Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn toán lớp 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD & ĐT THỌ XUÂN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP
GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN TOÁN LỚP MỘT

Người thực hiện: Trần Thị Hà
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thọ Xương - Thọ Xuân
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Toán

THANH HÓA NĂM 2017


MỤC LỤC
Nội dung

Trang


1. Mở đầu

01

1.1. Lí do chọn đề tài.

01

1.2. Mục đích nghiên cứu.

01

1.3. Đối tượng nghiên cứu

01

1.4. Phương pháp nghiên cứu.

02

2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.

02

2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.

02

2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

02

2.3.Các biện pháp thực hiện.

03

2.3.1. Xây dựng lớp học thân thiện.

03


2.3.2. Dạy toán thông qua đồ dùng trực quan của giáo viên, học sinh

03

và áp dụng công nghệ thông tin vào việc dạy toán.
2.3.3. Dạy học sinh nắm được bản chất các kiến thức toán học.

07

2.3.4. Bồi dưỡng cho học sinh năng lực quan sát, biết suy nghĩ lập

9

luận, phân tích đề toán.
2.3.5. Dạy toán thông qua các trò chơi.

11

2.3.6. Kết hợp việc kiểm tra bài cũ để học tốt bài mới.

14

2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.

15

3. Kết luận

15

Tài liệu tham khảo


1. Mở đầu.
1.1. Lí do chọn đề tài.
Như chúng ta đã biết, toán học là khoa học suy diễn trừu tượng nhưng
toán học ở tiểu học lại mang tính trực quan, cụ thể bởi vì mục tiêu của môn toán
học ở Tiểu học là hình thành những biểu tượng toán học ban đầu và rèn luyện kĩ
năng toán cho học sinh, tạo cơ sở phát triển tư duy và phương pháp toán sau
này. Một mặt khác toán học còn có tính thực tiễn. Các kiến thức toán học đều
bắt nguồn từ cuộc sống. Mỗi mô hình toán học là khái quát từ nhiều tình huống
trong cuộc sống. Dạy học toán học ở tiểu học là hoàn thiện những gì vốn có
trong học sinh, cho học sinh làm và ghi lại một cách chính thức các kiến thức
toán học bằng ngôn ngữ và các kí hiệu toán học. Mỗi tiết học là dịp để học sinh
hình thành những kiến thức và kĩ năng mới, vận dụng một cách sáng tạo nhất,
thông minh nhất.
Môn Toán còn góp phần giáo dục những đức tính tốt như: trung thực, cần
cù, cẩn thận, ý thức vượt khó, tìm tòi sáng tạo và nhiều kĩ năng tính toán cần
thiết để con người phát triển toàn diện, hình thành nhân cách tốt đẹp cho con
người lao động trong thời đại mới.
Môn Toán lớp Một mở đường cho trẻ đi vào thế giới kỳ diệu của toán
học. Sau này lớn lên các em có thể trở thành anh hùng, nhà giáo, nhà khoa học,
nhà thơ, trở thành những người lao động sáng tạo trên mọi lĩnh vực đời sống và
sản xuất. Các em sẽ không bao giờ quên được những ngày đầu tiên đến trường
học đếm, tập viết 1, 2, 3, học các phép tính cộng, trừ. Những con số, những
phép tính đơn giản ấy lại rất cần thiết cho suốt cuộc đời của các em.
Ở lứa tuổi học sinh lớp Một thì nhận thức cảm tính chiếm ưu thế hơn
nhận thức lý tính. Các em dễ dàng tiếp thu, ghi nhớ công thức, kiến thức dựa
trên mô hình, sơ đồ, hình ảnh động mà các em được trực tiếp quan sát. Các em
rất tò mò, ham thích tìm hiểu toán học, tìm hiểu không gian xung quanh và các
em cũng rất thích tham gia các hoạt động mang tính thực tiễn.
Muốn làm được điều này, giáo viên phải tạo điều kiện để học sinh phát
huy năng khiếu tiềm ẩn, đồng thời giúp các em khơi nguồn sáng tạo ngay từ khi
học lớp Một. Khơi dậy những tiềm năng này sẽ tạo nên hứng thú học tập, phát
huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh.
Là giáo viên trực tiếp dạy lớp Một. Tôi rất băn khoăn làm sao để các em
có hứng thú, học tốt môn Toán vì vậy tôi đã đi sâu nghiên cứu “Một số biện
pháp giúp học sinh học tốt môn Toán lớp Một”
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài này nhằm giúp học sinh có hứng thú trong giờ học
Toán.
Phát huy tính tích cực, chủ động, rèn luyện phương pháp suy nghĩ từ đó
giúp học sinh nắm bài tốt hơn, nhớ bài lâu hơn.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài này nghiên cứu về các biện pháp giúp học sinh học tốt môn Toán
lớp Một.
1


1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp trực quan.
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp trò chơi học tập.
- Phương pháp luyện tập thực hành.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Trí thông minh là sự tổng hợp, phối hợp nhịp nhàng các năng lực trí tuệ
như: quan sát, ghi nhớ, óc tưởng tượng, năng lực tư duy mà đặc trưng là năng
lực tư duy độc lập, linh hoạt, sáng tạo, vận dụng những hiểu biết đã học để giải
quyết vấn đề được đặt ra một cách tốt nhất. Môn Toán là môn học có khả năng
giáo dục rất lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy
luận logic, thao tác tư duy cần thiết. Muốn cho học sinh thích học môn toán
thầy, cô giáo phải tìm mọi cách để gây hứng thú trong quá trình dạy học, gợi ra
sự tò mò, ham hiểu biết, nắm được cái mới lạ mà giờ học toán sẽ đem lại cho
các em.
Một điểm đổi mới trong phương pháp dạy học hiện nay luôn coi trọng việc
lấy học sinh làm trung tâm, người thầy chỉ đóng vai trò là người giúp các em đi
đúng hướng, giúp các em tiếp thu kiến thức một cách chủ động, sáng tạo. Chính
vì vậy, ở lớp Một, việc giúp học sinh học tốt môn Toán là hết sức cần thiết.
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1. Thực trạng
Trong quá trình giảng dạy ở Tiểu học, đặc biệt dạy lớp Một, tôi nhận thấy
các em học sinh lớp Một chưa có hứng thú khi học môn Toán. Nhiều em còn mơ
hồ, lúng túng, chưa nắm chắc được kiến thức, nhanh quên các kiến thức đã học,
một số em làm đúng kết quả nhưng khi cô hỏi lại lại không biết để trả lời.
Chứng tỏ các em chưa nắm được bản chất các kiến thức đã học.
Kết quả khảo sát môn Toán của lớp 1d cuối năm học 2015 - 2016
Tổng số bài
kiểm tra
27 bài

Điểm 9 - 10
SL
TL
7 bài

25.9%

Điểm 7 - 8
SL
TL
7 bài

Điểm 5 - 6
SL
TL

Điểm dưới 5
SL
TL

25,9% 11 bài 40.8% 2 bài

7.4%

2.2.2. Nguyên nhân của thực trạng trên.
Do các em mới chuyển giai đoạn từ hoạt động vui chơi là chủ đạo sang
hoạt động học tập là chủ đạo nên nhiều em chưa làm quen, bắt nhịp được với
việc học tập đặc biệt là học môn Toán.
Một số em tiếp thu kiến thức, hình thành kĩ năng tính toán chậm, khả
năng phân tích tổng hợp, tư duy còn hạn chế.
Một số em chưa có động cơ học tập, chưa tự giác.
2


Một số em còn rụt rè, nhút nhát, tự ti chưa dám bộc lộ hết khả năng của
mình.
Để khắc phục thực trạng trên tôi đã dùng nhiều biện pháp trong quá trình
dạy học giúp các em dễ dàng tiếp thu kiến thức, từ đó các em sẽ hứng thú, say
mê học tập hơn. Sau đây là một số biện pháp mà tôi đã áp dụng và đạt kết quả
rất khả quan trong dạy học môn toán lớp Một.
2.3. Các biện pháp thực hiện
2.3.1. Xây dựng lớp học thân thiện
Đối với học sinh lớp Một, đi học thực sự là một bước chuyển, một bước
ngoặt có ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triển trí tuệ, tâm lí và nhân cách của các
em. Đa số các em khi mới chuyển từ Mầm Non sang Tiểu học các em còn bỡ
ngỡ, rụt rè, lạ lẫm, chưa thích ứng được với môi trường mới, kém hứng thú với
hoạt động học tập. Vì vậy tôi thấy việc đầu tiên phải làm đó là xây dựng “Lớp
học thân thiện” Bởi vì: “Lớp học thân thiện” là nơi mà ở đó các em luôn vui vẻ,
hoà đồng, đoàn kết thương yêu nhau, sẵn sàng giúp đỡ nhau trong học tập, sinh
hoạt. Nơi đây, các em luôn nhận được sự thương yêu đoàn kết của bạn bè, của
thầy cô giáo. Sự thân thiện đó thể hiện qua những việc làm cụ thể sau:
Ngay từ ngày đầu vào lớp Một giáo viên phải trò chuyện với các em để
tìm hiểu về gia đình, về sở thích, về tâm tư nguyện vọng của các em.
Tạo bầu không khí vui vẻ, gần gũi, tôn trọng học sinh để các em cảm nhận
được sự thoải mái khi tham gia việc học tập của mình.
Nhẹ nhàng uốn nắn, sửa sai cho học sinh kịp thời, thường xuyên.
Khen ngợi, động viên khi các em tiến bộ dù là rất nhỏ, để các em tự tin
hơn, giúp các em thấy được thế mạnh của mình, đồng thời tạo dựng cho các em
lòng tin vào bản thân, xoá đi nổi lo âu, sợ hãi trong lòng khi các em không làm
được bài.
Trong lớp tôi luôn nhắc nhở các em phải xưng hô với bạn bè đúng mực.
Nhắc nhở các em thực hiện tốt nội qui của trường, của lớp.
Biết đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau trong học tập cũng như khi tham
gia các hoạt động của lớp.
Môi trường học tập xanh, sạch, đẹp, an toàn, thân thiện là yếu tố rất quan
trọng góp phần thu hút học sinh đến trường, đến lớp. Vì vậy tôi cũng rất quan
tâm đến việc sắp xếp bàn, ghế cho ngay hàng, thẳng lối, lớp học luôn sạch sẽ.
Trang trí thêm cho lớp học các câu khẩu hiệu “Thi đua dạy tốt, học tốt”, “Mỗi
ngày đến trường là một ngày vui”, các bảng biểu, lẳng hoa,…
Được học tập trong môi trường, lớp học sạch đẹp, thân thiện, học sinh sẽ
cảm thấy tự tin hơn, thích học hơn, yêu thầy, mến bạn hơn. Phát huy được tính
tự giác, tích cực, phấn đấu học tốt hơn.
2.3.2. Dạy toán thông qua đồ dùng trực quan của giáo viên, học sinh
và áp dụng công nghệ thông tin vào việc dạy Toán.
3


Trong quá trình dạy học tôi nhận thấy học sinh lớp Một muốn học tốt
môn Toán thì phải có đồ dùng trực quan. Đây là yêu cầu không thể thiếu được
đối với từng học sinh ngay từ buổi đầu đến trường. Bởi vì xuất phát từ đặc điểm
nhận thức của học sinh lớp Một từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng.
Đồ dùng của học sinh là một hộp gồm: 10 que tính, 10 hình tròn, tam giác, hình
vuông. Bộ số từ 1 đến 10 và các dấu cộng, trừ bằng, dấu lớn, dấu bé. Muốn đạt
được yêu cầu này giáo viên phải thông báo cho phụ huynh biết và chuẩn bị cho
con mình ngay từ đầu năm học.
Bộ đồ dùng toán này sẽ giúp cho học sinh lớp Một tự hình thành và xây
dựng bài mới. Giúp cho học sinh nào cũng được làm việc độc lập. Tự mình
khám phá, hiểu và vận dụng kiến thức Toán một cách chắc chắn, vững vàng, tự
tin. Dựa vào đồ dùng toán của học sinh và bộ đồ dùng Toán của giáo viên, kết
hợp với việc áp dụng công nghệ thông tin của giáo viên để giáo viên chỉ là
người tổ chức hướng dẫn sao cho học sinh đi đúng hướng. Qua đó rèn cho các
em tính độc lập, cẩn thận, chính xác, hào hứng khi học Toán.
Ví dụ 1: Dạy bài: Số 6.
Học sinh lấy 5 hình tròn lấy thêm 1 hình tròn có tất cả 6 hình tròn.
Học sinh lấy 5 hình vuông lấy thêm 1 hình vuông có tất cả 6 hình vuông.
Các em kiểm tra đếm lại 1, 2, 3, 4, 5, 6 trên các hình. Đếm lại theo nhóm.

1

6
Chú ý học sinh lấy theo nhóm (5 hình tròn vàng thêm 1 hình tròn xanh)
Giáo viên (sử dụng bộ đồ dùng của giáo viên) đưa hình ảnh nhóm 5 hình
tròn màu vàng thêm 1 hình tròn màu xanh tất cả là 6 hình tròn, tiếp tục giáo viên
đưa ra 6 bông hoa, 6 con gà để học sinh nhận biết số lượng là 6.
Để học sinh nắm chắc cấu tạo số 6, giáo viên hướng dẫn học sinh lấy 6
que tính tách thành 2 phần tùy ý để có khái niệm như:
6 gồm 5 và 1
6 gồm 1 và 5
6 gồm 4 và 2
6 gồm 2 và 4
6 gồm 3 và 3
Qua đồ dùng học Toán của cô và trò đã giúp học sinh nhận biết khái niệm
về số 6 một cách chắc chắn, nắm được cấu tạo số 6, nhận biết được số lượng
trong phạm vi 6, số sáu được viết bằng chữ số 6 không phụ thuộc vào hình
dáng, kích thước to lớn, nhỏ bé.
Ví dụ 2: Khi dạy bài: Phép cộng trong phạm vi 6. Giáo viên hướng dẫn
học sinh lập bảng cộng như sau:
Yêu cầu học sinh lấy 5 hình tròn rồi lấy thêm 1 hình tròn nữa. (Tất cả học
sinh cùng lấy)
5

4


Từ mô hình học sinh lập đề toán, lập phép tính:
5+1=6
1+5=6
Yêu cầu học sinh lấy 4 hình tam giác rồi lấy thêm 2 hình tam giác nữa.
(Tất cả học sinh cùng lấy)

Từ mô hình học sinh lập đề toán, lập phép tính:
4+2=6
2+4=6
Tương tự như thế giáo viên yêu cầu học sinh lấy 3 hình vuông lấy tiếp 3
hình vuông nữa.
Nhìn vào mô hình học sinh lập đề toán và sử dụng số, dấu +, dấu = trong
bộ đồ dùng Toán để cài phép tính tương ứng 3 + 3 = 6
Như vậy học sinh đã lập được các phép cộng trong phạm vi 6 và khắc sâu
được khái niệm phép cộng, thực hành làm tính cộng trong phạm vi 6 tương đối
tốt. Được làm việc trên đồ dùng trực quan như vậy học sinh rất hứng thú, nhớ
bài nhanh hơn, nhớ lâu hơn.
Ví dụ 3: Khi dạy bài: Bài toán có lời văn (Toán 1 trang 115)
Bài toán có lời văn đang còn rất mơ hồ đối với các em nên tôi đã sử dụng
hình ảnh động để hướng dẫn:
Bài 1: Viết số thích hợp vào chỗ chấm để có bài toán.
Giáo viên xuất hiện bài toán:
Bài toán: Có .. bạn, có thêm … bạn nữa đang đi tới. Hỏi có tất cả bao
nhiêu bạn?
Giáo viên hiệu ứng 1 bạn ra trước sau đó hiệu ứng tiếp 3 bạn chạy tới.
Nhìn vào hình ảnh này học sinh dễ dàng viết ngay được số vào chỗ chấm để có
bài toán đầy đủ.

5


Tôi tiến hành tương tự như thế với bài 2 trang 115, bài 4 trang 116 sách
Toán 1.
Bài 2: Viết số thích hợp vào chỗ chấm để có bài toán.
Bài toán: Có …con thỏ, thêm … con thỏ đang chạy tới. Hỏi có tất cả bao
nhiêu con thỏ?

Bài 4: Nhìn tranh viết tiếp vào chỗ chấm để có bài toán.
Bài toán: Có …. Con chim đậu trên cành, có … con chim nữa bay
đến. Hỏi…………………………………..?

Việc đưa hình ảnh như vậy tôi thấy học sinh học rất sôi nổi, nắm bài
tương đối tốt. Nhìn vào các hình ảnh này học sinh dễ dàng hoàn thành những
phần còn thiếu của bài toán.
Ví dụ 4: Khi dạy bài: Phép cộng trong phạm vi 4 (Toán 1 trang 47)
Tôi dạy bài này (bằng giáo án điện tử) tôi đã sử dụng hình ảnh động. Khi
hình thành kiến thức mới, giáo viên hiệu ứng đưa hình 3 con chim đậu trên cành
ra trước học sinh rất thích thú với hình ảnh này, sau đó giáo viên hiệu ứng tiếp
thêm 1 con chim từ từ bay đến với ảnh này đã thu hút được sự chú ý của học
sinh. Học sinh nhìn vào hình ảnh sẽ lập được đề toán và lập được phép tính
tương ứng 3 + 1 = 4 với hình ảnh giáo viên vừa đưa ra, các em hào hứng quan
sát để tiếp tục phát hiện ra phép tính khác như: 1 + 3 = 4 và đưa ra 3 + 1 cũng
bằng 1 + 3 đều bằng 4

6


Qua việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Toán ở lớp
Một đã giúp học sinh từng bước phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương
pháp, kĩ năng quan sát, phỏng đoán, tìm tòi. Biện pháp này tạo cho lớp học sôi
động, học sinh hào hứng học tập, 100% các em được tham gia vào bài mới.
2.3.3. Dạy học sinh nắm được bản chất các kiến thức toán học
Để học sinh học tốt môn toán người giáo viên cần phải dạy cho học sinh
nắm chắc kiến thức từng bài, từng phần trong chương trình toán 1, hiểu cặn kẽ
bản chất của kiến thức đó. Vì vậy khi dạy cho học sinh học toán, giáo viên cần
phải biết lựa chọn phương pháp, biện pháp thích hợp để học sinh nắm được các
kiến thức bản chất nhất rồi từ đó làm cơ sở cho việc học các kiến thức tiếp theo.
Ví dụ 1:
Khi dạy học sinh làm tính cộng: 2 + 3 = 5. Bằng kinh nghiệm sống của
trẻ, các em có thể trả lời ngay được kết quả là 5, song nếu chỉ nghĩ rằng học sinh
chỉ học thuộc các phép tính làm đúng kết quả thôi thì chưa đủ mà người giáo
viên cần làm cho học sinh hiểu cặn kẽ bản chất, ý nghĩa của phép cộng. Cụ thể
giáo viên cho học sinh thực hiện thao tác “gộp” hai nhóm đồ vật một nhóm có
(2 đồ vật
) với một nhóm (có 3 đồ vật
) để tạo thành
một nhóm lớn hơn bao gồm tất cả các đồ vật của hai nhóm đó (5 đồ vật).

Để tìm được kết quả của phép cộng trên học sinh cần thực hiện đếm toàn
bộ các đối tượng trong hai nhóm đồ vật và từ đây học sinh sẽ hiểu được vì sao 2
cộng 3 lại bằng 5 (2 + 3 = 5).
Bằng các hình ảnh trực quan, động tác, hoạt động của học sinh để từ đó
các em nắm được “động tác gộp các nhóm đồ vật vào nhau chính là cơ sở
của phép cộng hay nói cách khác đó chính là ý nghĩa của phép cộng.”
Từ các hình ảnh cụ thể, từ những hoạt động của chính mình, học sinh đã
biết vận dụng các kiến thức về ý nghĩa phép cộng. Dần dần các em hiểu về phép
cộng một cách trừu tượng, khái quát hơn, thông qua việc hình thành cấu tạo số
để hình thành phép cộng một cách có cơ sở, từ đó mở rộng sự hiểu biết của
mình.
Ví dụ 2: Khi dạy phép cộng trong phạm vi 3, sau khi hiểu ý nghĩa phép
cộng là: 2 gộp 1 là 3 thì sẽ có phép tính 2 + 1 = 3, học sinh đã biết khái quát hơn
về ý nghĩa bằng cách dựa vào cấu tạo số
Từ việc hiểu ý nghĩa để vận dụng dựa vào cấu tạo số như trên, học sinh
cần được hiểu ý nghĩa phép tính cộng một cách toàn diện hơn, khái quát hơn,
đầy đủ hơn:
2 gộp 1 được 3
2 thêm 1 được 3
ð
2+1=3
2 tăng 1 được 3
7


Khi dạy các số tròn chục, giáo viên gợi ý cho học sinh nắm chắc cấu tạo
số rồi hướng dẫn học sinh là nét đặc biệt của các số tròn chục là hàng đơn vị
luôn bằng 0. Từ nhận biết cơ bản này, học sinh sẽ áp dụng vào việc thực hiện
phép cộng, trừ các số tròn chục một cách thuận lợi.
30 + 50 = 80
80 - 30 = 50
Vì chữ số hàng đơn vị của các số tròn chục luôn bằng 0 (nên 0 đơn vị
cộng với 0 đơn vị cho ta kết quả ở hàng đơn vị bằng 0) và (0 đơn vị trừ đi 0 đơn
vị cũng cho ta kết quả ở hàng đơn vị bằng 0). Vì vậy học sinh chỉ cần cộng, trừ
các chữ số ở hàng chục thì sẽ ra kết quả của phép tính.
Ví dụ 3: Khi hình thành khái niệm “ Một chục” tôi hướng dẫn học sinh:
+ 10 que tính bó lại ta được 1 chục que tính
+ 10 quả trứng gà ta nói 1 chục trứng gà
+ 10 cái bát ta nói 1 chục cái bát.
+ 10 quả cam là 1 chục quả cam … để rồi dẫn dắt học sinh nêu được: 10
đơn vị bằng 1 chục. (10 đơn vị = 1 chục)
- Như vậy “chục” là đơn vị hàng cao hơn “đơn vị”.
Trong cuộc sống ta hay nói: mua hai chục trứng, mua một chục bát,…
- Về số lượng 10 đơn vị và 1 chục là bằng nhau nhưng khác nhau về bản
chất khái niệm. “Chục” là đơn vị hàng cao hơn, được hình thành qua đơn vị,
để rồi chục lại là cơ sở hình thành các số lớn hơn tiếp theo.
Ví dụ 4: Khi dạy giải toán có lời văn: Muốn học sinh hiểu và có thể giải
được bài toán thì điều quan trọng đầu tiên là phải giúp các em đọc và hiểu được
nội dung bài toán. Giáo viên cần tổ chức cho các em đọc kỹ đề toán, hiểu rõ một
số từ khoá quan trọng như “thêm, và, tất cả, … ” hoặc “bớt, bay đi, ăn mất, còn
lại , …” (có thể kết hợp quan sát tranh vẽ để hỗ trợ). Để học sinh dễ hiểu đề bài,
giáo viên cần gạch chân các từ ngữ chính trong đề bài. Khi gạch chân nên dùng
phấn màu khác cho dễ nhìn. Trước tiên giáo viên nên giúp học sinh tóm tắt đề
toán bằng cách đàm thoại “Bài toán cho biết gì? Hỏi gì?” và dựa vào câu trả lời
của học sinh để viết tóm tắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại đề
toán. Đây là cách rất tốt để giúp học sinh phân tích đề toán.
Bài toán: Nhà Lan có 5 con gà, mẹ mua thêm 3 con nữa. Hỏi nhà Lan có
tất cả mấy con gà?
Giáo viên hướng dẫn:
- Bài toán cho biết gì? (Nhà Lan có 5 con gà)
- Bài toán còn cho biết gì nữa? (Mẹ mua thêm 4 con gà)
- Bài toán hỏi gì? (Nhà Lan có tất cả mấy con gà?)
Giáo viên nêu tiếp:
“Muốn biết nhà Lan có tất cả mấy con gà em làm thế nào?
(Lấy 5 + 4 = 9); hoặc: “Nhà Lan có tất cả mấy con gà ?” (có tất cả 9 con
gà).
- Em tính như thế nào để được 9 ? (Lấy 5 + 4 = 9).
8


Tới đây giáo viên gợi ý để học sinh nêu tiếp “9 này là 9 con gà”, nên ta
viết “con gà” vào trong dấu ngoặc đơn: 5 + 4 = 9 (con gà).
Sau đó nhấn mạnh để học sinh hiểu từ “con gà” phải viết trong ngoặc
đơn vì nếu viết 5 + 4 = 9 con gà là sai. Nếu muốn được kết quả là 9 con gà thì
phải viết 5 con gà + 4 con gà = 9 con gà. Nhưng việc viết một phép tính giải với
các danh số như vậy là rất khó khăn và tốn nhiều thời gian với các em nên ta
dùng cách viết 5 + 4 = 9 (con gà) là cách viết tắt của một câu văn: “5 + 4 = 9, 9
ở đây là 9 con gà”.
Giáo viên hướng dẫn cách viết đáp số: Trong đáp số của bài toán thì
không có phép tính và đáp số là trả lời cho câu hỏi của bài toán nên ta không
đặt đơn vị “con gà” ở trong ngoặc đơn mà ghi như sau: Đáp số: 9 con gà.
Giáo viên lưu ý:“Khi giải toán các em phải nêu được phép tính để tìm ra
đáp số (đáp số ở đây là 9 con gà). Nếu chỉ nêu đáp số thì chưa phải là giải toán.
Sau khi học sinh đã xác định được phép tính, đáp số giáo viên hướng dẫn
học sinh đặt câu lời giải.
Một bài toán có nhiều cách đặt câu lời giải khác nhau chẳng hạn như:
*Cách 1: Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ bớt từ đầu (Hỏi) và thay từ
mấy bằng từ “số”, thêm từ “là” cuối câu để có câu lời giải: “Nhà Lan có tất cả
số con gà là:”
Bài giải
Nhà Lan có tất cả số con gà là:
5 + 4 = 9 (con gà )
Đáp số: 9 con gà
*Cách 2: Đưa từ “con gà” ở cuối câu hỏi lên đầu thay thế cho từ “Hỏi”
và thêm từ “Số” (viết trước từ con gà), thêm từ “là” ở cuối câu để có câu lời
giải: “Số con gà nhà Lan có tất cả là:”
Bài giải
Số con gà nhà Lan có tất cả là:
5 + 4 = 9 (con gà )
Đáp số: 9 con gà
*Cách 3: Dựa vào câu hỏi của bài toán bỏ bớt từ đầu “Hỏi” thay từ “
mấy” bằng từ “số” rồi đưa cụm từ “ Tất cả số con gà” lên đầu thêm từ “của” vào
sau từ “con gà” đưa từ “nhà Lan” sau từ “của” và thêm từ “là” ở cuối câu để có
câu lời giải: “Tất cả số con gà của nhà Lan là:”
Bài giải
Tất cả số con gà của nhà Lan là:
5 + 4 = 9 (con gà )
Đáp số: 9 con gà.
2.3.4. Bồi dưỡng cho học sinh năng lực quan sát, biết suy nghĩ lập
luận, phân tích đề toán.
Quan sát là chức năng bẩm sinh của muôn loài nhưng với con người
thì nó tinh tế và sâu sắc hơn rất nhiều. Nhờ biết cách quan sát mà loài người
đã phát hiện ra các chân lí của cuộc sống. Quan sát là một cách thức rất hiệu
9


quả giúp cho con người nhận thức chân lí “từ trực quan sinh động đến tư duy
trừu tượng. Từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó là con đường biện chứng
của quá trình nhận thức chân lí. Qua thực tế giảng dạy tôi thấy năng lực quan
sát, năng lực suy nghĩ của học sinh trong học tập nói chung và học toán nói
riêng còn hạn chế. Chính vì vậy việc rèn luyện năng lực quan sát, suy nghĩ
lập luận cho học sinh là việc làm hết sức cần thiết để dạy học sinh học toán
một cách thông minh.
Muốn học tốt môn Toán, biết giải các bài tập toán từ đơn giản đến
phức tạp thì đều đòi hỏi học sinh biết quan sát, biết suy nghĩ một cách thông
minh, từ đó tìm ra cách giải ngắn gọn, sáng tạo, chính xác bằng cách lập luận
chính xác để loại bỏ những giả thiết không phù hợp với yêu cầu của đề bài.
Vì vậy phương pháp giảng dạy của giáo viên phải gợi mở cho học sinh biết
suy nghĩ tìm ra những giả thiết không thích hợp để đi đến đích là có lời giải
đúng.
Ví dụ 1:
Mẹ cho Thư hộp kẹo trong đó có 5 cái kẹo xanh, 5 cái kẹo đỏ. Thư lấy ra
8 cái chia cho các bạn. Số kẹo mỗi màu của Thư lấy ra có thể là bao nhiêu? Hỏi
trong hộp còn lại mấy cái kẹo?
Sau khi cho học sinh đọc kỹ đề, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh
quan sát bằng hình ảnh cụ thể để học sinh suy nghĩ và xác định yêu cầu của bài.
+ Số kẹo lấy ra mỗi màu có thể là bao nhiêu?
+ Số kẹo còn lại trong hộp?
Yêu cầu 1:
Sau khi đã xác định yêu cầu của bài, học sinh sẽ suy nghĩ, phân tích, lập
luận để tìm ra những giả thiết có thể xảy ra ở
Học sinh cần biết vận dụng kiến thức phân tích số 8 để tìm ra các giả thiết
sau:
a. 8 gồm 1 và 7 (Loại bỏ vì không phù hợp với đề bài).
b. 8 gồm 2 và 6 (Loại bỏ vì không phù hợp với đề bài).
c. 8 gồm 3 và 5 (Chọn được vì phù hợp với đề bài).
d. 8 gồm 4 và 4 (Chọn được vì phù hợp với đề bài).
e. 8 gồm 5 và 3 (Chọn được vì phù hợp với đề bài).
h. 8 gồm 6 và 2 (Loại bỏ vì không phù hợp với đề bài).
i. 8 gồm 7 và 1 (Loại bỏ vì không phù hợp với đề bài).
Khi học sinh đã tìm ra các giả thiết, giáo viên cùng học sinh thảo luận và
lựa chọn các giả thiết phù hợp với yêu cầu đề bài và loại những yêu cầu không
phù hợp. Giáo viên gợi ý cho học sinh tự lựa chọn và giải thích tại sao lại chọn
giả thiết đó.
Giả thiết c, d, e được chọn vì trong hộp có 5 cái kẹo xanh, 5 cái kẹo đỏ
mà 3 và 5, 4 và 4, 5 và 3 đều là các số bằng và bé hơn 5.
Giả thiết a, b, h, i loại bỏ vì trong hộp có 5 cái kẹo xanh, 5 cái kẹo đỏ mà
1 và 7, 2 và 6, 6 và 2, 7 và 1 (số 7, số 6 là số lớn hơn 5, nhiều hơn số kẹo mỗi
loại)
10


Như vậy số kẹo mỗi màu của Thư lấy ra có thể là:
3 kẹo xanh và 5 kẹo đỏ
hoặc 4 kẹo xanh và 4 kẹo đỏ
hoặc 5 kẹo xanh và 3 kẹo đỏ
Yêu cầu 2: Học sinh biết gộp 2 màu kẹo để tìm kết quả số kẹo lúc đầu rồi
mới bớt số kẹo đã cho bạn để tìm ra kết quả cuối cùng:
5+5-8=2
2.3.5. Dạy toán thông qua các trò chơi.
Đối với học sinh Tiểu học nói chung, học sinh lớp Một nói riêng các em
luôn hiếu động, tò mò muốn tìm hiểu khám phá. Do vậy, việc tổ chức cho học
sinh học tập, tự chiếm lĩnh kiến thức thông qua các trò chơi là hết sức cần thiết.
Bởi vì, trò chơi giúp các em có hứng thú trong học tập, tham gia học tập một
cách tích cực, tự nhiên. Tăng cường khả năng luyện tập thực hành, củng cố khắc
sâu kiến thức một cách nhẹ nhàng, tạo cho các em ham học, ham hiểu biết, phát
huy sáng kiến, bộc lộ tài năng cá nhân, rèn luyện tính mạnh dạn tự tin trong
cuộc sống, trò chơi còn giúp các em phát triển nhiều phẩm chất đạo đức như
tinh thần đoàn kết, thân ái, lòng trung thực, tinh thần cộng đồng. Sau đây là một
số trò chơi tôi hay áp dụng trong dạy học môn Toán lớp Một.
Trò chơi 1: Ai nhanh ai khéo
Trò chơi có thể áp dụng ở phần cuối tiết học khi dạy bài phép cộng trong phạm
vi 7 (tiết 48 toán 1). Nhằm khôi phục bảng cộng trong phạm vi 7, hoặc chơi ở
phần kiểm tra bài cũ của tiết 49, tiết 50 toán 1
Chuẩn bị: Vẽ 2 hình như hình dưới đây vào bảng phụ treo trên bảng lớp
(hoặc vẽ trực tiếp trên bảng lớp).
5

5

7

7
2

2

Cách chơi: Chọn 2 đội mỗi đội 6 em. Giáo viên phát cho mỗi đội 1 viên
phấn. Sau khi cô giáo ra hiệu lệnh em thứ nhất của từng đội lên viết số vào từng
hình tròn mỗi em chỉ được viết 1 số (2 số ở hai hình tròn đối diện với nhau tạo
thành phép cộng có tổng là 7 như mẫu 5 + 2 = 7), em thứ nhất viết xong nhanh
chóng chuyển phấn cho em thứ 2 và cứ thế cho đến hết.
Thời gian chơi là 3 phút, đội nào xong trước, đúng là đội thắng cuộc.
Trò chơi này còn áp dụng chơi ở rất nhiều bài khác như bài: Phép cộng
trong phạm vi 5, Phép cộng trong phạm vi 6, phép cộng trong phạm vi 8, phép
cộng trong phạm vi 9…giáo viên chỉ cần thay đổi số ghi trên vòng tròn ở giữa.
11


Như vậy thông qua các trò chơi các em sẽ lĩnh hội được kiến thức một
cách tự giác, tích cực, củng cố khắc sâu kiến thức, tạo cho các em không khí vui
tươi hồn nhiên.
Trò chơi 2: “Bịt mắt chọn hình”.
Sau khi học xong các bài: Hình vuông, hình tròn, hình tam giác.
Phần củng cố bài tôi tổ chức cho các em chơi trò chơi này nhằm rèn luyện
kỹ năng nhận dạng hình.
Chuẩn bị: 25 hình bằng bìa cứng (5 hình vuông, 5 hình tam giác, 5 hình
tròn, 5 hình tứ giác không vuông, 5 hình có đường bao cong nhưng không tròn)
Cách chơi: 3 học sinh cùng chơi, đặt tên cho một em là “hình tam giác”,
một em là “hình tròn”, một em là “hình vuông”. Sau khi bị bịt kín mắt, mỗi em
phải lấy ra các miếng bìa có hình trùng với tên của mình. Ai lấy đủ 5 hình trước
là người thắng cuộc.
Thời gian chơi 3 phút.
Trò chơi này còn áp dụng chơi ở phần củng cố bài của tiết 3, tiết 4 toán 1
hoặc chơi ở phần kiểm tra bài cũ của tiết 6 Toán 1. (Giáo viên chỉ cần thay đổi
số lượng học sinh tham gia chơi.)
Trò chơi 3: Ong đi tìm hoa
Trò chơi có thể áp dụng khi dạy các bài cộng, trừ trong phạm vi 10. Nhằm
củng cố kĩ năng cộng, trừ nhẩm trong phạm vi 10
Chuẩn bị:
+ 2 bông hoa 5 cánh, mỗi bông một màu, trên mỗi cánh hoa ghi các số
như sau, mặt sau gắn nam châm.

+ 10 chú Ong trên mình ghi các phép tính, mặt sau có gắn nam châm.
Cách chơi:
12


+ Chọn 2 đội, mỗi đội 4 em.
+ Giáo viên chia bảng làm 2, gắn mỗi bên bảng một bông hoa và 5 chú
ong, ở bên dưới không theo trật tự, đồng thời giới thiệu trò chơi.
Cô có 2 bông hoa trên những cánh hoa là các kết quả của phép tính, còn
10 chú Ong trên mình mỗi chú ghi 1 phép tính. Nhiệm vụ của các em phải tính
nhẩm kết quả của phép tính trên mình chú ong và gắn với cánh hoa cho phù
hợp.
Hai đội xếp thành hàng. Khi nghe hiệu lệnh "bắt đầu" thì lần lượt từng
bạn lên gắn chú ong với số thích hợp ghi trên cánh hoa. Bạn thứ nhất gắn xong,
đến bạn thứ 2, cứ như vậy cho đến hết.
Trong vòng 1 phút, đội nào làm đúng và nhanh hơn là đội chiến thắng.
Dưới đây là kết quả đúng của 2 đội.

* Lưu ý: Sau khi học sinh chơi xong, giáo viên hỏi thêm một số câu hỏi
sau để khắc sâu bài học.

+ Tại sao chú Ong

không tìm được cánh hoa nào ?

+ Phép tính " 8 – 2 " có kết quả bằng bao nhiêu ?
+ Muốn chú ong này tìm được hoa thì phải thay đổi số trên cánh hoa như
thế nào?
Trò chơi này còn áp dụng chơi ở rất nhiều bài khác như các bài luyện tập
13


(tiết 46, tiết 49, tiết 52, tiết 55 Toán 1), bài: (Phép trừ trong phạm vi 7, phép trừ
trong phạm vi 8, phép trừ trong phạm vi 9, …) giáo viên chỉ cần thay đổi số ghi
trên mỗi cánh hoa và phép tính trên mình mỗi chú ong.
2.3.6. Kết hợp việc kiểm tra bài cũ để học tốt bài mới
Trong thực tế giảng dạy hiện nay, có rất nhiều tiết học nói chung và tiết
học toán nói riêng, có những lúc giáo viên chưa thực sự coi trọng việc kiểm tra
bài cũ. Có những lúc giáo viên đã “sát nhập” hoặc “đan xen” khâu kiểm tra bài
cũ với bước dạy bài mới đế có sự “đổi mới’, “sáng tạo”. Song làm như vậy đã
khiến cho khâu kiểm tra bài cũ trở thành hình thức, không rõ mục đích nên để
việc kiểm tra bài cũ có chất lượng, hiệu quả, góp phần giúp học sinh ôn luyện
kiến thức đã học để làm cơ sở cho việc tiếp thu kiến thức mới là một việc hết sức
cần thiết. Chính vì vậy, đối với lớp 1 ở khâu soạn tôi luôn xác định rõ 3 vấn đề
là:
Kiểm tra bài để làm gì?
Kiểm tra cái gì?
Kiểm tra như thế nào?
Để trả lời 3 câu hỏi trên, tôi luôn xác định yêu cầu cần kiểm tra từ cuối tiết
học trước để định hình hướng dẫn học sinh học ở nhà và có được sự chuẩn bị tốt
cho tiết học sau của cả thầy và trò. Vì vậy việc kiểm tra sẽ có tác dụng đánh giá
chính xác sự tiếp thu của học sinh và giúp cho học sinh vận dụng tốt kiến thức cũ
vào việc học kiến thức mới.
Khi thực hiện việc kiểm tra tôi luôn bám sát đặc trưng môn học, đối tượng
học sinh để tận dụng tối đa khoảng thời gian cho phép, phương tiện dạy học, đồ
dùng học tập của học sinh, sử dụng và phá huy hết khả năng của các phương tiện
ấy để tạo ra các hình thức kiểm tra đa dạng và phong phú mà không cầu kỳ tốn
kém.
Ví dụ:
Khi dạy bài: Phép cộng trong phạm vi 100 (cộng không nhớ)
Phần kiểm tra bài cũ tôi xác định rõ yêu cầu cần kiểm tra các kiến thức đã
học của học sinh, đó là:
Kỹ năng cộng các số tròn chục
Kỹ năng làm tính cộng với số 0
Kỹ năng đặt tính và tính theo cột dọc
*Học sinh 1: Tính
Củng cố cách tính nhẩm (dựa vào đặc điểm các số tròn chục chữ số hàng
đơn vị luôn bằng 0 nên chỉ nhẩm chữ số hàng chục cho nhanh).
Dựa vào phép tính 40 + 50 = 90 để tính nhanh hai phép tính trừ.
40 + 50 = 90
90 - 40 =
ð
90 - 40 = 50
90 - 50 =
ð
90 - 50 = 40
(quan hệ giữa phép cộng và phép trừ)
* Học sinh 2: Tính (bảng lớp)
6+0=6
14


0+6=6
Củng cố phép tính cộng với số 0.
* Học sinh 3: Đặt tính rồi tính (bảng lớp)
19 – 4
8 + 10
3 + 40
Rèn kĩ năng đặt tính theo cột dọc.
Rèn phép tính cộng với số 0.
* Kiểm tra vấn đáp (bảng con):
Đọc các số: 25, 14, 40.
Phân tích số: 25 gồm ... chục và... đơn vị.
14 gồm ... chục và... đơn vị
40 gồm ... chục và ... đơn vị.
Với thời gian cho phép, các phương tiện đồ dùng có sẵn và việc xác định
rõ yêu cầu của việc kiểm tra, tôi thấy ngoài việc đánh giá chính xác các kiến thức
đã học của học sinh nó còn là cơ sở thuận lợi cho việc tiếp thu bài mới với các
dạng sau:
Vận dụng phần kiểm tra phân tích số 25, 14, 40 và kĩ năng đặt tính.
Vận dụng phần củngcố phép tính cộng.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Sau khi tìm hiểu, nghiên cứu và áp dụng: “Một số biện pháp giúp học
sinh học tốt môn Toán lớp Một”. Tôi đã vận dụng các biện pháp trên một cách
hợp lí, hiệu quả, đúng lúc, đúng chỗ và kết quả kiểm tra đối với môn Toán đạt
được như sau:
Kết quả kiểm tra môn Toán của lớp 1d cuối năm học 2016- 2017.
Tổng số bài
kiểm tra
27 bài

Điểm 9 - 10
SL
TL
15 bài

Điểm 7 - 8
SL
TL

55,6% 8 bài

Điểm 5 - 6
SL
TL

29,6% 4 bài

Điểm dưới 5
SL
TL

14,8% 0 bài 0%

Qua kết quả kiểm tra môn Toán của lớp 1d cuối năm học 2016 – 2017 so
với kết quả khảo sát môn Toán của lớp 1d cuối năm học 2015 – 2016 thì số
lượng học sinh đạt điểm 9 - 10 tăng cao hơn, số học sinh đạt điểm 5 – 6, điểm
dưới 5 giảm đi nhiều. (Đối tượng học sinh ở 2 lớp và đề kiểm tra cuối năm học
của 2 năm học này là tương đương nhau).
3. Kết luận.
Qua thực tế áp dụng các biện pháp trên vào giảng dạy môn Toán ở lớp Một
bản thân tôi nhận thấy:
Học sinh thích đi học hơn, đến lớp với tâm trạng vui vẻ, tinh thần thoải
mái, tự giác học tập.
Học sinh có động cơ học tập, có niềm tin vào bản thân mình.
Học sinh biết vận dụng thành thạo các kiến thức đã học làm cơ sở cho việc
tiếp thu bài mới một cách thuận lợi, vững chắc.
Học sinh có thói quen suy nghĩ, quan sát, lập luận để phát huy trí thông
15


minh, óc sáng tạo, khả năng phân tích, tổng hợp, tư duy độc lập và thông qua
việc thảo luận, tranh luận mà học sinh phát triển khả năng nói lưu loát, biết lí
luận chặt chẽ khi giải toán.
Tạo không khí sôi nổi, niềm say mê hứng thú cho học sinh bằng các bài
toán sinh động, hấp dẫn thực sự biến giờ học, lớp học luôn là không gian toán
học cho học sinh.
Trên đây là những biện pháp mà tôi đã rút ra trong thực tiễn giảng dạy của
bản thân. Tôi rất mong được sự góp ý, bổ sung của Hội đồng khoa học các cấp
để sáng kiến kinh nghiệm được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xác nhận của Hiệu trưởng Nhà trường.

Lâm Thị Thơ

Thọ Xuân, tháng 5 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Người thực hiện.
Trần Thị Hà

16


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. SGK và SGV môn Toán lớp 1 NXB –GD 2002.
2. VBT Toán (tập 1, 2) lớp 1 NXB-GD 2002.
3. Thiết kế bài giảng môn Toán (tập 1,2) NXB –HN 2004.
4. Dạy lớp 1 theo chương trình Tiểu học mới NXB –GD.
5. Tạp chí giáo dục Tiểu học tập 49/2013, tập 3,4/2013,….



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×