Tải bản đầy đủ

Một số giải pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 1

MỤC LỤC
NỘI DUNG
1. MỞ ĐẦU

-

Lý do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu

2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1. Cơ sở lý luận
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1. Thực trạng rèn chữ viết cho học sinh lớp 1 ở trường Tiểu học
Đông Vệ 1
2.1.1.1. Thực trạng của giáo viên
2.1.1.2. Thực trạng của học sinh
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1. Giải pháp 1: Chuẩn bị bước đầu

2.3.2. Giải pháp 2: Hướng dẫn bằng phương pháp trực quan
2.3.3. Giải pháp 3: Rèn luyện qua thực hành viết chữ
2.3.4. Giải pháp 4: Đánh giá bài viết của học sinh theo hướng tích
cực khuyến khích rèn luyện chữ viết đẹp
2.3.5. Giải pháp 5: Kết hợp chặt chẽ với gia đình trong rèn chữ viết
của học sinh
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

- Kết luận
- Kiến nghị

TRANG
02
02
03
03
03
04
04
04
04
05
05
06
07
11
11
11
12
12

1


1. MỞ ĐẦU:
- Lý do chọn đề tài:
Chữ viết là một phát minh quan trọng của xã hội loài người. Sáng tạo ra
chữ viết, loài người có thêm một phương tiện để giao tiếp. Nếu không biết viết
và không sáng tạo ra chữ viết đúng chuẩn sẽ làm cho hoạt động giao tiếp bị hạn

chế. Vì vậy, trẻ em đến tuổi đi học thường bắt đầu quá trình học tập bằng học
đọc, học viết. Nếu như học vần, tập đọc giúp cho trẻ đọc thông thì tập viết giúp
cho trẻ viết thạo. Đọc thông mở đường cho viết thạo, viết thạo sẽ giúp cho trẻ
ghi nhanh, ghi rõ ràng những điều thầy giảng và cả những điều trẻ nghĩ.
Tập viết là một trong những nội dung có tầm quan trọng đặc biệt ở Tiểu học,
nhất là đối với lớp 1. Tập viết trang bị cho học sinh bộ chữ cái Tiếng Việt những
yêu cầu kĩ thuật để sử dụng bộ chữ cái đó trong học tập và giao tiếp. Với ý nghĩa
này, tập viết không những có quan hệ mật thiết tới chất lượng các môn học khác
mà còn góp phần rèn luyện một trong những kĩ năng hàng đầu của việt học
Tiếng Việt trong nhà trường – kỹ năng viết chữ. Nếu chữ viết đúng mẫu, rõ ràng
tốc độ nhanh thì học sinh có điều kiện ghi chép bài học tốt, nhờ vậy kết quả học
tập sẽ cao hơn.
Học vần, tập đọc giúp cho việc rèn năng lực đọc thông, tập viết giúp cho
việc rèn năng lực viết thạo. Để làm chủ một tiếng nói về mặt văn tự, người học
phải rèn luyện cho mình năng lực đọc thông, viết thạo văn tự đó. Hai năng lực
này có quan hệ mật thiết với nhau. Học sinh học Tiếng Việt phải đọc thông, viết
thạo chữ quốc ngữ. Đây chính là điểm khác biệt giữa người học và không học
Tiếng Việt .
Khả năng biết viết, biết đọc và sử dụng chữ viết được hình thành ở lớp 1
giúp học sinh có được một công cụ giao tiếp hết sức quan trọng .
Ngoài ra, tập viết còn góp phần vào việc rèn luyện cho học sinh những
phẩm chất đạo đức tốt như tính cẩn thận, tinh thần kỉ luật và khiếu thẩm mỹ.
Đúng như cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Chữ viết cũng là một biểu hiện
của nết người. Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần
rèn luyện cho học sinh tính cẩn thận, tính kỷ luật, lòng tự trọng đối với mình
cũng như đối với thầy và bạn đọc bài vở của mình …”.
Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy lớp 1, tôi luôn băn khoăn về vấn đề chữ
viết của các em. Làm thế nào để giúp các em viết đúng, viết đẹp? Các bậc cha
mẹ sẽ hạnh phúc và sung sướng biết bao khi nhìn vào trang vở Tập viết của con
em mình với những dòng chữ ngay ngắn đều tăm tắp, đúng và đẹp: Những trang
vở không bị giây mực, không bị quăn mép. Chính vì vậy mà tôi quyết định chọn
và nghiên cứu đề tài . “ Một số giải pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 1 ” .
- Mục đích nghiên cứu :
Đề tài nhằm giới thiệu những biện pháp tích cực trong việc dạy chữ viết
Tiếng Việt, góp phần giúp học sinh lớp 1 viết đúng và đẹp. Thông qua các giải
pháp này tôi có thể nâng cao kiến thức của bản thân và ý thức được việc nghiên
2


cứu, tìm tòi phương pháp giảng dạy là một nhu cầu cũng như nhiệm vụ của
mình.
Bên cạnh đó, đề tài còn giải quyết những khó khăn trong giảng dạy cũng
như trong công tác chủ nhiệm.
- Đối tượng nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những giải pháp góp phần rèn chữ viết
cho học sinh lớp 1 ở trường tiểu học hiện nay nói chung và học sinh lớp 1B
trường Tiểu học Đông Vệ 1 nói riêng.
- Phương pháp nghiên cứu :
Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, trong
đó chủ yếu là các phương pháp sau :
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí luận: Tôi thường xuyên đọc
tài liệu liên quan đến việc dạy tập viết cho học sinh tiểu học, sách giáo viên
Tiếng Việt lớp 1 …
- Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập số liệu: Tôi ra đề, khảo sát chất
lượng chữ viết của đối tượng học sinh trong khối 1 kết hợp quan sát dự giờ đồng
nghiệp để thấy được thực trạng vấn đề chữ viết của giáo viên và học sinh lớp 1.
- Dạy thực nghiệm: Tiến hành dạy thử các tiết Tập viết ở lớp 1.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Trao đổi, tọa đàm với đồng nghiệp.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1.Cơ sở lý luận:
Chữ viết là sáng tạo kỳ diệu của con người. Sự xuất hiện của chữ viết
đánh dấu một giai đoạn phát triển về chất của ngôn ngữ. Chữ viết và dạy chữ
viết được mọi người quan tâm. Việc rèn kĩ năng chữ viết cho học sinh Tiểu học
đã được nhiều nhiều thế hệ, cô giáo quan tâm, trăn trở, góp nhiều công sức cải
tiến kiểu chữ, nội dung cũng như phương pháp dạy chữ viết. Dạy chữ viết là dạy
học sinh có những khái niệm cơ bản về đường kẻ, dòng kẻ, độ cao, cỡ chữ, hình
dáng, tên gọi các nét chữ, cấu tạo các chữ cái, vị trí dấu thanh, dấu phụ, các khái
niệm liên kết nét chữ cái …Từ đó hình thành cho các em những biểu tượng về
hình dáng, đường nét các con chữ, độ rộng, độ cao sự cân đối, tính thẩm mĩ của
chữ viết .
Cùng với ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết là một công cụ, phương tiện rất
quan trọng cần thiết trong đời sống của con người. Để tư duy con người cần có
chữ viết. Để trao đổi thông tin con người cũng cần có chữ viết. Để truyền lại các
bài học kinh nghiệm, những tri thức, tinh hoa văn hoá hay chỉ đơn giản ghi lại
những điều cần nhớ người ta dùng chữ viết để ghi lại trên giấy. Như vậy ngôn
ngữ không những giúp quá trình tư duy của con người tốt hơn mà còn đóng vai
trò như một cầu nối giữa người với người, giữa thế hệ này với thế hệ khác.
Trong xã hội ngày nay, công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, ngôn ngữ
viết không còn là phương tiện trao đổi thông tin chiếm ưu thế như trước kia.
Nhưng không vì thế mà ta phủ nhận vai trò của chữ viết. Nói như vậy để thấy
3


rằng ngôn ngữ viết hay chữ viết không vì bất cứ lí do gì mà ngừng phát triển, nó
luôn phát triển tương xứng với sự phát triển của xã hội. Nhận thấy tầm quan
trọng của chữ viết, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa vào chương trình giáo dục ở
tiểu học phân môn Tập viết, phân môn Chính tả trong môn Tiếng Việt. Bên cạnh
đó các phòng Giáo dục và Đào tạo còn chỉ đạo cho chuyên môn các trường tập
trung rèn chữ cho học sinh vào các buổi tăng buổi. Để hỗ trợ cho việc rèn chữ
cho học sinh, Bộ Giáo dục và đào tạo đã ban hành bộ mẫu chữ theo quyết định
31 giáo viên đã có thêm công cụ để hướng dẫn và rèn chữ cho học sinh.
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
2.2.1. Thực trạng rèn chữ viết cho HS lớp 1 ở trường Tiểu học Đông Vệ 1
2.1.1.1 Thực trạng của giáo viên:
Trường Tiểu học Đông Vệ 1 có đội ngũ giáo viên nhiệt tình với nghề, có
nhiều kinh nghiệm về luyện chữ cho học sinh, sẵn sàng giúp đỡ đồng nghiệp về
chuyên môn. Ban giám hiệu nhà trường luôn bồi dưỡng nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên như: tổ chức thao giảng, dự giờ hàng
tháng, tổ chức các tiết hội giảng để thảo luận về chuyên môn … Từ đó rút ra
những ý kiến hay, những đề xuất kinh nghiệm tốt áp dụng trong việc giảng dạy.
Tuy nhiên bên cạnh đó, giáo viên vẫn còn có những hạn chế:
- Chữ viết chưa đáp ứng yêu cầu trực quan trong việc giảng dạy, chỉ thấy
một số ít giáo viên chữ viết chân phương đẹp mắt.
- Ít chú trọng trong việc rèn luyện chữ viết cho học sinh, chẳng qua chỉ lưu
ý trong giờ tập viết, còn lại các tiết học khác hầu như bỏ ngỏ, thiếu nhắc nhở,
uốn nắn các con chữ chưa đẹp.
- Chưa có biện pháp rèn chữ viết cụ thể.
- Chưa giúp học sinh nắm được các nét cơ bản, cấu tạo con chữ, dòng kẻ, kĩ
thuật viết...
- Hướng dẫn rèn chữ viết chưa theo đối tượng học sinh.
- Trong quá trình dạy viết chữ chưa chú ý đánh dấu thanh đúng cách.
- Giáo viên còn thiếu nghiêm khắc đối với bản thân trong việc luyện chữ
viết của mình, thiếu đầu tư nghiên cứu mẫu chữ hiện hành và chưa có phương
pháp rèn luyện phù hợp đối với học sinh lớp 1.
- Chưa chú trọng đến đồ dùng dạy học trong tiết dạy.
2.1.1.2. Thực trạng của học sinh:
Qua quá trình giảng dạy, qua dự giờ thăm lớp đồng nghiệp để quan sát hoạt
động tập viết của học sinh, tôi nhận thấy: khi dạy tập viết cho học sinh, bên cạnh
những thuận lợi còn gặp không ít những khó khăn, đó là:
- Ở giai đoạn đầu lớp 1, đa số học sinh chưa biết cách cầm bút và chưa ngồi
học đúng tư thế.
- Đại đa số học sinh không có thói quen rèn chữ viết, không có ý thức trong
việc rèn chữ viết, thậm chí không quan tâm đến chữ viết xấu hay đẹp.
- Hầu như đa số học sinh chữ viết không đúng mẫu chữ ban hành (QĐ31)
chữ viết nguệch ngoạc thiếu thẩm mỹ.
4


- Nhưng nguyên nhân chủ yếu là học sinh chưa nắm được các nét cơ bản,
cấu tạo con chữ, dòng kẻ, kĩ thuật viết...
- Một số học sinh đồ dùng học tập còn thiếu, tập rèn chữ viết chưa đúng
mẫu học sinh chỉ sử dụng một quyển tập viết.
- Một số học sinh mắc bệnh về mắt.
- Ngoài ra còn có một số học sinh chưa ý thức được việc giữ gìn sức khoẻ,
đồ dùng học tập, bên cạnh còn có một số em hay ra mồ hôi tay.
- Học sinh mẫu giáo không được dạy chữ.
Từ thực trạng trên, tôi đã tìm ra giải pháp để khắc phục nhằm giúp học sinh
viết chữ đẹp.Với nhiều năm dạy lớp 1 tôi theo dõi và nhìn thấy chữ viết của các
em còn quá xấu. Trong hai năm học gần đây tôi thống kê chữ viết của học sinh ở
học kì I theo 3 nhóm sau :
+ Nhóm 1: n, m, i, u , ư , v, r, t (8 chữ cái )
+ Nhóm 2: l, b, h, k, p, y, g (7 chữ cái )
+ Nhóm 3: o, ô, ơ, a, ă, â, d, đ , q, p, c, x, e, ê, s, (15 chữ cái )
Kết quả thu được như sau:
Viết đúng
mẫu, cỡ
(viết đẹp)
SL
%

Viết chưa
đúng mẫu,
cỡ ở nhóm1
SL
%

Viết chưa
đúng mẫu,
cỡ ở nhóm2
SL
%

Viết chưa
đúng mẫu,
cỡ ở nhóm3
SL
%

Năm học

Sĩ số
học sinh

2015-2016

40

10

25

10

25

9

22,5

11

27,5

2016-2017

40

15

37,5

10

25

8

20

7

17,5

Những số liệu trên cho thấy năm học 2015 - 2016 học sinh viết chữ chưa
đúng mẫu, cỡ ở cả 3 nhóm chiếm 50%; năm học 2016 - 2017 học sinh viết chữ
chưa đúng mẫu, cỡ cả 3 nhóm chiếm 37,5%
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
Với mục đích đề tài được đặt ra cùng với những nguyên nhân nêu trên nên
bản thân tôi đã có những giải pháp và việc làm cụ thể để góp phần giúp học sinh
viết chữ đẹp như sau:
*Chuẩn bị của giáo viên và học sinh đầu năm.
*Hướng dẫn HS nắm cấu tạo, độ cao các con chữ, d? r? ng?....
*Hướng dẫn rèn chữ viết phân chia theo đối tượng.
*Kết hợp chặt chẽ ba môi trường giáo dục.
2.3.1. Giải pháp 1: Chuẩn bị bước đầu:
Ngay sau khi ổn định lớp tôi tổ chức họp phụ huynh học sinh riêng cho
lớp1 tôi phổ biến một số vấn đề về nội quy, quy định của trường của lớp rồi
hướng dẫn phụ huynh mua dụng cụ học tập...
5


Trước đây học sinh viết bảng con nào cũng được nhưng do chữ viết ở lớp 1
có đặc thù riêng vì có chữ cao 2 ô li, 3 ô li, 4 ô li, 5 ô li nên tôi thống nhất cùng
dùng chung một loại bảng là mic đang bán trên thị trường; mỗi em phải có hai
quyển tập trắng dành riêng cho rèn chữ viết và mỗi em phải có 2 cây bút chì loại
2B chứ không dùng loại bút chì nào khác. Còn đối với vở tập viết có in sẵn chữ
mẫu cho mỗi bài học trong bộ sách chỉ có một quyển nay tôi đề nghị mua thêm
một quyển nữa để về nhà rèn thêm.Với quyển này tôi theo dõi nhận xét mỗi bài
và chỉnh sửa cụ thể từng nét.
Bảng lớp: Bảng lớp là công cụ trực quan hằng ngày, ở bảng lớp giúp học
sinh thấy được chữ viết của giáo viên và giáo viên dùng để viết mẫu cho học
sinh xem. Nhưng nhìn chung tấm bảng lớp chưa được bố trí dòng kẻ nên giáo
viên chỉ viết nhấm chừng làm học sinh không thấy rõ độ cao các con chữ nên
dẫn đến học sinh dễ viết sai. Để thuận lợi hơn cho giáo viên và học sinh trong
việc học thì tôi tự kẻ lại trên bảng từng dòng li rõ ràng giống y hệt như trong vở
tập viết (mỗi ô li cao 3cm).Với tấm bảng này tôi sử dụng cho năm học này và sử
dụng lâu dài thậm chí được cho các lớp trên. Sau khi kẻ bảng có dòng li như thế
thì giáo viên không còn viết chấm chừng nữa và học sinh bắt đầu nhìn theo đó
mà luyện viết.
Kết quả : 100% học sinh đủ sách giáo khoa và đồ dùng học tập, mỗi em
có 2 quyển tập viết và 2 quyển tập ô li như yêu cầu.
2.3.2. Giải pháp 2: Hướng dẫn bằng phương pháp trực quan:
Với Tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 1 phương pháp trực quan luôn là
phương pháp tối ưu vì vậy tôi chọn giải pháp nhỏ đầu tiên trong nhóm giải pháp
này là:
* Hướng dẫn trực quan nắm chắc cấu tạo, độ cao các con chữ:
Đọc, viết là hai kỹ năng song song với nhau. Do vậy dạy tập viết cần phối
hợp nhịp nhàng với dạy học vần. Học sinh luyện tập viết chữ dưới hai hình thức
chủ yếu: luyện tập viết chữ trong các tiết học âm với luyện tập viết theo yêu cầu
kĩ thuật trong các tiết dạy phân môn tập viết. Sau khi học xong phần âm tôi
củng cố lại độ cao các con chữ cao 2 ô li, 3 ô li, 4 ô li, 5 ô li dưới hình thức đọc
viết nhìn viết (học sinh yếu ), thi nhau viết (học sinh khá giỏi )
Ví dụ : + Kể các con chữ cao 2 ô li: o, a, e, ê, n, m, u, ư,…(18 con chữ)
+ Có mấy con chữ cao 3 ô li? ( có một đó là con chữ t), có thể tổ
chức theo hình thức trắc nghiệm.
+ Có những con chữ nào cao 4 ô li? (có 4 con chữ: p, q, d, đ)
+ Những con chữ nào cao 5 ô li? (6 con chữ: l, h, b, k, g, y)
Lưu ý các em: âm pờ (p) và âm bờ (b) khi đọc và khi viết gọi là con chữ pờ
(p), con chữ bờ (b). Khi viết các em dễ dàng phân biệt được sự khác nhau giữa
hai con chữ này như sau: con chữ p cao 4 ô li dưới gọi là pờ dưới; còn con chữ b
cao 5 ô li trên gọi là bờ trên. Nếu sau này học sinh có viết nhầm thì các em nhớ
lại điều cô nói “bờ trên và pờ dưới’’.
Bảng con: học sinh tuy viết đúng chữ nhưng các em muốn viết chỗ nào
cũng được, hay viết sai điểm đặt phấn trong bảng con, cũng như điểm đặt bút
6


khi viết trong vở nhất là học sinh viết chậm và yếu.Vậy để khắc sâu cho học
sinh viết chính xác các con chữ cao 5 ô li và 3 ô li như: l, b, h, k, t. Tôi chỉ định
điểm đặt phấn là trên dòng kẻ đậm một ô.
Trên bảng con những em viết chậm và yếu như em Công Minh, Đạt, Vũ
Minh, Quỳnh tôi cầm tay cho học đếm từ đâu đến đâu là một ô li, độ rộng của
các ô li; những con chữ cao 2 ô li các em phải viết vào khung; những con chữ
cao 5 ô li; cao 4 ô li; cao 3 ô li đều hướng dẫn cầm tay.
Kết quả: Nhờ kinh nghiệm nhỏ của tôi mà giờ này các em nói trên đã viết
được và tiến bộ nhiều, bây giờ tôi không cầm tay nữa.
* Hướng dẫn trực quan nét viết của từng con chữ:
Trong giai đoạn giáo dục chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy
học thì đây là giải pháp mà tôi tâm đắc nhất. Vì trẻ nhỏ chỉ thật sự hứng thú
trước hình ảnh trực quan sinh động, nhiều màu sắc.
Nếu chỉ nhìn cô giáo viết và thuyết trình từng nét viết đôi khi làm các em
rối chưa nói đến việc cô giáo đang đứng viết trên bảng sẽ ít nhiều che chắn tầm
nhìn của một số học sinh theo góc nhìn do chỗ ngồi của các em trong lớp. Nếu
không vận dụng giải pháp này thì ít nhiều hướng dẫn các em trực quan nét viết
của từng con chữ sẽ bị hạn chế.
Tôi đã tiến hành như sau: Tôi đã vận dụng phần mềm Microsoft office
PowerPoint để soạn trình chiếu nét viết của từng con chữ ở mỗi nội dung bài dạy
bằng việc tạo một line nhỏ rồi liên kết hiệu ứng ở Custom Animation chọn
hướng di chuyển hiệu ứng sang left hay right và bottom hay top và tốc độ hiệu
ứng timing speed phù hợp với mỗi đoạn viết của một phần con chữ. Cứ như thế
với nhiều đoạn line kết hợp lại tôi có được một trình chiếu cách viết đúng, đẹp
của một con chữ với một kích thước to, rõ, có màu sắc hấp dẫn học sinh háo hức
quan sát.
Mỗi lần trình chiếu chữ mới tôi đã để các em quan sát thật nhiều lần, đến
khi các em thuộc như một quy trình viết đúng. Khi đã nắm nét viết qua quan sát
rồi thì các em vận dụng viết vào bảng con của chính mình. Đa số các em viết rất
đúng nét viết và thường rất đạt vì đây là hoạt động tái diễn lại những gì mà các
em đã trực quan mà nắm bắt một cách chủ động.
2.3. 3. Giải pháp 3: Rèn luyện qua thực hành viết chữ:
* Hướng dẫn luyện viết
- Vở tập viết quyển: với hai tuần đầu học sinh viết rất lộn xộn, không viết
đúng li, các em viết chưa đúng độ cao đang còn chờm li như em Nguyễn Văn
Đạt, Vũ Hoàng Anh Dũng, Phạm Hiền, …
Vì vậy ở vở tập viết từ bài 4 (vì từ bài 1 đến bài 3 học sinh tô lại chữ ) tôi
chưa thu vở để nhận xét mà bắt đầu từ bài 4 trở đi khi dạy tập viết tôi yêu cầu
học sinh quan sát kỹ điểm đặt bút đầu tiên vì vở tập viết đã chấm sẵn điểm đặt
bút. Sau khi hướng dẫn xong tôi cho cả lớp viết bài.
Với kinh nghiệm trên thì lần 1 thu hết lớp 40 em tiến bộ 15 em; lần 2 thu
12 em chưa tiến bộ thực hiện như trên tiến bộ 8 em; lần 3 thu 8 em còn lại ( Đạt,
Chiến, Hiền, Vũ Minh…, ) tiến bộ 6em; lần 4 còn lại em Tiến; Công Minh vì tôi
7


xuyên suốt theo dõi và cầm tay nên em Tiến cũng tiến bộ hẳn ra. Đến giữa học
kỳ I các em đều biết điểm đặt bút và khoảng cách giữa các chữ trong vở tập viết,
trình bày rất đẹp mắt. Vì vậy học sinh viết yếu nhất mà cũng biết chỗ viết .
- Vở tập viết quyển 2: yêu cầu về nhà rèn viết thêm ở quyển 2 đúng và
đẹp và quyển này tôi nhận xét theo dõi.
* Viết mẫu trong vở ô li
- Giáo viên viết mẫu lên bảng có kẻ ô vuông.
- Chữ mẫu của giáo viên phải chuẩn, đẹp (đây là yếu tố cần thiết quyết định
sự thành công trong việc rèn chữ viết cho học sinh ).
- Giáo viên theo dõi cầm tay giúp đỡ học sinh yếu.
- Hướng dẫn học sinh viết vào vở nhắc nhở cách ngồi, cách cầm bút.
- Theo dõi, sữa chữa uốn nắn từng nét cho học sinh ngay từ những nét cơ
bản đầu tiên.
- Trong bài viết có nhiều lỗi sai, giáo viên chỉ nên hướng dẫn sửa một lỗi để
các em sửa từng lỗi sai một, từng ngày và từng ngày các em sẽ dần tiến bộ.
Trước đây hễ học sinh sai bao nhiêu lỗi thì lấy ra sửa hết bấy nhiêu làm như thế
không mang hiệu quả nhiều.
- Những học sinh hoàn thành tốt tôi rèn luyện bằng cách chép lại các âm,
vần, từ, câu ứng dụng của bài học vần mỗi ngày.
Ví dụ “bài 18 :x - ch ’’sách Tiếng việt 1 tập I trang 38, 39 tôi cho học sinh
rèn như sau:
+ Học sinh yếu tôi viết mẫu trong vở ô li.

x
ch
xe
chó

+Học sinh hoàn thành tốt tôi không viết mẫu mà tôi phát huy nhìn vào sách
giáo khoa ở cuối mỗi bài có hướng dẫn viết, cho các em tự ghi vào vở số dòng
giống như tôi viết mẫu, rồi thực hiện rèn chữ viết.
Kết quả: với cách rèn chữ viết trên mà những em viết chậm và xấu như em
Nguyễn Văn Đạt, Phạm Công Minh, Nguyễn Văn Tiến nay viết tiến bộ nhanh
hơn và đúng mẫu. Còn các em Nguyễn Thị Hương, Nguyễn Hồng Nhung, Trịnh
Tuyết Nhung, Nguyễn Thị Hằng,…các em rất thành thạo tự viết mẫu rồi viết
thậm chí tôi phát huy những em này bằng cách tập chép thêm các từ ngữ ứng
8


dụng và câu ứng dụng trong bài vừa học vào vở thì các em viết rất tốt và các em
có vẻ thích viết lắm
Học vần bài 24: q-qu, gi học sinh viết thêm từ: quả thị, qua đò, giỏ cá, giã
giò, bài này có câu ứng dụng là: chú Tư ghé qua nhà, cho bé giỏ cá. Tôi khuyến
khích học sinh viết tốt viết nội dung này vào vở.
Với quyển này tôi nhận xét liên tục để theo dõi chữ viết các em. Từ việc
làm đơn giản trên nhưng đã góp phần vào việc viết chữ đẹp cho học sinh.
* Chia chữ ra từng loại và rèn luyện dứt điểm (đây là biện pháp trọng
tâm )
Nếu cùng một lúc đòi hỏi các em viết đúng và đẹp ngay là điều không thực
tế khó có thể thực hiện được. Do vậy tôi định ra mỗi tuần rèn một loại chữ nhất
định. Rèn viết đúng loại chữ này mới chuyển sang rèn loại chữ khác.Tôi đặt kế
hoạch rèn chữ viết hàng tuần, hàng tháng một cách cụ thể. Cứ như thế, loại này
viết đẹp mới chuyển sang rèn loại chữ khác nên học sinh phấn khởi và say mê
rèn luyện.
Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo nét và mối quan hệ về cách viết các chữ cái tôi
chia ra các nhóm như sau:
* Chữ thường (3 nhóm )
+ Nhóm 1: n, m, i, u , ư , v, r, t (8 chữ cái )
- Trọng tâm rèn luyện là nét móc: móc ngược, móc xuôi và móc hai đầu.
- Từ các nét cơ bản trên nếu viết đẹp 8 chữ các ở nhóm 1, ta dễ dàng viết được
các chữ cái khác như b, h, p, y,…
+ Nhóm 2: l, b, h, k, p, y, g (7 chữ cái )
- Năm chữ cái: l, b, h, k, y, g đều giống nhau ở một nét cơ bản là nét
khuyết.
- Viết được các chữ cái ở nhóm 1 và nhóm 2 học sinh sẽ viết các chữ cái
khác có phần thuận lợi hơn.
Đối với học sinh lớp 1 tôi chú ý rèn viết bắt đầu từ nét sổ dọc. Học sinh viết
được nét sổ ngay ngắn mới tiến hành viết nét khuyết.
+ Nhóm 3: o, ô, ơ, a, ă, â, d, đ , q, p, c, x, e, ê, s, (15 chữ cái )
- Loại chữ này nhìn thấy viết chắc đơn giản lắm nhưng thực tế học sinh viết
sai nhiều bắt đầu bởi chữ o. Viết chữ o như thế nào thì đúng? đặt bút từ đâu?
Theo tôi khi dạy rèn viết chữ o tôi kẻ 1 ô vuông ngoài bìa cứng, rồi chia ô
vuông thành 3 phần bằng nhau đánh dấu 4 điểm giữa các cạnh hình chữ nhật
dùng phấn màu chấm chấm (…) thành hình chữ o sau đó tô lên các dấu chấm
chấm, giáo viên vừa viết vừa hướng dẫn học sinh quan sát.
Viết được chữ o học sinh dễ dàng viết đúng các chữ cái khác trong nhóm 3.
Như vậy kế hoạch cụ thể của tôi là rèn 3 nhóm này lúc nào thì đúng lúc và
phù hợp nhất. Theo nội dung bài học vần thì các âm trong nhóm này không theo
thứ tự trên mà đan xen nhau. Vậy nhóm 1 và nhóm 3 bắt đầu rèn luyện từ tuần 3
đến tuần 5 vào các tiết học luyện thêm buổi 2; ở nhóm 1 thì cần hướng dẫn học
sinh dựa vào nét sổ thẳng đã học để tạo thành nét móc xuôi, móc ngược và nét
móc hai đầu; còn ở nhóm 3 hướng dẫn cho các em điểm đặt bút và lấy các
9


đường kẻ dọc, ngang trong vở để làm điểm tựa cho các nét được đều nhau.Trong
nhóm này cần chú ý đến nét tròn vì các em hay viết ngược chiều nghiêng. Giáo
viên cần hướng dẫn tỉ mỉ điểm đặt bút, chiều đưa bút rồi điểm dừng bút trùng
khít điểm đặt bút.
Nhóm 2 từ tuần 6 đến tuần 7 kết hợp rèn các chữ ghép: nh, th, ch, ph, kh, ng
ngh, gh cần chú ý rèn cho học sinh khi viết nét nối biết đưa bút liền mạch. Nhóm
này các nét khuyết xuôi, khuyết ngược đều nằm trên đường kẻ dọc của vở ô li để
cho học sinh viết thẳng nét.Chú ý khi vòng nét khuyết không to quá và cũng
không nhỏ quá đồng thời nét đưa xuống và nét vòng lên phải gặp nhau tại một
điểm quy định là dòng li thứ hai.
Ở nhóm nét sổ thẳng, nét ngang, nét móc giáo viên hướng dẫn các em dựa
vào các đường kẻ dọc và ngang ở trong vở ô li làm chuẩn viết cho đúng, thẳng.
- Trong giờ dạy học vần giáo viên luôn sử dụng bộ mẫu chữ cái trong bộ
chữ mẫu tập viết làm đồ dùng trực quan cho học sinh quan sát, dùng bảng phụ
để viết mẫu các chữ viết khó rồi vừa viết vừa giảng tỉ mỉ điểm đặt bút, cách đưa
các nét chữ cho học sinh hiểu.
- Trong các tiết luyện thêm buổi 2 khi cho các em rèn chữ theo nhóm thì
giáo viên cũng sử dụng bộ mẫu chữ cái đó làm đồ dùng trực quan cho học sinh
quan sát và rèn viết tốt.
Sau đó cho học sinh rèn vào vở ô li thứ hai. Khi học sinh viết giáo viên
luôn theo dõi từng học sinh viết bài để kịp thời uốn nắn những chữ sai, chú ý rèn
học sinh viết liền mạch các con chữ và khoảng cách giữa các chữ sao cho vừa
phải.
Khi phát hiện ra những ưu, khuyết điểm của từng học sinh thì giáo viên
phải phân tích trước lớp; những em nào viết còn xấu, sai chữ mẫu thì giáo viên
viết mẫu vào vở ô li và cho em đó về nhà luyện.
Rèn cho học sinh viết chữ đẹp có nghĩa là chữ viết của học sinh phải đạt
các yêu cầu: đúng các nét cơ bản, độ cao, khoảng cách, kĩ thuật nối giữa các con
chữ viết các dấu đúng vị trí và tương xứng với con chữ.
Khi dạy viết chữ cái, giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào các đường kẻ
dọc, ngang trong vở để chữ không bị nghiêng, bị méo .
Học sinh sẽ rất khó khăn khi học viết các chữ này vì vậy giáo viên cần đến
tận nơi để bao quát và có thể giúp các em còn lúng túng bằng cách cầm tay
hướng dẫn cách viết đồng thời động viên các em để các em viết tự tin hơn.
Phân môn tập viết ở lớp 1 yêu cầu học sinh phải viết đúng chữ mẫu ngay từ
những chữ cái đầu tiên. Muốn viết đúng các chữ cái được đẹp, giáo viên phải
hướng dẫn học sinh viết đúng các nét cơ bản từ những buổi đầu tập viết.
- Học sinh lớp 1 lần đầu tiên làm quen với các bài học viết cần phải uốn nắn
tư thế ngồi của các em đúng quy cách, cách cầm bút và để vở sao cho vừa tầm
và để tránh cận thị và cong vẹo cột sống. Công việc này đối với các em vô cùng
khó khăn vì dễ mỏi và chán nản. Vì vậy giáo viên phải đến từng em để uốn nắn
và động viên, dần dần tạo cho các em thói quen ngồi và cầm bút đúng tư thế.
10


- Khi bắt đầu viết chữ nên hướng dẫn các em tập viết thành thạo và đẹp các
nét cơ bản như: nét sổ thẳng, nét ngang, nét xiên, nét cong, nét móc, nét khuyết
nét thắt.
- Nhóm nét thắt khó nhất đối với các em. Nét thắt trên: đặt bút từ đường kẻ
đậm ngang, đưa hơi xiên lên chạm đường kẻ ngang dòng li thứ hai rồi đưa vòng
về phía tay trái thắt nhỏ như một cái chấm nằm ngang theo dòng li thứ hai; nét
thắt giữa đặt bút ở dòng li thứ hai đưa vòng xuống dòng li thứ nhất, vòng ngược
lên để thắt nút thật nhỏ rồi đưa chéo xuống đường kẻ đậm.
Với học sinh mắc bệnh về mắt, giáo viên cần phải sắp xếp cho các em ngồi
đúng chỗ và phù hợp ở phía có nhiều ánh sáng và nhìn bảng rõ nhất. Bên cạnh
cần phải kết hợp với gia đình để các em có điều kiện được học tập tốt hơn.
Trong thời gian đầu học viết các nét cơ bản, các chữ cái, các tiếng, từ theo
chương trình học giáo viên luôn viết mẫu cho học sinh, đặc biệt là những em
viết xấu. Đối với các em học sinh viết cẩu thả, giáo viên cần kiểm tra sát sao hơn
đồng thời xếp cho các em ngồi cạnh những bạn viết chữ đẹp để học hỏi theo
bạn. Hàng tháng giáo viên đều phải tổng kết và phát phần thưởng cho các em
viết chữ đẹp và giữ vở sạch để động viên .
Sang học kỳ 2 đến phần tập chép và viết chính tả, tôi sẽ sưu tầm các bài viết
chữ đẹp trong sách báo, tạp chí để làm mẫu bằng cách phô tô cho mỗi em một
vài bài để các em noi theo viết.
b/ Kết quả đạt được:
Tất cả học sinh trong lớp đều viết đúng cỡ chữ. Đa số các em viết chữ tròn
đều, nét viết giống nhau.Tốc độ viết nhanh, khoảng cách giữa các chữ hợp lí, bài
viết trình bày sạch đẹp.
2.3.4. Giải pháp 4: Đánh giá bài viết của học sinh theo hướng tích cực
khuyến khích rèn luyện chữ viết đẹp:
+ Chấm thật kĩ, phát hiện lỗi sai chung, riêng của từng em vấp phải, thì nhẹ
nhàng chỉ bảo các em sửa lỗi.
+ Tuyệt đối tôi không nóng vội khi rèn luyện chữ viết cho các em vì kết quả
chữ đẹp không thể có ngay một sớm một chiều được mà cần có thời gian để các
em sửa chữa, tiến bộ dần.
+ Không cùng một lúc lôi hết các lỗi sai của các em ra chỉ trích mà giáo
viên nên động viên, khích lệ học sinh là chính.
+ Giáo dục, xây dựng cho được các em lòng kiên trì, nhẫn nại, tính cẩn thận
óc thẩm mỹ, ý thức tự giác, sáng tạo trong việc rèn chữ; việc rèn chữ chính là
rèn tính cách các em vậy.Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã dạy: “nét chữ ,nết
người”.
Ngoài việc nhận xét thường xuyên, cứ cuối mỗi tháng tôi tổ chức lớp tôi thi
chữ viết đẹp giữa các tổ có kèm theo phần thưởng là những quyển vở. Đây là dịp
để các em thi đố tài hoa viết chữ và thấy được sự tiến bộ của bản thân. Mặt khác
để bản thân giáo viên nhìn nhận, soi rọi, kiểm nghiệm lại việc dạy của mình.

11


2.3.5. Giải pháp 5: Kết hợp chặt chẽ với gia đình trong rèn chữ viết của
học sinh:
Việc kết hợp giữa ba môi trường giáo dục là điều cần thiết góp phần tạo
điều kiện cho các em học tốt hơn. Để làm được điều đó ngoài các cuộc họp phụ
huynh học sinh tôi còn phải thường xuyên thông tin với gia đình các em về kết
quả học tập của các em và cũng để hiểu rõ từng hoàn cảnh học sinh lớp mình
chủ nhiệm. Từ những việc làm trên đã tạo mối quan hệ giữa nhà trường và phụ
huynh ngày càng khăng khít hơn. Phụ huynh tin tưởng hơn về giáo viên, đồng
thời cũng quan tâm nhiều hơn đến việc học của con em mình, cụ thể học kỳ vừa
qua không có học sinh không biết viết mà các em viết chữ đẹp tăng lên.
4. 2.Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Qua thời gian nghiên cứu và thực hiện những kinh nghiệm mà bản thân đã
đúc kết được tại lớp 1B trường Tiểu học Đông Vệ 1 thì các em có những bước
tiến bộ rất đáng kể như sau :
- Các em viết đúng, đều các nét, viết đúng độ cao.
- Chữ viết liền mạch, trình bày bài sạch sẽ, rõ ràng.
- Thống kê kết quả thực hiện ở học kỳ II như sau :
Viết đúng
mẫu, cỡ
(viết đẹp)
SL
%

Viết chưa
đúng mẫu,
cỡ ở nhóm1
SL
%

Viết chưa
đúng mẫu,
cỡ ở nhóm2
SL
%

Viết chưa
đúng mẫu,
cỡ ở nhóm3
SL
%

Năm học

Sĩ số
học sinh

2015-2016

40

20

50

6

15

7

17,5

7

17,5

2016-2017

40

34

85

2

5

2

5

2

5

Qua số liệu trên cho ta thấy số lượng viết chữ chưa đúng mẫu, cỡ ở cả 3
nhóm giảm, viết chữ đúng mẫu, cỡ (viết đẹp) tăng.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
- Kết luận:
Qua nhiều năm giảng dạy ở lớp 1, tôi thấy việc rèn luyện kĩ năng viết đúng,
viết đẹp cho học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng là rất cần
thiết.Việc áp dụng các phương pháp, biện pháp khéo léo, linh hoạt giúp cho giờ
học Tập viết diễn ra một cách nhẹ nhàng, học sinh hứng thú say mê học tập. Từ
đó nâng cao chất lượng về chữ viết.
Để đạt hiệu quả cao trong việc rèn chữ viết cho học sinh thì người giáo viên
cần nghiên cứu kĩ các mẫu chữ viết trong trường Tiểu học, nghiên cứu kĩ nội
dung bài dạy trong các bài Tập viết, nắm vững yêu cầu của từng bài để lựa chọn
phương pháp, hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp với đối tượng học sinh
đảm bảo yêu cầu chuẩn kiến thức kĩ năng môn học.
12


Phải bắt đầu bằng việc chuẩn bị bước đầu thật chu đáo ngay từ đầu năm
học. Phải hướng dẫn cho các em nhận biết mình viết chữ gì, độ cao bao nhiêu và
cách viết thế nào qua nhóm giải pháp hướng dẫn viết bằng phương pháp trực
quan sinh động. Khi đã hình thành được nét viết đúng thì phải duy trì rèn luyện
các em viết trong lớp qua giao việc từng em cụ thể và rèn luyện ở nhà qua kết
hợp với phụ huynh. Phải thường xuyên kiểm tra đánh giá bài viết của các em
theo hướng khuyến khích động viên là chính để các em phấn khởi mà luyện viết
đạt hiệu quả cao.
Lưu ý tất cả những giải pháp đó phải được duy trì xuyên suốt, đan xen đồng
bộ và có kịp thời nắm thông tin phản hồi mà có cách uốn nắn phù hợp với từng
đối tượng, từng em học sinh.
Viết chữ đẹp là nguyện vọng là lòng mong muốn của mỗi giáo viên, của
mỗi phụ huynh học sinh.Vậy có thể thấy rằng chữ đẹp là một nét văn hóa truyền
thống, thể hiện sự tài hoa của người cầm bút, là món ăn tinh thần không kém
phần quan trọng trong cuộc sống con người xưa và nay.
- Kiến nghị:
Từ quá trình khảo sát, tìm hiểu nguyên nhân và biện pháp khắc phục tôi
xin đưa ra một số đề xuất sau :
- Bản thân mỗi giáo viên phải phát huy hết năng lực của mình, luôn luôn
học hỏi trau rồi kinh nghiệm và tìm tòi những phương pháp dạy học tối ưu nhất.
Mỗi bản thân giáo viên cần phải rèn cho mình chữ viết đẹp hơn.
- Đối với nhà trường, phòng giáo dục: Nên duy trì phong trào luyện chữ
viết đẹp và động viên khuyến khích những nhà trường có phong trào rèn chữ
viết tốt.
Trên đây là một số ý kiến nhỏ của bản thân tôi được rút ra trong quá trình
giảng dạy. Nội dung sáng kiến không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Tôi
rất mong nhận được sự góp ý của đồng nhiệp về nội dung cũng như phương
pháp giảng dạy để đưa chất lượng học tập của học sinh ngày càng đạt kết quả
cao hơn như chúng ta mong muốn.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Đông Vệ, ngày 20 tháng 3 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Người thực hiện

Nguyễn Thị Xuân

13


14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×