Tải bản đầy đủ

Đổi mới phương pháp dạy tập làm văn lớp 3

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Tiếng Việt là môn học nền tảng trong trường Tiểu học. Môn Tiếng Việt
cùng với các môn học khác, có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh 4 kĩ năng đó là:
“nghe – nói - đọc - viết”.Trong đó môn Tiếng Việt có các phân môn như: Tập
đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập viết, Tập làm văn…Trong đó
Tập làm văn là phân môn có tính chất tích hợp của các phân môn khác. Qua tiết
Tập làm văn, học sinh có khả năng xây dựng một văn bản, đó là bài nói, bài viết.
Nói và viết là những hình thức giao tiếp rất quan trọng, thông qua đó con người
thực hiện quá trình tư duy - chiếm lĩnh tri thức, trao đổi tư tưởng, tình cảm, quan
điểm, giúp mọi người hiểu nhau, cùng hợp tác trong cuộc sống lao động.
Ngôn ngữ (dưới dạng nói- ngôn bản, và dưới dạng viết - văn bản) giữ vai
trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển xã hội. Chính vì vậy, hướng dẫn cho
học sinh nói đúng và viết đúng là hết sức cần thiết. Nhiệm vụ nặng nề đó phụ
thuộc phần lớn vào việc giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập
làm văn lớp 3 nói riêng. Vấn đề đặt ra là: người giáo viên dạy Tập làm văn theo
hướng đổi mới như thế nào để đáp ứng được khả năng tiếp thu của học sinh?
Cách thức tổ chức, tiến hành tiết dạy Tập làm văn ra sao để đạt hiệu quả như
mong muốn.
Qua thực tế giảng dạy chúng tôi nhận thấy Tập làm văn là phân môn khó

trong các phân môn Tiếng Việt. Do đặc trưng phân môn Tập làm văn với mục
tiêu cụ thể là: hình thành và rèn luyện cho học sinh khả năng trình bày văn bản
(nói và viết) ở nhiều thể loại khác nhau như: miêu tả, kể ,viết thư, tường thuật,
kể lại bản tin, tập tổ chức cuộc họp, giới thiệu về mình và những người xung
quanh.Trong quá trình tham gia vào các hoạt động học tập này, học sinh với vốn
kiến thức còn hạn chế nên thường ngại nói. Nếu bắt buộc phải nói, các em
thường đọc lại bài viết đã chuẩn bị trước. Rất ít học sinh làm bài Tập làm văn
biết sử dụng biện pháp so sánh, nhân hoá cho câu văn sinh động,có hình ảnh.
Các em viết theo văn mẫu không có sự sáng tạo, ngoài văn mẫu ra để tự viết thì
các em viết rất lủng củng ,câu văn rời rạc, không đạt yêu cầu. Vốn từ học sinh
còn nghèo nàn dẫn đến việc sử dụng từ còn lặp, vụng, chưa đúng. Viết câu
không đúng do chưa nắm chắc được cấu tạo câu. Hiện nay đa số học sinh “
ngại” học phân môn Tập làm văn.Thực tế cho thấy nhận thức của cha mẹ học
sinh cho đến các em đều cho rằng: Chỉ cần học Tập đọc và viết Chính tả đúng là
đạt yêu cầu môn Tiếng Việt, còn tập trung học Toán nhiều hơn để lên lớp trên
theo học các môn Tự nhiên là chính. Là một giáo viên đứng lớp trực tiếp giảng
dạy lớp 3, tôi không khỏi băn khoăn lo lắng trước tình hình học sinh như vậy.
Tôi rất mong muốn học sinh của mình ngay từ lớp 3 đã có ý thức biết viết văn
đúng yêu cầu và có sáng tạo. Chính vì vậy tôi đã tìm tòi, nghiên cứu tài liệu và
1


học hỏi các bậc thầy cô đi trước để quyết định đưa ra đề tài: Đổi mới phương
pháp dạy Tập làm văn lớp 3. Kinh nghiệm nhỏ này tôi đã thử nghiệm thành
công tại lớp dạy của mình. Để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học phân
môn Tập làm văn ở lớp 3, tôi xin viết thành sáng kiến kinh nghiệm, rất mong
được sự góp ý của cấp trên, của các bậc thầy cô và bạn bè đồng nghiệp để sáng
kiến của tôi ngày càng hoàn thiện hơn.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Việc dạy cho học sinh nắm được cách nghe, kể lại được nội dung câu
chuyện và nói, viết về một chủ đề có hiệu quả trong phân môn Tập làm văn ở lớp
3 là rất quan trọng. Dạy tốt vấn đề này giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng:
nghe, nói, đọc, viết một cách linh hoạt để biết kể lại câu chuyện đã nghe hay làm
bài văn nói, viết về một chủ đề cho trước có hiệu quả. Giúp học sinh mạnh dạn,
tự tin và ham thích học văn. Vậy mục đích nghiên cứu trong đề tài này tập trung
vào các nội dung chủ yếu sau:
- Thực trạng việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh về phân môn Tập
làm văn lớp 3 ở trường Tiểu học hiện nay.
- Nghiên cứu tìm ra một số phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả giờ học Tập

làm văn ở lớp 3
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

Học sinh lớp 3B Trường Tiểu học Thiệu Dương năm học: 2016 – 2017 ,
lớp mà tôi trực tiếp chủ nhiệm.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Trong qua trình nghiên cứu, tôi đã áp dụng một số phương pháp sau:
1 - Phương pháp nghiên cứu tài liệu :Tiến hành đọc một số tài liệu về phương
pháp dạy Tập làm văn ở Tiểu học để từ đó xây dựng cơ sở lí thuyết
2 - Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế: Tiến hành khảo sát thực tế về khả
năng tiếp thu phân môn Tập làm văn của học sinh lớp 3B qua các bài kiểm tra
3 - Phương pháp luyện tập, thực hành:Tiến hành cho học sinh làm các bài tập
làm văn trong sách giáo khoa để kiểm tra năng lực của các em
4 - Phương pháp trao đổi, tranh luận:Trao đổi với đồng nghiệp trong các buổi
họp chuyên môn vào thứ 7 để tìm ra biện pháp dạy học phân môn Tập làm văn tốt
nhất.
5 - Phương pháp phân tích, tổng hợp:Phân tích để từ đó tổng hợp các biện
pháp dạy môn Tập làm văn lớp 3
6 - Phương pháp thống kê:Thống kê sự tiến bộ của học sinh về cách viết
đoạn văn so với đầu năm học
Trong các phương pháp trên, khi nghiên cứu tôi vận dụng hài hoà các phương pháp
để tìm ra các giải pháp của mình đạt kết quả tối ưu nhất.

2


II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
Tập làm văn là một trong những phân môn có vị trí quan trọng của môn
Tiếng Việt. Phân môn này đòi hỏi học sinh phải vận dụng những kiến thức tổng
hợp từ nhiều phân môn. Để làm được một bài văn, học sinh phải sử dụng cả bốn
kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết; phải vận dụng các kiến thức về Tiếng Việt, về cuộc
sống thực tiễn.
Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kỹ năng tạo lập văn
bản, trong quá trình lĩnh hội các kiến thức khoa học, góp phần dạy học sinh sử
dụng Tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt. Vì vậy, Tập làm văn được coi là phân
môn có tính tổng hợp, có liên quan mật thiết đến các môn học khác. Trên cơ sở
nội dung, chương trình phân môn Tập làm văn có rất nhiều đổi mới, nên đòi hỏi
tiết dạy Tập làm văn phải đạt được mục đích cụ thể hơn, rõ nét hơn. Ngoài
phương pháp của thầy, học sinh cần có vốn kiến thức, ngôn ngữ về đời sống
thực tế. Chính vì vậy, việc dạy tốt các phân môn khác không chỉ là nguồn cung
cấp kiến thức mà còn là phương tiện rèn kỹ năng nói, viết, cách hành văn cho
học sinh.
Phân môn Tập làm văn có nhiệm vụ quan trọng đó là: Bồi dưỡng óc thẩm
mĩ, sự say mê văn học cho các em là cơ sở ban đầu và nền móng cho việc học
văn của các em ở những lớp học, bậc học tiếp theo.
Tóm lại: Dạy Tập làm văn theo hướng đổi mới phải khích lệ học sinh tích cực,
sáng tạo, chủ động trong học tâp; biết diễn đạt suy nghĩ của mình thành ngôn
bản, văn bản. Nói cách khác, các phân môn trong môn Tiếng Việt là phương tiện
để hỗ trợ cho việc dạy Tập làm văn được tốt.
2. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
2.1.Thuân lợi việc dạy học phân môn Tập làm văn

* Đối với giáo viên:
- Sau một thời gian tiến hành chương trình thay sách, giáo viên đã nắm được
yêu cầu của việc đổi mới phương pháp một cách cơ bản, việc sử dụng đồ dùng
tương đối có hiệu quả.
- Sự chỉ đạo chuyên môn của phòng giáo dục, trường, tổ chuyên môn có vai trò
tích cực, giúp giáo viên đi đúng nội dung, chương trình phân môn Tập làm văn.
- Qua các phương tiện thông tin đại chúng: máy tinh, ti vi, đài, sách, báo… giáo
viên tiếp cận với phương pháp đổi mới Tập làm văn thường xuyên hơn.
* Đối với học sinh
- Học sinh lớp 3 đang ở lứa tuổi rất thích học và ham học.
- Môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng có nội dung
phong phú, sách giáo khoa được trình bày với kênh hình đẹp, trang thiết bị dạy

3


học hiện đại, hấp dẫn học sinh, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi các em.Các em
đã được học chương trình thay sách từ lớp 1, đặc biệt là các em ở lớp 2 đã nắm
vững kiến thức, kỹ năng của phân môn Tập làm văn như kỹ năng giao
tiếp, kỹ năng tạo lập ngôn bản, kỹ năng kể chuyện miêu tả. Đây là cơ sở giúp
các em học tốt phân môn Tập làm văn ở lớp 3.
2.2. Khó khăn việc dạy học phân môn Tập làm văn
+ Đối với giáo viên:
Tiếng Việt là môn học khó, nhất là phân môn Tập Làm Văn đòi hỏi
người giáo viên phải có kiến thức sâu rộng, phong phú. Cần phải có vốn sống
thực tế, người giáo viên biết kết hợp linh hoạt các phương pháp trong giảng dạy.
Biết gợi mở óc tò mò, khả năng sáng tạo, độc lập ở học sinh, giúp cho các em
nói viết thành văn bản, ngôn ngữ quả không dễ. Phần đông giáo viên còn thiếu
chú ý đến việc dạy Tiếng Việt trên quan điểm giao tiếp - tích hợp nên kết quả
viết đoạn văn của học sinh chưa cao.
Ví dụ : Khi viết đoạn văn thì việc sử dụng từ để viết câu rất quan trọng
nhưng khi dạy Tập đọc giáo viên quên đi việc cho học sinh cảm nhận , chỉ ra
những từ hay, cách viết câu đặc biệt, câu giàu hình ảnh của tác giả bài viết.
Về cơ sở vật chất phần nào chưa đáp ứng được đầy đủ cho việc nghiên cứu,
giảng dạy học tập của giáo viên, một số bài dạy còn thiếu tranh ảnh, nên giáo
viên dùng lời nói mô tả khiến học sinh tiếp thu trừu tượng. Kết quả giờ dạy còn
hạn chế.
+ Đối với học sinh:
- Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, các em nhanh nhớ nhưng cũng mau quên,
mức độ tập trung thực hiện các yêu cầu của bài học chưa cao.
- Sự hiểu biết của hoc sinh lớp 3 về phân môn Tập làm văn còn hạn chế. Bước
đầu kế thừa, tập làm quen phân môn Tập làm văn của lớp 2.
- Kiến thức về cuộc sống thực tế của học sinh còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc
tiếp thu bài học.Vốn từ vựng của học sinh chưa nhiều cũng ảnh hưởng đến việc
thực hành độc lập. Cụ thể là: các em viết câu rời rạc, chưa liên kết, thiếu lôgic;
tính sáng tạo trong thực hành viết văn chưa cao. Cách bố cục bài văn, cách chấm
câu chưa hợp lí, sử dụng hình ảnh gợi tả chưa linh hoạt, sinh động. Một số học
sinh còn phụ thuộc vào bài văn mẫu, áp dụng một cách máy móc, chưa biết vận
dụng bài mẫu để hình thành lối hành văn của riêng mình. Ví dụ: phần lớn học
sinh dùng luôn lời cô hướng dẫn để viết bài của mình.Nhiều học sinh thuộc bài
của cô một cách trôi chảy để làm văn.
Với những thuận lợi và khó khăn trên, tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng
môn Tập làm văn lớp 3 vào tháng 9 - tuần 3 với học sinh lớp 3B (năm học 20162017) với đề bài như sau:Hãy kể về gia đình em với người bạn mới quen.

4


Kết quả khảo sát như sau: Tổng số học sinh lớp 3B: 30 em.
TT
Nội dung khảo sát
Số học sinh
Tỷ lệ %
1 Biết viết câu, dùng từ hợp lý
14/30
46,6%
2 Biết nói - viết thành câu.
15/30
50%
3 Biết dùng từ ngữ, câu văn có hình ảnh.
10/30
33,3%
4 Biết trình bày đoạn văn
15/30
50%
5 Bài viết học sinh đạt từ trung bình trở lên
20/30
66,6%
Qua khảo sát cho thấy học sinh chưa biết cách diễn đạt câu văn có hình
ảnh, vốn từ vựng chưa nhiều, hiểu biết thực tế còn ít. Do vậy chất lượng bài viết
của các em chưa cao, ý văn nghèo nàn, câu văn lủng củng. Kết quả này cũng thể
hiện phương pháp giảng dạy của giáo viên chưa phát huy được tính tích cực của
học sinh trong giờ học.
3. CÁC GIẢI PHÁP DẠY TẬP LÀM VĂN LỚP 3 THEO HƯỚNG ĐỔI MỚI

Tùy theo nội dung, yêu cầu của mỗi đơn vị kiến thưc bài học và từng đối
tượng học sinh, giáo viên có thể áp dụng nhóm các biện pháp, hoặc một biện
pháp chủ đạo kết hợp với một số biện pháp bổ trợ khác. Về cơ bản có những
biện pháp sau
3.1Luôn chú trọng “tích hợp-lồng ghép”khi dạy phân môn Tập làm văn
Khi dạy Tập làm văn giáo viên cần hiểu rõ tính tích hợp kiến thức giữa
các phân môn trong môn Tiếng Việt như: Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện
từ và câu, Tập viết để giảng dạy và tạo đà cho học sinh học tập tốt phân môn
Tập làm văn. Mối quan hệ này thể hiện rất rõ trong cấu trúc của sách giáo khoa:
các bài học được biên soạn theo chủ đề, chủ điểm, hai tuần học xoay quanh một
chủ điểm ở tất cả các phân môn.
Ví dụ: Chủ đề Cộng đồng dạy trong 2 tuần gồm các bài Tập đọc, Luyện từ và
câu…Trong quá trình rèn đọc, khai thác nội dung các bài Tậpđọc cung cấp cho
học sinh vốn từ về chủ đề Cộng đồng, những câu văn có hình ảnh về chủ đề
Cộng đồng. Cụ thể khi dạy bài tập đọc: Kể chuyện: Các em nhỏ và cụ giàTuần 8, giáo viên khai thác nội dung bài theo hệ thống câu hỏi sau:
+ Điều gì gặp bên đường khiến các bạn nhỏ phải dừng lại?
(Các bạn gặp một cụ già đứng ven đường, vẻ mặt mệt mỏi, cặp mắt lộ vẻ u sầu)
+Các bạn quan tâm đến ông cụ như thế nào?
(Các bạn băn khoăn và trao đổi với nhau. Có bạn đoán: a) Hay ông cụ bị ốm.
b) Hay cụ bị mất cái gì đó. Cuối cùng cả tốp đến tận nơi để hỏi thăm ông cụ)
+Vì sao các bạn quan tâm đến ông cụ?
Với câu hỏi này có thể các em sẽ trả lời như sau:
- Vì các bạn là những trẻ ngoan. Vì các bạn là những người nhân hậu.
- Vì các bạn muốn quan tâm, giúp đỡ ông cụ.
+ Ông cụ gặp chuyện gì buồn?

5


(Cụ bà bị ốm nặng đang nằm trong bệnh viện, khó mà qua khỏi)
+Vì sao khi trò chuyện với các bạn nhỏ ông cụ thấy lòng nhẹ hơn?
Với câu hỏi này có thể các em sẽ trả lời như sau:
- Ông cảm thấy nỗi buồn được chia sẻ.
- Ông cảm thấy đỡ cô đơn vì có người trò chuyện.
- Ông cảm thấy lòng ấm lại vì tình cảm của các bạn nhỏ dành cho mình.
Qua các câu trả lời của học sinh, giáo viên định hướng cho các em ý thức biết
quan tâm chia sẻ với những người trong cộng đồng, giúp cho các em khi viết
đoạn văn kể về những người thân, hoặc người hàng xóm, đoạn văn toát lên được
nội dung: con người phải biết yêu thương nhau, sự quan tâm chia sẻ của
những người xung quanh làm cho mỗi người dịu bớt những nỗi lo lắng,
buồn phiền, và cảm thấy cuộc sống tốt đẹp hơn.
Qua hệ thống câu hỏi, giáo viên giúp cho học sinh bày tỏ được thái độ, tình
cảm, ý kiến nhận xét, đánh giá của mình về vấn đề nêu ra trong bài học. Song
song với quá trình đó, giáo viên cần hỏi ý kiến nhận xét của học sinh về câu trả
lời của bạn để học sinh rút ra được câu trả lời đúng, cách ứng xử hay. Như vậy,
qua tiết học này, học sinh được mở rộng vốn từ, rèn lối diễn đạt mạch lạc, lôgic,
câu văn có hình ảnh, cảm xúc. Trên cơ sở đó, bài luyện nói của các em sẽ trôi
chảy, sinh động, giàu cảm xúc, đồng thời hình thành cho các em cách ứng xử
linh hoạt trong cuộc sống; hình thành cho học sinh kiến thức về mối quan hệ
tương thân tương ái giữa mọi người trong cộng đồng; rèn cho học sinh thói quen
quan tâm, chia sẻ giúp đỡ những người trong cộng đồng. Cũng với chủ đề này
thì phân môn Luyện từ và câu-Tuần 8 cũng cung cấp cho học sinh vốn từ về chủ
đề Cộng đồng thông qua hệ thống các bài tập. Cụ thể:
Bài 1: Sắp xếp những từ ngữ vào ô trống trong bảng phân loại sau.
Các từ: Cộng đồng, cộng tác, đồng bào, đồng đội, đồng tâm, đồng hương
Giáo viên giúp các em hiểu nghĩa các từ trên và sắp xếp vào các nhóm từ:
Nhóm 1: Những người trong cộng đồng
Nhóm 2: Thái độ hoạt động trong cộng đồng
Từ việc hiểu nghĩa của từ ở bài tập 1, học sinh hiểu ý nghĩa các thành ngữ ở
bài tập 2 và bày tỏ thái độ tán thành hay không tán thành thái độ ứng xử trong
cộng đồng thể hiện trong các thành ngữ đó:
“ Chung lưng đấu cật.”
(Mọi người cùng chung sức chung lòng để thực hiện một công việc có nhiều khó
khăn trở ngại)
“Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại.”
(Phê phán thái độ thờ ơ, không quan tâm , tương trợ người khác lúc khó khăn)
“ Ăn ở như bát nước đầy.”

6


(Ca ngợi con người ăn ở, cư xử với mọi người có tình có nghĩa , trước sau
không thay đổi).
Như vậy học sinh biết vận dụng những câu thành ngữ về thái độ ứng xử
trong cộng đồng khi nói-viết Tập làm văn giao tiếp, ứng xử trong cuộc sống. ở
phân môn Chính tả Tuần 8, các em cũng được luyện viết các bài trong chủ đề
Cộng đồng.
Ví dụ: Viết đoạn 4 trong bài các em nhỏ và cụ già.
Cụ ngừng lại và nghẹn ngào nói tiếp: Ông đang rất buồn. Bà lão nhà ông
nằm bệnh viện mấy tháng nay rồi. Bà ốm nặng lắm, khó mà qua khỏi. Ông ngồi
đây chờ xe buýt để đến bệnh viện, ông cảm ơn lòng tốt của các cháu. Dẫu các
cháu không giúp gì được nhưng ông cũng thấy lòng nhẹ hơn.
Khi viết đoạn văn trên, học sinh được rèn viết chính tả, cách sử dụng các
dấu câu; thấy được sự cảm thông, chia sẻ giữa con người với nhau làm dịu bớt
nỗi lo lắng, buồn phiền, tăng thêm cho mỗi người niềm hy vọng, nghị lực trong
cuộc sống. Học sinh vận dụng cái hay , cái đẹp của ngôn từ trong đoạn văn để
thể hiện tình cảm, thái độ đánh giá trong từng bài văn cụ thể của chính các
em.Tương tự, ở phân môn Tập viết - Tuần 8, các em được làm quen với các
thành ngữ, tục ngữ về chủ đề Cộng đồng như luyện viết câu ứng dụng:
“ Khôn ngoan đối đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.
Xuất phát từ các phân môn: Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập viết
xoay quanh chủ đề Cộng đồng, học sinh biết “ Kể về người hàng xóm mà em
quý mến” ( TLV 3-Tuần 8) và viết được đoạn văn hoàn chỉnh, thể hiện tình cảm,
thái độ đánh giá đối với người hàng xóm qua việc sử dụng từ ngữ, câu văn có
hình ảnh.
Cô Mai là người hàng xóm bên cạnh nhà em. Cô là giáo viên Tiểu học, tối tối
miệt mài bên trang giáo án, và chấm bài cho học sinh. Với dáng người nhỏ nhắn
nhưng rất nhanh nhẹn, giọng cô ấm áp. Em thích nghe nhất là khi cô hát. Cô thật
xứng danh là cô ca sĩ của trường.
Như vậy, khi dạy phân môn của Tập làm văn đều nhằm mục đích giúp học
sinh có kỹ năng hình thành văn bản, ngôn bản. Do đó, tích hợp lồng ghép là
phương pháp đặc trưng khi dạy phân môn Tập làm văn lớp 3.
3.2Dạy học theo quan điểm giao tiếp:
Dạy học theo quan điểm giao tiếp là hình thành cho học sinh kỹ năng diễn
đạt thông qua các bài học, hình thành thói quen ứng xử trong giao tiếp hằng
ngày với thầy cô, cha mẹ, bạn bè và mọi người xung quanh.
Vận dụng phương pháp dạy học theo quan điểm này, giáo viên tạo cho học
sinh nhiều cơ hội thực hành, luyện tập, không quá nặng về lý thuyết như phương

7


pháp dạy học truyền thống. Do vậy học sinh hào hứng tham gia vào các hoạt
động học tập, tích cực, sáng tạo trong làm văn. Việc hình thành và rèn luyện các
kỹ năng nghe nói- đọc - viết cho học sinh thông qua phân môn Tập làm văn đảm
bảo đạt được hiệu quả tối ưu.
Ví dụ: Giảng dạy dạng bài tập nghe và tập nói.
Nghe và kể lại câu chuyện “Giấu cày”- Tập làm văn-Tuần 1.
Qua việc kể mẫu của giáo viên, quan sát tranh, gợi ý sách giáo khoa… học
sinh kể nội dung câu chuyện như sau:
Có một người đang cày ruộng thì vợ gọi về ăn cơm. Bác ta liền hét to trả lời:
- Để tôi giấu cái cày vào bụi đã.
Về nhà bác ta liền bị vợ trách: - Ông giấu cày mà la to như thế, kẻ gian
biết chỗ, nó lấy mất cày thì sao.Lát sau, cơm nước xong, bác ta ra ruộng, quả
nhiên thấy cày bị mất. Bác ta liền chạy một mạch về nhà, nói thầm vào tai vợ:
“Nó lấy mất cày rồi!”
Qua giao tiếp giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với nhau (kể cho
nhau nghe), việc kể lại nội dung câu chuyện trước lớp giúp các em thấy được sự
phê phán hóm hỉnh, hài hước, và kể lại nội dung câu truyện với giọng kể, cử chỉ,
điệu bộ gây cười ở người nghe, nét mặt phù hợp, nâng kịch tính câu chuyện lên
cao hơn. Song song với việc rèn luyện kỹ năng nghe-nói, học sinh rèn kỹ năng
viết: nắm kỹ thuật viết, luật viết câu văn, đoạn văn hoàn chỉnh, đúng về ngữ
pháp, bố cục, phù hợp văn cảnh hoặc môi trường giao tiếp. Mỗi bài văn của học
sinh không đơn thuần là kể, tả ngắn về con người, sự vật, sự việc mà thông qua
đó thể hiện suy nghĩ, cảm xúc, sự đánh giá, thái độ yêu-ghét, trân trọng hay phê
phán của các em. Thông qua bài viết của các em người đọc hiểu được tâm tư
tình cảm của các em về một vấn đề nào đó. Bổ trợ cho việc rèn kỹ năng nghenói trong tiết Tập làm văn, phần kể chuyện của tiết Tập đọc cũng chú trọng đến
rèn kỹ năng giao tiếp.
Ví dụ: Dạy Tập đọc kể chuyện. Tiết 2-Bài Đất quý đất yêu-Tuần 11.
Nhiệm vụ của học sinh là: quan sát tranh, sắp xếp lại tranh theo trình tự nội
dung câu chuyện Đất quý đất yêu. Sau đó dựa vào tranh kể lại câu chuyện, đúng
nội dung, ngắn gọn, từ ngữ súc tích, dễ hiểu, biết kết hợp lời nói với cử chỉ, điệu
bộ để câu chuyện thêm hấp dẫn sinh động; giúp người nghe thấy được phong tục
tập quán của người Ê-ti-ô-pi-a: họ coi đất đai là thứ thiêng liêng, cao quý nhất.
Thông qua kể lại câu chuyện theo tranh, học sinh hình thành và rèn luyện
khả năng diễn đạt, phục vụ tốt cho bài tập nói của tiết Tập làm văn.
Tóm lại: Học sinh rèn luyện khả năng quan sát, nói-viết, rút ra những nét điển
hình, đặc trưng của từng vùng miền, thấy được vẻ đẹp đáng yêu, đáng tự hào của
mỗi vùng miền. Từ đó hình thành nuôi dưỡng tình cảm gắn bó, yêu thương, ý
thức giữ gìn, xây dựng quê hương đất nước. Ngoài ra, mỗi giáo viên cần cần chú
8


trọng vận dụng phương pháp dạy học theo quan điểm giao tiếp, khơi dậy ở các
em những cảm xúc, đánh thức tiềm năng cảm thụ văn học và có nhu cầu thể
hiện, bày tỏ sự cảm thụ đó với người khác. Như vậy, mỗi bài nói, bài viết sẽ
chính là tâm hồn tình cảm của các em, các em sẽ thêm yêu Văn - yêu cái hay, cái
đep, yêu Tiếng Việt - giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.
3.3 Tổ chức tốt việc quan sát tranh, hướng dẫn học sinh cách dùng từ, giọng
kể, điệu bộ khi làm bài nghe, nói, viết.
Với đặc điểm vốn từ còn hạn chế, nên học sinh lớp 3 gặp nhiều khó khăn trong
việc nghe-nói-viết-kể lại câu chuyện bằng lời văn của mình. Do vậy, giáo viên
cần tổ chức tốt hoạt động quan sát tranh: quan sát từng đường nét, màu sắc, hình
ảnh, nội dung thể hiện của tranh. Học sinh cảm nhân được được những nét đẹp
của cảnh vật, con người và muốn bày tỏ trao đổi với bạn, với thầy cô. Để các em
làm tốt hoạt động này, trước hết giáo viên chú ý cho học sinh sử dụng gợi ý
trong sách giáo khoa, lắng nghe cô kể, bạn kể để nhớ được các ý chính của nội
dung câu chuyện. Giáo viên chú trọng về lời văn kể và nghệ thuật sử dụng ngôn
từ. Giáo viên cần hướng dẫn các em cách chọn lựa, sử dụng từ ngữ, hình ảnh để
điễn đạt sao cho dễ hiểu, sinh động. Có như vậy người nghe-đọc sẽ dễ dàng hình
dung, tưởng tượng, nắm bắt được sự việc, suy nghĩ tình cảm mà các em muốn
thể hiện qua bài nói, bài viết. Người nghe, người đọc tuy không trực tiếp nhìn
diện mạo của nhân vật, xem bối cảnh của sự việc như xem phim, xem kịch
nhưng vẫn thấy được thế giới nội tâm của nhân vật, quá trình diễn biến của sự
việc qua những hình ảnh miêu tả, so sánh cùng với những tình cảm, thái độ, sự
đánh giá của các em. Đó chính là điểm mạnh của nghệ thuật sử dụng ngôn từ.
Ví dụ: Dạy Tập làm văn-Tuần 12.
Bài tập 2:Yêu cầu: Học sinh viết đoạn văn qua quan sát tranh (ảnh) về
một cảnh đẹp ở nước ta.
Thông qua việc quan sát tranh (ảnh) về một cảnh đẹp ở nước ta, giúp học
sinh nắm nội dung của tranh (ảnh), thấy vẻ đẹp của tranh (ảnh), từ đó các em lựa
chọn từ ngữ thích hợp để nói và viết thành đoạn văn, giúp cho người nghe-đọc
tuy không quan sát tranh (ảnh) nhưng vẫn thấy được vẻ đẹp của danh lam thắng
cảnh mà học sinh nói đến.
Bài Tập làm văn tuần 25: Đề bài: “Quan sát một ảnh lễ hội dưới đây
(SGK) tả lại quang cảnh và hoạt động của những người tham gia lễ hội”. Khi
quan sát học sinh nhận đâu là hoạt động chính của lễ hội. Đó là hoạt động gì?
Màu sắc trong tranh thể hiện không khí, quang cảnh lễ hội. Từ đó các em bộc lộ
tình cảm của mình đối với các hoạt động mang đậm nét phong tục tập quán của
địa phương. Thêm vào đó, những yếu tố phi ngôn ngữ như điệu bộ, cử chỉ, ánh
mắt, nét mặt, giọng điệu của các em khi nói sẽ làm tăng tính hấp dẫn, tính thuyết

9


phục đối với người nghe. Do đó, giáo viên cũng cần khuyến khích các em rèn
luyện khả năng sử dụng những yếu tố phi ngôn ngữ này.
3.4 Sử dụng linh hoạt các hình thức hoạt động dạy học trong tiết dạy Tập
làm văn theo hướng đổi mới.
Việc tổ chức tốt các hình thức dạy học nhằm cuốn hút học sinh vào các hoạt
động học tập một cách chủ động tích cực. Giáo viên sử dụng các hình thức tổ chức
dạy học như: học sinh thảo luận nhóm, đàm thoại với nhau và với chính thầy cô
hoặc hoạt động cá nhân (độc thoại) về một vấn đề. Các hình thức tổ chức hoạt động
học có thể là: đóng các hoạt cảnh, vận dụng các trò chơi trong tiết học, các cuộc thi
tiếp sức… Qua đó học sinh lĩnh hội kiến thức, tích cực, tự giác “học mà chơi-chơi
mà học”. Không khí học tập thoái mái khiến học sinh mạnh dạn, tự tin khi nói. Các
em dần có khả năng diễn đạt, phát biểu ý kiến, đánh giá trước đông người một cách
lưu loát, rành mạch, dễ hiểu. So sánh với phương pháp dạy Tập làm văn lớp 3
truyền thống: mỗi tiết Tập làm văn chú trọng đến mục tiêu là hình thành bài văn
theo một đề bài thuộc một thể loại văn nào đó dưới dạng nói hoặc viết. Tiết học
diễn ra theo tiến trình: giáo viên hướng dẫn làm bài dựa theo dàn bài thuộc thể loại
chung, đưa các câu hỏi gợi ý... khiến học sinh dễ nhàm chán, có cảm giác bị bắt
buộc theo khuôn mẫu, không khuyến khích học sinh nói, viết những cảm xúc, nhận
xét, đánh giá, sự miêu tả của chính các em.
Trong chương trình thay sách giáo khoa lớp 3, mỗi tiết Tập làm văn là một
hệ thống bài tập có tính định hướng, gợi mở, với nhiều dạng bài: nghe-nói, nóiviết, nghe nói- viết...Vì vậy, giáo viên vẫn bám sát mục đích, yêu cầu của tiết
dạy, bài dạy nhưng linh hoạt, chủ động hơn trong cách tổ chức các hoạt động
dạy-học, phân bố thời gian hợp lý, vừa tránh được những nhược điểm nêu trên
vừa tạo được không khí học tập phát huy được tính tích cực, sáng tạo của học
sinh.
Ví dụ 1: Tiết tập làm văn tuần11 với hệ thống bài tập như sau:
Bài 1: Nghe kể lại câu chuyện “Tôi có đọc đâu”.
Yêu cầu: Học sinh nghe và kể lại câu chuyện.
Giáo viên sử dụng các hình thức dạy học:
- Giáo viên kể mẫu nội dung câu chuyện.
- Thảo luận theo nhóm, theo cặp: học sinh dựa vào gợi ý, sách giáo khoa,
tranh và việc nghe giáo viên kể để kể lại nội dung câu chuyện cho nhau nghe.
- Đại diện từng nhóm kể trước lớp.
- Học sinh nhận xét.
- Giáo viên nhận xét, bổ sung.Cách tổ chức các hình thức hoạt động nêu
trên huy động được tất cả học sinh tham gia vào hoạt động học tập, tạo được
không khí thi đua học tập giữa từng học sinh với nhau, và giữa các nhóm học
sinh.
10


Bài 2: Nói về quê hương em hoặc nơi em đang ở.
Yêu cầu: Học sinh làm việc cá nhân với vở bài tập.
Giáo viên sử dụng các hình thức dạy học:
- Cá nhân học sinh làm trong vở bài tập.
- Học sinh trình bày trước lớp
- Học sinh nhận xét bài làm của bạn
- Giáo viên nhận xét. Đánh giá khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh,
khả năng diễn đạt sắp xếp các ý theo đúng trình tự bài học chưa. Từ nhận thức
của học sinh giúp giáo viên lựa chọn phương pháp và hình thức dạy học phù hợp
từ nội dung bài giảng, hệ thống câu hỏi gợi mở, hình thức luyện tập giúp học
sinh phát huy khả năng của mình và đạt hiệu quả cao nhất.
Ngoài ra giáo viên đánh giá cách truyền thụ kiến thức, phương pháp giảng
giải của chính bản thân để điều chỉnh cho phù hợp.
Tóm lại: Sử dụng và phối hợp linh hoạt các hình thức dạy học Tập làm
văn lớp 3 theo hướng đổi mới tạo được hứng thú học tập cho học sinh, học sinh
tham gia các hoạt động học một cách hào hứng, tích cực, sáng tạo.
3.5 Dạy học hướng tập trung vào học sinh và chú trọng hình thức dạy học
cá nhân.
Dạy Tập làm văn theo hướng tập trung vào học sinh không phải chỉ tìm ra
một câu trả lời có sẵn mà học sinh phải đưa ra được câu trả lời trên cơ sở suy
nghĩ và hiểu biết của chính các em. Quá trình tư duy đó đòi hỏi học sinh phải
vận dụng những vốn tri thức, hiểu biết phù hợp với vấn đề đặt ra trong câu hỏi;
phân tích, sắp xếp những tri thức đó, đưa ra những kết luận và chọn phương án
trả lời tốt nhất. Nói ngắn gọn lại: học sinh tìm ra câu trả lời qua việc thu thập,
sàng lọc thông tin và phân tích dữ kiện.
Ví dụ: Dạy Tập làm văn Tuần 5.
Bài: Tập tổ chức một cuộc họp.
- Học sinh chọn nội dung cuộc họp cho phù hợp.
- Xác định đúng mục đích cuộc họp, nguyên nhân của cuộc họp.
- Nêu lên tình hình chung.
- Đưa ra cách giải quyết (nhiều thành viên trong tổ, lớp được bày tỏ ý kiến).
- Người điều hành cuộc họp thống nhất ý kiến, thống phất phương án giải
quyết vấn đề, giao việc cho từng thành viên.
Các em tự lựa chọn nội dung cuộc họp tức là các em nói về vấn đề mình am
hiểu nhất, phù hợp yêu cầu bài. Từ việc hiểu biết đó các em bàn cụ thể chi tiết có
cách giải quyết thoả đáng, giúp cho người điều hành có ý kiến tập trung sâu sắc.
Từ nhận xét, bày tỏ ý kiến của học sinh, giáo viên định hướng, hướng dẫn
học sinh hình thức tổ chức: Người tổ chức cuộc họp, các thành viên trong tổ bất

11


kỳ ai cũng có thể là người điều hành và cũng là thành viên. Vì vậy khả năng
diễn đạt mỗi học sinh được điều chỉnh hoàn thiện dần.
- Như vậy thông qua một tiết Tập làm văn đã phát huy tính độc lập sáng tạo của
học sinh, giáo viên chỉ là người tổ chức, định hướng cho học sinh cách làm bài.
3.6. Dạy học phối kết hợp với các Hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Các hoạt động ngoại khoá giúp học sinh có những hiểu biết thực tế bên
cạnh kiến thức được học trong chương trình chính khoá. Do đó việc phối kết
hợp với các hoạt động ngoài giờ lên lớp là rất cần thiết. Qua các hoạt động ngoài
giờ, học sinh được rèn luyện bằng nhiều hình thức khác nhau, có nội dung liên
quan đến bài học của các em. Giáo viên giảng dạy cần có sự kết phối hợp chặt
chẽ với giáo viên tổng phụ trách, thông qua các buổi chào cờ nói về gương
người tốt việc tốt, tổ chức các hoạt động: thi búp măng xinh, thi ca hát, tập diễn
các tiểu phẩm, thi kể chuyện-văn nghệ, thi đọc thơ, thi các môn năng khiếu…
Hoặc thông qua buổi lễ khai giảng học sinh có thể viết những cảm xúc, những
kỷ niệm đẹp của các em về ngày đầu tiên đi học (Bài học Tuần 6). Hay qua buổi
lễ kết nạp đội viên TNTP Hồ Chí Minh, học sinh có nguyện vọng viết đơn vào
Đội, sinh hoạt trong các câu lạc bộ, tổ chức của Đội…
Ví dụ: Tham dự hội thi tìm hiểu về Đội.
+ Từ thực tế đó, học sinh sẽ có thêm hiểu biết về Đội TNTP Hồ Chí Minh,
giúp các em viết tốt hơn Đơn xin vào Đội (tiết Tập làm văn-Tuần 2) với yêu cầu:
“Em hãy viết đơn xin vào Đội với mẫu in sẵn.”
3.7 Trau dồi hứng thú khi tiếp xúc với văn thơ:
Để học sinh có định hướng đúng đắn, có lòng yêu thích văn học và có
hứng thú khi viết đoạn văn thì giáo viên cần giúp học sinh hiểu được chỉ có sự
yêu thích văn học mới có sự nuôi dưỡng say mê. Cần thường xuyên đọc thơ, văn
để bồi dưỡng lòng yêu văn học, thấy được sự trong sáng, phong phú và đặc sắc
của ngôn ngữ dân tộc, nâng cao năng lực xúc cảm, trau dồi lòng hướng thiện...và
muốn “làm thân” với văn thơ thì chúng ta phải có tấm lòng chân thật, tình cảm
thiết tha yêu mến văn thơ.
Khi dạy tập đọc tôi yêu cầu các em nắm chắc từng nội dung đoạn văn và ý
nghĩa nội dung cả bài văn, tôi cho các em học thuộc những đoạn văn, những bài
thơ hay sau đó kiểm tra lại trong giờ học sau. Khi dạy kể chuyện cũng vậy tôi
dẫn dắt các em nắm chắc nội dung ý nghĩa câu chuyện, hiểu rõ tâm trạng từng
nhân vật. Từ đó các em mới có giọng kể tốt, hiểu sâu và nhớ lâu hơn.
Ví dụ: Dạy tiết Tập đọc - Kể chuyện bài: “ Người đi săn và con vượn”.
Tôi hỏi học sinh: Em thấy tâm trạng của bác thợ săn như thế nào khi thấy vượn
mẹ vơ vội nắm bùi nhùi gối lên đầu cho vượn con rồi lấy một cái lá to vắt sữa
vào và đặt lên miệng vượn con, vượn mẹ nghiến răng giật phắt mũi tên ra kêu

12


lên một tiếng thật to rồi ngã xuống? Các em phát hiện ngay rằng bác thợ săn ân
hận vì việc làm của mình nên bác bẻ gãy nỏ lẳng lặng ra về từ đó bác không đi
săn nữa. Tôi hỏi tiếp trước hành động của vượn mẹ như vậy các em cảm thấy
như thế nào? Các em sẽ nói được thương xót cho hai mẹ con nhà vượn mong
muốn vượn con sẽ được cứu và nuôi sống. Các em rút ra bài học không săn bắn
động vật hoang rã mà cần bảo vệ chúng…
3.8 Giúp học sinh nhận biết và sử dụng biện pháp tu từ :
Đây là phần kiến thức mới trong nội dung chương trình môn Tiếng Việt 3
mới. Trong văn học có rất nhiều biện pháp tu từ song ở chương trình Tiếng Việt
3 chỉ đề cập đến hai biện pháp tu từ điển hình đó là: biện pháp tu từ nhân hoá và so
sánh.
Vậy vì sao chúng ta cần dạy tốt và chú trọng đến biện pháp tu từ khi rèn
kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh?
Theo tôi bởi lẽ: biện pháp so sánh có tác dụng: Làm cho câu văn cụ thể,
có hình ảnh. Tác dụng của biện pháp nhân hoá giúp cho sự vật được miêu tả sinh
động, gần gũi với con người.
Đối với hai biện pháp tu từ này sách giáo khoa có nhiều loại hình bài tập
song ta có thể quy về hai dạng bài chủ yếu đó là:
+ Tập nhận biết dấu hiệu, tác dụng của hai biện pháp tu từ so sánh và nhân
hoá.
+ Viết câu, có sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá.
* Dạng bài tập: Nhận biết dấu hiệu, tác dụng của câu có sử dụng biện
pháp tu từ so sánh, nhân hoá.
Ở mỗi biện pháp tu từ này khi dạy học sinh về cách nhận biết dấu hiệu
chứng tỏ là câu có sử dụng biện pháp so sánh hay nhân hoá chúng ta nên đi theo
các bước sau:
Bước 1: Giáo viên đưa ra một hệ thống ví dụ cụ thể và cùng học sinh
phân tích ví dụ đó. Từ đó giúp các em nhận biết được dấu hiệu của biện pháp tu
từ đó.
Ví dụ : Đưa ra các ví dụ :
Ví dụ 1 :

Em yêu nhà em
Hàng xoan trước ngõ
Hoa xao xuyến nở
Như mây từng chùm.
( Tô Hà - TV3 - T1)

13


Ví dụ 2 :

Chị mây vừa kéo đến
Trăng sao trốn cả rồi
(Bài : Ông trời bật lửa - Đỗ Xuân Thanh – TV 3 – Tập2)

- Dưới sự hướng dẫn của giáo viên học sinh nhận biết được ở ví dụ 1 đã sử dụng
biện pháp so sánh còn ở ví dụ 2 đã sử dụng biện pháp nhân hoá.
- Dấu hiệu của các biện pháp tu từ trên là gì ? Các em sẽ biết ngay dấu hiệu của
so sánh là dùng từ ngữ để so sánh, dấu hiệu của nhân hoá là dùng những từ ngữ
cho sự vật giống như dùng cho người.
Bước 2: Sau khi học sinh đã nhận biết được dấu hiệu của mỗi biện pháp
tu từ giáo viên giúp học sinh tự đặt câu có sử dụng biện pháp tu từ đó.
(Chú ý hướng dẫn học sinh chọn những sự vật thật quen thuộc).
(Ví dụ: Môi bạn Lan đỏ như son. Da bạn ấy trắng như tuyết;
Bước 3: Từ việc học sinh xác định được dấu hiệu nhận biết; đặt câu có sử dụng
biện pháp tu từ; học sinh nói những cảm nhận của mình về giá trị câu có sử dụng
biện pháp tu từ và câu không sử dụng biện pháp tu từ.
Ví dụ :
+ Bạn Lan rất đẹp.
Bạn xinh như đoá hoa hồng vừa nở.
+Ánh trăng chiếu qua kẽ lá.
Ánh trăng vạch kẽ lá nhìn xuống .
* Dạng bài: Tập viết câu, đoạn văn có sử dụng biện pháp so sánh, nhân hoá.Khi
dạy dạng bài này giáo viên cần chú ý yêu cầu học sinh dựa trên dấu hiệu nhận
biết để viết .Xong câu có sử dụng biện pháp tu từ không chỉ phù hợp ở dấu hiệu
bên ngoài mà cần có nội dung phù hợp thực tế.
Ví dụ: Cây bàng to đứng lù lù ở giữa sân trường như một người khổng lồ.
(Dấu hiệu bên ngoài trong câu này cho ta thấy câu có sử dụng biện pháp
so sánh thông qua từ chỉ sự so sánh “như”, xong câu văn lại thiếu tính thực tế ).
Sửa: Em nên viết: Cây bàng to lớn, tán lá xoè rộng ra như một cái ô khổng lồ
che nắng cho chúng em trong giờ ra chơi.
Đối với dạng bài tập này giáo viên có thể chọn lọc một số câu, đoạn văn,
khổ thơ có sử dụng biện pháp tu từ: nhân hoá, so sánh điển hình làm mẫu cho
học sinh tham khảo. Từ đó học sinh sẽ chú ý đến việc viết câu, đoạn văn, khổ
thơ có sử dụng biện pháp tu từ để tăng giá trị nội dung của bài viết. Giáo viên
khuyến khích những học sinh có ý thức sử dụng các biện pháp tu từ vào viết
đoạn văn.

14


3.9 Giúp học sinh tích lũy vốn từ :Phần mở rộng vốn từ cho học sinh nằm chủ
yếu trong nội dung phân môn “Luyện từ và câu”. Vậy khi dạy phân môn luyện
từ và câu với nội dung: mở rộng vốn từ. Bằng biện pháp sư phạm của mình giáo
viên cần đặc biệt quan tâm tới việc “khai thác” tối đa vốn từ sẵn có theo chủ
điểm học tập và thực tế.
Ví dụ: Khi dạy bài Luyện từ và câu Tuần 6 (tv3- Tập I) mở rộng vốn từ
về trường học thì ngoài việc giúp học sinh đưa ra một số từ ngữ rất dễ thấy đó
là: giáo viên, học sinh, trường, lớp, bàn ghế,... giáo viên cần giúp học sinh tìm ra
được những từ ngữ chỉ tình cảm thầy trò, bạn bè như: yêu thương, đoàn kết,...
bằng cách đặt câu hỏi: “Em hãy nêu tình cảm mà thầy, cô dành cho em?”. Học
sinh sẽ nêu ra một số từ ngữ: chăm sóc, yêu thương, chỉ bảo, dạy dỗ,... (chú ý
học sinh tìm được nhiều từ đặc biệt từ gần nghĩa, cùng nghĩa).
- Khi dạy các bài Tập đọc (trong chủ điểm) như bài “Nhớ lại buổi đầu đi
học” giáo viên cần liên hệ thực tế bản thân từng học sinh. Ngoài câu hỏi trong
sách giáo khoa giáo viên cần có thêm câu hỏi:
Ví dụ: Tìm một số từ ngữ trong bài nói về trường học?
Hoặc: Ngày đầu đi học em có tâm trạng như thế nào?
Từ đó học sinh sẽ mở rộng được thêm rất nhiều từ, do vậy khi viết đoạn
văn “Kể về buổi đầu đi học” chắc chắn học sinh sẽ viết tốt hơn. Thông qua các
phần học, bài học, môn học giáo viên phải kích thích được sự tìm tòi, khám phá
của học sinh về cách dùng từ đúng, hay và tác dụng của việc dùng từ đúng, hay
đó.
Ví dụ: Nhận xét về cách sử dụng từ được gạch chân trong đoạn văn sau:
“Tiếng ve kêu rền rĩ. Tiếng kéo lách cách của những người bán thịt bò
khô. Tiếng còi ô tô xin đường gay gắt, tiếng còi tàu hoả thét lên và tiếng bánh sắt
lăn trên đường ầm ầm”.
(Âm thanh thành phố - TV3 – T1)
Những từ gạch chân là những từ tả âm thanh. Đoạn văn có nhiều từ chỉ
âm thanh cho ta thấy được cuộc sống ồn ào, náo nhiệt của thành phố.
Tóm lại : Khi dạy học cần giúp học sinh có vốn từ phong phú, hiểu nghĩa
từ, tác dụng của từ, cách sử dụng từ .
3.10 Dạy Tập làm văn theo hướng đổi mới ở tất cả các khối lớp.
Nội dung kiến thức chương trình sách giáo khoa mới biên soạn theo chủ
đề, chủ điểm, nâng cao dần về mức độ và lượng kiến thức qua từng lớp học. Do
đó để đạt được hiệu quả tốt trong giảng dạy Tập làm văn lớp 3 theo hướng đổi

15


mới cần thực hiện đồng bộ việc vân dụng đổi mới phương pháp ở tất cả các khối
lớp trước (lớp 1- 2) và tiếp theo (lớp 4 - 5).
Tóm lại:Kiến thức ở các lớp có mố quan hệ logic:kế thừa,mở rộng,nâng cao
Do đó muốn dạy Tập làm văn lớp 3 theo hướng đổi mới còn phải đổi mới tất cả
các khối lớp.
3.11 Giúp học sinh sắp xếp câu tạo đoạn tốt hơn.
Khi liên kết các câu tạo thành đoạn văn học sinh thường chỉ chú ý đến dấu
hiệu hình thức bên ngoài (đủ bộ phận câu) mà chưa chú ý đến nội dung giữa các
câu. Tức là học sinh nghĩ gì viết đó sao cho đủ số lượng câu.
Ví dụ : Khi học sinh viết một đoạn văn ngắn (từ 5-7 câu) kể lại buổi đầu
em đi học có học sinh viết như sau:
“Sân trường thật đông người, suýt nữa thì em khóc. Em đến chơi cùng các
bạn. Chúng em vào lớp. Cô giáo gọi tên từng bạn để làm quen. Khi ông đi về em
hơi lo lo và hơi sợ sợ. Em bước ríu cả chân. Ngày đầu tiên đi học, ông em đã
đưa em đến trường. Em nhìn thấy mấy bạn học mẫu giáo với em đang đứng chơi
dưới gốc bàng. Lúc đó em đã bắt đầu thấy yêu lớp học mới của mình. Em thấy
giọng cô thật dịu dàng, em nghĩ chắc cô hiền lắm”.
- Giáo viên cho học sinh đọc lại đoạn văn mà mình đã làm cho cả lớp
nghe sau đó phân tích từng câu văn xem nội dung ý nghĩa của các câu đã liên kết
với nhau chưa, để học sinh tìm ra những điểm chưa đúng về cách sắp xếp câu
văn. Sau đó giáo viên hướng dẫn học sinh sắp xếp lại câu văn cho phù hợp với
nội dung của bài và hướng dẫn học sinh cách trình bày bố cục của một đoạn văn
bao giờ cũng có: Câu mở đoạn (tức là giới thiệu đoạn văn mà mình định viết),
sau đó là thân đoạn (những câu viết về nội dung đoạn văn), cuối cùng là câu kết
đoạn (có thể nêu cảm nghĩ hoặc nêu một nhận xét về nội dung vừa viết).
Sau khi hướng dẫn học sinh viết đoạn văn có bố cục rõ ràng, có nhiều em
đã viết đoạn văn kể về buổi đầu đi học rất hay và em học sinh viết đoạn văn như
ở ví dụ nêu trên đã sắp xếp lại các câu một cách hợp lý, ý các câu trong đoạn
văn được liên kết chặt chẽ.
Qua thực hành luyện tập với những dạng bài tập như trên chắc chắn học
sinh sẽ nối câu tạo đoạn văn có bố cục, nội dung chặt chẽ hơn.
3.12. Thực hiện nghiêm túc việc chấm chữa bài:
Đây là việc làm hết sức cần thiết, giúp học sinh nhận ra lỗi sai để điều
chỉnh, sửa chữa, hoàn chỉnh đoạn văn. Học sinh lớp 3 chưa được học và luyện
tập nhiều về từ ngữ, ngữ pháp chắc chắn trong bài viết các em sẽ không ít lỗi sai.
Trong quá trình chấm bài, giáo viên phát hiện giúp học sinh khắc phục, biết lựa
chọn thay thế các từ ngữ cho phù hợp. Đối với những bài làm có ý hay, giáo viên

16


giúp các em gọt giũa, trau chuốt thêm cho bài văn được hay hơn. Khi sửa bài,
giáo viên nên giới thiệu những bài làm hay ở những năm học trước, hoặc những
bài hay của học sinh trong lớp cho các em tham khảo, từ đó nhận thấy sự khác
nhau về cách diễn đạt trong cùng một đề tài để các em hiểu rằng những bài làm
thể hiện suy nghĩ độc lập của cá nhân luôn được khích lệ và tôn trọng.
4.HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

Sau khi thực hiện các giải pháp trên tôi nhận thấy về mặt chuyên môn hiểu
biết thêm nhiều và tự tin hơn. Khi vận dụng các giải pháp trên vào dạy Tập làm
văn ở lớp 3, cảm thấy giờ học không trầm như trước mà học sinh chú ý học hơn
nhiều, qua thực hành giao tiếp cho thấy khả năng hoạt động học tập của học sinh
rất tích cực, hiệu quả.Tiết học diễn ra nhẹ nhàng, gây hứng thú học tập cho học
sinh. Ở các Tiết tập làm văn khi các em làm quen với cách học này, các em
mạnh dạn, tự tin hơn trong học tập cũng như giao tiếp . Các em đã viết được
những đoạn văn giàu hình ảnh, có cảm xúc, biết sử dụng biện pháp tu từ. Tiến
hành khảo sát theo những tiêu chí ban đầu đề ra đối với khối lớp 3 tuần 22 với
đề bài:Viết về một người lao động trí óc mà em biết
Kết quả thu được như sau:
TT
Nội dung khảo sát

Số học
Tỷ lệ %
sinh
1 Biết viết câu, dùng từ hợp lý
28/30
93%
2 Biết nói - viết thành câu.
30/30
100%
3 Biết dùng từ ngữ, câu văn có hình ảnh.
27/30
90%
4 Biết trình bày đoạn văn
30/30
100%
5 Bài viết học sinh đạt từ trung bình trở lên
30/30
100%
So sánh với kết quả đầu năm học tôi thấy kết quả viết đoạn văn của học sinh
tăng lên rõ rệt. Điều đó chứng tỏ sáng kiến kinh nghiệm “Đổi mới phương
pháp dạy Tập làm văn lớp 3” có hiệu quả cao.Các em đã viết được những
đoạn văn giàu hình ảnh, có cảm xúc, biết sử dụng biện pháp tu từ.
Ví dụ: Khi viết về cảnh đẹp quê hương có em đã viết: “ Thanh Hoá là quê
hương tôi. Nơi đây tôi đã sinh ra và lớn lên trong tình yêu thương của cả bố và
mẹ. Quê hương có rất nhiều cảnh đẹp nhưng để lại cho tôi nhiều ấn tượng nhất
đó là Sầm Sơn. Buổi sáng mặt biển trông như một tấm gương khổng lồ phản
chiếu ánh mặt trời lên lấp lánh như những viên kim cương nhảy múa. Sóng biển
nhấp nhô xô vào bờ cát như chào đón du khách về thăm. Buổi tối biển càng lộng
lẫy hơn với ánh đèn đủ màu sắc. Ngoài ra Sầm Sơn quê tôi còn có đền Độc
Cước, chùa Cô Tiên cũng là nơi hấp hẫn với khách du lịch. Tôi yêu quý và tự
hào biết bao về quê hương của mình.”Việc tìm hiểu những khó khăn của học
sinh và tìm ra được hướng để khắc phục những vướng mắc khi lĩnh hội tri thức

17


mới là một điều không thể thiếu trong quá trình dạy học. Với việc tìm hiểu thực
trạng dạy và học phân môn Tập làm văn lớp 3 và đưa ra được các biện pháp
khắc phục đã đem lại cho chúng tôi một kết quả học tập của học sinh rất khả
quan. Với giáo viên đã có trong tay những giải pháp và không còn lúng túng khi
giảng dạy cho học sinh. Cũng thông qua đề tài này mà tổ chuyên môn trường
chúng tôi đã có những buổi họp chuyên môn hữu ích, họ không chỉ sôi nổi thảo
luận khi dạy về phân môn Tập làm văn lớp 3 nói riêng này mà họ còn mạnh
dạn đề ra các biện pháp dạy học phù hợp với các phân môn khác.
Tìm hiểu những biện pháp phù hợp với từng nội dung bài học là yêu cầu không
thể thiếu đối với mỗi giáo viên khi lên lớp. Với đề tài này tôi mong góp một phần
nhỏ bé vào trong kho tàng kinh nghiêm giảng dạy Tập làm văn trong môn Tiếng
việt lớp 3 nói riêng và trong cả bậc Tiểu học nói chung.
III - KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
1. KẾT LUẬN:
Từ những kết quả nêu trên, bản thân rút ra được những bài học kinh
nghiệm:
Dạy học Tập làm văn theo phương pháp tích hợp các phân môn trong môn Tiếng
Việt. Biết kết hợp mối quan hệ chặt chẽ về yêu cầu kiến thức phân môn Tập làm
văn của các khối lớp.Trong giảng dạy giáo viên có đầu tư nghiên cứu sâu, phối
hợp tổ chức linh hoạt các hình thức và phương pháp dạy học theo hướng đổi
mới.
Để nâng cao hiệu quả các giờ học Tập làm văn lớp 3 đặc biệt là với các dạng
bài tập: “Nghe - kể lại chuyện”; “Kể hay nói, viết về một chủ đề”, theo tôi người
giáo viên phải có trách nhiệm cao trong công tác giảng dạy. Người giáo viên
phải tìm ra những phương pháp thích hợp, tác động đến từng đối tượng học sinh
để các em phát huy năng lực của bản thân mình. Qua đó các em sẽ tự hình thành
cách học tập khoa học và một thái độ học tập đúng đắn, người giáo viên cần lưu
ý một số việc sau:
- Nắm vững nội dung chương trình môn Tiếng việt lớp 3, đặc biệt là các bài
dạy Tập làm văn có trong chương trình để từ đó xâu chuỗi được các kiến thức
cần cung cấp cho học sinh qua các giờ dạy.
- Chuẩn bị kỹ bài dạy và xác định đúng trọng tâm của bài.
- Thường xuyên dự giờ, học hỏi kinh nghiệm, nghiên cứu tài liệu, sách tham
khảo để trau dồi thêm kiến thức và phương pháp dạy học.
- Trong từng tiết học cần vận dụng nhiều phương pháp và hình thức dạy học
khác nhau, khắc sâu kiến thức bài giảng giúp mỗi học sinh đều hiểu và làm bài
tập được ngay tại lớp. Tạo hứng thú tích luỹ vốn hiểu biết cho các em bằng cách
giao việc về nhà sưu tầm, quan sát, lắng nghe rồi viết những điều quan sát, nghe
18


thấy trong cuộc sống vào phiếu học tập. Đối với mỗi dạng bài tập, giáo viên cần
xác định đối tượng học sinh yếu và tìm nguyên nhân dẫn đến việc học sinh
không theo kịp bài để có biện pháp giúp đỡ kịp thời, giúp các em có điều kiện và
niềm tin học tiếp các bài sau.
- Đối với các bài tập: “Nghe - kể lại chuyện”, giáo viên cần trau dồi giọng kể
của mình, đảm bảo âm lượng vừa đủ, kể đúng ngữ điệu, biết nhấn giọng khi cần
thiết đặc biệt là những câu chuyện có nhiều câu hội thoại.Đối với mỗi dạng bài
tập, giáo viên cần xác định đối tượng học sinh yếu và tìm nguyên nhân dẫn đến
việc học sinh không theo kịp bài để có biện pháp giúp đỡ kịp thời giúp các em
có điều kiện và niềm tin học tiếp các bài học sau.
- Động viên khen thưởng kịp thời để gây hứng thú học tập cho học sinh.
2.KIẾN NGHỊ:

a.Nhà trường:
Tổ chức các chuyên đề Tập làm văn theo từng chủ đề cho giáo viên học hỏi, trao
đổi kinh nghiệm lẫn nhau.
b. Đối với giáo viên:
- Giáo viên có ý thức tự học tự rèn; tham khảo các tài liệu, tạp chí, văn bản có
liên quan đến chuyên môn và các dạng bài khó. Tìm hiểu và vận dụng nhiều biện
pháp, để nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh.
- Giáo viên dành thời gian bồi dưỡng và phụ đạo cho học sinh môn Tiếng Việt.
- Động viên, khuyến khích học sinh tự học, tự tìm tòi; tận tâm sửa chữa sai sót
cho học sinh, hướng dẫn học sinh ghi chép vào sổ tay vở nháp.Việc hướng dẫn
học sinh có hứng thú trong khi dạy viết đoạn văn, bài văn không phải một sớm
một chiều, một tiết học nhất định. Vì thế người giáo viên cần phải có lòng kiên trì
và sự say mê nghiên cứu văn học.
c. Đối với học sinh:
- Học sinh có thói quen đọc sách báo, truyện phù hợp lứa tuổi, tập ghi chép sổ
tay những từ ngữ, câu văn hay các em đọc được.
- Học sinh tự tin, mạnh dạn phát biểu trong các hoạt động học tập, có kĩ năng
trong giao tiếp ứng xử.
d.Đối với phòng giáo dục :
Phòng giáo dục đưa ra các tổng kết ,kinh nghiệm ,phương pháp dạy học hay
đạt kết quả cao để giáo viên các trường học hỏi kinh nghiệm .
Trên đây là một vài kinh nghiệm nhỏ mà tôi đã đúc rút ra trong quá trình
công tác ,đặc biệt là trong thời gian giảng dạy ở lớp 3.Với kinh nghiệm còn ít ỏi

19


thời gian còn hạn chế nên tôi rất mong được cấp trên góp ý kiến để tôi có được
điều kiện học hỏi nhiều hơn nữa .
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
NHÀ TRƯỜNG

Thanh Hóa, ngày 5 tháng 3 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN mình
viết,không sao chép nội dung của người
khác

Người viết sáng kiến

Lê Thị Hằng

MỤC LỤC

20


ST
T
1

Phần
I. PHẦN MỞ
ĐẦU

Nội dung
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ ĐỀ TÀI:
2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA SKKK
2. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SKKK

2.1.Thuận lợi việc dạy học phân môn Tập làm văn
2.2.Khó khăn việc dạy học phân môn Tập làm văn
3.CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG

2

II. PHẦN NỘI
DUNG

3.1.Luôn chú trọng tích hợp lồng ghép khi dạy phân
môn Tập làm văn
3.2.Dạy học theo quan điểm giao tiếp
3.3Tổ chức việc quan sát tranh,hướng dẫn học sinh
cách dùng từ,giọng kể,điệu bộ khi làm bài nghe ,nói
,viết
3.4.Sử dụng linh hoạt các hình thức hoạt động dạy học
trong tiết dạy Tập làm văn theo hướng đổi mới
3.5.Dạy học theo hướng tập trung vào học sinh và chú
trọng hình thức dạy học cá nhân
3.6.Dạy học phối hợp với Hoạt động ngoài giờ lên lớp
3.7.Trao dồi hứng thú khi tiếp xúc với văn thơ
3.8. Giúp học sinh nhận biết và sử dụng biện pháp tu từ
3.9 Giúp học sinh tích lũy vốn từ
3.10.Dạy Tập làm văn theo hướng đổi mới tất cả khối
lớp
3.11. Giúp học sinh sắp xếp câu tạo đoạn tốt hơn
3.12.Thực hiện nghiêm túc việc chấm chữa bài

3

Trang 1
Trang 2
Trang 2
Trang 2
Trang 3
Trang 3
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Trang 5
Trang 7
Trang 9
Trang 10
Trang 11
Trang 12
Trang 12
Trang 13
Trang 15
Trang 15

I. KẾT LUẬN:

Trang 16
Trang 16
Trang 17
Trang 18

II. KIẾN NGHỊ:

Trang 19

IV.HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
KẾT LUẬN VÀ
KIẾN NGHI.

Trang

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×