Tải bản đầy đủ

Một số kinh nghiệm dạy đọc thành tiếng cho học sinh lớp 3

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY ĐỌC THÀNH TIẾNG CHO
HỌC SINH LỚP 3

Người thực hiện: Nguyễn Thị Thanh
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường TH Nguyễn Bá Ngọc
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tiếng Việt

THANH HÓA NĂM 2017


MỤC LỤC
A. Nội dung
I. Lí do chọn đề tài
II. Mục đích nghiên cứu
III. Đối tượng nghiên cứu

IV. Phương pháp nghiên cứu

Trang 1
Trang 2
Trang 2
Trang 2

B. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
I. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
II. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
III. Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
IV.Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường

Trang 13

C. Kết luận, kiến nghị
I. Kết luận
II. Kiến nghị

Trang 15
Trang 16

Trang 3
Trang 4
Trang 5


A. MỞ ĐẦU.
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Đào tạo thế hệ trẻ trở thành những người năng động, sáng tạo, độc lập tiếp
thu tri thức là một vấn đề mà nhiều nhà giáo dục đã và đang quan tâm trong giai
đoạn hiện nay. Trong đó bậc tiểu học là bậc học nền móng cho việc hình thành
nhân cách, tri thức ở học sinh. Các môn học ở bậc Tiểu học có liên quan mật
thiết và cùng hỗ trợ cho nhau. Trong các môn học ở Tiểu học, môn Tiếng Việt là
môn vô cùng quan trọng bởi nó là chìa khoá để các em học tốt các môn học
khác.
Môn Tiếng Việt ở Trường Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt
động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ thể hiện trong bốn

dạng hoạt động, tương ứng với chúng là bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết. Môn
Tiếng Việt ở Tiểu học gồm nhiều phân môn: Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả,
Kể chuyện, Tập làm văn. Trong đó phân môn Tập đọc là phân môn có vị trí đặc
biệt vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng đọc –
một kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh bậc tiểu học; nó có nhiệm vụ trau
dồi kiến thức tiếng Việt cho học sinh. Bởi phần lớn những tri thức, kinh nghiệm
của đời sống, những thành tựu khoa học, tư tưởng tình cảm của các thế hệ trước
và của cả những người đương thời phần lớn đã được ghi lại bằng chữ viết. Nếu
không biết đọc thì con người không thể tiếp thu được nền văn minh của loài
người, không thể làm chủ trong xã hội hiện đại. Hơn nữa, đọc giúp các em
chiếm lĩnh được ngôn ngữ dùng trong giao tiếp và học tập. Đọc là một công cụ
để học tập các môn học. Đọc tạo ra hứng thú và động cơ học tập, tạo điều kiện
để học sinh có khả năng tự học và học suốt đời. Nó là khả năng không thể thiếu
của con người thời đại văn minh. Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên của
trẻ em. Đầu tiên các em phải học đọc, sau đó phải đọc để học. Chính vì thế, dạy
đọc có ý nghĩa to lớn ở Tiểu học.
Việc dạy và học Tiếng Việt ở Trường Tiểu học đang đặt ra rất nhiều vấn
đề cần giải quyết. Có rất nhiều cán bộ nghiên cứu và nhà giáo tâm huyết đã bỏ
công sức đi sâu nghiên cứu, tìm tòi tổng kết kinh nghiệm về việc dạy tiếng mẹ
đẻ. Năm học 2016 – 2017, PGD thành phố Thanh Hóa cũng đã triển khai chuyên
đề “Nói chuẩn, viết chuẩn tiếng phổ thông” đến các trường học. Vấn đề nóng
hổi đang đặt ra là làm thế nào để học sinh biết đọc đúng tiếng phổ thông, biết
nói chuẩn, viết chuẩn, sử dụng Tiếng Việt một cách thành thạo, giúp các em biểu
đạt tư tưởng, tình cảm của mình bằng tiếng mẹ đẻ ngày càng chính xác, phong
phú và sinh động hơn.
Chất lượng giáo dục hiện nay nói chung và chất lượng đọc thành tiếng
ngày một được nâng lên, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Song trong
thực tế, chúng ta phải thẳng thắn thừa nhận rằng bên cạnh một số học sinh đọc
đạt theo yêu cầu nhưng vẫn còn không ít học sinh chưa đọc được theo yêu cầu,
mục tiêu của bài học. Kết quả đọc của các em chưa đáp ứng được yêu cầu của
việc hình thành kĩ năng đọc. Phần lớn các em đọc bị ảnh hưởng rất nhiều bởi
tiếng địa phương. Các em chưa nắm chắc công cụ hữu ích để lĩnh hội tri thức, tư
3


tưởng, tình cảm của tác giả chứa đựng trong văn bản được đọc. Chính sự hạn
chế này đã làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập các môn học khác nhất là môn
Toán. Đây là vấn đề hiện nay luôn được các nhà trường và xã hội quan tâm và
tìm giải pháp để khắc phục. Trước thực trạng này tôi rất băn khoăn và lo lắng
làm sao để các em đọc đúng, đọc nhanh, đọc hay. Đây chính là vấn đề mà tôi rất
quan tâm và nó luôn thôi thúc tôi trong suốt quá trình dạy học.
Thật may mắn cho tôi, trong năm học này, tôi được phân công giảng dạy
lớp 3A . Đó là điều kiện tốt giúp tôi tìm hiểu rõ về đặc điểm tâm sinh lí của các
em, thực trạng của việc đọc và đề ra các biện pháp để rèn kĩ năng đọc cho các
em. Bên cạnh đó, trong quá trình công tác tại Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc,
những khó khăn mà tôi gặp phải luôn được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà
trường và tập thể đồng nghiệp chia sẻ. Chính sự chia sẻ nhiệt tình đó đã góp
phần tạo nên nhiều kinh nghiệm hữu ích được áp dụng thành công. Trong đó,
sáng kiến kinh nghiệm về dạy đọc thành tiếng cho học sinh là vấn đề mà tôi và
đồng nghiệp hết sức quan tâm.
Với những lí do trên, ngay đầu năm học, tôi đã mạnh dạn áp dụng sáng
kiến kinh nghiệm: “Một số kinh nghiệm dạy đọc thành tiếng cho học sinh lớp
3” vào việc dạy đọc thành tiếng cho học sinh ở lớp 3A, Trường Tiểu học
Nguyễn Bá Ngọc .
II.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích nâng cao chất lượng học sinh chưa

hoàn thành, giúp học sinh biết đọc đúng tiếng phổ thông, biết nói chuẩn, viết
chuẩn, sử dụng Tiếng Việt một cách thành thạo, giúp các em biểu đạt tư tưởng,
tình cảm của mình bằng tiếng mẹ đẻ ngày càng chính xác, phong phú và sinh
động hơn. Từ đó giúp các em làm giàu kiến thức về ngôn ngữ đời sống và văn
học.
III.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Tìm hiểu nội dung, phương pháp dạy đọc thành tiếng cho học sinh lớp 3 đúng
tiếng phổ thông.
- Tiến hành thực nghiệm
IV.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu.

4


B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

1. Cơ sở tâm sinh lí lứa tuổi học sinh Tiểu học:
Học sinh lớp 3 – con người với cấu tạo đầy đủ các bộ phận của một cơ thể
đang phát triển. Trong đó, cơ quan cấu âm, ngôn ngữ phát triển mạnh phù hợp
với sự tiếp nhận dễ dàng các hoạt động mới theo chức năng của chúng. Đó là
làm quen với Tập đọc.
Sự phát triển tâm sinh lí của học sinh lớp 3 đang ở sự giao thời của lứa
tuổi sao nhi đồng và lứa tuổi thiếu niên. Ở lứa tuổi này khả năng nhận thức, tư
duy, tưởng tượng, tình cảm, trí nhớ và nhân cách học sinh đang được hình thành,
tiềm tàng khả năng phát triển. Song sự phát triển tâm lí, tri thức kinh nghiệm
chưa được nhiều, chưa nhận thức đầy đủ, khái quát mà các em thiên về nhận
thức trong những trường hợp, hoàn cảnh cụ thể. Các em rất hồn nhiên, ngây thơ,
trong sáng, hiếu động, tò mò, thích hoạt động khám phá. Thầy cô là hình tượng
mẫu mực nhất được trẻ tôn sùng.
Dạy Tập đọc cho học sinh Tiểu học bước đầu đem đến sự vận động khoa
học cho bộ não, các cơ quan phát âm và ngôn ngữ; đem đến những tinh hoa văn
hoá, văn học nghệ thuật trong tâm hồn trẻ, rèn luyện tình cảm đạo đức, ý chí, ý
thức hành động đúng cho trẻ, phát triển khả năng học các môn học khác, là điều
kiện phát triển toàn diện cho học sinh tiểu học.
Chính vì vậy, dạy đọc cho học sinh Tiểu học phải phù hợp với đặc điểm
tâm sinh lí của học sinh Tiểu học đồng thời phải phù hợp với sự phát triển của
khoa học xã hội.
2. Cơ sở ngôn ngữ học:
Tiếng Việt là chữ ghi âm, nghĩa là viết như thế nào thì đọc như thế ấy.
Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển từ hình thức chữ viết
sang hình thức nói có âm thanh và thông hiểu nó, là quá trình chuyển trực tiếp từ
hình thức chữ viết thành đơn vị nghĩa không có âm thanh (đọc thầm). Đọc là
một hoạt động trí tuệ phức tạp, là sự tiếp nhận thông tin bằng chữ viết dựa vào
hoạt động của cơ quan thị giác. Đọc bao gồm những yếu tố như: Tiếp nhận bằng
mắt, hoạt động của cơ quan phát âm, cơ quan thính giác và thông hiểu những gì
đọc được.
Nhiệm vụ của sự phát triển kĩ năng đọc là đạt đến sự tổng hợp giữa các
mặt riêng lẻ này của quá trình đọc.
Phương pháp của dạy Tập đọc phải dựa trên những cơ sở của ngôn ngữ
học như: chính âm, chính tả, chữ viết, nghĩa của từ, câu, đoạn, văn bản, ngữ
điệu, tình cảm ngôn ngữ. Đây cả là một nghệ thuật, nghệ thuật trong lao động
dạy học sáng tạo của người thầy Tiểu học. Dạy Tập đọc sẽ càng tinh tế, càng
sáng tạo, càng hiệu quả khi ta nghiên cứu vận dụng tốt những thành tựu của
ngôn ngữ học.
3. Cơ sở của phương pháp dạy học Tiểu học:

5


Tập đọc là phân môn thực hành. Nhiệm vụ quan trọng của nó là hình
thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kĩ năng: đọc
đúng, đọc nhanh, đọc có ý thức và đọc hay. Kĩ năng đọc có nhiều mức độ, tầng
bậc khác nhau. Đọc không chỉ là công việc giải quyết bộ mã gồm 2 phần: chữ
viết – phát âm. Nó không chỉ là sự “đánh vần” theo đúng các kí hiệu chữ viết.
Mức độ kĩ năng được tăng dần, chúng hỗ trợ lẫn nhau và cái đích cuối cùng là kĩ
năng đọc hiểu tức là đọc hiểu văn bản. Học sinh có hiểu văn bản thì mới giáo
dục được sự ham đọc sách. Từ đó giúp các em làm giàu kiến thức về ngôn ngữ
đời sống và văn học.
Như vậy ta thấy phương pháp dạy Tập đọc nói chung và dạy Tập đọc ở
lớp 3 nói riêng phải dựa trên cơ sở thực hiện các nhiệm vụ giáo dục, giáo dưỡng
và phát triển. Đây là việc làm thiết thực mà mỗi giáo viên đứng lớp như chúng ta
cần suy nghĩ tìm cách dạy như thế nào để nâng cao hiệu quả các giờ Tập đọc nói
chung và dạy đọc thành tiếng cho học sinh lớp 3 nói riêng.
II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

1.Về giáo viên:
Trong những năm qua, ban giám hiệu và tập thể giáo viên Trường Tiểu
học Nguyễn Bá Ngọc rất chú trọng công tác đổi mới phương pháp dạy học và
tìm biện pháp nâng cao chất lượng đọc ở từng khối lớp. Đội ngũ giáo viên có
trình độ chuyên môn tương đối đồng đều, nhiệt tình, thân thiện, luôn quan tâm
đến từng đối tượng học sinh. Hiện nay, việc thực hiện đổi mới công tác dạy và
học theo hướng khoán chất lượng cho phép giáo viên chủ động thời lượng trong
từng phân môn, từng tiết học để kèm cặp học sinh rất có hiệu quả.
Nhìn chung giáo viên đều nắm vững nội dung kiến thức và phương pháp
dạy học cũng như phương pháp rèn đọc thành tiếng ở từng khối lớp. Tuy nhiên
vấn đề rèn đọc thành tiếng nói chung và rèn đọc thành tiếng khối 3 nói riêng
cũng là vấn đề khó khăn với không ít giáo viên.
Nguyên nhân học sinh đọc chưa được như yêu cầu mong muốn không
phải hoàn toàn là ở học sinh mà một phần ảnh hưởng không nhỏ ở người giáo
viên. Qua quá trình công tác, bản thân nhận thấy vẫn còn một bộ phận nhỏ giáo
viên chưa chú ý quan sát đến các đối tượng học sinh; chưa tìm tòi nhiều phương
pháp dạy học tốt kích thích tính tích cực, chủ động của học sinh; chưa thật sự
quan tâm, tìm hiểu đến hoàn cảnh gia đình của từng học sinh. Trong quá trình
rèn đọc thành tiếng, cụ thể là khi gặp đối tượng học sinh tiến bộ không được như
mong muốn thì tỏ ra buông xuôi, nhụt chí, làm cho quá trình rèn đọc thành tiếng
bị bỏ nửa chừng, hiệu quả không cao. Sự buông xuôi đó dẫn đến giáo viên chưa
tìm ra phương pháp tối ưu cho từng đối tượng.
Bên cạnh đó, một phần cũng là do bản thân mỗi giáo viên có một năng
lực, một thế mạnh riêng. Có giáo viên mạnh về các môn tự nhiên nhưng cũng có
giáo viên lại mạnh về các môn xã hội. Mà đặc điểm ở cấp tiểu học, mỗi giáo
viên đều phải dạy tất cả các môn tự nhiên cũng như xã hội. Đây quả là một khó
khăn rất lớn với những giáo viên mạnh về môn tự nhiên đi tìm phương pháp rèn
đọc thành tiếng – một phân môn thuộc bên xã hội. Hơn thế, giáo viên Tiểu học
6


hiện nay phải dạy 2 buổi/ ngày, song song với việc phụ đạo học sinh yếu, mỗi
giáo viên không thể lơ là công tác phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi. Chính vì
thế, giáo viên không đủ thời gian tự học, tự bồi dưỡng, thời gian gặp gỡ phụ
huynh học sinh ít nên khó có sự phối kết hợp rèn đọc cho học sinh giữa giáo
viên và gia đình dẫn đến hiệu quả rèn đọc thành tiếng không cao.
2. Về học sinh:
Qua nhiều năm làm công tác giảng dạy và dạy lớp 3A năm học 2016
-2017, bản thân tôi đã nhận thấy:
- Sự phát triển tâm sinh lí của học sinh lớp 3 đang ở sự giao thời của lứa tuổi
sao nhi đồng và lứa tuổi thiếu niên. Ở lứa tuổi này tư duy cụ thể của các em
đang chuyển dần sang tư duy trừu tượng, sự ghi nhớ có chủ định ngày một phát
triển hơn. Song sự phát triển tâm lí, tri thức, kinh nghiệm chưa được nhiều, chưa
nhận thức đầy đủ, khái quát mà các em vẫn thiên về nhận thức trong những
trường hợp, hoàn cảnh cụ thể.
- Nhìn chung động cơ học tập của các em tương đối tốt. Tuy nhiên, tuy cùng
hưởng thụ một nội dung chương trình giáo dục như nhau, nhưng mỗi học sinh
lại có sự phát triển về thể chất và trí tuệ, bộ phận cấu âm, sự hoàn thiện bộ phận
cấu âm, điều kiện hoàn cảnh sống và sự quan tâm chăm sóc ở gia đình, có động
cơ và thái độ học tập, năng lực học tập và khả năng tiếp thu bài khác nhau nên
khả năng đọc thành tiếng của các em trong lớp không đồng đều. Nhưng nhìn
chung các em đã biết đọc thành tiếng bài văn, bài thơ, đã để ý đến đọc đúng các
phụ âm khó.
Để nắm vững tình hình đọc thành tiếng ở lớp tôi chủ nhiệm, ngay đầu
năm học, tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng đọc của học sinh.
Thời gian khảo sát: Ngày 15/ 9/ 2016.
Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 3A Trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc .
Nội dung khảo sát: Đọc 2 bài:
- Ai có lỗi (Tiếng Việt 3 – Tập 1 trang 12).
- Khi mẹ vắng nhà. (Tiếng Việt 3 – Tập 1 trang 15).
Kết quả khảo sát chất lượng đọc thành tiếng đầu năm ở lớp 3A:
Tổng số
học sinh
28 em

Hoàn thành tốt
SL
TL
7
25%

Hoàn thành
SL
TL
15
53,6%

Chưa hoàn thành
SL
TL
6
21,4%

Qua quá trình khảo sát tôi thấy học sinh còn mắc những lỗi sau:
- Đọc sai những tiếng có thanh hỏi, thanh ngã.
- Đọc lẫn những tiếng có phụ âm đầu: ch/ tr ; p/b.
- Đọc sai do phát âm tiếng địa phương: những tiếng có nguyên âm đôi uô, iê, ươ;
một số tiếng chứa vần “ac” thành tiếng có vần “at”.
- Ngắt nghỉ ở một số câu văn dài chưa đúng, đọc sai nhịp thơ dẫn đến đọc ê a
ngắc ngứ, đọc còn chậm. Bên cạnh đó một số em lại đọc liến thoắng và đọc chưa
đúng ngữ điệu.
7


- Một số em đọc quá nhỏ, lại có em đọc quá to, phần luyện đọc lại các em không
thể hiện được giọng đọc của bài, khả năng thể hiện tâm tư tình cảm của tác giả
qua giọng đọc còn hạn chế.
Từ thực trạng trên, để việc rèn đọc thành tiếng đạt kết quả cao hơn tôi
mạnh dạn đưa ra một số biện pháp để rèn đọc thành tiếng cho học sinh lớp 3
Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc . .
III. GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1. Luyện đọc đúng(phát âm đúng):
Đọc đúng là tái hiện âm thanh của bài học một cách chính xác, không có
lỗi. Đọc đúng là không đọc thừa, không sót tiếng. Đọc đúng phải thể hiện được
hệ thống ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm, đọc đúng bao gồm đọc đúng
các âm, các thanh, đọc đúng trọng âm, ngắt nghỉ đúng chỗ. Chính vì thế, luyện
đọc đúng cho học sinh sẽ khắc phục được những lỗi học sinh thường đọc sai ở
mọi khối lớp cũng như những lỗi học sinh thường đọc sai lớp tôi thực nghiệm.
Cụ thể luyện đọc đúng sẽ khắc phục được những lỗi học sinh lớp tôi thực
nghiệm mắc phải đó là:
- Đọc sai những tiếng có thanh hỏi, thanh ngã.
- Đọc lẫn những tiếng có phụ âm đầu: ch/ tr ; p/b.
- Đọc sai do phát âm tiếng địa phương: những tiếng có nguyên âm đôi uô, iê, ươ;
một số tiếng chứa vần “ac” thành tiếng có vần “at”.
- Ngắt nghỉ ở một số câu văn dài chưa đúng, đọc sai nhịp thơ dẫn đến đọc ê a
ngắc ngứ, đọc còn chậm bên cạnh đó một số em lại đọc liến thoắng và đọc chưa
đúng ngữ điệu.
1.1. Luyện đọc đúng chính âm:
1.1.1. Luyện đọc đúng các tiếng có thanh hỏi, thanh ngã.
Ở địa phương nơi tôi công tác thì hầu như các em đọc các tiếng có thanh ngã
thành các tiếng có thanh hỏi.
Ví dụ: “Cũng như tôi, mấy học trò mới bỡ ngỡ đứng nép bên người thân,
chỉ dám đi từng bước nhẹ. Họ như con chim nhìn quãng trời rộng muốn bay
nhưng còn ngập ngừng e sợ.”
Đây là một đoạn trong bài “Nhớ lại buổi đầu đi học” (Tiếng Việt 3 – Tập
1 trang 51) học sinh đã đọc thành:
“ Củng như tôi, mấy học trò mới bở ngở đứng nép bên người thân, chỉ
dám đi từng bước nhẹ. Họ như con chim nhìn quảng trời rộng muốn bay nhưng
còn ngập ngừng e sợ.”
Các biện pháp sửa lỗi:
Vấn đề đặt ra ở đây là phải rèn cho học sinh đọc đúng các tiếng có thanh
ngã trong đoạn văn. Trước tiên, tôi đọc mẫu chính xác để học sinh lắng nghe tìm
ra sự khác nhau về âm thanh của từng tiếng có thanh hỏi và tiếng có chứa thanh
ngã như: lả/ lã; chả/ chã; lẻo/ lẽo;... Sau đó, hướng dẫn các em cách phát âm để
học sinh nhận ra sự khác nhau trong cách phát âm: Những tiếng có thanh ngã
phát âm ra nhẹ hơn, âm vang hơn, ngân hơn những tiếng có thanh hỏi. Rồi cho

8


nhiều học sinh phát âm những tiếng có thanh ngã nhiều lần rồi mới luyện đọc cả
câu.
Ngoài cách sửa lỗi trên ta còn có thể hướng dẫn sửa lỗi cho học sinh bằng
cách sau:
- Đầu tiên chắp các tiếng có cùng thanh, cùng vần với tên gọi thanh.
Ví dụ: Hỏi: mỏi, khỏi, giỏi, sỏi,...
Ngã: xã, đã, giã, lã,...
- Tiếp theo chắp tiếng cùng thanh, cùng loại âm tiết với tên gọi thanh.
Ví dụ: Hỏi: thổi, hảo, phải, đảo,...
Ngã: lễ, rễ, cũ,...
- Cuối cùng là chắp bất kì âm đầu vào các vần với thanh và cho học sinh đọc lại
nhiều lần để trở thành kĩ năng, kĩ xảo.
1.1.2. Sửa lỗi đọc lẫn các tiếng có phụ âm đầu: ch/ tr ; p/b:
Trong quá trình dạy tập đọc và đi dự giờ của đồng nghiệp tôi phát hiện
học sinh phát âm đang còn lẫn giữa ch/tr; p/b.
Ví dụ: “ Pác Bó” đọc thành “ Bác Bó”
“ đèn pin” đọc thành “ đèn bin”
“ học trò” đọc thành “ học chò”
“ trâm bầu” đọc thành “ châm bầu”
Các biện pháp sửa lỗi:
- Đọc mẫu đúng chuẩn cho học sinh đọc theo.
- Luyện phát âm bằng biện pháp cấu âm:
+ Hai âm ch/ tr khác nhau về mặt âm thanh tính nên cách đọc khác nhau. Khi
đọc âm “ch” môi hở hơi hẹp, đẩy lưỡi ra ép sát hai hàm răng, hơi thoát ra ở răng
nhẹ nghe như có tiếng gió. Còn khi đọc âm “ tr” cuộn cong và rút ngắn đầu lưỡi
đầu lưỡi ép sát lợi, hơi thoát ra mạnh ở điểm đầu lưỡi.
+ Tôi cũng chỉ ra cho học sinh thấy hai âm “ p” và “ b” khác nhau về mặt âm
thanh tính nên cách đọc khác nhau. Khi đọc âm “ b” thì đặt lòng bàn tay trước
miệng, một tay đặt tay lên thanh quản và khi phát âm các em cảm nhận được độ
rung nhẹ của thanh quản và không thấy luồng hơi phát ra. Còn khi đọc âm “ p”
thì bặm hai môi lại và bật hơi qua môi mạnh hơn tạo âm “ p” ta thấy dây thanh
rung mạnh và có luồng hơi từ miệng phát ra đập vào lòng bàn tay. Cho các em
làm lại như trên nhưng đọc thành tiếng: chim Piêu, bác, bà, Sa Pa,...
- Luyện cho học sinh đọc cá nhân nối tiếp nhiều lần, chú ý đến các em đọc yếu
hay đọc sai để chỉnh sửa, uốn nắn dần. Tôi lắng nghe để phát hiện những âm nào
còn vướng mắc thì tập trung rèn để các em đó đọc đúng hơn. Nếu em nào có tiến
bộ thì tôi động viên khen kịp thời để lần sau không mắc sai lầm.
1.1.3. Sửa lỗi phát âm do lỗi tiếng địa phương:
Để luyện phát âm đúng cho học sinh trước hết và thực chất phải giải
quyết vấn đề phương ngữ. Mục tiêu của chúng ta đặt ra là luyện cho học sinh
vươn đến một tiếng nói dân tộc Việt thống nhất, đẹp đẽ về mặt âm thanh. Muốn
như vậy chúng ta cần phải luyện cho học sinh đọc đúng, hay trong phạm vi giao

9


tiếp rộng hơn phương ngữ hẹp của mình. Trong lớp tôi chủ nhiệm và đi dự giờ
của đồng nghiệp thì nhiều học sinh đọc theo thói quen.
Một số em đọc một số tiếng chứa vần “ac” thành tiếng có vần “at”. Cụ
thể đọc:
“thuần phác” thành “thuần phát”
“vịt” thành “vịch”
Một số học sinh phát âm sai những tiếng có nguyên âm đôi: ươ.
Ví dụ:
“rượu” thành “riệu”
Các biện pháp sửa lỗi:
- Để khắc phục lỗi phát âm trên tôi đã lưu ý học sinh trước khi đọc chú ý nhìn
đúng tiếng mình đọc trong bài, không đọc tuỳ tiện những tiếng giống tiếng nói
hay dùng sai trong thói quen. Khi phát hiện em nào đọc sai thì chính em đó đọc
lại, sửa lại cho đúng nếu trong trường hợp em đọc chưa đúng thì tôi giúp đỡ để
em đánh vần lại.
Ví dụ: Tiếng “ phác” đánh vần là: phờ – ác – phác – sắc – phác.
Tiếng “ vịt” đánh vần là: vờ – ít – vít – nặng – vịt.
Tiếng “ rượu” đánh vần là: rờ – ươu – rươu – nặng – rượu .
- Mặt khác, tôi sử dụng biện pháp luyện theo mẫu để rèn cho học sinh. Sau đó sử
dụng kiến thức ngữ âm học để phân tích sự khác nhau cơ bản giữa lỗi phát
âm và chuẩn, từ đó tìm ra hướng sửa chữa.
Ví dụ: “nguồn” có âm chính là nguyên âm đôi “uô” nên nếu trọng âm rơi vào
“u” sẽ đọc thành “ngùn”, nếu trọng âm rơi vào “ô” sẽ đọc thành “ngồn”. Vì vậy,
khi đọc tiếng“nguồn” các em cần đọc sao cho trọng âm rơi vào“u” và “ô” ngang
nhau.
Nhắc nhở học sinh khi đọc các tiếng chứa nguyên âm đôi chú ý đọc trọng
âm rơi đều vào hai âm tạo thành nguyên âm đó.
- Ngoài ra tôi còn cho học sinh đọc một số từ tương phản với các tiếng chứa
nguyên âm đôi. Chính sự tương phản này sẽ giúp các em nhận biết được chỗ sai
và dễ sửa lỗi phát âm.
Tóm lại: Những lỗi trên tôi mới kể trên là những lỗi rất cần phải chú trọng
trong phần luyện đọc khi dạy phân môn Tập đọc. Chính vì vậy, khi dạy phân
môn Tập đọc điều đầu tiên tôi chú trọng là luyện chính âm cho học sinh. Về
cách thức luyện tập tôi đã nêu một số biện pháp cụ thể ở từng phần sửa lỗi. Các
biện pháp trong luyện chính âm mà bản thân tôi đã sử dụng là: Biện pháp luyện
theo mẫu, biện pháp cấu âm, ngoài ra kết hợp một số biện pháp khác như: đọc
nối tiếp, đọc trong nhóm,...
1.2. Luyện đọc đúng ngữ điệu:
Luyện đọc thành tiếng không dừng lại ở việc luyện chính âm (phát âm đúng
các âm vị) mà cần phải đọc đúng các ngữ điệu, học sinh làm chủ các thông số
âm thanh của giọng, tạo ra cường độ bằng cách điều khiển đọc to, nhỏ, nhấn
giọng, lơi giọng, tạo ra tốc độ bằng cách điều khiển độ nhanh, chậm và chỗ ngắt
nghỉ của lời, tạo ra cao độ bằng cách nâng giọng, hạ giọng, tạo ra trường độ
10


bằng cách kéo dài giọng hay không kéo dài. Luyện đọc đúng ngữ điệu chính là
luyện cho học sinh cách ngắt nghỉ ở một số câu văn dài, đọc đúng nhịp thơ,
không còn đọc ê a ngắc ngứ, đọc chậm cũng như khắc phục được tình trạng đọc
liến thoắng.
1.2.1. Luyện đọc đúng chỗ ngắt giọng câu văn dài trong văn bản văn xuôi:
Để đọc đúng ngữ điệu trước hết cần đọc đúng chỗ ngắt, nghỉ. Chỗ ngắt
giọng mà chúng ta nói đến ở đây là ngắt giọng lô gic. Trong thực tế dạy học tôi
thấy học sinh ngắt giọng ở nhiều câu văn dài trong bài văn xuôi chưa đúng,
chưa hợp lí. Nhiều khi các em thường ngắt giọng để lấy hơi một cách tuỳ tiện
mà không tính đến nghĩa câu văn làm cho nội dung câu văn bị thay đổi.
Ví dụ: Học sinh ngắt giọng như sau:
“ Những cái bánh màu/ rêu xanh lấp ló trong áo/ xôi nếp trắng được đặt
vào những chiếc lá/ chuối hơ qua lửa thật mềm,/ trông đẹp như những bông
hoa.//”
Nếu học sinh đọc như trên thì nội dung của câu văn bị hiểu lệch đi là: xôi
nếp trắng trông đẹp như những bông hoa chứ không phải những cái bánh màu
rêu xanh tạo nên vẻ đẹp đó.
Các biện pháp sửa lỗi:
Thứ nhất: Luyện cho học sinh không đọc tách một từ ra làm hai. Ví dụ
không đọc: Những cái bánh màu/ rêu xanh; không tách từ chỉ loại với danh từ nó
đi kèm ví dụ không đọc: “Ngày xưa có một/ ông vua muốn tìm người tài ra giúp
nước.”
Thứ hai: Hướng dẫn các em ngắt hơi phải phù hợp các dấu câu, các em
nhận biết thời gian nghỉ ở mỗi dấu câu là khác nhau: ngắt hơi ở dấu phẩy, nghỉ
hơi ở dấu chấm. Có thể định lượng: Sau dấu chấm nghỉ hơi bằng hai lần so với
chỗ ngừng sau dấu phẩy; sau dấu chấm xuống dòng báo hiệu kết đoạn phải
ngừng gấp đôi so với chỗ ngừng sau dấu chấm kết thúc câu.
Thứ ba: Giáo viên cần lưu ý cho học sinh rằng: Thời gian dừng sau dấu
phẩy không phải lúc nào cũng như nhau. Đặc biệt để tránh cách đọc nhấn vào
từng tiếng nghe rất không tự nhiên thì hướng dẫn học sinh khi ngừng ở dấu phẩy
dùng ngăn cách các bộ phận mang tính chất liệt kê chỉ nên ngắt hơi ngắn và nhẹ.
Ví dụ: Không ngừng quá lâu sau dấu phẩy trong câu:
“ Anh vờn bên trái, đánh bên phải, dứ trên, đánh dưới, thoắt biến, thoắt hoá khôn
lường .”
( Bài: Hội vật - Tiếng Việt 3 – Tập 2 trang 58).
1.2.2. Luyện ngắt giọng đúng khi đọc văn bản thơ:
Khác với văn xuôi, khi đọc thơ học sinh mắc lỗi ngắt nhịp là do không
tính đến nghĩa mà chỉ đọc theo áp lực của nhịp thơ. Dường như một cách tự
nhiên nếu không được lưu ý về nghĩa, học sinh sẽ ngắt nhịp tạo ra sự cân đối về
mặt âm thanh khi đọc từng câu thơ. Với thơ 4 chữ các em ngắt nhịp 2/2, với thơ
7 chữ các em sẽ ngắt nhịp 4/ 3 hoặc 2/2/3, với thơ lục bát các em sẽ ngắt theo
nhịp chẵn 2/2/2, với thơ 5 chữ các em sẽ ngắt nhịp 2/3 hoặc 3/2. Vì vậy các em
ngắt nhịp sai như sau:
11


+ “ Em vẽ Bác Hồ
Trên tờ/ giấy trắng
Em vẽ vầng trán
Trán Bác/ Hồ cao.”
( Bài: Em vẽ Bác Hồ - Tiếng Việt 3 – Tập 2 trang 43).
+ “ Em về quê ngoại nghỉ hè
Gặp đầm/ sen nở mà mê hương trời.”
( Bài: Về quê ngoại - Tiếng Việt 3 – Tập 1 trang 133).
Những trường hợp trên được xem là ngắt giọng sai vì đã tách một từ ra
làm hai, tách từ chỉ loại với danh từ, trong khi đó về ý nghĩa những yếu tố trên
gắn chặt với nhau.
Các biện pháp sửa lỗi:
- Trước tiên tôi cho học sinh nhận biết bài thơ đó được viết theo thể thơ gì? Cách
ngắt nhịp chung của bài thơ đó như thế nào? Sau đó cho học sinh phát hiện
những câu, những đoạn có cách ngắt nhịp khác biệt trong bài để hướng dẫn.
Thực chất ngắt nhịp thơ cũng được dựa trên cơ sở ngắt nhịp theo cụm từ.
- Dự kiến chỗ ngắt nhịp sai của học sinh để xác định điểm cần luyện ngắt giọng.
- Đọc mẫu chính xác.
- Dựa vào nghĩa của câu để giúp học sinh xác định đúng chỗ ngắt nhịp.
1.2.3. Luyện đọc đúng kiểu câu:
Trong phát ngôn, ngữ điệu có chức năng phân biệt các kiểu thông báo và
phân biệt các bộ phận của phát ngôn. Một trong những lỗi sai của học sinh là
không đọc đúng ngữ điệu của các kiểu câu như cuối những câu có nội dung
dùng để hỏi phải lên giọng, câu thể hiện tình cảm phải bộc lộ cảm xúc,... mỗi
kiểu câu có một ngữ điệu riêng. Trong bài tập đọc, khi gặp các kiểu câu này để
đọc đúng ngữ điệu là khó đối với học sinh Tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 3
mà hầu như các em đều đọc với giọng đều đều.
Biện pháp sửa lỗi:
- Hướng dẫn học sinh khi đọc câu có nội dung kể về các sự vật, sự việc,... có dấu
chấm thường phải xuống giọng ở cuối câu; câu có nội dung kể về các sự vật, sự
việc,...có dấu chấm lửng “...” chỉ sự ngập ngừng chưa nói hết thì đọc với ngữ
điệu yếu và phải kéo dài giọng.
Ví dụ: “- Xin lỗi. Tôi quả thật chưa nhớ ra anh là...”
( Bài: Giọng quê hương – Tiếng Việt 3 – Tập 1 trang 77).
- Những câu có nội dung dùng để hỏi, nhất là câu có nội dung dùng để hỏi
nhưng không có từ để hỏi, những câu có nội dung mong muốn, đề nghị, yêu cầu
mạnh thì khi đọc ta phải đọc với ngữ điệu cao.
Ví dụ: Câu: “ - Vượt rào, bắt sống nó !”
( Bài: Người lính dũng cảm – Tiếng Việt 3 – Tập 1 trang 39).
- Những câu có hình thức giống câu có nội dung dùng để hỏi mà đích thông báo
thực chất là câu có nội dung mong muốn, đề nghị, yêu cầu mạnh cũng được đọc
với ngữ điệu mạnh. Tuy nhiên cũng phải lưu ý những câu có nội dung mong
muốn, đề nghị, yêu cầu nhẹ nhàng thì lại cần đọc với giọng nhẹ nhàng.
12


Ví dụ: “ Thầy giáo nói: Giỏi lắm! Thôi con xuống đi!”
( Bài: Buổi học thể dục – Tiếng Việt 3 – Tập 2 trang 90).
- Phân tích rõ ràng cho học sinh thấy những bộ phận giải thích trong câu cần
phải đọc hạ giọng.
Ví dụ: “Cảnh vật xung quanh tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học.”
( Bài: Nhớ lại buổi đầu đi học – Tiếng Việt 3 – Tập 1 trang 51).
- Nếu đọc những đoạn có lời tác giả xen lẫn lời nhân vật, nhất là lời tác giả lọt
vào giữa lời nhân vật thì phải đọc hạ thấp giọng.
Ví dụ: “ Đúng đấy. – Thanh giải thích – Va- ti- căng chỉ có khoảng 700
người. Còn nước đông dân nhất là Trung Quốc: hơn 1 tỉ 200 triệu.”
( Bài: Cuốn sổ tay - Tiếng Việt 3 – Tập 2 trang 119).
Khi đọc đến “ Thanh giải thích” phải hạ thấp giọng.
2. Luyện đọc to:
Để giao tiếp bằng lời có hiệu quả đồng thời để tôn trọng người nghe,
người nói làm chủ âm lượng giọng nói của mình sao cho tất cả mọi người cùng
nghe rõ. Đọc thành tiếng là giao tiếp trước đông người. Chính vì vậy khi đọc
thành tiếng ta phải giúp học sinh hiểu được là các em thực hiện giao tiếp trước
đông người. Dù học sinh có đọc đúng kiểu câu, chính âm hay ngữ điệu mà đọc
quá nhỏ thì cũng không đạt yêu cầu của việc luyện đọc thành tiếng.
Trong thực tế có rất nhiều học sinh đọc rất nhỏ và lí nhí. Để khắc phục tình
trạng này tôi đã thực hiện các biện pháp sau:
- Bản thân tôi không đến gần các em nghe cho rõ mà tập cho các em đọc to đến
khi nào bạn xa nhất trong lớp nghe rõ mới thôi. Tránh tình trạng học sinh hiểu
rằng chỉ cần đọc cho cô giáo nghe là đủ.
- Tôi động viên khuyến khích, dạy cho các em tự tin trước tập thể lớp, được
đứng trước các bạn nhiều lần, dần dần các em sẽ thích được đọc, đọc to, đọc rõ.
- Hầu hết các em đọc nhỏ là đọc với ngữ điệu thấp. Chính vì vậy tôi cho các em
nâng giọng cao hơn, luyện cho các em thở sâu và lấy hơi lâu ở những chỗ ngắt
nghỉ khi đọc.
- Ngược lại đối với những học sinh đọc quá to, làm người nghe thấy khó chịu
thì lại cần phải điều chỉnh cho các em đọc nhỏ lại bằng cách tôi đọc mẫu để các
em nhận thấy độ lớn của giọng như thế nào là vừa phải.
Tóm lại: Trong luyện đọc thành tiếng thì luyện cho học sinh đọc to, rõ
ràng là rất cần thiết, giúp cho các em giao tiếp một cách tự tin trước đông người.
Bản thân mỗi giáo viên không nên chỉ chú trọng đến việc luyện đúng từ, đúng
câu mà bỏ qua việc rèn đọc to cho học sinh.
3. Luyện đọc nhanh:
Đọc nhanh còn gọi là đọc lưu loát, trôi chảy. Luyện đọc nhanh được đặt
ra sau khi luyện đọc đúng. Đối với học sinh thì hầu hết học sinh làm chủ được
tốc độ tuy nhiên vẫn còn một số học sinh đọc qua chậm, lại có những học sinh
lại đọc liến thoắng.
Biện pháp sửa lỗi:

13


- Để hướng dẫn học sinh làm chủ tốc độ trước tiên tôi làm mẫu để các em theo
dõi tốc độ đã định.
- Tập trung theo dõi tốc độ của học sinh và nhắc nhở các em kịp thời để các em
giữ được tốc độ, ổn định tốc độ bằng cách ra hiệu lệnh: “ Đọc nhanh hơn nào”, “
Đọc chậm lại!”
- Dự định thời gian đọc bài đó trong bao lâu bằng cách cho các em đếm tiếng và
tôi định lượng thời gian đọc. Tuy nhiên thời gian đọc còn phụ thuộc vào dễ đọc
hay khó đọc của từng thể loại văn bản. Mặt khác, bài có nội dung khó hơn thì
cách đọc chậm hơn những bài có nội dung dễ.
- Ngoài ra tôi ghi những câu có âm thanh thường hay bị lẫn ra bảng phụ để luyện
đọc cho các em đọc nhanh các câu đó trước khi đọc cả bài.
Tóm lại: Việc đọc nhanh của học sinh phụ thuộc nhiều vào việc luyện đọc
đúng. Tuy nhiên không phải đọc nhanh là chỉ nói về tốc độ phát ra âm thanh mà
còn là tốc độ tiếp nhận nội dung. Chính vì thế cần chú ý tránh tình trạng học
sinh đọc quá nhanh làm người nghe không kịp hiểu gì.
4. Luyện đọc lại:
Mục tiêu của môn Tiếng Việt lớp 3 là rèn học sinh kĩ năng đọc đúng, rõ ràng,
rành mạch các đoạn đối thoại, các văn bản nghệ thuật, hành chính, báo chí,...
chưa yêu cầu đọc diễn cảm nhưng bước đầu khuyến khích học sinh thể hiện
giọng đọc đúng nội dung của bài học, thể hiện tâm tư tình cảm của tác muốn
gửi gắm trong văn bản để làm tiền đề cho việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm ở lớp 4,
5. Vì thế phần luyện đọc lại rất quan trọng bởi nó đảm nhận nhiệm vụ quan
trọng này. Trong quá trình luyện đọc lại cho các em tôi thấy các em thường mắc
những lỗi sau:
- Nhiều học sinh đọc ở mức giải mã kí tự trơn từng âm tiết, đọc đều rời rạc như
đếm từng tiếng một, không có trọng âm từ, không có trọng âm câu, không có
cảm xúc.
- Có những học sinh đọc có vẻ như rất hay nhưng lại thể hiện không đúng cảm
xúc. Đọc bài nào cũng với giọng thổn thức, tha thiết hay đọc với giọng to hùng
hồn.
- Học sinh thường đọc với giọng đều đều không kết hợp giữa cao độ, trường độ,
nhấn giọng hay lơi giọng. Đọc không thể hiện được nội dung bài.
Để khắc phục tình trạng này tôi đã thực hiện các biện pháp sau:
- Cần hiểu rằng đọc hay không phải là đọc sao cho điệu thiếu tự nhiên, dựa vào
ý thích chủ quan của người đọc. Đọc hay là sử dụng ngữ điệu để phô diễn cảm
xúc của bài học. Chính vì vậy bản thân tôi dạy cho học sinh phải hoà nhập với
câu chuyện, bài văn, bài thơ mới tìm thấy ngữ điệu, giọng đọc thích hợp.
- Sau khi học sinh hiểu bài tập đọc sâu sắc thì để học sinh tự nêu cách đọc của
bài chứ tôi chưa áp đặt giọng đọc của bài bằng cách: tổ chức cho học sinh đàm
thoại, nhận ra thể loại văn bản hiểu ý đồ của tác giả, thảo luận với học sinh để
xác định giọng điệu chung của bài. Nếu đọc thơ cần chú ý đến tính nhịp điệu của
ngôn ngữ thơ ca, tức là truyền đạt chất nhạc trong thơ. Đọc văn xuôi thì chú ý
đến sự vận động tư tưởng của tác giả.
14


- Trong phần tìm hiểu bài thì tôi phân tích kĩ nội dung bài tập đọc để giúp học
sinh xác định giọng đọc chung của cả bài: nhẹ nhàng, thiết tha, vui tươi, ngợi ca,
mạnh mẽ hay trầm lắng,..., nhịp điệu của bài nhanh, hơi nhanh, hơi chậm hay
chậm.
- Tôi đã tổ chức cho các em luyện đọc theo hình thức nhóm đôi, nhóm sáu hoặc
cá nhân. Khi luyện tập thì tôi chỉ ra cho học sinh chỗ khó đọc, những “điểm nút”
trong bài, đòi hỏi học sinh phải hiểu được mới tìm cách thể hiện điều đó qua
giọng đọc.
- Hơn nữa để luyện đọc hay, bước đầu tôi tập cho học sinh cách ngắt giọng biểu
cảm. Ngắt giọng biểu cảm là chỗ ngừng lâu hơn bình thường hoặc chỗ ngừng
không lôgic ngữ nghĩa mà do dụng ý của người đọc nhằm gây ấn tượng về cảm
xúc. Hầu hết các em học sinh khi đọc bài chỉ ngắt giọng theo lôgic tức là hoàn
toàn phụ thuộc vào ý nghĩa quan hệ giữa các từ mà ít em có thể ngắt giọng biểu
cảm. Các dấu ngắt câu cũng có khi thể hiện sự ngắt giọng lôgic cũng có khi thể
hiện của việc ngắt giọng biểu cảm.
- Hướng dẫn cho học sinh kết hợp giữa cao độ và cường độ trong giọng đọc.
Để phân biệt lời của tác giả (lời dẫn chuyện) và lời của nhân vật thì đọc lời dẫn
chuyện cần đọc nhỏ, thấp hơn lời nói trực tiếp của nhân vật. Ở đây có sự chuyển
giọng của người đọc mà những lời dẫn như nền thấp cho những lời hội thoại nổi
lên.
5. Khuyến khích học sinh phát hiện và điều chỉnh lẫn nhau:
Hoạt động dạy – học luôn luôn được thực hiện trong mối quan hệ tương
tác: giáo viên với học sinh, học sinh với giáo viên, học sinh với học sinh. Một
tiết học diễn ra nếu thiếu sự tương tác giữa học sinh với học sinh thì tiết học sẽ
trở nên đơn điệu, không phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh
đồng thời bầu không khí lớp học sẽ thiếu sự nhẹ nhàng, tự nhiên.
Trong quá trình rèn đọc thành tiếng nhất là rèn kĩ năng phát âm cho học
sinh, tôi luôn quan tâm đặc biệt đến mối quan hệ tương tác giữa học sinh với
học sinh. Tôi đã chú trọng rèn cho học sinh có kĩ năng nghe – nhận xét – sửa sai
giúp bạn và tự sửa sai cho mình. Các em sử dụng các kĩ năng ấy thường xuyên
trong tiết học trở thành một thói quen, tạo nề nếp học tập tốt.
6. Rèn luyện tính kiên trì cho học sinh:
Rèn cho học sinh có tính kiên trì là nhiệm vụ quan trọng. Bản thân tôi
cũng phải rất kiên trì để hình thành tính cách ấy cho học sinh. Trong dạy đọc
thành tiếng nhất là dạy phát âm cho học sinh, khi các em phát âm chưa đúng
phải điều chỉnh nhiều lần mà vẫn chưa đạt yêu cầu các em sẽ dễ chán nản,
không muốn luyện tập. Tôi đã kiên trì hướng dẫn, làm mẫu, yêu cầu học sinh
phát âm nhiều lần, thường xuyên động viên khích lệ học sinh bằng những lời
khen: “Em đọc tốt hơn rồi, cố gắng thêm tí nữa nào!”, “ Em cố gắng đọc được
giống bạn.”,...Được động viên như vậy học sinh sẽ không nản lòng, từ đó học
sinh sẽ quyết tâm luyện tập hơn.
7. Quan tâm rèn cho học sinh ở mọi nơi, mọi lúc:

15


Để giúp học sinh đọc thành tiếng tốt, tôi không chỉ hướng dẫn học sinh
luyện tập trong các tiết tập đọc mà tôi luôn theo dõi, phối hợp với các thầy cô bộ
môn uốn nắn cho các em trong cả các tiết học khác, trong giao tiếp của các
em, ,...Bởi những lúc vui chơi là những lúc các em sử dụng lời nói một cách tự
nhiên nhất. Chính những lúc này sự điều chỉnh lẫn nhau giữa các em rất có hiệu
quả. Tôi luôn chú ý quan sát để phát hiện những lỗi thể hiện trong lời nói của
các em để kịp thời sửa chữa. Đồng thời tạo cho học sinh thói quen dù nói hay
đọc, ở bất cứ đâu chúng ta cũng phải nói và đọc theo chuẩn ngữ âm Tiếng Việt.
8. Kết hợp với phụ huynh rèn đọc thành tiếng cho học sinh:
Việc rèn đọc thành tiếng cho các em thành công hay không phụ thuộc
không nhỏ vào sự phối kết hợp với phụ huynh học sinh. Bởi cách phát âm chuẩn
hay không phụ thuộc rất nhiều vào môi trường sống. Bởi vậy ngay từ đầu năm
học tôi đã có kế hoạch trao đổi, bàn bạc và thảo luận với phụ huynh cách rèn đọc
thành tiếng khi học sinh chuẩn bị bài, ôn bài ở nhà, đặc biệt cách phát âm của
các thành viên trong gia đình. Duy trì thu nhận thông tin hai chiều giữa giáo viên
và phụ huynh để có biện pháp phù hợp kèm cặp các em kịp thời.
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG GIÁO
DỤC, VỚI BẢN THÂN, ĐỒNG NGHIỆP VÀ NHÀ TRƯỜNG

Qua một năm kiên trì thực hiện những biện pháp rèn đọc thành tiếng cho học
sinh lớp 3A, Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc tôi thu được kết quả như sau:
Tôi đã tiến hành khảo sát với đối tượng học sinh đầu năm (học sinh lớp
3A Trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc.)
Thời gian khảo sát: Ngày 15/ 03/ 2017.
Nội dung khảo sát: Đọc 2 bài:
- Buổi học thể dục. (Tiếng Việt 3 – Tập 2 trang 89).
- Bé thành phi công. (Tiếng Việt 3 – Tập 2 trang 91).
Kết quả khảo sát chất lượng đọc đến giữa học kì II ở lớp 3A:
Tổng số
Hoàn thành tốt
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
học sinh
SL
TL
SL
TL
SL
TL
28 em
13
46,4%
15
53,6%
0
Qua quá trình thực hiện và bảng số liệu trên cho thấy: Cuối năm học 2016–
2017, lớp 3A không còn em nào đọc yếu, các em từ đọc chưa đạt yêu cầu, chưa
hoàn thành bài đã vươn lên hoàn thành và hoàn thành tốt. So với đầu năm học,
số lượng học sinh đọc đúng, đọc hay tăng lên rõ rệt. Những học sinh hay mắc lỗi
phát âm tiếng địa phương như: em Lê Nam Khánh, Nguyễn Ánh Nguyệt,
Nguyễn Hoàng Phi, Nguyễn Trung Sơn..., hiện nay đã phát âm rất chuẩn. Gặp
những bài có câu dài, các em đã biết tìm cách ngắt, nghỉ đúng và nhiều em đã
thể hiện tốt giọng đọc của bài, biết phô diễn cảm xúc.
Đồng thời, khi áp dụng các biện pháp rèn đọc thành tiếng này thì tất cả
học sinh đều được hoạt động, tức là mọi cá nhân học sinh đều được đọc dưới sự
hướng dẫn của giáo viên. Đặc biệt bước đầu học sinh đã thể hiện sự tiến bộ
trong hoạt động học tập của các em. Trong suốt giờ học các em hào hứng luyện
16


đọc và nhận xét giúp bạn sửa sai khi đọc chưa đúng. Các em trao đổi, thảo luận
nêu ý kiến của mình một cách tự tin về giọng đọc của bài.
Học sinh ham học, tự tin, mạnh dạn phát biểu ý kiến xây dựng bài.
Không chỉ chất lượng đọc thành tiếng được nâng lên mà chất lượng học tập của
cả lớp ở các môn học khác cũng được nâng lên một cách rõ rệt. Khả năng tham
gia các hoạt động và tiếp thu bài ở các môn học khác của học sinh cả lớp, nhất là
các em có học lực yếu đầu năm được nâng lên. Sự tiến bộ của các em biểu hiện
cụ thể qua điểm số, qua sự đánh giá của Đội, nhà trường qua từng tháng, qua
các lần kiểm tra, dự giờ thăm lớp của ban giám hiệu. Cha mẹ học sinh yên tâm,
tích cực ủng hộ việc dạy học của giáo viên.

17


C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.
I. KẾT LUẬN :

Đọc là cơ hội đầu tiên của trẻ khi bắt đầu đến trường đi học. Đọc giúp các
em chiếm lĩnh tri thức, dùng trong giao tiếp và là công cụ để học các môn học
khác. Vì vậy trong giờ tập đọc, việc rèn kĩ năng đọc đúng cho học sinh là rất
quan trọng. Các em có đọc đúng thì mới có cơ sơ để hiểu đúng và ngược lại nếu
các em không hiểu những gì mình đang đọc thì không thể đọc đúng, nếu đọc
đúng mà không đọc hay thì không nêu bật được nội dung của bài, đúng ý của tác
giả trong tác phẩm. Chính vì vậy luyện đọc thành tiếng cho học sinh lớp 3 nên
lưu ý một số vấn đề sau:
- Khảo sát để nắm vững đặc điểm, thực trạng phát âm của học sinh trong lớp,
của địa phương mình, để tìm ra điểm yếu của các em khi đọc thành tiếng. Từ đó
có biện pháp khắc phục lỗi một cách linh hoạt trong mỗi giờ tập đọc.
- Luyện đọc lấy học sinh làm trung tâm, cần luyện đọc những chỗ các em còn
mắc lỗi đối với từng bài, từng đối tượng cụ thể, tránh hình thức luyện tập chung,
luyện từ dễ đến khó và kiên trì thực hiện trong cả một quá trình, không nôn
nóng.
- Khi lên kế hoạch bài dạy các mục tiêu luyện tập phải rõ ràng, tường minh, trực
quan và được lượng hoá (tức là các thông số âm thanh của lời phải đo đếm được,
quan sát được). Phải lựa chọn ngữ liệu (từ, ngữ, câu, đoạn) để luyện đọc sao cho
đạt hiệu quả cao và tiết kiệm thời gian.
- Trong khi luyện tập cần phối hợp đồng bộ tối đa các biện pháp, hình thức luyện
đọc không nên chỉ bó hẹp trong một phương pháp dạy học truyền thống, phải có
nhiều hình thức mới. Ngoài hình thức đọc cá nhân cần phải kết hợp đọc nối tiếp
câu, nối tiếp đoạn, đọc theo nhóm, thi đọc giữa các tổ,...
- Giáo viên phải biết làm mẫu và làm mẫu một cách chính xác, biết quan sát
cách đọc của các em để nhận rõ được chỗ sai lệch và tìm biện pháp điều chỉnh
phù hợp. Ngoài ra, giáo viên còn phải biết tái hiện lời đọc của học sinh trong thế
đối chiếu với lời đọc mẫu, có thể hướng dẫn: “ Em đọc như thế này... và bây giờ
chúng ta cần phải đọc như thế này...!”
- Trước khi đọc chúng ta cần phải chuẩn bị cho học sinh tâm thế đọc. Khi ngồi
đọc các em phải ngồi ngay ngắn, khoảng cách từ mắt đến sách nằm trong
khoảng 30 cm – 35 cm, cổ và đầu thẳng, phải thở sâu và thở ra chậm để lấy hơi.
Nên tạo cho các em tự tin mà không hấp tấp khi đọc để đọc to, rõ ràng.
- Đối với phần đọc lại thì giáo viên nên để cho học sinh thông qua việc tìm hiểu
bài, lắng nghe đọc mẫu của thầy cô tự tìm ra giọng đọc phù hợp với nội dung
của từng bài, từng tính cách nhân vật.
- Sử dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học. Đặc biệt thưòng xuyên ứng
dụng công nghệ thông tin, đưa bài giảng điện tử vào dạy tập đọc.
- Nhiệt tình, năng nổ, luôn tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề để cải tiến phương
pháp giảng dạy nhằm lôi cuốn học sinh học tập tích cực.
- Phải nhạy bén trong mọi tình huống và xử lí tình huống đúng lúc, kịp thời,
tôn trọng những thành tích dù nhỏ của học sinh để kịp thời động viên, khích lệ.
18


- Phải kiên trì, nhẫn nại và chịu khó, không bó tay trước mọi thử thách.
- Thường xuyên phối kết hợp với đồng nghiệp, phụ huynh học sinh để có được
sự kèm cặp đồng bộ, hỗ trợ kịp thời.
- Bản thân luôn luôn hướng các em theo khẩu hiệu “Học vì ngày mai lập
nghiệp”.Học để hiểu biết, học để trau dồi tri thức và học để trở thành những
người công dân có ích cho xã hội.
II. ĐỀ XUẤT:

Trong quá trình thực hiện những biện pháp trong sáng kiến kinh nghiệm
này, tôi đã gặp không ít khó khăn nên tôi có một vài đề xuất sau:
1.Về phía nhà trường
- Thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, bồi dưỡng, nâng cao trình
độ cho giáo viên
- Tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, phương tiện dạy học góp phần nâng
cao chất lượng giảng dạy.
2. Đối với giáo viên
- Không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ bằng cách tự học qua
đồng nghiệp, tham khảo thêm tài liệu hoặc trên các phương tiện thông tin đại
chúng.
- Khi lên kế hoạch bài học, cần chuẩn bị kĩ nội dung, đồ dùng và các phương
pháp dạy học
* Bản thân tin tưởng rằng, mình đã đưa ra những biện pháp phù hợp trong công
tác rèn đọc thành tiếng cho học sinh lớp 3. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện
bản thân không tránh khỏi sự thiếu sót. Tôi rất mong được sự góp ý, bổ sung
chân thành của bạn bè đồng nghiệp, của các cấp lãnh đạo để việc rèn đọc thành
tiếng cho học sinh lớp 3 trong các nhà trường ngày một hiệu quả hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA HIỆU
TRƯỞNG NHÀ TRƯỜNG

Thanh Hóa, ngày 15 tháng 4 năm 2017.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của người khác.
Người viết

Nguyễn Thị Thanh

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×