Tải bản đầy đủ

Một số giải pháp giúp HS lớp 5 viết chữ đẹp, giữ vở sạch

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài.
Trong nhiều năm nay: “Viết chữ dep – Giữ vở sạch” được đặc biêt quan
tâm. Hơn nữa, đối với đơn vị trường Tiểu học Thiết Ống I, Ban giám hiệu nhà trường
cũng rất chú trọng: “Viết chữ dep – Giữ vở sạch”. Để thực hiện tốt những yêu cầu
trên đòi hỏi cả thầy và trò phải có sự nỗ lực phấn đấu không ngừng.
Người ta thường nói: “Nét chữ nết người”, nét chữ nói lên tính cách của con
người. Việc rèn luyện vở sạch, chữ đẹp cho học sinh Tiểu học nói chung và việc rèn
luyện chữ đẹp cho học sinh lớp 5 nói riêng là một trong những tiêu chuẩn mà bất cư
một trường Tiểu học nào cũng cố gắng thi đua và thực hiện tốt.
Là một giáo viên Tiểu học, lại đang giảng dạy trực tiếp lớp 5, bản thân tôi rất
tâm huyết với công việc của mình, tôi luôn mong muốn học trò của mình em nào cũng
viết chữ đẹp rõ ràng, biết trình bày bài sạch sẽ, biết giữ gìn sách vở cẩn thận, được
như vậy phải cần rất nhiều công sưc của người dạy học.
Mặt khác, đối với bậc Tiểu học, yêu cầu cơ bản tối thiểu đối với học sinh là
đọc thông, viết thạo. Chữ viết của học sinh còn liên quan đến tất cả các môn học khác
như: Toán, Tiếng Việt, khoa học, Lịch sử và Địa lí, Giáo dục lối sống, ... Do đó, nếu
học sinh viết nhanh, đúng, đep thì việc học các môn này sẽ có nhiều thuận lợi.
Ngoài những lý do trên, tôi thấy việc rèn chữ viết còn góp phần rèn luyện cho
học sinh những phẩm chất đạo đưc tốt như tính cẩn thận, kiên trì, tinh thần kỷ luật
và phát triển óc thẩm mỹ. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói “Nét chữ cũng là một

biểu hiện của nết người”. Mà nết người là sự hoà hợp giữa tình cảm và trí tuệ. Trong
quá trình dạy học song song với việc rèn các kĩ năng: Nghe, nói, đọc và tính toán. Tôi
luôn luôn chú ý rèn kĩ năng viết chữ cho học sinh. Cùng với việc rèn kĩ năng viết chữ
đúng, đẹp là giữ gìn sách vở gọn ngàng, sạch sẽ.
Tuy nhiên trong thực tế, học sinh lớp mà tôi đang trực tiếp giảng dạy, đây là
con em của một xã vùng 135 còn gặp nhiều khó khăn trong đời sống kinh tế, trình độ
dân trí chưa cao nên sự quan tâm đến các em còn gặp nhiều hạn chế. Trong lớp, chi

1


một số em được gia đình quan tâm đáp ưng đầy đủ đồ dùng dạy học như bút, vở và có
đầu tư thời gian cho các em luyện viết, còn lại, đa số các em chưa được quan tâm, dẫn
đến tình trạng bút, vở, đồ dùng học tập không tốt. Và việc rèn luyện vở sạch, chữ đẹp
gặp nhiều khó khăn hạn chế. Làm sao để các em viết được chữ đẹp, giữ được vở
sạch? Đây là câu hỏi đặt ra để tôi phải suy nghĩ, trăn trở và quyết tâm phấn đấu. Chính
vì vậy tôi đã chọn vấn đề “Một số giải pháp giúp học sinh lớp 5 viết chữ đẹp, giữ vở
sạch” để nghiên cưu thực hiện làm sáng kiến kinh nghiệm.
1.2. Mục đính nghiên cứu.
Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy học sinh trong trường và học sinh lớp
tôi phụ trách, giảng dạy còn nhiều em chữ viết xấu, sai nhiều lỗi chính tả, kĩ năng viết
còn chậm, chưa đúng kĩ thuật, việc giữ vở còn bẩn, nhầu nát.
Để khắc phục được thực trạng nêu trên và mong muốn công việc dạy của mình
đạt hiệu quả tốt hơn, tôi đã mạnh dạn viết lên một số cải tiến về nội dung và phương
pháp về rèn luyện viết chữ đẹp, giữ vở sạch cho học sinh, không những nâng cao kết
quả học tập mà còn giúp các em phát huy tính cách với những đưc tính cần thiết như
cẩn thận, kiên trì, sáng tạo. Xưng đáng là những chủ nhân tương lai của Đất Nước.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Căn cư vào nhiệm vụ, yêu cầu và nội dung của SKKN, tôi chọn đối tượng nghiên
cưu là: 25 học sinh lớp 5A Trường tiểu học Thiết Ống I.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp luyện tập thực hành.
- Phương pháp làm mẫu nêu gương.
- Phương pháp thảo luận.
- Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề.
- Phương pháp nghiên cưu tài liệu.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm, kiểm tra đối chưng.

2



2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Viết chữ đẹp đã trở thành truyền thống của ông cha ta từ xưa đến nay. Từ ngày
xưa, con người đã rất coi trọng chữ viết. Ngày nay, phong trào: “ Rèn chữ, giữ vở”
càng được coi trọng trong các bậc học nói chung và bậc tiểu học nói riêng. Viết chữ
đẹp không chi thể hiện tính cách của mỗi con người mà viết chữ đẹp cũng thể hiện
một tinh hoa, độc đáo của mỗi dân tộc. Việc “Rèn chữ đẹp” có tầm quan trọng to lớn
trong sự nghiệp trồng người để hình thành nhân cách của mỗi người. Là một giáo viên
địa phương, tôi nghĩ mình phải cùng đồng nghiệp tạo nên một điểm sáng mãi mãi
xưng đáng là một tấm gương sáng cho trường khác noi theo. Chính vì thế mà tôi đã cố
gắng hướng dẫn học sinh viết chữ đẹp, giữ vở sạch.
“Rèn chữ đẹp - giữ vở sạch” là hai hoạt động liên kết với nhau, hỗ trợ cho
nhau. Rèn chữ đẹp và phải biết giữ vở sạch. Nếu chi có nét chữ đẹp mà vở không sạch
thì có khác nào: một khuân mặt xinh xắn mà đầy những vết bẩn và nhọ nhem. Thế
nhưng, quyển vở sạch mà nét chữ xấu, nét cao - nét thấp, viết sai luật chính tả…thì
cũng không chiếm được tình cảm của người xem, người đọc. Chính vì vậy mà rèn chữ
đẹp phải đi đôi với giữ vở sạch.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Trong thực tế giảng dạy nhiều năm, tôi nhận thấy học sinh trong trường và học
sinh lớp tôi phụ trách, giảng dạy còn nhiều em chữ viết còn xấu, còn sai nhiều lỗi
chính tả, kỹ năng viết còn chậm, chưa đúng kỹ thuật, việc giữ vở còn bẩn, nhầu nát.
Nhìn chung các em thường mắc một số lỗi cơ bản sau:
- Viết hoa tuỳ tiện, danh từ riêng không viết hoa, viết hoa không đúng mẫu.
- Viết thừa nét, viết thiếu nét, đặt nhầm vị trí các dấu thanh.
- Viết sai phụ âm đầu và vần, chữ viết không rõ ràng.
- Viết không đúng qui định, khoảng các con chữ, các chữ không đúng qui trình, kĩ
thuật.

3


- Tư thế ngồi, việc cầm bút, khoảng cách giữa mắt và vở chưa đảm bảo.
- Sách vở chưa giữ gìn cẩn thận, sạch đẹp, cách trình bày bài chưa đẹp, khoa học.
- Một số học sinh chưa cú ý thưc rèn chữ viết, các em còn ngại khó, ngại khổ. Cha mẹ
và bản thân các em còn xem nhẹ chữ viết, thường chi quan tâm đến kết quả học các
môn văn hoá như Toán, Tiếng Việt.
Từ thực trạng trên, ngay từ đầu năm học, tôi đã khảo sát chất lượng viết chữ
đẹp, giữ vở sạch của học sinh lớp 5A, kết quả như sau:
Xếp loại
Số lượng
Loại A
4
Loại B
6
Loại C
15
2.3.Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

Tỷ lệ
16%
24%
60%

2.3.1) Đối với giáo viên :
- Tôi luôn ý thưc được rằng chữ viết của giáo viên là rất quan trọng vì nó là mẫu để
các em học tập và viết theo. Vì vậy, tôi luôn có ý thưc rèn luyện để chữ viết của bản
thân rõ ràng, đúng mẫu và đẹp. Giáo viên phải mẫu mực về chữ viết ở bảng lớp, ở lời
phê, lời nhận xét, điểm số trong vở học sinh, làm gương cho học sinh học tập và noi
theo.
- Tôi thường xuyên nghiên cưu, tìm hiểu các tài liệu tham khảo như dạy viết ở Tiểu
học, tài liệu tham khảo “ Nét chữ - Nết người’’ .
- Mẫu chữ viết trong trường Tiểu học.
- Ngoài ra tôi còn tham quan, tham khảo, học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp trong
việc rèn chữ viết, giữ vở sạch cho học sinh.
- Tôi chú trọng rèn chữ cho học sinh trong tất cả các giờ học.
- Tôi thường xuyên động viên tuyên dương những học sinh có tiến bộ về chữ viết, có
ý thưc viết chữ đẹp, giữ vở sạch.
2.3.2) Rèn kỹ năng viết các nét cơ bản cho học sinh:
Chữ viết được cấu tạo bởi các nét cơ bản khác nhau. Để viết được chữ đẹp thì
các em cần phải viết đúng đẹp được các nét cơ bản. Viết đúng đẹp được các nét cơ

4


bản sẽ giúp đạt hiệu quả cao nhất trong quá trình rèn chữ viết đúng, đẹp. Chính vì vậy,
tuần đầu tôi đã tổ chưc ôn luyện lại cho học sinh nắm vững cấu tạo, kích thước, cách
viết của các nét cơ bản. Muốn học sinh viết đúng, đẹp thì đầu tiên tôi yêu cầu các em
viết đúng mà muốn viết đúng được thì tôi phải hướng dẫn các em luyện viết đúng các
nét cơ bản vì nếu học sinh viết chuẩn các nét cơ bản thì đó là tiền đề cho việc viết chữ
đẹp.
Đầu tiên tôi dạy cho học sinh viết hai nét ngang và sổ. Viết cơ bản hai nét này
cũng dễ viết và nó giúp học sinh sau này có dạng chữ viết thẳng, ngay ngắn từ đầu.
Sau khi học sinh viết đẹp hai nét này, tôi tiến hành dạy các nét móc xuôi, nét móc
ngược, nét móc hai đầu,...
Trong tất cả các nét cơ bản có nét khuyết trên, nét khuyết dưới là khó viết hơn
nên các em thường hay viết không đẹp và không đúng độ cao. Vì thế nên tôi rất quan
tâm hướng dẫn ti mi để các em viết đúng, đẹp được hai nét này.
* Ví dụ: Hướng dẫn viết nét khuyết.
Cho học sinh quan sát nét khuyết trên rồi hỏi: - Nét khuyết trên cao mấy ly?
Rộng mấy ly? Em hãy nêu lại quy trình viết nét khuyết này?
- Giáo viên vừa viết vừa nêu lại cách viết, yêu cầu học sinh cả lớp lắng nghe, quan sát.
- Học sinh luyện viết. Hướng dẫn nét khuyết dưới tương tự.
Để trong quá trình dạy luyện viết được thống nhất trong cách gọi tên các nét,
tôi thống nhất với học sinh cách gọi tên các nét như sau:
- Nét sổ

- Nét cong hở trái

- Nét ngang

- Nét cong hở phải

- Nét xiên phải

- Nét cong kín

- Nét xiên trái

- Nét khuyết trên

- Nét móc xuôi

- Nét khuyết dưới

- Nét móc ngược

- Nét thắt ngang

- Nét móc hai đầu
“Tài liệu tham khảo: Phương pháp dạy Tập viết ở Tiểu học”.

5


Làm tốt phần này là tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh khi viết chữ được
đúng, đẹp theo mẫu.
2.3.3) Rèn kỹ năng viết chữ thường cho học sinh:
Mặc dù lớp 5 rồi nhưng tôi vẫn dành thời gian của những ngày đầu đi học vào
buổi chiiều để tôi hướng dẫn học sinh ôn lại cách viết chữ thường để tất cả các em
nắm vững cách viết chữ thường giúp các em viết đúng đẹp hơn.
a) Hướng dẫn học nắm vững cấu tạo, kích thước cách viết của chữ viết thường:
Tôi hướng dẫn các em viết từng con chữ theo từng nhóm.
* Ví dụ: - Nhóm chữ cao 1 đơn vị (1 ly): a,ă,â,c,e,ê,i,m,n,o,ô,ơ,u,ư,v,x.
- Nhóm chữ cao 1,25 đơn vị (1,25 ly): r,s.
- Nhóm chữ cao 2 đơn vị (2 ly): d,đ,p,q.
- Nhóm chữ cao 2,5 đơn vị (2,5 ly): b,g,h,l,k,y.
“Tài liệu tham khảo: Mẫu chữ viết trong trường Tiểu học”.
b) Hướng dẫn học sinh xác định khoảng cách giữa các con chữ, giữa các chữ:
Hướng dẫn để học sinh nhớ lại, nắm vững: Khoảng cách giữa các con chữ trong
một chữ là nửa thân con chữ, các nét chữ trong một chữ phải viết liền mạch. Khoảng
cách giữa các chữ trong một từ là cách nhau một thân con chữ.
“Tài liệu tham khảo: Phương pháp dạy Tập viết ở Tiểu học”.
c) Hướng dẫn học sinh cách ghi dấu thanh:
Trong khi viết, nhiều em đã đặt dấu tùy tiện, không đúng. Vì thế tôi phải hướng
dẫn để các em nhớ lại và nắm vững cách ghi dấu thanh theo các nguyên tắc;
- Nguyên tắc khoa học (cơ bản): Dấu thanh đặt ở âm cuốicủa vần.
- Nguyên tắc thẩm mỹ (thư yếu): Dấu thanh đặt ở vị trí cân đối.
- Nguyên tắc thực dụng: Dấu thanh chi đặt vào chữ ghi nguyên âm chính, không đặt
vào vị trí giữa hai chữ cái.
* Ví dụ:

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

6


Trong các chữ ghi tiếng có nguyên âm đôi, nếu không có âm cuối vần thì dấu
thanh đặt vàochữ cái thư nhất của nguyên âm đôi.
* Ví dụ: mùa, mía, tựa,...
Nếu nguyên âm đôi có âm cuối vần thì dấu thanh đặt vào chữ cái thư hai của
nguyên âm đôi.
* Ví dụ: kiến, rượu, muỗi,...
Các dấu thanh được viết trong phạm vi một ô, có cạnh 0,5 đơn vị. Khi viết tôi
hướng dẫn để học sinh nắm vững, phải ghi chữ của từng tiếng cho xong trước rồi mới
ghi dấu thanh sau.
“Tài liệu tham khảo: Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 5”.
2.3.4) Hướng dẫn cho học sinh rèn kĩ năng viết chữ hoa:
Theo tôi, bài viết đẹp cũng nhờ một phần vào việc thể hiện những chữ viết hoa
(Chữ đầu bài, chữ đầu câu, tên danh từ riêng,...). Bởi vậy tôi rất chú ý rèn chữ viết hoa
cho các em. Ngoài việc rèn cho các em viết chữ chuẩn theo mẫu, tôi còn hướng dẫn
các em viết các nét chữ cách điệu, sáng tạo cho chữ viết mềm mại hơn.
Phân loại các nhóm chữ để hướng dẫn các em luyện viết:
- Nhóm 1 :
- Nhóm 2 :
- Nhóm 3 :
- Nhóm 4 :
- Nhóm 5 :
- Nhóm 6 :

A,Ă,Â,M,N
P,B,R,D,Đ
C,S,L,G,E,Ê
J,K,H,V
O,Ô,Ơ,Q,Q,T
X,M,N,V,U,Ư,Y

Đầu tiên, tôi hướng dẫn học sinh nhớ lại để nắm vững cấu tạo, cách viết của
từng chữ hoa: Tất cả các chữ hoa cỡ lớn cao 5 ly, các chữ hoa cỡ nhỏ cao 2,5 ly (2 ly
rưỡi). Giáo viên dành thời gian của những buổi đầu đi học vào buổi chiều để hướng
dẫn, rèn kỹ năng viết đẹp các chữ hoa. Giáo viên viết mẫu lên bảng dể học sinh quan
sát, cho các em quan sát bảng chữ mẫu rồi luyện viết lại. Cho học sinh xem những bài
viết đúng đẹp, viết sáng tạo để các em tham khảo, học tập. Khi các em luyện viết tôi
theo dõi từng em để kịp thời uốn nắn, sửa sai cho các em ngay. Tôi luôn khen ngợi,
động viên các em dù các em chi có một ít tiến bộ để khích lệ các em tích cực luyện
7


viết, không nên chê các em mà cần chi rõ em sai chỗ nào, vì sao lại sai như vậy để
giúp các em khắc phục lỗi sai ấy. Qua cách làm này, tôi thấy các em viết chữ hoa ngày
một tiến bộ rõ rệt.
“Tài liệu tham khảo: Mẫu chữ viết trong trường Tiểu học”.
2.3.5) Hướng dẫn cho học sinh tư thế ngồi, cách cầm bút, vị trí đặt vở khi viết chữ.
- Muốn rèn học sinh viết chữ đúng, đẹp đầu tiên tôi đọc các tài liệu tham khảo, để
nắm chắc cách viết các nét, chữ cái cho đúng, đẹp.
- Ngay từ đầu năm học tôi dành tuần đầu tiên để hướng dẫn các em cách cầm bút, để
vở và tư thế ngồi viết.
+Tư thế ngồi viết: Khi ngồi viết, học sinh phải ngồi ngay ngắn, lưng thẳng, không tì
ngực vào cạnh bàn, đầu hơi cúi, hai mắt cách vở từ 25-30 cm. Cánh tay trái đặt trên
mặt bàn bên trái vở, bàn tay trái tì vào vở giữ vở không bị xê dịch khi viết.Cánh tay
phải cùng ở trên mặt bàn.
Với cách để tay như vậy, khi viết bàn tay và cánh tay phải có thể dịch chuyển
thuận lợi từ trái sang phải một cách dễ dàng.
+ Cách cầm bút : Khi viết học sinh cầm bút và điều khiển bút viết bằng cả ba ngón tay
(ngón trỏ, ngón cái và ngón giữa) của bàn tay phải. Đầu ngón tay trỏ đặt ở phía trên ,
đầu ngón cái giữ bên trái, phía bên phải của đầu bút tựâ cạnh đốt đầu ngón tay giữa .
Ba điểm tựa này giữ bút và điều khiển ngòi bút dịch chuyển linh hoạt. Ngoài ra, động
tác viết cần có sự phối hợp cử động của cổ tay khuỷu tay và cả cánh tay .
+ Vị trí đặt vở khi viết chữ : Vở viết cần đặt nghiêng so với mép bàn một góc
300 (nghiêng về bên phải). Sở dĩ phải đặt như vậy vì chiều thuận của vận động tay khi
viết chữ Việt là vận động từ trái sang phải.
- Trong quá trình học sinh viết, tôi luôn quan sát những học sinh ngồi, cầm bút, để vở
sai để kịp thời uốn nắn, sửa triệt để cho các em.
“Tài liệu tham khảo: Phương pháp dạy Tập viết ở Tiểu học”.
2.3.6) Rèn chữ ở các thời điểm.

8


Trong quá trình rèn luyện chữ cho học sinh, tôi đặt kế hoạch rèn chữ cụ thể ở
bốn thời điểm: Trong giờ luyện viết, trong giờ chính tả, trong các giờ học còn lại và
viết ở nhà.
a)Việc rèn luyện trên lớp: Đây là công việc chủ yếu của giáo viên đối với lớp mình,
qua sự chi bảo, hướng dẫn tận tình, trực tiếp tới các em mà hiểu được, thấy được sự
tiến bộ từng ngày của từng học sinh, nắm chắc được tình hình lớp, tôi quyết định chia
lớp thành 3 nhóm chữ để có kế hoạch rèn luyện.
*) Nhóm chữ xếp loại A:
Là nhóm chữ viết tương đối khá, ít lỗi chính tả, biết giữ gìn vở sạch sẽ. Bước
đầu tôi dạy cho các em cách ghép các chữ cái thật đều, cách nối nét, cách đánh dấu
chữ, dấu thanh đúng quy định, sau khi các em viết đã viết đều ta, tôi lại luyện cho các
em viết chữ hoa thông qua các giờ Chính tả trên lớp, sau khi các em viết chữ hoa
tương đối đẹp, tôi cho các em viết một đoạn văn hay một đoạn thơ mà tôi đã chọn
trước, sau đó tôi sửa chữa, nhận xét và cho điểm khuyến khích các em phấn đấu, các
em thi nhau viết đẹp.
*) Nhóm chữ xếp loại B:
Đây là nhóm chữ viết chưa đẹp, vở tương đối sạch sẽ tôi giành thời gian tương
đối nhiều cho các em viết chữ cái thành thạo với các kích cỡ đúng quy định. Sau đó
các em tập ghép chữ, các con chữ ghép với nhau thành một chữ (hay một tiếng khi
đọc) phải làm sao cho đều nét, các con chữ đều nhau, không to quá hoặc nhỏ quá, các
con chữ nối với nhau liền nét, độ cao các con chữ đúng quy định. Sau đó, hướng dẫn
các em viết chữ hoa, cách dùng chữ hoa hợp lý khi viết trong bài viết. Tôi thường
xuyên sửa chữa, uốn nắn, viết mẫu để nâng cao sự cố gắng của các em để các em tiến
bộ lên nhóm chữ A.
*) Nhóm chữ xếp loại C:
Đây là một nhóm chữ viết xấu, trình bày chưa khoa học chưa đẹp, chữ viết
mắc nhiều lỗi chính tả, bìa không bọc, vở quăn nhàu nát. Nhiệm vụ đặt ra yêu cầu tôi
phải quan tâm chặt chẽ tới các em, từ chỗ vở phải bọc bìa có nhãn hay bọc bìa bóng

9


viết nhãn vào bìa luôn, tôi yêu cầu phải giữ gìn cẩn thận, sạch sẽ, đến từng bài tôi đều
viết mẫu để các em học tập. Tôi giao bài cụ thể cho các em viết thêm ở nhà, ban đầu
các em ngại viết, sau dần các em tự giác viết để có bài viết sáng hôm sau cô kiểm tra
chấm nhận xét.
b) Trong giờ chính tả:
- Đây là giờ học rèn luyện cho học sinh kỹ năng nghe đọc để viết chuẩn xác theo
luật chính tả. Học sinh nắm chắc để phân biệt được những phụ âm dễ lẫn
-Đối với chính tả, tôi chú trọng rèn cho các em cách nghe chuẩn xác để viết đúng,
cách phân biệt các phụ âm dễ nhầm để viết cho chuẩn xác thông qua việc phát âm,
ghép tiếng tạo từ (Dựa vào nghĩa chuẩn của từ ghép để phân biệt, dựa vào quy
luật chung). Ngoài ra còn rèn luyện cho học sinh kỹ năng viết đúng, viết đẹp.
Trong tiết nghe viết hay nhớ viết tôi cũng đều quan sát, theo dõi từng em đặc biệt
những em viết hay mắc lỗi, viết chưa đẹp để kịp thời hướng dẫn, sửa sai cho các
em.
Song song với việc ôn tập giúp học sinh nắm vững các qui tắc và mẹo chính tả,
việc hướng dẫn học sinh phát hiện lỗi và sửa lỗi trong bài viết cũng rất quan trọng.
Đây là một thói quen mà giáo viên cần phải rèn cho học sinh , không chi ở chính tả
mà ở tất cả các môn học khác.
* Đối với bài chính tả Đoạn bài, sau khi học sinh viết xong, tôi tổ chưc cho học
sinh đổi vở và soát lỗi lẫn nhau. Tôi qui định lỗi cụ thể, yêu cầu các em soát lỗi bài
viết của bạn, dùng bút chì gạch dưới chữ viết sai, tổng hợp số lỗi rồi trả về cho bạn tự
sửa (ghi từ chưa tiếng sai rồi sửa lại đúng chính tả).
Đối với những em viết sai nhiều, tôi phân công 1 học sinh giỏi đổi vở và soát lỗi
với học sinh đó. Sau khi các em soát lỗi xong, tôi mới thu vở để chấm điểm.Trong giờ
chính tả, tôi chi chấm nhanh khoảng 1/3 lớp. Nhưng giờ ra chơi, tôi cố gắng chấm
hết , chấm thật kĩ và ghi nhận xét cụ thể, khen những em có tiến bộ. Khi trả vở cho
học sinh, tôi khen ngợi những em đã soát lỗi bài viết của bạn chính xác, tuyên dương
những em có tiến bộ, nhắc nhở những em còn viết sai nhiều sửa lỗi trong vở.

10


* Đối với các bài tập, tôi thường tổ chưc cho các em làm bài trong nhóm bằng
nhiều hình thưc thi đua như: Ai nhanh ai đúng, Tìm nhanh viết đúng, … Các nhóm
ghi bài làm của nhóm mình vào bảng nhóm hoặc phiếu bài tập để cả lớp nhận xét, bầu
chọn nhóm thắng cuộc.
- Trong tiết chính tả tôi đều chú ý đến việc đánh giá bài viết của học sinh để đảm
bảo 2 yếu tố: vừa nghiêm khắc, vừa thể hiện sự động viên khích lệ kịp thời. Nhờ
đó sẽ đánh giá được thực chất bài viết của học sinh và động viên các em cố gắng
phấn đấu hơn.
b) Trong các giờ còn lại:
Trong các giờ còn lại tôi rất chú trọng đến tiết tập đọc. Trong tiết học này tôi
luyện kỹ cho các em cách đọc và nếu các em biết phát âm chuẩn xác thì các em sẽ
đọc đúng, đọc nhanh. Nếu học sinh đó đọc đúng, đọc nhanh thì việc viết chữ của
các em sẽ thuận lợi hơn rất nhiều .
Đối với những tiết học khác, tôi cũng luôn nhắc nhở học sinh viết đúng chính
tả, viết đẹp. Khi chấm đoạn văn hoặc bài tập làm văn hoặc các bài kiểm tra của học
sinh, tôi chấm kĩ càng, ti mi, chi rõ các lỗi chính tả, lỗi viết chưa đẹp và hướng dẫn
học sinh sửa lỗi khi trả bài.
Ngoài ra, tôi còn chú trọng rèn chữ cho học sinh khi các em viết bài của các
môn học khác như :Toán, Tiếng Việt, Giáo dục lối sống… để các em hiểu được rèn
chữ đẹp cần rèn ở mọi lúc, mọi nơi. Từ đó hình thành cho các em thói quen tốt giữ
vở sạch sẽ, viết chữ cẩn thận đúng và đẹp.

Qua thực tế dạy học của lớp chủ nhiệm và một số năm bồi dưỡng học sinh
thi viết chữ đẹp, tôi thấy sử dụng một số bảng lớp trong quá trình dạy tập luyện
viết cho học sinh cũng như giáo viên sử dụng trong quá trình dạy tập luyện viết
mang lại hiêu quả rất cao.
Giáo viên có thể tập luyện uốn nắn cho nhiều học sinh, nhiều đối tượng
học sinh đồng thời người giáo viên thể hiện được tấm gương của mình, thể hiện

11


tính sư phạm trong tiết dạy tập luyện viết chữ bên cạnh đó chữ viết mẫu của
giáo viên hết sưc quan trọng đối với các em , thường thì các em viết theo mẫu
của cô trên bảng, đối với lưa tuổi của các em và do đặc điểm tâm sinh lý lưa tuổi
việc học theo chữ viết của cô rất nhanh, cô viết thế nào học sinh có thể viết ngay
được gần giống như chữ của cô, vì vậy khi viết mẫu cho học sinh chúng ta cần
phải cẩn thận chú ý viết sao cho đúng quy trình, không những viết mẫu mà cả
những lời nhận xét trong vở của các em cô cũng cần viết đúng mẫu và đẹp.
c) Đôí với việc rèn chữ ở nhà : Ngoài quyển vở chính tả ra các em còn bắt buộc phải
có thêm 1 quyển luyện viết (ô li) ở nhà. Tôi giao việc về nhà cụ thể để học sinh luyện
thêm như : Chép một bài chính tả theo bài chính tả trên lớp hoặc một đoạn văn, đoạn
thơ tôi siêu tầm. Vở luyện viết ở nhà tôi cũng thường xuyên chấm, nhận xét và tổ
chưc cho Hội đồng tự quản xếp loại. Cư cuối tuần tôi tổ chưc cho các em viết bài thi
vào giấy, đầu tuần cả lớp bình chọn những bài viết đúng đẹp để bài đó được trưng bày
ở góc Tiếng Việt cho cả lớp học tập, noi theo.
2.3.7) Đối với việc giữ vở sạch:
- Ngay từ đầu năm tôi đã giáo dục các em hiểu tầm quan trọng, ý nghĩa, tác dụng của
việc giữ vở sạch, rèn chữ đẹp . Tôi luôn động viên các em hăng say rèn luyện để đạt
được những bộ vở sạch, chữ đẹp. Đầu năm tôi quy định mẫu vở, bút chì, bút mực viết
cho các em cả lớp cùng thống nhất. Tất cả các quyển vở phải viết nhãn vở, bọc bìa
bóng và tài liệu học tập cũng phải bọc bìa, có nhãn vở.
- Hướng dẫn học sinh cách trình bày, viết bài trong từng quyển vở: Thư ngày tháng
năm lùi vào hai ô rồi mới viết; tên các môn học lùi vào khoảng năm ô rồi viết; cách
trình bày bài toán, bài văn, bài thơ (thơ tự do, thơ lục bát); cách ghi đầu bài của các
môn học; cách gạch hết bài,....
- Mỗi em có một tờ giấy thấm; một giẻ để lau bút, trong mỗi vở đều có một tờ giấy kê
tay để vở không bị giây bẩn, không bị ướt mồ hôi khi viết .

12


- Ngoài ra tôi còn hướng dẫn học sinhcách gọt bút chì, cách bơm mực ( không bơm
quá đầy, chi bơm 1/2 sưc chưa của bút )
- Khi viết không ấn bút, mở nắp nhẹ nhàng dưới ngăn bàn, nếu bút bẩn cần lấy giẻ
lau, lau sạch rồi mới viết .Trước khi viết cần thử bút ra giấy nháp, khi nào thấy mực ra
đều đặn, nét đẹp mới viết vào vở .
-Tôi luôn nhắc nhở học sinh mở vở, gấp vở nhẹ tay, khi viết không gấp đôi vở.
- Cuối giờ học thu vở để vào góc thư viện của mỗi nhóm, đến tiết học nào nhóm
trưởng lấy vở của tiết đó cho các thành viên trong nhóm.
- Hàng ngày bàn ghế của học sinh phải được lau sạch trước khi vào lớp, học sinh cần
phải rửa tay sạch trước khi vào giờ học.
- Nếu viết sai trong vở cần dựng thước kẻ chân dưới chữ viết sai, không được tẩy xoá.
- Trong từng tiết học tôi luôn kiểm tra vở của các em để kịp thời nhắc nhở, rút kinh
nghiệm.
- Thường xuyên động viên, tuyên dương những em viết sạch, đẹp và đưa vở cho
những em viết còn chưa được đẹp xem, học tập.
2.3.8) Kiểm tra, đánh giá – Thi đua, khen thưởng:
Hàng tuần, vào thư sáu ( tiết sinh hoạt) tôi dành ra khoảng 15 phút đẻ đánh giá
việc rèn chữ, giữ vở của từng học sinh trong lớp. Ngoài ra tôi còn khuyến khích việc
các em trao đổi bài luyện viết với nhau để các em học được ưu điểm của bạn, nhờ
bạn chi rõ giúp những yếu điểm của mình để khắc phục ngay.
Hàng tháng, tôi đều chấm vở sạch, chữ đẹp cho các em và lấy kết quả việc
chấm vở sạch, chữ đẹp hàng tháng là một tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá thi
đua cho các em. Đây cũng là một biện pháp quan trọng thúc đẩy các em nỗ lực phấn
đấu viết chữ đẹp, giữ vở sạch.
Ngoài các biện pháp trên, ở lớp tôi còn tổ chưc những cuộc thi hàng tuần, hàng
tháng để chọn ra người viết đẹp nhất, người tiến bộ nhất và có những phần thưởng
nho nhỏ như cái bút, quyển vở, nhãn vở, cái thước, cục tẩy,…để các em có sự thi đua,
phấn đấu vươn lên.

13


Những em đạt chữ viết đúng đẹp, vở sạch thì sẽ được trưng bày ở góc Tiếng
Việt để tất cả các bạn trong lớp học tập.
Tổ chưc cho các em thi làm văn, làm thơ vào cuối của mỗi tháng. Những bài
thơ, văn hay chữ đẹp sẽ được thưởng, được trưng bày, được đọc cho học sinh toàn
trường học tập vào các buổi sinh hoạt dưới cờ.
Việc Kiểm tra, đánh giá – Thi đua, khen thưởng thường xuyên, kịp thời sẽ rất
có hiệu quả vì những lời động viên, khen ngợi, tuyên dương của cô, những phần
thưởng nhỏ hay những bài được trưng bày,... đều là động lực thúc đẩy các em tích cực
rèn chữ đẹp, giữ vở sạch.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Qua gần một năm học làm việc miệt mài và phối hợp khéo léo các giải pháp đã
nêu ở trên, tôi thấy việc giữ vở sạch, viết chữ của học sinh lớp tôi đã có sự tiến bộ rõ
rệt và thu được kết quả khả quan .
- Có 2 HS đạt giải Nhất, 1 Hs dạt giải Nhì, 1 HS đạt giải Ba và 4 HS đạt giải Khuyến
khích cấp trường. Sự tiến bộ rõ rệt về chữ viết của các em học sinh cũng giúp cho kết
quả kiểm tra định kỳ của lớp được nâng lên. So với đầu năm kết quả tăng lên rõ rệt.
Kết quả cụ thể đạt được như sau:
A

Xếp loại

B

C

Giai đoạn

SL

TL

SL

TL

SL

TL

Đầu năm

4

16%

6

24%

15

60%

Giữa học kỳ I

7

28%

8

32%

10

40%

Cuối học kỳ I

13

52%

12

48%

0

Giữa học kỳ II

15

60%

10

40%

0

Cuối học kỳ II

19

76%

6

24%

0

3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:

14


Từ thực tế giảng dạy và thử nghiệm các giải pháp đã nêu ở trên, tôi nhận
thấy khi rèn vở sạch, chữ đẹp cho học sinh cần chú trọng tới một số vấn đề sau :
+ Giáo viên cần thực sự hăng say với việc rèn chữ.
+ Giáo viên cần tự mình rèn luyện viết chữ đúng, đẹp.
+ Giáo viên phải hiểu được phương pháp dạy tập viết cho học sinh .
+ Giáo viên cần phải kiểm tra, nhẫn nại, thường xuyên khích lệ động viên các em.
+ Cơ sở vật chất tối thiểu đảm bảo đúng yêu cầu.
+ Học sinh hiểu và say mê luyện tập .
+ Có sự giúp đỡ, ủng hộ ban giám hiệu nhà trường, của đồng nghiệp, và phụ huynh
học sinh và cộng đồng.
3.2. Kiến nghị.
+ Về phía nhà trường: Hàng tháng tổ chưc cuộc thi giữ vở sạch, viết chữ đẹp, có ban
giám khảo, có khen thưởng kịp thời.
+ Về phía phụ huynh: Nên quan tâm hơn nữa đến việc rèn luyện chữ cái, phải mua
bút, vở, đồ dùng học tập đảm bảo chất lượng cho các em. Thường xuyên liên lạc với
giáo viên chủ nhiệm để nắm bắt được kết quả học tập và việc rèn luyện của con em
mình. Từ đó có biện pháp cụ thể để kèm cặp thêm ở nhà, làm sao giúp các em rèn
luyện chữ viết ngày càng tiến bộ, ngày càng đẹp, nâng cao kết quả học tập của con em
mình ngày càng tốt hơn.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Thiết Ống, ngày 28 tháng 5 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người khác
Người thực hiện

Lưu Thị Lan

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×