Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp dạy học các thể hóa môn toán cho học sinh lớp 5

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG
& ĐT
PHỐTHANH
THANHHÓA
HÓA
SỞ
GIÁOGD
DỤC
VÀTHÀNH
ĐÀO TẠO
=====================
PHÒNG GD
& ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
=====================

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC CÁ THỂ HÓA
MỘT MÔN

SỐ BIỆN
PHÁP
DẠY
HỌC
CÁLỚP
THỂ5HÓA
TOÁN
CHO
HỌC
SINH
MÔN TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 5

Người thực hiện: Nguyễn Thị Phương
Chức vụ
: Giáo
Người
thực
hiện:viên
Nguyễn Thị Phương
Đơn vịvụcông
tác:viên
Trường Tiểu học Điện Biên 1
Chức
: Giáo
SKKN
thuộctác:
lĩnhTrường
vực: Toán
Đơn
vị công
Tiểu học Điện Biên 1
SKKN thuộc lĩnh vực: Toán

THANH HÓA NĂM 2017
1


MỤC LỤC
Trang
1. PHẦN MỞ ĐẦU


1

2. PHẦN NỘI DUNG

2

2.1. Cơ sở lí luận

2

2.2. Thực trạng vấn đề

2

2.3. Các biện pháp dạy học cá thể hóa môn Toán cho học sinh lớp 5

3

2.4. Hiệu quả của việc vận dụng các biện pháp dạy học cá thể hóa

15

Môn Toán cho học sinh lớp 5
3. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

17

2


1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, ngành GD-ĐT đã có nhiều chủ trương đẩy
mạnh hoạt động giáo dục bằng nhiều hình thức với nhiều biện pháp, giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục từ vùng có điều kiện thuận lợi đến vùng sâu,
vùng xa. Xuất phát từ yêu cầu của đổi mới giáo dục nước nhà, vấn đề nâng cao
chất lượng giáo dục tiểu học nhằm đào tạo một lớp người lao động mới phục vụ
cho sự nghiệp Công nghiệp hoá - hiện đại hoá là đồi hỏi bức thiết của xã hội.
Để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước, những con
người tự chủ, năng động, sáng tạo phù hợp với thời kì đổi mới nhất thiết phải
đổi mới giáo dục cụ thể là đổi mới PPDH. Phải lựa chọn PPDH sao cho đạt được
mục tiêu “Dạy người khác muốn học; dạy người khác biết học; dạy người khác
kiên trì học tập và dạy người khác học tập có kết quả”. Thực hiện yêu cầu trên,
ngành giáo dục nước ta đă và đang tiến hành đổi mới PPDH mà dạy học theo
hướng cá thể hóa học sinh được coi là một quan điểm sư phạm tiên tiến.
Thực trạng dạy học hiện nay ở trường Tiểu học, phần lớn giáo viên đều
nhận thấy dạy học cá thể hóa là việc hết sức cần thiết vì trong một lớp hiện nay
khả năng tiếp thu và trình độ của HS không đồng đều. Đặc biệt với môn Toán là
môn học có vị trí quan trọng trong nhà trường. Tuy nhiên việc dạy theo xu
hướng này không dễ dàng, nhất là ở những lớp có sĩ số HS đông.
Yêu cầu đặt ra cho các nhà giáo tâm huyết là phải tìm ra các giải pháp tổ
chức các hoạt động dạy học phù hợp với khả năng tư duy của từng học sinh, có
như vậy mới phát huy hết năng lực của các em, chất lượng dạy và học cũng từ
đó mà được nâng lên. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “ Một số biện pháp dạy học
cá thể hóa môn Toán cho học sinh lớp 5.”
1. 2. Mục đích nghiên cứu:
Góp phần nâng cao hiệu quả dạy học toán cho tất cả đối tượng HS lớp 5.
1. 3. Đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp dạy học cá thể hóa môn toán cho học sinh lớp 5.
1. 4. Các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp đọc sách và tài liệu
- Phương pháp trò chuyện
- Phương pháp quan sát khách quan
- Phương pháp thăm dò
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
3


2. NỘI DUNG
2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Dạy học cá thể hóa là phương pháp giảng dạy yêu cầu người giáo viên
phải quan tâm tới từng đối tượng HS, dạy cho từng cá nhân chứ không phải dạy
theo số đông. Muốn vậy, GV phải nắm được năng lực tiếp nhận và cả đặc điểm
tâm sinh lý của từng em. Bởi vì mỗi con người không ai giống ai mà có những
đặc điểm khác nhau.
Việc kết hợp giữa giáo dục đối tượng “đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng” với
giáo dục đối tượng “năng khiếu” trong dạy học ở trường phổ thông cần được
tiến hành theo các tư tưởng chủ đạo sau:
Trong việc dạy học phải biết lấy trình độ phát triển chung và điều kiện
chung của HS trong lớp làm nền tảng, phải hướng vào những yêu cầu thật cơ
bản. Người giáo viên phải biết lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học phù
hợp với trình độ và điều kiện chung của lớp.
Sử dụng những biện pháp phân hoá đưa đối tượng HS ở mức độ dưới
chuẩn kiến thức, kĩ năng lên trình độ chung.
Trong cùng một giờ dạy, GV có thể bổ sung những kiến thức ngoài chuẩn
kiến thức, kĩ năng cho đối tượng HS năng khiếu sau khi đă hoàn thành xong
những yêu cầu cơ bản của giờ học.
Yêu cầu xã hội đối với HS vừa có sự giống nhau về những đặc điểm cơ bản
của người lao động trong cùng một xã hội, vừa có sự khác nhau về trình độ nhận
thức, khuynh hướng nghề nghiệp và tài năng của từng người...
HS trong cùng một lớp học vừa có sự giống nhau vừa có sự khác nhau về
trình độ phát triển nhân cách, trong đó sự giống nhau là cơ bản. Tuy nhiên, sự
khác nhau giữa các học sinh có thể có tác động khác nhau đối với quá trình dạy
học. Sự giống nhau và khác nhau về yêu cầu xã hội và về trình độ phát triển
nhân cách từng người đđ̣òi hỏi một quá trình dạy học thống nhất cùng với những
biện pháp phân hoá nội tại. Để đảm bảo giờ dạy học cá thể hoá đạt hiệu quả tối
đa thì sự hiểu biết của người thầy về từng HS là hết sức quan trọng.
Dạy học phân hoá cần được xây dựng thành một kế hoạch lâu dài, có hệ
thống, có mục tiêu.
2.2. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CỦA VIỆC DẠY HỌC CÁ THỂ HÓA
Việc dạy học cá thể hóa HS ở trường Tiểu học Điện Biên 1 luôn được sự
quan tâm của Ban giám hiệu, sự chỉ đạo sát sao các hoạt động chuyên môn

4


Phần lớn học sinh chăm ngoan, đi học đều và đúng giờ, nhiều em có năng
khiếu trong học tập. Phụ huynh đều quan tâm đến việc học của học sinh.
Nhà trường có đội ngũ giáo viên tâm huyết với nghề, hết lòng vì học sinh
thân yêu.
Nhà trường trang bị đầy đủ trang thiết bị, đồ dùng dạy học để phục vụ công
tác giảng dạy.
Tuy vậy, việc dạy học cá thể hóa học sinh vẫn còn gặp những khó khăn
nhất định.
- Thời gian cho một tiết học chỉ có 35 phút, đối tượng học sinh không đồng
đều do vậy còn có những khó khăn trong việc dạy học cá biệt hóa.
- GV dạy học cả ngày nên thời gian dành để nghiên cứu bài dạy phù hợp
với từng đối tượng cũng khó vì dạy học cá thể hóa học sinh cần có sự chuẩn bị
bài rất chu đáo.
- Giáo viên tiểu học phải dạy nhiều môn nên thời gian chuyên sâu cho từng
môn còn ít.
- Thời lượng dành cho các tiết thực hành của học sinh khối 5 rất ít (chỉ còn
1 tiết thực hành trong một tuần) .
- Một số học sinh khả năng chú ý trong tiết học chưa cao. Một số em cảm
thấy mỏi mệt khi tham gia học tập.
- Khả năng tư duy sáng tạo của các em còn nhiều hạn chế.
2.3. CÁC BIỆN PHÁP DẠY HỌC CÁ THỂ HÓA MÔN TOÁN CHO
HỌC SINH LỚP 5
2.3.1. Giáo viên cần nắm vững đối tượng học sinh trong lớp
Để thực hiện việc dạy học cá thể hóa cho học sinh đạt hiệu quả, việc nắm
và phân hóa đối tượng học sinh trong lớp là việc làm vô cùng cần thiết. Bởi có
phân hóa được học sinh thì người giáo viên mới có thể chọn hệ thống phương
pháp, hệ thống câu hỏi, bài tập phù hợp với các đối tượng. Việc này giúp cho
học sinh hứng thú trong học tập, hiệu quả của giờ học từ đó được nâng lên.
Để nắm rõ được các đối tượng HS trong lớp, GV tìm hiểu đối tượng thông
qua các cách:
- Ngay từ đầu năm học, khi mới nhận lớp, giáo viên trao đổi với giáo viên
chủ nhiệm lớp năm trước để biết đặc điểm, lực học của từng em. Đồng thời tìm
hiểu trình độ học sinh còn được giáo viên thực hiện qua việc tìm hiểu kết quả
học tập năm học trước.
- Quan sát việc học tập của HS trong các giờ học, qua việc học bài và chuẩn
bị bài ở nhà. GV cần thường xuyên chấm bài trên lớp.
5


- Tăng cường hỏi – đáp trong các giờ học, ngoài giờ học. Thông qua hệ
thống câu hỏi mở để phát hiện học sinh hoàn thành tốt nội dung môn toán.
- Trao đổi với phụ huynh về việc học của HS ở nhà.
- Trao đổi với học sinh trong ban cán sự lớp, trao đổi với HS khác trong lớp.
- Ra đề kiểm tra với 4 mức độ theo thông tư 22 để phân hóa học sinh. Nội
dung đề ra với 4 mức độ với tỉ lệ khoảng:
+ 30% đến 40% ở mức 1 (nhận biết, nhắc lại được kiến thức, kĩ năng đã
học)
+ 20% đến 30% ở mức 2 (hiểu kiến thức, kĩ năng đã học, trình bày, giải
thích được kiến thức theo cách hiểu của cá nhân) .
+ 20 % ở mức 3 (biết vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để làm bài).
+ 10% đến 20% ở mức 4 (vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học một cách
sáng tạo).
Việc nắm vững đối tượng học sinh trong lớp đã được giáo viên coi là một
nhiệm vụ và thực hiện nghiêm túc, chính vì vậy giáo viên đã dễ dàng thực hiện
dạy học cá thể hóa trong môn toán.
2.3.2.Tổ chức dạy học cá thể hóa học sinh ở các tiết chính khóa.
Thực tế trong các trường tiểu học hiện nay, học sinh không học thêm, giáo
viên không giao bài tập về nhà cho học sinh. Học sinh được học 5 tiết toán/tuần
và chỉ có 1 tiết thực hành/tuần. Vì vậy việc tiếp thu kiến thức của học sinh chủ
yếu trên các tiết học chính khóa. Vì thế, việc thực hiện dạy học cá thể hóa cho
học sinh ở các tiết học chính khóa đặc biệt quan trọng.
* Đối với dạng bài xây dựng kiến thức mới:
Dạy học theo hướng đổi mới, ngay trong tiết học chính khóa, học sinh tự
chiếm lĩnh kiến thức dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên. Để tổ chức dạy
học theo hướng dạy học cá thể hóa học sinh, GV cần nghiên cứu kĩ chương trình
toán lớp 5. Từ việc nắm chương trình, giáo viên nắm được mục tiêu cần đạt của
cả năm học, của từng chương, từng bài. Dạng bài dạy kiến thức mới có vai trò
cung cấp kiến thức cho học sinh. Đối với dạng bài này, giáo viên cần:
- Nắm vững mục tiêu tiết học. Lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức
dạy học phù hợp cho mỗi hoạt động dạy học.
+ Hướng dẫn học sinh tự phát hiện vấn đề của bài học bằng việc học cá
nhân, huy động những hiểu biết của cá nhân. Lập mối liên hệ giữa vấn đề mới
phát hiện với các kiến thức đã biết, từ đó tìm cách giải quyết vấn đề.
+ Hướng dẫn học sinh hoạt động nhóm để tìm ra kiến thức hay cũng có
thể tìm ra kiến thức mới trên cơ sở là hệ thống câu hỏi gợi ý, quan sát kênh hình
6


trong sách giáo khoa,...Việc thành lập các nhóm học tập để tiếp thu kiến thức
mới cũng có thể chia nhóm ngẫu nhiên hoặc chia nhóm cùng trình độ,...
- Trân trọng, khuyến khích mọi cách giải quyết của HS, giúp các em lựa
chọn cách giải quyết hợp lí nhất.
- Tổ chức cho HS thực hành, vận dụng kiến thức mới học để học sinh được
“học qua làm”, góp phần giúp HS tự chiếm lĩnh kiến thức mới, bằng cách sử
dụng các bài tập trong SGK để tổ chức cho HS tự làm bài theo năng lực của
mình.
- Dự kiến hệ thống câu hỏi phù hợp với từng đối tượng học sinh
+ Đối với đối tượng học sinh hoàn thành tốt môn toán: Hệ thống câu hỏi
của giáo viên không đưa ra nhiều, câu hỏi chỉ mang tính chất gợi ý. Sau khi đã
nắm vững lí thuyết, khuyến khích học sinh tự vận dụng để giải các bài tập.
+ Đối với học sinh ở mức độ hoàn thành bài và hoàn thành còn chậm
trong tiết học: Hệ thống câu hỏi phải được chẻ nhỏ ra, các câu hỏi mang tính cụ
thể. Đối tượng này thường rụt rè nên giáo viên năng động viên khi học sinh có
sự tiến bộ cho dù là nhỏ. Sau khi nắm vững lí thuyết, đến phần thực hành thì
giáo viên cần yêu cầu nhắc lại lí thuyết trước khi làm mỗi bài tập để học sinh
nhớ và vận dụng được.
- Học sinh chuẩn bị tốt cho tiết học kiến thức mới ở nhà. Học sinh tiểu học
hiện nay không phải làm bài tập về nhà. Song việc này không đồng nghĩa với
việc làm bài tập ở nhà mà là, việc làm này giúp học sinh tăng khả năng tự học và
luôn tự tin vào bản thân. Việc chuẩn bị bài ở nhà, giáo viên yêu cầu các đối
tượng học sinh như sau:
+ Đối với đối tượng HS hoàn thành tốt, giáo viên yêu cầu học sinh tự đọc
sách giáo khoa, tìm cách thực hiện các ví dụ (ở phần bài mới) và trả lời được câu
hỏi: “Vì sao lại làm được như thế?”.
+ Đối với HS ở mức độ hoàn thành nội dung môn toán: Học sinh đọc sách
giáo khoa, bước đầu hiểu được vấn đề và nếu chưa hiểu thì có thể tham khảo ý
kiến người trong gia đình.
Ví dụ: Dạy dạng bài hình thành kiến thức mới: Cộng hai số thập phân
(Tiết 48– Môn Toán - Lớp 5)
Mục tiêu tiết dạy:
Học sinh biết: - Cộng hai số thập phân.
- Giải bài toán với phép cộng các số thập phân.

7


Phần xây dựng bài mới gồm hai ví dụ:
Ví dụ 1: Đường gấp khúc ABC có
đoạn thẳng AB dài 1,84m và đoạn
thẳng BC dài 2,45m. Hỏi đường gấp
khúc đó dài bao nhiêu mét?
Ví dụ 2: 15,9 + 8,75 = ?
Để chuẩn bị tốt cho tiết dạy học kiến thức mới, giáo viên tiến hành dạy
học cá thể hóa như sau:
- Kiểm tra bài cũ: GV cho HS cả lớp thực hiện các phép đổi đơn vị đo độ
dài với dụng ý áp dụng kiến thức cũ có liên quan này vào việc phát hiện kiến
thức mới.
1,25 m = ..... cm ; 34,7m = .... cm
- GV chia lớp thành nhóm HS ngẫu nhiên theo bàn (2 bàn chia vào 1
nhóm).
- GV yêu cầu HS thảo luận nhóm để tìm cách giải quyết ví dụ 1.
- Học sinh sẽ thực hiện như sau:
+ Đối với đối tượng HS hoàn thành tốt, các em sẽ dựa vào kiến thức bài
cũ vừa được kiểm tra (đổi đơn vị đo độ dài) để đổi đơn vị đo từ mét ra xăng-timét sau đó cộng như cộng hai số tự nhiên (đơn vị là xăng-ti-mét). Cuối cùng là
đổi kết quả từ xăng-ti-mét ra mét:
Đổi: 1,84m = 184 cm
2,45 m = 245 cm
184
+ 245
429(cm)
429 cm = 4,29 m. HS tìm được độ dài đường gấp khúc ABC là 4,29 m.
+ Đối với đối tượng HS ở mức độ hoàn thành bài và HS hoàn thành bài
chậm, HS sẽ lúng túng, nhưng nhờ sự thảo luận trong nhóm nên cũng hiểu ra.
Nếu nhóm nào chưa giải quyết được thì giáo viên sẽ gợi ý cho nhóm đó bằng hệ
thống câu hỏi:
+ Để tìm được độ dài đường gấp khúc ABC, cần làm thế nào? (Thực
hiện phép cộng: 1,84 m + 2,45 m = ? )
+ Chúng ta đã biết cộng hai số thập phân chưa? (chưa biết)
+ Chúng ta đã biết cách cộng hai số tự nhiên chưa? (đã biết rồi).
+ Vậy có thể đổi số đo thập phân có đơn vị mét ví dụ 1 sang đơn vị nào
để có thể thành số đo là số tự nhiên? (xăng-ti-mét hoặc mi-li-mét)
8


+ Với các số đo trong ví dụ 1, ta nên đổi từ mét sang xăng-ti-mét hay
mi-li-mét thì thuận tiện hơn? Vì sao? (đổi thành xăng-ti-mét vì sẽ được số nhỏ
hơn, dễ cộng hơn)
Với hệ thống câu hỏi chẻ nhỏ như vậy, học sinh được đánh giá ở mức
độ hoàn thành hoặc hoàn thành chậm sẽ có thể dễ dàng tự tìm ra kiến thức.
Yêu cầu học sinh kết luận lại: 1,84 m + 2,45 m = 4,29m
- Giáo viên chốt lại: 1,84 m + 2,45 m = 4,29m
- Yêu cầu HS không đổi đơn vị đo, tìm cách cộng hai số thập phân
1,84 m + 2,45 m = ?m
- Có thể gợi ý cho học sinh: Quan sát vị trí các dấu phẩy ở các số hạng
và tổng để có thể đặt tính. Học sinh thực hiện và nêu cách làm, giáo viên điều
chỉnh và kết luận về cách cộng hai số thập phân.
184
1,84
+ 245
+ 2,45
429(cm)
4,29(m)
429cm = 4,29m
Vận dụng GV hướng dẫn HS tìm cách thực hiện ví dụ 2 như sau:
+ HS làm bài cá nhân: đặt tính, tính kết quả.
+ HS trình bày bài trên bảng lớp.
Như vậy với cách tổ chức dạy học chia nhóm và cá nhân, học sinh đã tự tìm
ra kiến thức. Tiết học nhẹ nhàng, gây được hứng thú đạt hiệu quả cao. Học sinh
tiếp thu còn chậm đã tự tin hơn rất nhiều. Đối tượng HS ở mức độ hoàn thành tốt
có điều kiện thể hiện kiến thức của bản thân trong quá trình trao đổi, hướng dẫn
cho bạn mình.
* Đối với dạng bài luyện tập, luyện tâp chung, thực hành, ôn tập:
Nếu như dạng bài dạy kiến thức mới có vai trò cung cấp kiến thức cho
học sinh thì đối với dạng bài luyện tập, luyện tâp chung, thực hành, ôn tập lại có
vai trò củng cố lại kiến thức đã học và rèn luyện các kĩ năng trong bài học, giúp
tất cả các đối tượng HS khắc sâu kiến thức. Đối với dạng bài này, giáo viên cần:
- Nắm vững mục tiêu tiết học và nắm được nội dung các bài tập luyện tập
trong tiết học. Từ đó, lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp
cho mỗi hoạt động dạy học.
- Tốc độ làm bài, giải quyết vấn đề của mỗi HS khác nhau. Vì thế, GV cần
quan tâm dạy cá nhân. Bên cạnh đó, GV có thể tổ chức dạy theo nhóm ngẫu
nhiên để HS hoàn thành tốt có thể giúp HS hoàn thành bài chậm hoặc nhóm HS

9


cùng trình độ để HS hoàn thành tốt có điều kiện mở rộng kiến thức còn HS hoàn
thành bài chậm nắm bài tốt hơn.
- Giúp HS tự phát hiện ra mối liên hệ giữa bài tập và các kiến thức đã học,
từ đó lựa chọn, sử dụng những kiến thức thích hợp để giải bài tập.
- Giúp HS tự luyện tập, thực hành theo khả năng của từng em, không dạy
học “đồng loạt”, “bình quân”. Khi tổ chức cho HS làm bài, chữa bài GV cần
quan tâm đến từng đối tượng HS.
Ví dụ: Dạy dạng bài: Luyện tập ( tiết 135 - Môn Toán – lớp 5)
Mục tiêu tiết day:
Học sinh biết: - Biết tính thời gian của một chuyển động đều.
- Biết quan hệ giữa thời gian, vận tốc và quãng đường.
Ở tiết học trước, HS đã được học về quy tắc và công thức tính thời gian của
một chuyển động đều. Tiết học này giúp HS củng cố lại kiến thức đã học qua
việc luyện tập các bài tập theo yêu cầu của Chuẩn kiến thức, kĩ năng. (Bài tập 1,
2, 3).
* Bài 1 và bài 3:
Bài 1: Viết số thích hợp vào ô trống:
S (km)
261
78
165
96
V ( km/giờ )
60
39
27,5
40
T ( giờ )
Bài 3: Vận tốc bay của một con chim đại bàng là 96 km/giờ. Tính thời gian
để con đại bàng đó bay được quãng đường 72 km.
Để chuẩn bị tốt cho tiết dạy , giáo viên tiến hành dạy học cá thể hóa như
sau:
- GV cho HS làm bài cá nhân:
+ Đối với HS hoàn thành tốt : GV cho HS tự làm bài cá nhân.
+ Đối với HS hoàn thành bài và hoàn thành chậm: GV đưa ra các câu hỏi
giúp HS nhớ lại kiến thức cũ để vận dụng làm bài. Chẳng hạn:
+ Để tính thời gian của một chuyển động đều cần làm thế nào? ( lấy quãng
đường chia cho vận tốc)
+ Các đơn vị đo của hai đại lượng đã biết hợp lí chưa? (hợp lí vì vận tốc có
đơn vị là km/giờ, quãng đường có đơn vị là km)
.................
- HS làm bài cá nhân xong, GV cho HS chữa bài trên bảng lớp. Qua việc
thực hành bài tập này để giúp HS khắc sâu kiến thức đã học tính thời gian của
một chuyển động đều .

10


* Bài 2: Một con ốc sên bò với vận tốc 12cm/phút. Hỏi con ốc sên đó bò
được quãng đường 1,08m trong bao lâu ?
Yêu cầu của bài tập này là tính thời gian của một chuyển động đều khi biết
quãng đường và vận tốc đi với đơn vị đo chưa cùng dạng (vận tốc của ốc sên
tính theo đơn vị cm/phút, còn quãng đường tính theo đơn vị mét).
Để hướng dẫn HS ở bài tập này, GV thực hiện như sau:
- GV cho HS thảo luận theo nhóm bàn để tìm cách giải.
- Đối tượng HS ở mức độ hoàn thành và hoàn thành chậm: HS dễ mắc lỗi
sai phổ biến là không chú ý đến đơn vị đo của hai đại lượng đã biết nên kết quả
bài tập sai. GV đưa ra các câu hỏi gợi ý cho HS. Chẳng hạn:
+ Hai đại lượng đã biết có đơn vị đo hợp lí chưa? ( chưa hợp lí vì vận tốc
của ốc sên tính theo đơn vị cm/phút, còn quãng đường tính theo đơn vị mét)
+ Trước khi tìm thời gian của chuyển động, cần làm gì trước? (đổi quãng
đường sang đơn vị xăng-ti-mét)
+ Vì sao lại đổi quãng đường sang đơn vị xăng-ti-mét ? ( vì vận tốc tính
theo đơn vị cm/phút)
+ Muốn tìm thời gian con ốc sên bò, chúng ta cần làm thế nào? ( lấy quãng
đường chia cho vận tốc )
Cụ thể:
Đổi: 1,08 m = 108 cm
Thời gian ốc sên bò là:
108 : 12 = 9 (phút )
Đáp số: 9 phút
- Đối với đối tượng HS hoàn thành tốt: HS thực hiện bài tập như trên và
làm cách khác sáng tạo bằng cách thực hiện phép đối đơn vị vận tốc từ cm/phút
sang đơn vị m/phút : lấy vận tốc theo đơn vị cm/phút chia cho 100.
Cụ thể:
Đổi 12cm/phút = 0,12 m/phút
Thời gian ốc sên bò là: 1,08 : 0,12 = 9 (phút)
GV yêu cầu đối tượng HS hoàn thành tốt làm thêm bài tập còn lại (bài 4).
GV tổ chức cho HS trình bày cách làm và kết quả trước lớp:
+ Bài 4: Một con rái cá có thể bơi với vận tốc 420m/phút. Tính thời gian để
rái cá bơi được quãng đường 10,5 km.
Như vậy, với cách tổ chức dạy học như trên, HS được thực hành theo khả
năng của từng em, giúp HS ở mức độ hoàn thành bài chậm và hoàn thành bài
giải quyết các bài tập trong một tiết học, HS hoàn thành tốt làm thêm bài tập ở
mức độ nâng cao.
2.3.2. Dạy học cá thể hóa thông qua việc hướng dẫn HS tự học ở nhà.
11


Biện pháp hướng dẫn học sinh tự học ở nhà là biện pháp GV định hướng
cho HS nội dung bài tiếp theo và giúp HS củng cố và mở rộng thêm kiến thức,
tạo cho HS thói quen ham học, góp phần giúp GV trong việc dạy học cá thể hóa.
Tùy từng đối tượng HS, GV hướng dẫn HS tự học sao cho phù hợp bằng các
biện pháp:
- Đối với đối tượng HS ở mức độ hoàn thành và chưa hoàn thành:
+ Học thuộc các quy tắc, công thức toán.
+ Đọc sách, đọc Tạp chí Toán tuổi thơ, báo Chăm học, Đề thi Tìm kiếm
tài năng Toán trẻ, Bộ đề thi Toán Quốc tế lứa tuổi tiểu học,...
+ Sưu tầm các bài tập cùng dạng đã học qua mạng internet hoặc sách
tham khảo.
- Đối với đối tượng HS hoàn thành tốt: GV thêm yêu cầu là HS tự tìm bài
tập theo các dạng bài đã học, sau đó giải các bài tập đó.
- GV kiểm tra việc tự học của HS bằng cách sau:
+ GV giao cho cán sự lớp kiểm tra các kiến thức cũ của HS vào trước
buổi học, HS báo cáo lại với GV vào đầu giờ hoặc GV trực tiếp kiểm tra HS
chưa hoàn thành vào đầu giờ.
+ Kiểm tra hệ thống bài tập HS đã sưu tầm vào đầu giờ. Qua việc kiểm
tra, GV nắm được tình hình tiếp thu kiến thức của từng HS.
+ Kiểm tra việc HS giải các bài tập HS đã sưu tầm vào đầu giờ hoặc tiết
thực hành, từ đó GV nắm được mức độ nắm kiến thức của HS.
Ví dụ: Dạy bài: Luyện tập chung ( Tiết 137- Môn Toán - lớp 5)
Mục tiêu tiết dạy:
- Biết tính vận tốc, quãng đường, thời gian.
- Biết giải bài toán chuyển động ngược chiều trong cùng một thời gian.
Ở tiết học này, HS được củng cố lại các quy tắc tính vận tốc, quãng
đường, thời gian và biết thêm một dạng toán mới đó là bài toán chuyển động
ngược chiều trong cùng một thời gian. Sau tiết học, GV hướng dẫn HS tự học ở
nhà :
- Đối với HS ở mức độ chưa hoàn thành :
+ Học thuộc các quy tắc tính vận tốc, quãng đường, thời gian và các công
thức liên quan đến bài toán chuyển động ngược chiều trong cùng một thời gian.
+ Hoàn thành nốt các bài tập theo yêu cầu của tiết học.
- Đối với HS ở mức độ hoàn thành:
+ Ôn lại các quy tắc tính vận tốc, quãng đường, thời gian.

12


+ Học thuộc các công thức của môn Toán liên quan đến bài toán chuyển
động ngược chiều trong cùng một thời gian.
- Đối với HS hoàn thành tốt:
+ Tự tìm bài tập để làm, đọc thêm tài liệu theo các dạng toán đã học.
+ Tự đặt các đề toán liên quan đến dạng toán chuyển động ngược chiều
trong cùng một thời gian và không cùng thời gian.
GV thu bài của HS, chấm bài và nhận xét cho HS để HS biết được mức độ
nắm dạng toán.
Với các biện pháp trên gợi cho HS sự đam mê học hỏi, tự tìm tòi theo khả
năng của mình. Tuy nhiên, GV cần lưu ý tuỳ từng loại đối tượng mà ra những
yêu cầu thích hợp cho đối tượng đó.
Như vậy, trong quá trình dạy học tùy vào nội dung bài học, vào những thời
điểm thích hợp để tổ chức dạy học cá thể hóa . Biện pháp này được áp dụng khi
trình độ HS có sự sai khác lớn, có nguy cơ yêu cầu quá cao hoặc quá thấp nếu
cứ dạy học đồng loạt. Để dạy học cá thể hoá được hiệu quả, GV có thể áp dụng
dạy học theo cặp hoặc theo nhóm. Với những hình thức này, có thể tận dụng chỗ
mạnh của một số HS này để điều chỉnh nhận thức cho những HS khác. Thông
qua hình thức này có sự tác động qua lại giữa các HS trong quá trình dạy học.
HS được rèn luyện cách thức làm việc để cùng hoạt động chung nhằm thực hiện
một số nhiệm vụ chung.
2.3.3. Tổ chức dạy học cá thể hóa thông qua các hoạt động vui chơi
Xét về mặt tâm lý, học sinh đến trường không chỉ có học mà còn phải tham
gia các hoạt động khác hỗ trợ cho nhiệm vụ chính. Mỗi HS là một con người,
một cá thể riêng biệt với một cuộc sống tinh thần riêng lẻ. Lứa tuổi các em thích
khám phá và ham học hỏi để được mở rộng tầm hiểu biết. Thầy cô biết chia sẻ
những điểm riêng đó thì sẽ khuyến khích được niềm hứng thú vượt trội của từng
em. Việc tổ chức dạy học cá thể hóa được thực hiện qua các trò chơi học tập
trong các tiết học trên lớp, được tiến hành qua việc tổ chức các hoạt động ngoài
giờ. Việc tổ chức các hoạt động vui chơi có tác dụng giúp GV củng cố các kiến
thức theo chuẩn kiến thức kĩ năng quy định và mở rộng, nâng cao cho đối tượng
HS hoàn thành tốt.
* Tổ chức trò chơi trong các tiết học
Việc tổ chức trò chơi trong các tiết học với mục đích giúp HS củng cố kiến
thức bài mới, tạo hứng thú học tập cho HS.
Ví dụ: Dạy bài: Vận tốc ( Tiết 130- Môn Toán - lớp 5)

13


Để củng cố kiến thức bài học, GV tổ chức cho HS chơi trò chơi: “Ai nhanh,
ai đúng” qua các câu hỏi:
Câu 1: Nêu quy tắc và công thức tính vận tốc?
Câu 2: An đi bộ từ nhà đến trường hết 4 phút. Tính vận tốc của An biết
quãng đường từ nhà An đến trường dài 800 m?
Câu 3: Vận tốc của ô tô khoảng bao nhiêu km/giờ?
Câu 4: Một xe máy đi trong nửa giờ được quãng đường 18 km. Tính vận
tốc của người đó với đơn vị đo là km/giờ?
Câu 5: Một ô tô đi với vận tốc 51km/giờ. Hỏi ô tô đó đi với vận tốc bao
nhiêu m/ phút?
Với hệ thống câu hỏi như trên được thiết kế theo mức độ từ dễ đến
khó để tất cả các đối tượng HS trong lớp có thể tham gia.
Ví dụ: Dạy bài : Cộng hai số thập phân (Tiết 48– Môn Toán - Lớp 5)
Để củng cố kiến thức bài học, GV tổ chức cho HS chơi trò chơi “ Ghép
đôi” : GV làm các tấm thẻ ghi phép tính và các tấm thẻ ghi kết quả phép tính.
HS tham gia chơi, mỗi em sẽ cầm một tấm thẻ. HS tìm tấm thẻ có kết quả đúng
để ghép thành đôi.
Chẳng hạn:
15,2 + 4,9

20,1

14 + 23,5

37,5

52,8 + 4,95

57,75

145, 8 + 21,75

167,55

*Tổ chức hoạt động “ Rung chuông vàng”
Tổ chức cho HS tham gia hoạt động “ Rung chuông vàng” là biện pháp
giúp GV phân hóa đối tượng HS trong quá trình dạy học. GV chuẩn bị hệ thống
câu hỏi từ dễ đến khó. Câu hỏi có nội dung củng cố và mở rộng các kiến thức
của tất cả các môn học, trong đó có môn Toán .
Ví dụ: Tổ chức cho HS trong khối 5 thi với hình thức “Rung chuông vàng”, tất
cả HS được tham gia, HS trả lời sai sẽ bị loại, HS trả lời đúng sẽ được tham gia
thi tiếp đến câu cuối cùng. HS nào trả lời đúng hết các câu hỏi sẽ là người chiến
thắng. Hệ thống câu hỏi được sắp xếp theo mức độ từ dễ đến khó để phân hóa
đối tượng HS.
14


Chẳng hạn:
Câu 1: Chữ số 9 trong số thập phân 23,509 có giá trị bao nhiêu ?
Đáp án:

9
1000

Câu 2: Diện tích hình tam giác có đáy 12 cm, chiều cao 6 cm là bao nhiêu ?
Đáp án: 36 cm2
Câu 3: Chu vi hình tròn bán kính 4 cm là bao nhiêu ?
Đáp án: 25,12 cm
Câu 4: Thể tích hình lập phương cạnh 5cm là bao nhiêu ?
Đáp án: 125cm3
Câu 5: Tỉ số phần trăm của hai số 3 và 8 là bao nhiêu?
Đáp án: ( 3 : 8 = 3/8 = 0,375 = 37,5%)
Câu 5: Lớp học có 32 học sinh trong đó có 12 học sinh nữ. Hỏi số học sinh nam
chiếm bao nhiêu phần trăm số học sinh cả lớp?
Đáp án: 62,5%
Câu 6:Viết số nhỏ nhất có 5 chữ số khác nhau chia hết cho 9?
Đáp án: 10 269
Câu 7: Hai tam giác có hai cạnh đáy bằng nhau, hai tam giác này có diện tích
bằng nhau khi.....................................................
Đáp án: (Chiều cao bằng nhau)
Câu 8: Tìm 4 phân số lớn hơn

3
3
nhưng nhỏ hơn
5
4

Đáp án:

15 15 15 15
; ;
;
24 23 22 21

Câu 9: Hồng mua một quyển sách vì được giảm 15 % giá bìa nên chỉ phải trả
13 600 đồng . Hỏi giá bìa của quyển sách là bao nhiêu ?
Đáp án: 16 000 đồng
Câu 10: Tổng của hai số chẵn bằng 120. Tìm hai số đó biết giữa chúng có tất cả
10 số lẻ?
Đáp án: 50 và 70
* Tổ chức Câu lạc bộ Toán
Việc tổ chức Câu lạc bộ Toán theo khối nhằm giúp đối tượng HS hoàn
thành tốt phát triển khả năng tư duy, trí thông minh, nâng cao kiến thức. Bên
cạnh đó, HS tham gia Câu lạc bộ được định hướng về việc học, cách sưu tầm tài
liệu và biết cách tự học. Câu lạc bộ Toán được tổ chức 1buổi/tuần và HS tự
nguyện đăng kí tham gia.

15


Sau đây là một số câu hỏi dành cho đối tượng HS hoàn thành tốt:
Câu 1: Kết quả của biểu thức sau bằng bao nhiêu:
2012 x ( 532 x 7 - 266 x 14) + 9999
( Đáp án: 9999)
Câu 2: Mỗi đỉnh của một tấm bìa hình tam giác được đánh số lần lượt là 1;
2; 3. người ta chồng các tam giác này lên nhau sao cho không có chữ số nào bị
che lấp. Một bạn cộng tất cả các chữ số nhìn thấy thì được kết quả là 2002. Liệu
bạn đó có tính nhầm không ? (Đáp án : Bạn tính sai vì tổng các chữ số phải là số
chia hết cho 1+2+3= 6, số 2002 không chia hết cho 6)
Câu 3: 10 con mèo trong vòng 10 phút bắt được 10 con chuột. Hỏi muốn
bắt được 100 con chuột trong vòng 100 phút thì cần bao nhiêu con mèo? (Biết
rằng sức bắt chuột của các con mèo là như nhau). ( Đáp án : 10 con)
Câu 4: Bạn Mai thực hiện phép nhân 14 x 15 x 16 x 17 x 18 x 19 đươc kết
quả đúng. Ai ngờ hôm sau, một giọt mực rơi xuống trang vở làm không nhìn ra
một chữ số trong kết quả. Bạn có nhìn ra chữ số ấy không?
1953?040 (Đáp án : 5)
Câu 5: Hình bên gồm 5 hình vuông bằng nhau. Diện tích của hình là 45
2
cm . Tính chu vi của hình? (Đáp án : 36)

*Tổ chức Câu lạc bộ “ Em muốn hoàn thành tốt môn Toán”
Việc tổ chức Câu lạc bộ “ Em muốn hoàn thành tốt môn Toán” với mục
đích giúp đối tượng HS ở mức độ hoàn thành và đặc biệt là đối tượng HS chưa
hoàn thành môn Toán củng cố và bổ sung các kiến thức đã học để HS đạt chuẩn
kiến thức môn Toán. Câu lạc bộ được tổ chức 1 buổi/tuần.
Sau đây là các câu hỏi có thể vận dụng để tổ chức hoạt động:
Câu 1: Chữ số 4 trong số thập phân 68,435 có giá trị bao nhiêu? Thuộc hàng
nào? ( Đáp án: giá trị 4/10 và thuộc hàng phần mười)
Câu 2: Viết số thích hợp vào chỗ chấm:
6m2 5dm2 = ………… m2.
7250dm3 = ………………m3
16


(Đáp án: 6m2 5dm2 = 6,05m2.
7250dm3 = 7,25 m3 )
Câu 3: Tính diện tích hình tròn có bán kính 6 cm ? (Đáp án: 113,04 cm2 )
Câu 4: Tính thể tích hình lập phương có cạnh 1,5 cm? (Đáp án: 3,375 cm3)
Câu 5: Tính thể tích hình hộp chữ nhật có chiều dài 6dm, chiều rộng 5dm và
chiều cao 4 dm? (Đáp án: 120 dm3)
Tóm lại, dạy học cá thể hóa là một quan điểm sư phạm tiến bộ, đòi hỏi GV
phải có những kỹ năng tiếp cận, nắm bắt được đối tượng để từ đó có phương
pháp dạy phù hợp. Giáo viên cần phải linh động trong việc giảng dạy. GV được
chủ động đưa ra kế hoạch giảng dạy, nhưng vẫn đảm bảo dạy đủ, dạy đúng kiến
thức theo chuẩn kiến thức, kĩ năng quy định. Song giáo viên cần có sự chuẩn bị
cả về kế hoạch bài học và đồ dùng dạy học. Dự đoán trước những tình huống cụ
thể xảy ra và chuẩn bị sẵn hệ thống câu hỏi gợi mở để học sinh dễ dàng tiếp thu
kiến thức.
2.4. HIỆU QUẢ CỦA VIỆC VẬN DỤNG CÁC BIỆN PHÁP DẠY HỌC CÁ
THỂ HÓA MÔN TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 5.
Để kiểm chứng tính đúng đắn và tính khả thi của đề tài, tôi đã vận dụng các
biện pháp dạy học cá thể hóa vào dạy học trong hai năm học 2015-2016 và
2016- 2017. Sau 2 năm học vận dụng, kết quả đạt được như sau:
- Đối với HS: Tất cả HS đều chăm học, hứng thú trong học tập. Đối tượng
học sinh ở mức dưới chuẩn kiến thức, kĩ năng không còn tự ti, học sinh ở mức
độ trên chuẩn kiến thức, kĩ năng không nhàm chán trong học tập, chủ động, tích
cực trong học tập. Kết quả cụ thể:
+ Năm học 2015- 2016: 100% HS hoàn thành chương trình bậc tiểu học,
trong đó có 1 HS đạt Huy chương Bạc kì thi Toán tuổi thơ cấp Quốc gia.
+ Năm học: 2016- 2017: 100% HS hoàn thành và hoàn thành tốt trong các
kì Kiểm tra định kì; có 3 HS được tham gia đội tuyển Toán tuổi thơ cấp trường ;
1 em được tham gia đội tuyển Toán tuổi thơ cấp Thành phố và được tham gia kì
thi Toán tuổi thơ cấp Quốc gia.; có 2 HS lọt vào vòng 2 cuộc thi Tìm kiếm Tài
năng Toán trẻ cấp Quốc gia, trong đó có 1 HS đạt Huy chương Đồng.
- Đối với GV: GV có nhiều sáng tạo trong công tác giảng dạy, chủ động
trong dạy học. Kĩ năng tổ chức các hoạt động linh hoạt và đạt hiệu quả cao. Khả
năng tư duy của GV được nâng lên.
- Đối với đồng nghiệp: Đồng nghiệp học tập được nhiều kinh nghiệm lẫn
nhau, thường xuyên trao đổi kinh nghiệm trong các buổi sinh hoạt chuyên môn.
Vì vậy, hiệu quả của các tiết học được nâng cao.

17


- Đối với nhà trường: Nhà trường đã nâng cao được chất lượng dạy học
đối với tất cả các đối tượng HS đặc biệt đạt được nhiều thành tích trong công tác
bồi dưỡng HS mũi nhọn.

3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
18


Như vậy để nâng cao chất lượng giáo dục thì việc dạy học cá thể hóa đối
tượng học sinh là một việc làm hết sức cần thiết. Cùng với việc tích cực đổi mới
nội dung và PPDH, giáo viên chúng ta đang tích cực tìm ra nhữn bước cải tiến
mới nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường. Qua thời gian thực
hiện chúng tôi thấy học sinh hứng thú học tập và chất lượng giáo dục được nâng
lên.
Để đạt được hiệu quả của việc dạy học cá thể hóa trong nhà trường, người
giáo viên cần :
Tìm hiểu, nắm vững đối tượng HS trong lớp phụ trách để dạy học đạt hiệu
quả.
Tìm hiểu kĩ nội dung chương trình giáo dục kết hợp với mục tiêu đào tạo,
nắm chắc yêu cầu trọng tâm bài giảng kết hợp với việc hệ thống toàn bộ chương
trình (thường xuyên học tập, nghiên cứu, củng cố, không ngừng nâng cao kiến
thức).
Nắm chắc tình hình học sinh về tâm lý, hoàn cảnh và khả năng tiếp thu,
thực hành bài học của từng học sinh (thường xuyên gần gũi, quan sát tìm hiểu và
lắng nghe học sinh).
Biên soạn, thiết kế giờ dạy, tổ chức học sinh học tập, rèn luyện và thực
hành hiệu quả trong điều kiện của lớp học và thiết bị dạy học có được (thường
xuyên thực hành, tích lũy kinh nghiệm và tư duy về đặc điểm của cá nhân học
sinh).
3.2. Kiến nghị:
- Giáo viên cần đầu tư thời gian chuẩn bị kế hoạch bài học phù hợp đối
tượng học sinh của lớp phụ trách.
- Giáo viên cần bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng , trình độ học sinh để có
hệ thống bài tập, câu hỏi phù hợp với từng đối tượng HS.
- Giáo viên phải linh hoạt, sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp
và hình thức dạy học phù hợp nội dung, tính chất từng bài, căn cứ tình hình thực
tế của trường mình, lớp mình để tất cả các đối tượng học sinh được tham gia học
tập có hiệu quả.
- Giáo viên cần tăng cường trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp trong
các buổi sinh hoạt chuyên môn. Tăng cường dự giờ đồng nghiệp để học hỏi kinh
nghiệm dạy hoc.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 10 tháng 3 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
19


mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết

Nguyễn Thị Phương

DANH MỤC

20


CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN

Họ và tên tác giả:
Nguyễn Thị Phương
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên Trường Tiểu học Điện Biên 1

TT

1.

Tên đề tài SKKN

Cấp đánh giá
xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)

Kết quả
đánh giá
xếp loại (A,
B, hoặc C)

Năm học
đánh giá xếp
loại

Dạy giải toán bằng sơ đồ
đoạn thẳng cho HS tiểu
học

Sở GD & ĐT
Thanh Hóa

C

2008-2009

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×