng kể của giáo viên và tập luyện cho học sinh, chắc
chắn rằng các em sẽ có kĩ năng kể tốt hơn.
Qua thực tế nhiều năm giảng dạy lớp 1 và năm học 2016 – 2017 tôi được
phân công chủ nhiệm lớp 1A, ngay đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát chất
lượng và phân loại như sau:
Tổng số
học sinh
24em

Kể chuyện hay
(mức bình thường)
SL
%
3em
12

Biết kể đúng nội
dung chuyện
SL
%
10em
42

Chưa biết kể
SL
11em

%
46

Đứng trước thực trạng như vậy tôi trăn trở và tìm ra một số biện pháp thực
hiện như sau:
III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 1 HỌC TỐT PHÂN
MÔN KỂ CHUYỆN.
1. Biện pháp 1: Chuẩn bị bài chu đáo trước khi đến lớp.
Đọc kĩ nội dung cốt truyện, hiểu rõ tính cách từng nhân vật, định hướng
các hoạt động dạy học chủ yếu.
Lập kế hoạch bài học chi tiết, giáo viên nắm vững các bước và hình thức
tổ chức dạy học. Một trong những yếu tố quan trọng nữa giúp cho giờ học
thành công là chuẩn bị đồ dùng (tranh phóng to bằng giấy, bằng đèn chiếu
màn hình, trang phục, diễn kịch, đóng vai…)
Ví dụ 1: Truyện: Khỉ và Rùa ( TV1 - Tập 1 trang 65).
- Tôi đã vẽ phóng to 4 tranh trong sách giáo khoa (sử dụng đèn chiếu),
giúp học sinh cả lớp cùng quan sát, gây hứng thú cao cho học sinh trong giờ
học và học sinh dễ nhớ ngay từ lần đầu.
- Về trang phục: Để gây hứng thú cho học sinh khi kể, giáo viên có thể
chuẩn bị như sau:
+ Vai Khỉ: Mặt nạ Khỉ.
+ Vai Rùa: Mặt nạ Rùa.


Khi kể, giáo viên có thể sử dụng trang phục hoặc các em có thể nhập vai
nhân vật hóa trang bằng những trang phục đó.
Như vậy: Sự chuẩn bị kĩ về nội dung truyện và chuẩn bị chu đáo về đồ
dùng của giáo viên đã kích thích, gây hứng thú cao cho cả học sinh và giáo
viên, góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy.
Ví dụ 2: Truyện: Sói và Cừu ( TV1 - Tập 1 trang 89).
- Phóng to 4 tranh trong sách giáo khoa (sử dụng đèn chiếu) cho học sinh
dễ quan sát, từ đó thu hút sự chú ý của các em hơn trong tiết học.
- Về trang phục: Tôi đã chuẩn bị mặt nạ sói, mặt nạ cừu…
Khi kể, tôi đã vừa kể vừa diễn xuất các vai qua các trang phục của từng
nhân vật. Chính nhờ sự chuẩn bị kĩ về nội dung truyện, chu đáo về trang phục
mà tiết dạy trở nên sôi nổi, gây hứng thú học tập cho các em và giờ học đã đạt
hiệu quả cao…
2. Biện pháp 2: Giúp học sinh chuẩn bị bài trước khi đến lớp.
Học sinh muốn nhớ được nội dung truyện nhanh thì trước khi đến lớp các
em nên quan sát trước nội dung từng tranh để phỏng đoán nội dung truyện.
Ví dụ 1: Truyện: Thỏ và Sư Tử ( TV1 - Tập 1 trang 45).
Khi học đến truyện này học sinh ở nhà quan sát kĩ tranh để phỏng đoán
nội dung truyện như sau:
- Tranh 1: Sư Tử đang nằm chờ Thỏ đến.
- Tranh 2: Thỏ đang nói chuyện với Sư Tử và Sư Tử đang rất tức giận với
Thỏ.
- Tranh 3: Thỏ và Sư Tử đang đứng trên thành một cái giếng, Sư Tử đang
giận giữ nhìn xuống miệng giếng.
- Tranh 4: Sư Tử lao xuống giếng còn Thỏ đang nhảy múa trên thành
giếng.
Sau khi quan sát phỏng đoán như vậy thì đến lớp nghe cô giáo kể chuyện
các em dễ nhớ được nội dung câu chuyện.
Ví dụ 2: Truyện: Rùa và Thỏ ( TV1 - Tập 2 trang 54).
Khi học đến truyện Rùa và Thỏ học sinh quan sát và trả lời trước các câu
hỏi sau mỗi tranh để phỏng đoán nội dung truyện ở từng tranh như (Rùa đang
làm gì? Thỏ nói gì với Rùa?...) thì đến lớp khi nghe cô giáo kể câu chuyện các
em dễ nhớ được nội dung truyện.


Ví dụ 3: Truyện: Trí khôn ( TV1 - Tập 2 trang 72).
Khi dạy xong bài “ Rùa và Thỏ” giáo viên yêu cầu học sinh về nhà chuẩn
bị trước câu chuyện tuần sau có tên “ Trí khôn ”. Học sinh đã quan sát các
tranh trong sách giáo khoa và đọc câu hỏi dưới mỗi tranh để có thể phỏng
đoán nội dung câu chuyện qua từng tranh như: Hổ nhìn thấy gì? Hổ và Trâu
nói gì với nhau?...Những học sinh có sự chuẩn bị bài trước thì khi đến lớp
nghe cô giáo kể các em tiếp thu bài rất nhanh và nhớ nội dung câu chuyện
ngay ở lớp và thể hiện kể trước lớp rất tự nhiên, còn đối với những học sinh
không có sự chuẩn bị bài trước thì đến lớp việc nhớ nội dung câu chuyện
chậm hơn, chính vì thế mà việc nhập vai các nhân vật còn kém.
3. Biện pháp 3: Giáo viên kể mẫu đóng vai trò quan trọng.
Tiết kể chuyện có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào giáo
viên kể mẫu, khi kể mẫu giáo viên cần đặt câu hỏi liên quan đến tình huống
mở làm cho học sinh bị lôi cuốn bởi sức hấp dẫn của truyện. Sự kết hợp giữa
giọng điệu và cử chỉ, sử dụng từ ngữ có chọn lọc giúp các em có cảm giác như
các nhân vật trong truyện là có thật đang hiện lên sinh động trong từng ngôn
từ và sống đọng trong từng cử chỉ, điệu bộ của cô.
Ví dụ : Truyện: Sói và Sóc ( TV1 - Tập 2 trang 108).
Ở tranh 2, khi kể lời của Sóc thì giáo viên kể với giọng mềm mỏng, cầu
khẩn…qua câu nói như: “ hãy thả tôi ra nào?”. đến đây giáo viên có thể dùng
câu hỏi gợi mở: Theo các em Sói có tha cho Sóc không? để học sinh phán
đoán gây sự chú ý tò mò và suy nghĩ.
Muốn làm được điều đó thì người giáo viên phải thuộc truyện và tập kể
trước khi lên lớp để việc kể mẫu của cô thật sự gây ấn tượng, vì như chúng ta
đã biết học sinh lớp 1 thuộc và nhớ truyện là chủ yếu, ở lời kể của cô trên lớp
( kể lần 1, 2, 3 vừa kể vừa kết hợp với chỉ tranh cho học sinh quan sát).
Tóm lại: Trong tiết Kể chuyện học sinh có thuộc được truyện, có kể hay
được hay không là phụ thuộc rất nhiều vào giáo viên kể mẫu, vì học sinh Tiểu
học đặc biệt là học sinh lớp 1 sẽ rất hay bắt chước và làm theo lời cô. Chính vì
thế mà đòi hỏi người giáo viên kể phải luyện giọng của mình thật chuẩn, hấp
dẫn đúng ngữ điệu và thể hiện được các cử chỉ, điệu bộ của từng nhân vật. Có
như vậy thì mới thu hút được sự chú ý của học sinh và học sinh sẽ bắt chước
kể được giống cô.


4. Biện pháp 4: Phát triển ngôn ngữ nói theo tranh.
Với học sinh lớp 1, tư duy bằng trực quan là chủ yếu. Chính vì vậy ngôn
ngữ của các em phụ thuộc vào trực quan (tranh vẽ) là rất nhiều. Nếu thiếu yếu
tố này thì ngôn ngữ của các em phát triển chậm bởi vốn sống thực tế, vốn từ,
sự trau dồi ngôn ngữ của các em còn hạn chế. Đặc biệt với câu chuyện có lời
nhân vật thì một mình các em phải thể hiện nhiều vai (khác với nhập một vai
bất kì) cùng đồng nghĩa với giọng kể, cử chỉ, điệu bộ phải thay đổi.
Ví dụ : Truyện: Trí khôn ( TV1 - Tập 2 trang 72).
Đoạn 2: Tranh 3: Sự tò mò của Hổ.
Khi giáo viên treo tranh phóng to lên cho học sinh quan sát thì đã lôi cuốn
sự tò mò của học sinh, sự tò mò ấy càng được tăng lên khi kết hợp với lời kể
hấp dẫn của giáo viên. Đến phần học sinh kể chuyện theo tranh, đoạn giáo
viên yêu cầu học sinh quan sát tranh để mô tả sự tò mò của Hổ khi gặp bác
nông dân “Hổ lân la tới gần bác nông dân, mắt tròn xoe, râu vểnh lên, vẻ tò
mò, hỏi bác nông dân: Người kia! Trí khôn đâu cho ta xem. Bác nông dân thì
điềm tĩnh, khôn ngoan chăm chú nhìn vào con Hổ, tay chỉ về phía xa để trả
lời: Trí khôn ta để ở nhà ...”
Trong khi đó giáo viên khi kể chỉ kể “ Hổ lân la tới gần bác nông dân
hỏi:Người kia! Trí khôn đâu cho ta xem. Bác nông dân đáp: Trí khôn ta để ở
nhà”.
Như vậy việc quan sát tranh không chỉ những phát triển làm giàu vốn từ,
khả năng diễn đạt, sự làm chủ về ngôn ngữ của các em mà còn kích thích sự
hứng thú cho các em.
5. Biện pháp 5: Khích lệ, động viên kịp thời giúp học sinh tự tin.
Với học sinh Tiểu học, việc giúp các em tự tin trước đông người không
phải dễ dàng, đặc biệt là đối với học sinh tiếp thu bài còn chậm, các em luôn
mặc cảm và tự ti. Vì vậy, việc khích lệ động viên cũng cần phù hợp với từng
đối tượng.
Với học sinh có khả năng tiếp thu bài tốt thì yêu cầu kể chuyện của các em
cao hơn, ngoài việc thuộc truyện các em còn kết hợp một số cử chỉ, điệu bộ,
giọng điệu phù hợp với nhân vật.
Ví dụ 1: Truyện: Rùa và Thỏ ( TV1 - Tập 2 trang 54).


Đối với học sinh có khả năng tiếp thu bài tốt giáo viên có thể yêu cầu học
sinh kể thuộc nội dung truyện và kết hợp với giọng nói, cử chỉ, điệu bộ của
Rùa và Thỏ.
Đoạn 1: (Tranh 1, 2) Khi giáo viên kể cần căn cứ đánh giá như sau:
- Lời vào truyện: giọng kể khoan thai, nhấn giọng một số từ ngữ thể hiện
sự chăm chỉ, cố gắng của Rùa “ đang cố sức tập chạy”.
- Lời của Thỏ đầy kiêu căng, ngạo mạn: “ chậm như Rùa (dài giọng mỉa
mai) mà cũng đòi tập chạy?”
- Lời Rùa chậm rãi, khiêm tốn nhưng đầy tự tin, dám thách Thỏ: “ anh
đừng giễu tôi! Anh với tôi thử thi coi ai chạy nhanh hơn?”
Nhưng đối với học sinh tiếp thu bài còn chậm chỉ cần yêu cầu học sinh
nhìn tranh kể từng đoạn hoặc nhớ để kể . Các em chỉ cần kể nội dung chậm,
chưa đúng lời nhân vật và không thể hện được giọng điệu, cử chỉ cũng cần
tuyên dương, động viên khích lệ, như thế các em sẽ thấy tự tin trước bạn,
trước cô hơn và thấy mình cũng có sự tiến bộ, từ đó các em có hướng phấn
đấu kể tốt hơn và cảm thấy mình đã có thành công.
Ví dụ 2: Đoạn 1: Học sinh chỉ kể được “ Rùa tập chạy, Thỏ nói Rùa chậm
như mày mà cũng đòi tập chạy à? Rùa trả lời: Anh đừng có giễu tôi. Anh với
tôi thử thi coi ai hơn”thì giáo viên cũng nên tuyên dương, khích lệ học sinh để
các em thấy tự tin hơn khi kể chuyện.
Như vậy, giáo viên khen khi học sinh chỉ cần vượt bậc tuy ít nhưng có sự
biến chuyển để các em có động lực phấn đấu. Còn khi học sinh chưa kể được
thì giáo viên cũng không nên chê trực tiếp là “em kể kém” mà chỉ nói là “ em
cần cố gắng tập trung hơn để biết cách kể” hoặc học sinh “làm sai” thì chỉ nói
là “em làm chưa đúng”.
Bởi vì chính những lời khen kịp thời đó sẽ là động lực khích lệ cho học
sinh cố gắng hơn và sẽ làm cho các em thêm tự tin có ý chí phấn đấu và cảm
thấy chủ động hơn trước bạn bè, trước mọi người, qua đó rèn được kĩ năng
giao tiếp cho các em.
Tóm lại: Khi học sinh kể chuyện, các em chỉ cần có sự tiến bộ mặc dù rất
nhỏ nên ta cũng nên cổ vũ, động viên các em một cách kịp thời để giúp các
em có niềm tin và tự tin hơn trước thầy, cô và trước các bạn hơn, từ đó các em


có ý chí phấn đấu hơn trong học tập đặc biệt là đối với những học sinh tiếp
thu bài còn chậm.
6. Biện pháp 6: Rèn kĩ năng nghe kể, nhận xét.
Kĩ năng nghe kể là rất quan trọng đối với học sinh, câu chuyện đó có
hay, có hấp dẫn hay không thì điều đầu tiên phải giúp các em biết nghe cô kể,
bạn kể để cảm nhận, từ đó biết đánh giá, nhận xét. Kể thì có nhiều hình thức
như: thi kể giữa các nhóm với nhau, kể theo tranh (giáo viên chỉ từng tranh,
đại diện nhóm chỉ vào tranh và kể lại chuyện. Nhóm nào có tất cả 4 lần kể
đúng thì nhóm ấy thắng cuộc); kể lại (đại diện nhóm kể lại câu chuyện, nhóm
nào kể đủ tình tiết nhất thì nhóm ấy thắng cuộc); kể lại tóm tắt câu chuyện và
nêu ý nghĩa câu chuyện,…
Ví dụ 1: Truyện: Niềm vui bất ngờ ( TV1 - Tập 2 trang 98).
Ngoại việc yêu cầu học sinh quan sát kĩ từng tranh và câu hỏi gợi ý dưới
mỗi tranh để kể lại nội dung câu chuyện, giáo viên còn đưa ra một số gợi ý cơ
bản lên bảng để học sinh nhớ được cốt truyện tốt hơn như:
+ Cô ơi cho chúng cháu vào thăm Bác Hồ.
Đồng chí cán bộ mời cô giáo cho các cháu vào thăm nhà Bác. Bác hỏi
các cháu…
+ Các cháu lưu luyến vẫy tay chào Bác.
Chính những yếu tố ở trên mà học sinh kể cảm thấy tự tin hơn, thể hiện
nhập vai nhân vật tốt hơn và nhớ nội dung truyện.
Ví dụ 2: Truyện: Dê con nghe lời mẹ (T V1 - Tập 2 trang 117).
Yêu cầu học sinh kể cho nhau nghe theo nhóm 2, mỗi em kể hai tranh.
Học sinh này kể thì học sinh kia lắng nghe và giáo viên là người theo dõi chỉ
đạo, học sinh tham gia chơi trò chơi như “ kể chuyện tiếp sức” (theo đoạn), kể
chuyện phân vai, đóng vai,…bạn còn lại có nhiệm vụ nhận xét bạn kể theo các
yêu cầu:
+ Nội dung câu chuyện bạn kể đã đầy đủ chưa?
+ Lời nói của các nhân vật như: Người mẹ, Sói,…đã phù hợp chưa?
+ Bạn thể hiện cử chỉ, điệu bộcủa từng nhân vật đã phù hợp chưa?
Chú ý học sinh nhận xét, đánh giá theo nhóm. Khi phân nhóm kể thì giáo
viên phân theo nhóm cùng trình độ: kể tốt với kể tốt; biết kể với biết kể.
Vì vậy, khi hướng dẫn học sinh nhận xét, việc đánh giá học sinh cần chú ý:


Nhóm kể tốt yêu cầu cao hơn. Ngoài thuộc truyện yêu cầu phải thuộc
được giọng của nhân vật, kể đúng ngữ điệu…
Nhóm biết kể chỉ yêu cầu học sinh kể đúng nội dung câu chuyện một
cách tóm tắt (một đoạn, hai đoạn hoặc cả truyện) cũng đã được tuyên dương
vì đó cũng là sự cố gắng rất lớn cho dù kết quả không bằng nhóm kể tốt…
Khi tập kể chuyện thì giáo viên phải cho học sinh nắm được cốt truyện
(không bỏ qua tình tiết, chi tiết cơ bản). Vì vậy, giáo viên yêu cầu học sinh thi
kể phải bám sát nội dung tranh minh họa và những câu hỏi gợi ý, ngoài ra
giáo viên còn nên viết tắt nội dung cốt truyện với tình tiết cơ bản nhất lên
bảng lớp (vì lúc này học sinh đã biết đọc). Như thế học sinh sẽ nhớ nội dung
câu chuyện hơn và khi bạn kể, học sinh cũng nhận xét một cách chính xác
hơn.
Tóm lại: Hiệu quả giờ học sẽ cao hơn khi các em chú ý nghe cô kể, bạn
kể sẽ giúp cho việc đánh giá, nhận xét bạn biết đúng, biết sai, biết được hoặc
chưa biết được để tránh cho mình không mắc lỗi, ngoài ra còn khích lệ, giúp
các em thích thú hơn, tự tin hơn trong giờ Kể chuyện.
7. Biện pháp 7: Giúp học sinh kể chuyện sáng tạo.
Kể chuyện sáng tạo tức là không phải thay thế lời lẽ, làm văn bản không
chính xác hay học sinh kể nguyên bản truyện. Mà sáng tạo là câu chuyện kể
hồn nhiên làm cho người nghe cảm nhận sự thuyết phục, hấp dẫn, ấn tượng đó
mới là sáng tạo.
Có nhiều mức độ khác nhau gắn với kiểu bài tập khác nhau, nhưng bản
chất của kể chuyện sáng tạo không phải là kể khác nguyên văn cốt truyện mà
là kể tự nhiên như sống với câu chuyện, kể bằng ngôn ngữ giọng điệu của
mình, thể hiện được cảm nhận của mình về câu chuyện đó, muốn làm được
như vậy bắt buộc học sinh phải nắm vững nội dung cốt truyện. Đối với lớp 1,
yêu cầu kể sáng tạo không cao như lớp 2, 3, 4, 5 mà chỉ cần kể hồn nhiên
bằng giọng điệu, cảm xúc của mình, học sinh có thể thêm vào câu chuyện một
số câu chữ của mình (nhưng không làm thay đổi nội dung câu chuyện), cũng
có thể diễn lại nguyên văn câu chuyện một cách tự nhiên, trôi chảy, nhẹ nhàng
làm cho người nghe thấy được nội dung cốt truyện liền mạch, nếu cao hơn
còn biết nhập vai nhân vật thể hiện qua ngữ điệu, cử chỉ, nét mặt và điệu bộ,
…một cách hồn nhiên là được.


Ví dụ 1: Truyện: Bông hoa cúc trắng ( TV1 - Tập 2 trang 90).
Tình huống: người mẹ tỉnh dậy nói với con: “Mẹ thấy trong người mệt
lắm. Con mời thầy thuốc về đây cho mẹ”.
Khi nhập vai, học sinh cần chú ý:
+ Lời nhân vật: giọng mệt mỏi, yếu ớt thể hiện người ốm nặng.
+ Cử chỉ, điệu bộ: nét mặt buồn rầu pha chút gắng sức.
Ví dụ 2: Truyện: Sói và Sóc ( TV1 - Tập 2 trang 108).
Tình huống: Sóc bị Sói chồm định chén thịt, Sóc van nài: “Hãy thả tôi ra
nào!”.
Khi kể cần chú ý:
+ Lời kể của Sóc: Giọng mềm mỏng, nhẹ nhàng thể hiện sự ân cần.
+ Cử chỉ, điệu bộ: nét mặt lo âu, sợ sệt…
Như vậy, phần kể chuyện sáng tạo là phần mà học sinh hào hứng nhất, gây
sự hứng thú trong mỗi học sinh. Nên hướng dẫn học sinh nhập vai sống với
nhân vật của truyện là cả một nghệ thuật của giáo viên.
8. Biện pháp 8: Lồng ghép phân môn Kể chuyện với các môn khác.
8.1. Lồng ghép phân môn: Tập đọc – Học vần.
Để học tốt phân môn Kể chuyện thì người giáo viên cần biết kết hợp, lồng
ghép vào một số phân môn khác như: phân môn Tập đọc ,Học vần phần luyện
nói sau mỗi bài đọc, nếu giáo viên chú ý luyện kĩ đến phần này sẽ giúp học
sinh mạnh dạn hơn, tự nhiên hơn, biết diễn đạt lời nói của mình đủ câu hơn, rõ
ràng hơn.
a. Đối với tiết Học vần. Ví dụ: Chủ đề luyện nói: Nặn đồ chơi bài 45
Tiếng Việt tập 1.
Sau khi các em được giáo viên hướng dẫn luyện nói trong nhóm thì đại
diện một số nhóm trình bày (nói) trước lớp một cách tự tin, thể hiện được cử
chỉ, điệu bộ, những sở thích của mình khi nói về những đồ chơi, những món
quà mà mình đã nặn để tặng người mà mình yêu quý, ý nghĩa của những đồ
vật mà mình đã nặn,… Ví dụ: học sinh có thể nói với bạn mình rằng: “Tôi
thường nặn đồ chơi bằng đất hoặc đất sét. Tôi đã nặn được rất nhiều đồ chơi
như: quả đu đủ, quả cam, quả ớt, con trâu. Đồ chơi mà tôi yêu thích nhất đó
chính là hình ảnh chú Bộ đội tôi nặn bằng đất nặn. Vì hình ảnh chú Bộ đội
chính là hình ảnh của người cha mà tôi yêu quý nhất”.


b. Đối với tiết Tập đọc.
Trong tiết Tập đọc nếu như hướng dẫn học sinh đọc trôi chảy, không ngắc
ngứ, không đánh vần, ngắt nghỉ hơi đúng chỗ thì đã thể hện được nội dung bài
học.
Ví dụ 1: Tập đọc bài: Trường em (TV1 – Tập 2 trang 46).
Để giúp học sinh thể hiện được nội dung bài đọc được đúng, hay thì ở
phần luyện đọc lại giáo viên có thể tổ chức học sinh thi đọc đúng, đọc hay.
Khi học sinh thể hiện đọc trôi chảy, ngắt nghỉ hơi đúng chỗ thì đã thể hiện
được nội dung của bài đọc, từ đó giúp học sinh tự tin hơn trước đông người.
Ví dụ 2: Tập đọc bài: Vì bây giờ mẹ mới về (TV1 – Tập 2 trang 88).
Để giúp cho tiết Kể chuyện được tốt hơn thì đến phần Luyện đọc lại là hết
sức quan trọng. Bởi biết đọc trôi chảy, không ngắc ngứ, không đánh vần thể
hiện cảm xúc với đoạn, bài tốt hơn và từ đó các em có thể nhập vai nhân vật
tốt hơn. Ví dụ như thể hiện giọng của các nhân vật:
+ Người dẫn chuyện: Giọng kể chậm rãi, nhẹ nhàng.
+ Mẹ: Giọng hoảng hốt khi thấy con khóc. Cao giọng sau mỗi câu hỏi
(Con làm sao thế?, đứt tay khi nào thế?…).
+ Cậu bé: Giọng uốn éo khi làm nũng mẹ (Con bị đứt tay. Lúc nãy ạ!...).
8.2. Lồng ghép môn Đạo đức.
Ví dụ 1: Bài 4: Gia đình em.
Bài tập 1: Kể về gia đình mình.
Sau khi nghe các em kể cho nhau nghe trong nhóm, nghe xong đến phần
kể trước lớp, giáo viên cần giúp học sinh kể về gia đình mình một cách rõ
ràng với niềm tự hào, với tình cảm trân trọng, kính yêu,…thể hiện được cử
chỉ, điệu bộ phù hợp với tình cảm mà em dành cho mỗi người.
Ví dụ 2: Bài 7: Đi học đều và đúng giờ.
Bài tập 2: Đóng vai theo tình huống “trước giờ đi học”.
Sau khi cho học sinh thảo luận nhóm để chuẩn bị đóng vai tình huống thì
đến phần trình bày trước lớp, giáo viên giúp học sinh thể hiện tình huống một
cách tự tin về cử chỉ, điệu bộ phù hợp với lời của nhân vật (tùy thuộc khả
năng diễn xuất từng nhóm) như:
+ Người mẹ: giọng ấm áp, trìu mến “Con ơi, dậy đi học kẻo muộn!”.
+ Người con ngoan ngoãn, lễ phép “Vâng, con sẽ dậy ngay mẹ ạ!”.


Mỗi lần thể hiện như giáo viên đã giúp học sinh cách diễn đạt trước đông
người từ đó làm cho các em tự tin hơn, diễn đạt tốt hơn.
8.3. Lồng ghép trong tiết: Hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Ví dụ 1: Ở chủ điểm “ Uống nước nhớ nguồn” giáo viên có thể tổ chức
cho học sinh thi kể chuyện, đóng kịch, phân vai về các anh hùng, liệt sĩ trẻ
tuổi như: Trần Quốc Toản; Kim Đồng; Vừ A Dính,…mà các em biết hoặc cho
các em đọc các bài thơ về chủ đề: “ Uống nước nhớ nguồn”.
Phần thi của các em là phần mà học sinh có thể thể hiện trước đông
người hoặc hóa thân mình vào trong câu chuyện, vai diễn…
Ví dụ 2: Trong tiết sinh hoạt 15 phút đầu giờ tôi có thể tổ chức cho các
em “thi hát các bài hát mà em thích”. Khi học sinh lên thể hiện bài hát mà
mình thích trước lớp thì cũng đã giúp các em tự tin trước đông người, biết hòa
mình vào trong lời của bài hát và biết cách thể hiện bài hát bằng cử chỉ điệu
bộ, nét mặt hoặc điệu múa phù hợp với bài hát đó.
Ví dụ 3: Trong tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp về chủ đề “Yêu quý mẹ
và cô giáo” tôi có thể yêu cầu học sinh: Hãy kể cho cô và các bạn nghe những
công việc mà hằng ngày mẹ đã làm và tình cảm của em đối với mẹ như thế
nào. Đến phần học sinh lên kể trước lớp, giáo viên cần giúp học sinh nói một
cách tự tin để kể về mẹ của mình với niềm tự hào, với tình cảm trân trọng,
kính yêu, … thể hiện cử chỉ, nét mặt với tình cảm đó.
Các Hội thi mà nhà trường tổ chức như: múa hát, kể chuyện, giới thiệu
tranh sưu tầm, …để chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20 – 11, ngày 8 – 3,
… lớp tôi tham gia và có một học sinh đạt giải nhất toàn trường và được chọn
dự thi kể chuyện cấp huyện. Đạt được giải cao như vậy chính là nhờ sự tự tin
trong giao tiếp của các em qua giờ Kể chuyện trên lớp.
Ngoài những môn ở trên ra chúng ta có thể lồng ghép ở một số môn học
khác như: Tự nhiên – Xã hội, Toán, các Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
bằng cách phân công nhóm trưởng quản lí và điều khiển các thành viên trong
nhóm… Từ đó, có thể giúp học sinh tự tin hơn trước đông người, diễn đạt tốt
hơn.
Như vậy, các phân môn này đã góp phần không nhỏ vào việc rèn kĩ năng
kể chuyện của các em.
9. Biện pháp 9: Phối hợp với phụ huynh “cô và mẹ là hai cô giáo”.


Ba nhân tố không thể thiếu được trong giáo dục đó là “Gia đình – Nhà
trường – Xã hội”. Đặc biệt là đối với học sinh lớp 1như chúng ta thường nói
“cô và mẹ là hai cô giáo”. Thật đúng như vậy, ở trường là thầy cô, về nhà là
cha mẹ. Vì vậy, tôi đã gặp gỡ trực tiếp với phụ huynh qua các kì họp. Tôi đã
dành một thời gian nhất định để hướng dẫn phụ huynh cách dạy học sinh kể
chuyện, cách khuyến khích động viên các em kể ở nhà hoặc gặp gỡ phụ huynh
qua mỗi lần họ đưa con đi học hay đón con về, cũng có khi đến tận nhà các
em hoặc trao đổi gián tiếp thông qua sổ liên lạc … nhằm giúp phụ huynh hiểu
rõ tầm quan trọng của phân môn Kể chuyện trong môn Tiếng việt, bởi không
ít phụ huynh vẫn còn coi trọng kiến thức như đọc, viết, tính toán nhiều hơn.
Hơn nữa, phải cho phụ huynh nhận thấy được phân môn Kể chuyện , ngoài
việc giáo dục cuộc sống còn giúp các em phát triển ngôn ngữ, khả năng diễn
đạt và sự tự tin giúp các em học tốt các môn học khác. Khi phụ huynh đã nhận
thức rõ được tầm quan trọng của phân môn này thì tôi đã đưa ra một số hướng
dẫn giúp phụ huynh hướng dẫn học sinh tập kể chuyện ở nhà.
Ví dụ: Hướng dẫn kể chuyện: Rùa và Thỏ (TV1 – Tập 2 trang 54).
Bước 1: Hướng dẫn con quan sát tranh kể theo tranh.
Tranh 1: Tranh vẽ gì? Rùa đang làm gì? Thỏ nói gì với Rùa?
Bước 2: Hướng dẫn con kể sáng tạo.
+ Một mình con đóng 3 vai: Người dẫn truyện, Thỏ, Rùa (cần lưu ý
giọng điệu của từng nhân vật).
+ Mẹ đóng vai cùng con.
Lưu ý: Phụ huynh nên để con mình tự nhận vai con thích nhất. Tất cả
những gì hướng dẫn cụ thể ở trên với phụ huynh đã cùng tôi giúp học sinh kể
chuyện tốt hơn và hăng say hơn, tự tin thích học giờ kể chuyện hơn.
IV. KẾT QUẢ THU ĐƯỢC.
Trong quá trình nghiên cứu và thực nghiệm ở lớp 1A, cùng với sự giúp
đỡ và tạo điều kiện thuận lợi của Ban giám hiệu, sự nỗ lực của bản thân, sự
chăm chỉ của các em học sinh tôi đã thu được kết quả như sau:
Tổng số
học sinh
24em

Kể chuyện hay
(mức bình thường)
SL
%
9em
37

Biết kể đúng nội dung
chuyện
SL
%
15em
63

Chưa biết kể
SL
0em

%
0


Đặc biệt trong các hội thi do nhà trường tổ chức 20 – 11, 8 – 3,… lớp tôi
đã có học sinh tham gia thi hát, kể chuyện ,… đã đạt giải cao và được chọn dự
thi cấp huyện.
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN:
Qua thời gian nghiên cứu đề tài cùng với sự giúp đỡ tận tình của Ban giám
hiệu và đồng nghiệp cho đến nay đề tài của tôi đã hoàn thành.
Những biện pháp tôi đưa ra ở trên chưa đạt được kết quả như mong muốn,
song nó cũng giúp tôi phần nào thấy được những thuận lợi, khó khăn mà giáo
viên và học sinh gặp phải. Trong suốt quá trình giảng dạy và thực hiện đề tài,
tôi đã rút ra một số kinh nghiệm như sau:
- Phải chuyên tâm với nghề, yêu trẻ, chú ý môn dạy mà mình trăn trở.
- Phải chuẩn bị tiết dạy cho chu đáo, đầu tư nhiều thời gian, kinh phí nếu
có thể (giấy rô – ki, bút dạ, trang phục,…).
- Sử dụng đồ dùng được cấp và đồ dùng tự làm, sưu tầm vật mẫu một cách
triệt để, tranh ảnh phóng to bằng đèn chiếu màn hình,…
- Rèn ngôn ngữ kể chuyện, phong cách kể chuyện hấp dẫn để lôi cuốn
người nghe.
- Động viên, khuyến khích học sinh kịp thời đặc biệt là học sinh tiếp thu
còn chậm, giáo viên giúp các em vượt bậc dù là tiến bộ rất nhỏ nhưng đây là
khâu quan trọng trong tiết dạy.
- Chú ý nhân rộng điển hình và động viên, khuyến khích học sinh vì “học
thầy không tày học bạn”.
- Nên kết hợp với phụ huynh bằng nhiều hình thức để giúp học sinh học
tập được tốt hơn.
- Nên dạy lồng ghép với các môn học khác hoặc các hoạt động khác như:
sinh hoạt tập thể, sinh hoạt 15 phút đầu giờ,…
- Phân loại học sinh để có biện pháp kịp thời.
- Rèn các em tính tự tin trước đông người (học trên lớp, học nhóm, học ở
nhà…).
- Có đầy đủ sách giáo khoa môn Tiếng Việt. Chuẩn bị bài chu đáo trước ở
nhà.
- Về nhà thường xuyên kể các mẫu chuyện đã được nghe hoặc học ở lớp cho


ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, em nghe (chú ý kể tự nhiên) cứ như thế khi đến lớp
các em sẽ tự tin hơn trước đông người.
Nếu thực hiện tốt những điều trên tôi tin rằng giờ kể chuyện sẽ được học
sinh yêu thích và hứng thú thích học giờ này.
Là một giáo viên Tiểu học, đứng trước những đổi mới lớn lao của ngành ,
bản thân tôi sẽ không ngừng học hỏi, nghiên cứu để đúc rút được nhiều kinh
nghiệm hơn trong quá trình xây dựng chuyên môn để có những tiết dạy kể
chuyện sáng tạo và hiệu quả hơn.
II. KIẾN NGHỊ
- Hàng năm cần tổ chức các cuộc hội thảo về chuyên môn tạo điều kiện cho
giáo viên giao lưu, trao đổi kinh nghiệm giữa các trường.
- Cần phối kết hợp với Đội TNTP xây dựng và bổ sung sách, báo, truyện
đọc hơn nữa để các em tham gia định kì đọc sách báo ở thư viện.
Qua thực tế giảng dạy tôi mạnh dạn đề xuất một vài ý kiến nhỏ: Hiểu biết
của tôi còn hạn chế, kinh nghiệm chưa nhiều, thời gian giảng dạy và nghiên
cứu còn hạn hẹp nên trong quá trình thực hiện đề tài chắc chắn còn nhiều
thiếu sót. Kính mong được sự góp ý và giúp đỡ chân thành của Hội đồng khoa
học các cấp, để sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xuân Thành, ngày 23 tháng 5 năm 2017
Xác nhận của Hiệu trưởng
Người thực hiện

Lê Thị Duyên




Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×